Thông tin

nghiencuulichsu.com là chuyên trang giành riêng cho những người đam mê và muốn tìm hiểu về lịch sử. Trang chọn lọc đăng tải các bài nghiên cứu, biên khảo, dịch thuật về các chủ đề liên quan đến lịch sử thế giới và Việt Nam.

Để đóng góp và gửi bài viết cho trang xin email về thongtin.ncls@gmail.com

50 thoughts on “Thông tin

  1. Rất cám ơn trang web đã cho tui được những kiến thức mà tui nghĩ không đâu có được . Nhưng … cho tui nói thật , trang Web có phần nghiêng về một cái gì đó không được chính xác lắm nhất về chính trị và tư tưởng. Cho nên khi tui đọc tui vẩn thấy thật sự không thoải mái và gượng ép lắm . Vì vậy khi viết sữ xin đừng đề cập hay nghiêng về một phía quá nhiều như vậy . Tuy nhiên , tui vô cùng cám ơn một kho báu nho nhỏ của trang web đã dành tặng cho những ai yêu lịch sữ như chúng tui .

    • Xin tán đồng với ý kiến rất thật lòng của anh Nguyen Dat. Sự thật, công bằng, chính xác và công tâm là những yếu tố hàng đầu khi viết sử. Tôi muốn con cháu của dân tộc có cái nhìn chính các về đất nước và con người Việt Nam

    • Mình thấy một bài viết về thuyết âm dương của page có đề cập đến tác phẩm “Quốc ngữ”. Page có thể cho mình xin thêm thông tin như tên tác giả, năm sản xuất nào và ở đâu về tác phẩm “Quốc ngữ” chứ ạ!

  2. Rất là tuyệt vời. Việc tìm về những chân xác lịch sử cho chúng ta hiểu rõ về mình hơn. Ví dụ như việc xưa nay chúng ta thường tự hào về việc Nguyễn Huệ đại phá 20 vạn quân Thanh (hoặc 29 vạn) nhưng con số thực tế chỉ là khoảng 2.1 vạn, con số chính binh nhà Thanh tham chiến trong chiến dịch Kỷ dậu chỉ khoảng 1.1 vạn cho ta thấy một bức tranh khác về lịch sử. Tất nhiên vì thế ta nhận thức rõ về mình hơn.

    Xin cảm ơn chủ trang.

  3. Nếu trang web này có sớm cách đây khoảng 20 năm thì việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử của Việt Nam không đến nỗi tồi tệ như ngày nay. Nhưng dù sao muộn còn hơn là không có!

  4. Xin cảm ơn chủ trang, bước chân đến đây tôi như một kẻ đói rách lê gót vào bữa đại tiệc của hoàng gia !
    Cho dù có nhiều món ngon, nhưng một vài món cũng có đôi phần đắng cay..


    Cuộc đời vốn dĩ bể dâu
    Biết đâu đắng khổ biết đâu thái bùi
    Biết đâu duyên phận ngậm ngùi
    Đoạn cơn bĩ cực, đến bờ hoa đăng

  5. Liên hệ gửi bài viết, nhận thông tin từ trang web này, cách nào? Tham gia nhóm nghiên cứu lịch sử trên fb của nhóm, cách nào?
    Trân trọng cảm ơn. Chúc trang web và fb của Nghiên cứu lịch sử ngày càng phát triển, thu hút.

  6. TÔI MUỐN BIẾT QUÝ DANH CHỦ TRANG WEB NÀY (CÓ NHIỀU TÀI LIỆU TỐT, CẦN BIẾT NGUỒN VÀ TÁC GIẢ). GÓP THÊM: MỘT SỐ BÀI VIẾT (CỦA CHỦ TRANG, HOẶC NGƯỜI KHÁC) NHƯNG KHÔNG CÓ TÁC GIẢM, NĂM THÁNG,.. KHÁ BẤT TIỆN. THANKS YOU

  7. Mình thích đọc và tìm hiểu lịch sử từ hồi còn học cấp hai, nhưng tài liệu ít ỏi không biết kiếm đâu mà xem. Tình cờ qua facebook, biết được trang này vẫn thường vào đọc luôn. Các bài viết ở đây rất sâu, rất chi tiết, chứa đựng cả những điều trái ngược với sách giáo khoa và các tài liệu chính thống nhưng thế mới gọi là nghiên cứu và tôi vẫn lọc ra được những thông tin hữu ích. Tôi cũng dụng tâm xây dựng được một trang blog về lịch sử tại địa chỉ: http://cauchuyenlichsu.blogspot.com.
    Mong các bạn góp ý thêm.

  8. Chưa hề có một dân tộc nào trên thế giới bị nhét vào đầu hàng nhiều thập kỷ những thông tin xuyên tạc , bóp méo , trẻ em bị nhồi sọ tồi tệ hơn các chế độ phát xít Nhật, Ý của Hitler, Mussolini trong đầu thế kỹ 20.
    Sự ra đời của trang điện tử “ Nghiên cứu Lịch sử” là đáp ứng đúng mong đợi của mọi tầng lớp nhân dân , nhất là với những ai đang trăn trở…nhưng còn e lệ.
    Trong khi chờ đợi sự xuất hiện nhiều sự thật nay mai… xin cám ơn công đức phát hiện và nuôi duỡng sự thật đầy can truờng .. của nhóm chủ truơng.

  9. Cá nhân mình rất thích trang này, đây được coi như một công cụ hữu ích để giảng dạy trao đổi vấn đề lịch sử và chính trị, văn hóa và xã hội. Đáng chú ý nhất là luôn có nguồn thông tin cực kì đa chiều. Bổ khuyết những gì khuất tất trong nền lịch sử xã hội. