
Hồ Bạch Thảo
Tháng tám năm Tân Dậu [8/9-7/10/1801], Thiếu phó Tây Sơn Trần Quang Diệu và Tư đồ Võ Văn Dũng mưu cướp Hoa An [huyện Tuy Phước, Bình Định], Hoa Lộc [huyện Tuy Phước, Bình Định] để lấy đường tranh dành đất Phú Yên, bèn dàn nghi binh từ Sơn Trà [huyện An Nhơn, Bình Định] cho tới sông Dinh, giả làm thế đánh úp, rồi đem hết quân tinh nhuệ đến đánh các đồn tại Hoa An, Hoa Lộc. Nguyễn Văn Thành đích thân đôn đốc các quân đánh mạnh luôn mấy ngày, quân địch tử thương nhiều nên rút lui. Thành đắp thêm đồn lũy, phòng giữ nghiêm hơn. Tây Sơn lại đánh đồn Khôi Diêu [Lò vôi] bị Vệ úy vệ Nguyễn Xuân đánh đuổi.
Điển quân thượng đạo Lưu Phước Tường đem sáu chi quân đánh Nghệ An; nước Vạn Tượng cũng sai tướng là Phá Nhã Khu Bô đem hơn 4.000 quân cùng tiến, từ Cam Cớt [Lào, phía tây Hà Tĩnh] đi xuống. Quân đến Hương Sơn [Hà Tĩnh] và La Sơn [huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh], đánh ở cửa Tam Thoa [Hương Sơn], cả phá thu được thuyền ghe súng ống khí giới rất nhiều. Lại đánh nhau với Đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Văn Hiện ở thành Lục Niên huyện Thanh Chương [Nghệ An], Hiện thua chết, quân địch đầu hàng rất nhiều, khiến Nghệ An chấn động.Tây Sơn bèn làm kế thanh dã [vườn không nhà trống], nên không đủ lương ăn, quân Vạn Tượng phải rút lui. Tường đem binh thuyền từ cửa Sót [huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh] về sông Gianh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình].
Đặt quan công đường ở bốn dinh Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam. Vương cho đặt ba huyện Hương Trà, Quảng Điền, Phú Vang thuộc phủ Triệu Phong làm dinh Quảng Đức tức tỉnh Thừa Thiên ngày nay ; hai huyện Đăng Xương, Hải Lăng thuộc phủ Triệu Phong và huyện Minh Linh thuộc phủ Quảng Bình làm dinh Quảng Trị ; hai huyện Lệ Thủy, Phong Lộc thuộc phủ Quảng Bình và hai châu nội, ngoại Bố Chính làm dinh Quảng Bình ; ba huyện Duy Xuyên, Lễ Dương, Hà Đông thuộc phủ Thăng Hoa và hai huyện Diên Khánh, Hòa Vang thuộc phủ Điện Bàn vẫn lệ thuộc vào dinh Quảng Nam.
Sai Thị thư viện soạn các bộ Cương Mục Chính biên và Tiền biên dâng lên. Vương thích xem sách, dù ở trong quân cũng thường lấy sách vở làm vui, nhiều lần triệu các văn thần đến giảng bàn, đến đêm mới thôi. Vương bảo các quan rằng:
“Học trò ở Thuận Hóa, gặp loạn Tây Sơn, nghiệp học bỏ trễ. Nay nên cho theo học tập đợi sau khi bình định sẽ mở khoa thi để thu lấy những người thực học”.
Tán lý Đặng Trần Thường đến kinh đô Huế; Vương vời vào cùng bàn việc quân, ban cho 1.000 quan tiền, sai đi Động Hải [Đồng Hới, Quảng Bình] hiệp cùng Nguyễn Văn Trương tham dự việc quân.
Vương sai hỏi quân thứ Thanh Hảo [huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi] về binh cơ và tình hình địch, Lê Văn Duyệt dâng sớ nói:
“Đảng giặc hiện bị khốn, tiến thoái đều khó, quân lương quân dụng đều chỉ lấy ở Quy Nhơn mà xứ này thì dân đói gạo kém, chúng lại đánh thuế và vơ vét nặng nề, nhân dân ta oán rất nhiều. Thần trộm nghĩ dù thành đồng hào nóng mà không thóc cũng không giữ nổi, huống vài ba huyện của Quy Nhơn đó của dùng có được bao nhiêu mà giữ được lâu. Liệu thế chúng, tất sớm muộn thế nào cũng quyết liều một trận để hòng cầu may chiếm đất Quảng Ngãi mà thôi. Vả bọn chúng đã đến bước cùng, quân sĩ hẳn có chí liều chết. Bằng ta lùa quân đánh dữ thì có thể thắng, nhưng quân chưa chắc đã toàn. Chi bằng cứ hào sâu lũy cao để đợi, chờ chúng động binh trước, nhiên hậu ta sẽ đặt phục binh chẹn chỗ hiểm để đánh, như thế mới giữ được sự thắng hoàn toàn. Thần lại còn áy náy không biết từ sông Gianh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình] trở ra thế giặc động tĩnh ra sao. Xin sai Lê Chất đến cùng Nguyễn Văn Trương hiệp lực đánh giữ. Thần xin tự cáng đáng một mặt, buộc chân giặc không cho sang đất Thanh Hảo một bước”.
Vương trả lời:
“Xem khanh bàn nói việc binh, tấm lòng chăm lo sốt sắng rất là rõ ràng. Đến như việc bàn đến động tĩnh của dư đảng giặc ở Bắc Hà thì thực là biết lo xa vậy. Vả ta từ khi đi thăm Quảng Bình, một giải lũy dài kinh lý đã khắp. Nếu dư đảng giặc kéo ùa đến thì số quân sung sức ở Kinh còn nhiều, đủ để chống cự. Túng sử có cớ gì khác thì sẽ triệu cũng chưa muộn. Nay bọn Diệu, Dũng chưa trừ được, chính cần phải đóng trọng binh ở đấy để ép bọn giặc sắp tiêu diệt. Gần đây quân thứ Bình Định mỗi trận mỗi báo tin thắng, thế giặc đã cùng quẫn, nếu quân Thanh Hảo đóng yên chẳng động thì mặt ấy sợ khó toàn thắng. Ta đã dụ cho Nguyễn Văn Thành chỉnh đốn quân đội để thừa cơ đánh lấy. Khanh nên cùng Lê Chất ngày ngày cả trương thanh thế, làm ra vẻ tiến công, khiến quân giặc phòng phía ngoài thì yếu phía trong, ngóng đằng trước thì hỏng đằng sau. Nếu nó hướng phía trong mà đánh thì hợp sức mà giáp công để quét sạch dư đảng giặc”.
Nguyễn Huỳnh Đức xin về kinh chầu hầu, Vương trả lời rằng:
“Ngươi là danh tướng lão thành của triều đình, một lòng trung ái, cùng nước vui buồn. Thị Nại [thành phố Qui Nhơn, Bình Định] là nơi chứa lương thực, ba quân đều trông vào; được ngươi ở đó ta đã yên lòng. Nếu ngươi nghiêm phòng được đường thủy đường bộ, giữ được vạn toàn, đó cũng là một việc lớn trong việc đánh giữ Quy Nhơn vậy. Nay tới kỳ mưa lụt, đường biển không tiện, nên gắng ở lại!”.
Tháng 9 ngày Ất Hợi [8/10/1801], cho sửa lại sơn lăng. Trước kia quân Tây Sơn cho đào lăng thân phụ Nguyễn Vương ở xã Cư Hóa, sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi; nay Huyên đem việc tâu lên. Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng, tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại; lăng theo nền cũ mà xây cao lên. Ngày Kỷ Hợi [1/11/1801], Vương thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả. Sai đổi xã Cư Hóa thành xã Cư Chính [huyện Hương Thủy, Thừa Thiên], dân được miễn dao dịch, cho Ngọc Huyên làm Cai đội
Bọn Nguyễn Văn Trương, Đặng Trần Thường và Phạm Như Đăng dâng sớ rằng:
“Hiện nay từ sông Gianh đến Hoành Sơn, đảng giặc tuyệt không dòm ngó. Thám tử đều nói rằng ở Bắc Hà mọi nơi đều náo động, chờ ngóng quân vua, mà quân giặc ở Nghệ An thì không đầy 3 nghìn, ta có thể thừa cơ được. Xin phái thêm binh voi và thuyền ghe cùng với bọn thần thủy bộ đều tiến, một là để mở mang bờ cõi, hai là để ràng buộc lòng người, chính là cơ hội lớn cho nghiệp trung hưng. Vả đảng giặc ở Quy Nhơn lấy Nghệ An làm nơi trong ngoài cùng tựa, Nghệ An đã mất thì Diệu, Dũng phải nản lòng, Quy Nhơn có thể nhổ nước miếng vào bàn tay mà lấy được”.
Vương dụ rằng:
“Việc Bắc Hà tuy rằng có chỗ thừa cơ được, nhưng nay đương mùa mưa, tiến quân đường bộ rất khó vận chuyển lương thực. Bọn khanh nên điều bát binh thuyền để tiếp ứng với nghĩa binh ở Biện Sơn [huyện Tĩnh Gia, thuộc tỉnh Thanh Hóa] mà bộ binh thì giữ Hoành Sơn giả trương thanh thế để kìm hãm bọn giặc cho các đạo quân ứng nghĩa dễ dàng đánh chiếm. Ta cũng sắp phái quân dinh Phấn dực định ngày tiến ra”.
Bọn Nguyễn Văn Trương lại dâng sớ:
“Địa thế lũy Trấn Ninh rất rộng, tiền triều của ta đặt hiểm để chống quân Trịnh, nhờ có lòng người Thuận Hóa, liều chết cố giữ, mới được khỏi lo. Nay dùng tù binh Bắc Hà đóng giữ, dù nhiều cũng có làm gì? Huống chi phòng bị nhiều ngả, ngó chỗ nọ hỏng chỗ kia, mà thân binh của bọn thần thì chả còn được mấy. Nếu đợi quân giặc vào sâu thì ngăn trong ngăn ngoài, hai đường lý thế đều khó, cho nên trước đây xin thêm quân để tiến đánh là muốn đi bước trước mà chế giữ người, chứ không phải dám coi thường địch mà khinh động. Nếu nay cho là chưa nên cử sự vội vàng thì cũng xin kíp phái binh thuyền Phấn dực để cùng với một viên trong bọn thần đến sông Gianh đóng giữ. Nếu địch đến xâm phạm thì đã có thủy bộ dựa nhau để giữ thì dù chúng có leo như vượn vượt như chim cũng không thể nào qua được, mà một giải Động Hải Trấn Ninh có thể giữ được vạn toàn”.
Vương bèn sai Tống Phước Lương đem quân dinh Phấn dực đi thuyền chiến tiến thẳng đến sông Gianh và Đặng Trần Thường đem quân sở bộ và hai vệ Đằng uy, Nghị uy theo đường bộ Động Hải tiến ra để hiệp lực với nhau chống giặc, nhất thiết quân cơ đều theo Nguyễn Văn Trương tiết chế. Lương đến cửa biển Tùng Luật [cửa Tùng, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị], bị gió ngược ngăn cản, Vương lại cho triệu về và dụ cho Đặng Trần Thường đem bộ binh đi trước, đóng giữ bảo Thanh Hà [huyện Bố Trạch, Quảng Bình], từ sông Gianh trở ra phàm việc quân quốc quan trọng đều ủy phó hết thảy.
Cựu thần nhà Lê tại trấn Yên Quảng là Phạm Công Tuấn phụng mật chỉ nhóm họp nghĩa binh, đánh phá thủy quân Tây Sơn ở Vân Đồn [Quảng Ninh]. Tây Sơn thêm quân tiếp chiến, Tuấn thế cô bèn đem hơn 170 người thuộc hạ đáp năm chiếc chiến thuyền vào cửa biển Nhật Lệ [Đồng Hới, Quảng Bình]. Nguyễn Văn Trương tâu lên, Vương triệu về Kinh yên ủi hỏi han. Tuấn tình nguyện tòng quân ra sức; bèn sai đến sông Gianh theo Đặng Trần Thường.
Thiếu phó Tây Sơn Trần Quang Diệu cùng bộ hạ Từ Văn Chiêu đem 18.000 quân tinh nhuệ đóng tại địa phận Thanh Hảo [huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi], đối lũy với quân Nguyễn, lại sai hơn 2.000 quân ngầm vượt thượng đạo mưu đánh úp sau lưng. Vương nghe tin, lệnh Lê Văn Duyệt và Lê Chất chia quân đóng giữ đường sau, nhắm nơi xung yếu dựng đồn để đề phòng bất trắc.
Tháng mười [6/11-5/12/1801], Nguyễn Văn Thành đánh địch ở đồn Chỉ Lô [Lò giấy], thừa thắng đuổi tràn, đến sông Tân An [sông Côn, huyện An Nhơn, Bình Định], phá luôn hơn 20 đồn. Tư đồ Võ Văn Dũng sai Vệ úy vệ Tín uy là Nguyễn Văn Trí đem 700 quân tiếp đánh. Trí đem hết quân theo phía Nguyễn; Thành bèn dựa sông Tân An làm lũy để đóng giữ.
Thiếu phó Trần Quang Diệu nghe tin quân Dũng bại, trở về bảo Lĩnh Vạn, ủy cho Từ Văn Chiêu chống giữ Thanh Hảo. Thấy số quân ngày một giảm, bèn vét hết dân Quy Nhơn từ 12 đến 60 tuổi làm lính; đàn bà và người già thì bắt khiêng vác, do đó ruộng nương bỏ hoang, giá gạo lên vọt, một phương giá 7 quan; dân có kẻ chết đói.
Lê Văn Duyệt và Lê Chất đánh nhau với địch ở núi Phong Yêu, thắng trận. Vương được tin ban lệnh rằng:
“Bọn giặc đường cùng sức quẫn, thường mong được đánh để tìm đường sống. Gần đây quân ta cố thủ, thực là đắc sách. Nay đương chầu mưa lụt, đường biển không tiện, quân thủy quân bộ chưa tiếp được nhau, nếu nay tiến công một đường, dù có thắng được những trận nhỏ thì cũng chưa phải đã là mưu kế hoàn toàn. Huống chi chúng là giặc cùng, càng cần phải đề phòng cẩn thận, chớ có coi thường. Đợi sau tiết đông chí sóng gió êm lặng, thủy bộ đều tiến, hợp sức giáp công thì một trận là có thể toàn thắng. Bọn khanh nên nghĩ kỹ”.
Vương lại lo các tướng sĩ lâm trận, chém giết bừa bãi, nên khuyên dụ:
“Trừ cỏ xấu, cốt để nuôi cho lúa tốt; giết kẻ ác, cốt để cứu giúp dân lành. Vả chăng một phủ Quy Nhơn đều là đất đai cũ, nhân dân cũ của ta, từ thuở Tây Sơn nổi loạn, dùng làm sào huyệt, nhân dân bị thế bắt buộc, không thể không theo. Mà phần nhiều người bản tính vẫn còn, lương tâm chưa mất, nên tới năm Quý Sửu [1393] ta diễn binh, năm Kỷ Mùi [1799] bị vây thành, thì họ đem lòng thành mà ra sức, cùng quân ta hợp lực giữ cô thành, trải hơn một năm, nếm đủ mọi mùi gian khổ, rốt cuộc lại đều mắc vào lồng lưới của giặc. Nay chúng nó lại thải bỏ người già yếu, chọn lấy người trai tráng, dồn những người vô tội ấy vào chỗ mũi giáo đầu gươm, đó là cái thế không làm sao được, tình cũng đáng thương. Cho đến những kẻ a tòng cũng đều là con đỏ của triều đình cả, bực chí nhân không bỏ ai ở ngoài, sao lại đòi hỏi quá nghiệt! Vậy ra lệnh từ nay phàm khi đối trận chém giết thì không kể, còn bắt được người tại trận, không kể người ở Thuận Hóa, Bắc Hà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, đều được thưởng như nhau bất tất phân biệt; người từ Quảng Ngãi về Bắc thì cho lưu lại để thu dùng, người Quy Nhơn trở vào thì cấp cho tiền gạo rồi thả về. Đó thực là đánh bằng nghĩa mà dạy bằng nhân vậy. Ta đã đinh ninh dặn bảo, nếu cố ý trái lệnh giết càn thì tức là hạng quân kiêu căng giận dữ, do lòng tàn nhẫn, đều chiếu theo quân pháp trị tội”.
Tư đồ Võ Văn Dũng lại chiếm giữ bảo Khôi Diêu [Lò vôi] , đắp lũy đất từ Tháp Cải đến Sản Sơn, triệt phía sau lưng quân Nguyễn. Nguyễn Văn Thành sai các quân đánh úp, phá được bảo, thu được nhiều khí giới.
Bấy giờ Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản dâng biểu sang nhà Thanh xin cống gộp các năm Mậu Ngọ [1798], Canh Thân [1800], Nhâm Tuất [1802], Giáp Tý [1804]. Vua Gia Khánh cho rằng Quang Toản muốn biểu đạt sự cung thuận để mong được giúp đỡ, tuy nhiên vẫn chấp thuận cho cống gộp 4 năm:
“Ngày 17 tháng 10 năm Gia Khánh thứ 6 [22/11/1801], Lại dụ:
Tạ Khải Côn thay mặt dâng tờ biểu về lệ cống của Quốc vương An Nam. Trước đây đã có chỉ dụ lệnh đem cống phẩm năm Canh Thân [1800], cùng cống phẩm kỳ trước, gộp lại để cùng trình tiến vào năm vào năm Nhâm Tuất [1802]. Lúc này viên Quốc vương dâng biểu tâu rằng không chỉ xin cung tiến cho các năm Mậu Ngọ [1798], Canh Thân [1800], lại xin cống cho cả lần sau tức Giáp Tý [1804]; xin chuẩn cho vào năm Nhâm Tuất [1802] đến kinh đô. Viên Quốc vương nhân mấy năm gần đây chiến tranh với Nông Nại [Ðồng Nai]; nay dự bị triều cống, sai Sứ đến kinh đô, bất quá muốn biểu đạt sự cung thuận đặc biệt, để mong Trẫm soi xét thêm, hoặc có thể xin Thiên triều trợ giúp; nhưng ý này cũng không diễn đạt rõ ràng. Viên Quốc vương khẩn khoản xin lệ cống năm Giáp Tý [1804] cho cống gộp vào để năm Nhâm Tuất [1802] sai sứ đến trình tiến, nếu không chấp thuận thì không biểu thị sự thể tuất. Nay lệnh Tạ Khải Côn truyền dụ cho Nguyễn Quang Toản rằng nước này ở nơi góc biển xa xôi, hàng hải vạn dặm, cống kỳ năm Giáp Tý cách năm Nhâm Tuất không xa, nếu chia ra để trình tiến thì không khỏi bạt thiệp đi về vất vả. Nay đã tâu rõ, đại Hoàng đế soi xét lòng thành, đặc gia ơn chấp nhận cho gộp 4 lần cống Mậu Ngọ [1798], Canh Thân [1800], Nhâm Tuất [1802], Giáp Tý [1804], đề năm sau [1802] sai Sứ đến kinh đô trình tiến, nhắm làm rõ chính sách nhu viễn. Ðem dụ này truyền lệnh hay biết.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 89, trang 2-3)
Cũng trong tháng này, tên đầu sỏ cướp biển Trần Thiêm Bảo, từng được Vua Quang Trung phong chức Tổng binh, mang cả gia đình trở về Trung Quốc đầu thuận; Vua Gia Khánh quyết định cho an sáp tại phủ Nam Hùng, Quảng Đông:
“Ngày 18 tháng 10 năm Gia Khánh thứ 6 [23/11/1801]; dụ các Quân cơ đại thần:
Bọn Cát Khánh tâu:
‘ Tên cướp tại biển Di Trần Thiêm Bảo mang quyến thuộc đến đầu thuận, có hay không nên tha tội?’
Từ trước tới nay cướp ngoài biển mang đồng bọn đến đầu thuân, thường được thưởng cấp mũ đỉnh đái. Trần Thiêm Bào là tên cướp nỗi tiếng, từng được An Nam ngụy phong, tội lỗi quá lớn. Nay hối tội đầu thú, không tiện cấp cho y mũ đỉnh đái; tức theo lời xin của viên Tổng đốc, đem Trần Thiêm Bảo, con y, cùng gia thuộc an sáp tại phủ Nam Hùng, do quân doanh trong huyện quản thúc; cùng minh bạch hiểu dụ rằng y nhận ngụy chức của An Nam, tội đáng lăng trì, nghĩ đến việc tự ra đầu thú, miễn tội chết, hãy biết lo sợ, yên tĩnh giữ pháp luật, cố gắng làm dân lương thiện; nếu còn sinh sự thì đáng nghiêm trị, không tha……” (Nhân Tông Thực Lục quyển 89, trang 3-4)
Duyệt tờ sắc chiếu của Vua Quang Trung ban cho Trần Thiêm Bảo trong đó có câu “Thị thiên hạ như nhất gia, tứ hải như nhất nhân” (Coi thiên hạ như một nhà, bốn biển như một người), hàm ý muốn thống nhất các nước; khiến Vua Gia Khánh rất giận, bởi Vua cha Càn Long lỡ o bế một kẻ thù đứng sát nách mình:
“Ngày 14 tháng 11 năm Gia Khánh thứ 6 [19/12/1801]; dụ các Quân Cơ Đại thần:
Bọn Cát Khánh tâu ‘Cướp biển Trần Thiêm Bảo mang cả gia quyến đầu thú, lại trình nạp sắc ấn của An Nam cấp cho.” Tấu triệp xưng “Trần Thiêm Bảo nhân đánh cá gặp bão, vào năm Càn Long thứ 48 [1783 ] bị Nguyễn Quang Bình bắt, phong chức Tổng binh v.v..’
Có thể thấy trong nhiều năm hải tặc quấy phá đều do An Nam chứa chấp gây ra. Lúc Nguyễn Quang Bình còn sống, bắt người của nội địa, gia phong ngụy tước hiệu, rồi tung ra biển cướp phá. Nguyễn Quang Bình đích thân chịu ơn nặng của Hoàng khảo [Vua cha], làm việc táng tận lương tâm, thực không đáng là con người. Nay duyệt lại tờ ngụy chiếu của viên Quốc vương này có câu ‘ Thị thiên hạ như nhất gia, tứ hải như nhất nhân’ (Coi thiên hạ như một nhà, bốn biển như một người); thật thuộc vào loại ếch ngồi đáy giếng, Dạ Lang tự đại (1). Nghĩ về sự cuồng vọng này, đáng mang quân hài tội thảo phạt; hiềm nước này hiện đang giao tranh với Nông Nại; nên không thừa lúc nguy cấp sát phạt thêm. Xét về thiên lý, nước này sẽ mất trong sớm tối; nên không cần dùng văn để bắt hối lỗi, cũng không cần thông báo cho biết; những ấn sắc của bọn chúng cấp lệnh cho thiêu hủy. Viên Tổng đốc nên nghiêm lệnh tướng biền,tuần tiễu ngoài biển, gặp bọn hải tặc An Nam, lập tức truy nã trừng trị.Bọn đầu thú Trần Thiêm Bảo, cùng quyến thuộc bọn giặc, y theo lời xin của viên Tổng đốc, an sáp tại phủ Nam Hùng nơi xa vùng biển. Thỉnh thoảng bất ngờ kiểm tra, không để chúng trở lại biển gây sự. Đem dụ này truyền đi để hay biết.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 90, trang 31-33)
Tháng mười một [6/12/1801-3/1/1802] Nguyễn Văn Trương được tin thám tử báo rằng quân Tây Sơn sắp vào đánh, bèn dâng sớ xin phái thêm quan quân đóng đồn ở Dinh Trạm [Quảng Trị] để phòng ngự, một là để giữ mặt trước kinh thành, hai là để làm sách ứng cho Động Hải [Đồng Hới]. Vương bèn sai Khâm sai chưởng cơ giám quân ngũ dinh Phạm Văn Nhân quản binh lính dưới quyền và kiêm lĩnh các vệ thuộc Hậu quân đến Dinh Trạm đóng đồn, phái đi tuần dò các nơi xung yếu miền thượng du.
Sai Phó dinh Trung thủy là Đào Văn Lương đến Hồ Xá [huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị] do đường kênh cũ từ Thượng Lập suốt đến Dinh Trạm, chỗ nào sâu nông rộng hẹp nhất nhất ghi rõ để tâu. Lại sai người đến nguồn An Đại [huyện Quảng Ninh, Quảng Bình] ngắm xem từ Mang Khê suốt đến đất Bố Chính, vẽ bản đồ chi tiết về đường sá dâng lên.
Quân thứ tại Thanh Hảo [huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi] có Phó đội vệ Chương võ tên là Thuần ban đêm đem lính đến vây nhà dân ở xã Bồ Đề, tra thu tài sản kẻ làm cho địch. Người trong ấp nghe tiếng kêu đến cứu, tên Thuần đánh nhau bị chết. Lê Văn Duyệt hạ lệnh bắt dân bồi thường số tiền là 1.236 quan nộp vào kho. Vương nghe tin nói:
“Trong luật nói ‘ban đêm đến nhà người, không là dâm thì là trộm’, đương trường giết chết [giết tại chỗ] không có tội. Thuần đương đêm tự tiện vào nhà người ta, lạ gì người ta không ngờ là trộm, đã không có lời tử tế, lại còn đánh nhau, chết là đáng rồi, còn đền gì nữa”.
Rồi hạ lệnh chỉ cho lấy tiền vàng hương 36 quan, còn thì trả hết cho dân.
Đại đô đốc Tây Sơn là Lê Đình Chính đem hơn 70 quân đến quân thứ Thanh Hảo đầu hàng. Lê Văn Duyệt sai đóng gông giải về kinh; Vương tha tội, Chính nhân đó đem dâng địa đồ 13 đạo thừa tuyên ở Bắc Hà.
Lại sai Tống Phước Lương quản suất binh thuyền đến cửa biển Tùng Luật [cửa Tùng, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị], chờ thuận gió sẽ vượt biển tiến ra sông Gianh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình] hội với Đặng Trần Thường.
Sai Hữu tham tri bộ Công Nguyễn Khắc Thiệu đem hai cơ Kiên châu và Thiện châu cùng hơn 390 người ty Công bộ về Gia Định, đóng 200 chiếc thuyền ô, thuyền sai và thuyền chiến; sai Nội viên Tăng Quang Lư đi Hà Tiên chế diêm tiêu để sung quân dụng.
Phá hủy mộ Vua Tây Sơn Nguyễn Huệ, bửa hòm, phơi thây bêu đầu ở chợ. Bắt con trai, con gái, họ hàng và tướng hiệu 31 người xử lăng trì, cắt nát thây; rồi đem việc khôi phục kinh đô cũ và giết trừ kẻ địch bá cáo cho thiên hạ biết, lời cáo như sau:
“ Then máy trời đất không sai, đông qua rồi lại sang xuân. Khí hóa xưa nay vẫn thế, loạn hết thì đến trị. Xưa Thiếu Khang (2) nhà Hạ dấy một quân mà trả được thù của tổ phụ ; Quang Vũ nhà Hán có mấy nghìn binh mà rửa được hận của thần người. Ta nay đến vận trung hưng, gặp cơ tái tạo, tướng sĩ ùa tới, xa gần hưởng theo. Cơn giận bùng lên, quét sạch gió bụi Tây tặc; quân vua kéo tới, thu hết bờ cõi Nam Hà. Hiện nay từ Phú Yên, Quy Nhơn, đến Thuận Hóa thẳng tới Hoành Sơn, đều đã thuộc vào đồ bản. Bắt được con cái tướng tá của Nguyễn Văn Huệ nhiều không kể xiết. Thật là lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt, loạn thần tặc tử, pháp luật không dung. Nay đã phá hủy mồ của vợ chồng giặc Huệ, bêu đầu phơi xác. Đồ đảng của chúng bắt được cũng đều giết hết. Vậy đặc biệt bá cáo, để hả lòng người”.
Sai Sứ đem quốc thư và các thứ vàng bạc, đồ sứ và hương quế, sang nước Xiêm đáp lễ.
Quân Tây Sơn do Từ Văn Chiêu chỉ huy xâm phạm đồn Mỹ ý [Đức Phổ, Quảng Ngãi]. Lê Văn Duyệt giục Trưởng đồn Trịnh Ngọc Trí mang quân ra đánh và tự mình đem tinh binh giáp công, khiến quân địch tan vỡ.
Nguyễn Văn Thành kén quân cảm tử hơn 100 người, ban đêm sai đến đánh phá đồn Phủ Sơn; khiến Đô đốc Tây Sơn Nguyễn Thắng thua chạy.
Sai Trưởng tàu Phương phi là Nguyễn Văn Chấn [Vannier] và Trưởng tàu Bằng phi là Lê Văn Lăng [Forcant] chở 15.000 phương gạo từ Quảng Nam đến quân thứ Thị Nại.
Ban cho Lê Chất 500 quan tiền, sai Lưu trấn Gia Định đến thăm hỏi mẹ và vợ con. Vương phủ dụ Chất rằng:
“Ta đối với khanh sau trước một lòng, trong ngoài không phân cách, người khác không bì được. Gần đây nghe tin trong lời nói năng Lê Văn Duyệt có chỗ hơi quá đáng, mà khanh cũng nín nhịn không lấy làm quan tâm, ta đã biết rõ rồi. Khanh nên hiểu rõ ý ta, lấy việc nước làm trọng, hà tất phải nói nhiều. Vả ở trong quân chi phí rất nhiều, đặc biệt ban cho số tiền này tiêu dùng vào việc khoản đãi tướng sĩ và tân khách”.
Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản cử đại binh thủy bộ 30.000 người từ Bắc Thành vào đánh, nhắm làm thế thanh ứng cho Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng ở Quy Nhơn; vợ Diệu là Bùi Thị Xuân cũng đem thuộc hạ 5.000 người đi theo. Quang Toản đến dinh Hà Trung [huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh], khởi đầu sai Tư lệ Đinh Công Tuyết đem 3.000 quân xâm phạm. Đặng Trần Thường mang 500 quân tuần tiễu tại Hoành Sơn [biên giới Hà Tĩnh, Quảng Bình] bắt gặp, quân của Thường chỉ có hơn 500 người, hai bên giao chiến suốt buổi sáng, quân Nguyễn nhiều người chết và bị thương, Thường rút lui về đồn Thanh Hà [huyện Bố Trạch, Quảng Bình], đem sự việc báo lên.
Tư lệ Đinh Công Tuyết tiến đóng đồn ở Bụt Sơn. Thiếu tể Nguyên đóng đồn ở Pháp Kệ [huyện Quảng Trạch, Quảng Bình], Tổng quản Siêu đóng đồn ở Ba Đồn [huyện Quảng Trạch, Quảng Bình], binh thế rất thịnh. Đặng Trần Thường lui giữ Ngõa Dinh [xã Thổ Ngõa, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình], cho mang thư về báo.
Vương bàn việc thân chinh; ban dụ cho quân thứ Thị Nại Nguyễn Văn Thành, quân thứ Thanh Hảo Lê Văn Duyệt và Lê Chất rằng:
“Quân phẫn uất của Quang Toản đánh một trận có thể phá được, duy bọn Diệu, Dũng chiếm giữ Bình Định thì không thể để cho lan tràn. Nay quân chia hai đường thấy có thể được, hay biết là khó thì chỉ bọn khanh tự liệu. Đều phải hết lòng trù tính, tuỳ cơ hoặc đánh hoặc giữ, để cho ta được thư mối lo về phía nam”.
Sai Quốc thúc Tôn Thất Thăng Lưu thủ Kinh thành, Phó vệ úy Túc trực Nguyễn Văn Khiêm đem các quân Thần sách và Ngự lâm theo lệnh của Thăng, Quản dinh Hữu thủy Nguyễn Công Nga và Quản dinh Tiền thủy Nguyễn Hữu Chính đem binh thuyền đóng giữ cửa Eo [cửa Thuận An].
Ngày Ất Mùi tháng 11 [27/12/1801], xa giá Vương xuất phát tự Kinh sư. Ngày Nhâm Dần [3/1/1802] đến Động Hải [Đồng Hới, Quảng Bình], sai phái các tướng đóng giữ để đề phòng quân địch.
Bấy giờ dân tộc Nùng tại châu Bảo Lạc [Cao Bằng] chống Tây Sơn, mang quân hướng về thành Hà Nội. Vua Thanh được Tổng đốc Lưỡng Quảng Cát Khánh tâu lên; tiên liệu nhà Tây Sơn sắp sụp đổ, nhưng quyết không can thiệp:
“Ngày 21 Giáp Ngọ tháng 11 năm Gia Khánh thứ 6 [26/12/1801]; dụ các Quân cơ đại thần:
Cát Khánh tâu:
‘Người Di tại châu Bảo Lạc, An Nam là bọn Nông Phúc Liên trợ giúp Nông Nại đánh nhau với Nguyễn Quang Toản, hiện tiến công bằng 3 đường đến thành nhà Lê.’
Ðất An Nam mấy lần bị Nông Nại đánh chiếm, nay lại bị tiến bức thành nhà Lê; xem ra Nguyễn Quang Toản chưa chắc giữ được lãnh thổ. Nhưng Di nước ngoài phe nọ phe kia gây binh, nội địa không can thiệp. Bọn Cát Khánh nên giữ trấn tĩnh, không cần hỏi nhiều; chỉ cần thông sức ra lệnh các quan ải dọc biên giới gia tăng đề phòng, cùng trinh thám mật; nếu như An Nam bị Nông Nại thôn tính, Nguyễn Quang Toản gõ cửa quan xin mệnh, hoặc Nông Nại sau khi chiếm cứ An Nam dâng biểu đến Lưỡng Quảng; đến lúc đó Cát Khánh đưa tình hình thực tại tâu lên, để đợi chiếu chỉ liệu biện. Ðưa dụ này lệnh hay biết.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 91, trang 11-12)
Tháng chạp [4/1-2/2/1802], quân Tây Sơn đánh vào Ngoã dinh [xã Thổ Ngõa, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình], Đặng Trần Thường lui về Động Hải [Đồng Hới, Quảng Bình] .
Nước Vạn Tượng sai sứ mang quốc thư đến hành tại Động Hải bái yết; Vương ban tặng hậu.
Binh thuyền của Tống Phước Lương đến cửa biển Nhật Lệ [Đồng Hới, Quảng Bình]; Vương rất mừng, bảo các tướng rằng:
“Đường biển thuận lợi là sức thần giúp”.
Quân Tây Sơn chiếm xã Trấn Ninh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình], thiêu hủy nhà cửa của dân.
Vương thân hành đi tuần xét, khiến các quân dựng rào gỗ để đợi, ngày đêm phòng bị nghiêm ngặt; lại đặt nhiều thám tử, động tĩnh trong quân địch không việc gì là không biết.
Vương hỏi Nguyễn Văn Trương nên đánh hay giữ. Trương thưa rằng:
“Giặc nay vào sâu, quân ta đóng vững để giữ, chờ khi đường biển gió nước hơi tiện, thần xin đem đại đội thủy binh đánh úp thuyền giặc, thẳng tiến vào sông Gianh chặn lối về của bộ binh giặc thì chúng mảnh giáp cũng không còn nguyên”. Vua cho là phải.
Sai Tham quân Tượng dinh quân Thần sách là Lê Nguyễn đem quân vệ Hưng nghĩa đi Mang Khê và Trà Khê thuộc nguồn An Đại [huyện Quảng Ninh, Quảng Bình] xem thế đất mà đóng quân để phòng giặc.
Lê Văn Duyệt dâng sớ nói bọn Tri huyện thuộc ba huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Hoa [huyện Mộ Đức] thuộc Quảng Ngãi đến quân thứ hàng, xin cho họ giữ chức như cũ; Vương chuẩn y.
Sai Gia Định đóng 10 chiến thuyền, đặt tên theo các loài chim: chiến thuyền Anh [ác], chiến thuyền Vũ [vẹt], chiến thuyền Thước [quạ], chiến thuyền Nga [ngỗng], chiến thuyền Quyên [chim cuốc], chiến thuyền Phu [vịt trời], chiến thuyền Lộ [cò], chiến thuyền Diên [diều hâu], chiến thuyền Chiên [chim cắt], chiến thuyền Ly [chim oanh]
Nguyễn Văn Thành dâng sớ mật nói rằng bọn tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu mưu đồ liều chết giữ thành, chưa có thể đánh phá ngay được, mà lương quân ở Thị Nại thì chỉ chi được vài tháng nữa, sợ khó kế tiếp được. Vương sai chỉ huy dinh Tiền thủy là Nguyễn Hữu Chính chở 25.000 phương gạo ở kinh đô cấp cho.
Chú thích:
- Dạ Lang tự đại: Đời nhà Hán có nước Dạ Lang nhỏ bé [tại vùng Quí Châu hiện nay] làm Vương một châu, không biết nhà Hán to lớn; Vương nước đó hỏi Sứ giả nhà Hán rằng “ Hán và nước ta ai lớn hơn”. Do câu nói đó, người đời gọi kẻ ngông cuồng không lượng sức là Dạ Lang tự đại.(Hán Thư, Tây Nam Di truyện)
2.Thiếu Khang: Vua trung hưng thời nhà Hạ Trung Quốc [1875-1855 trước Công Nguyên] , diệt Hàn Trác kẻ chiếm ngôi, rồi lên làm Vua.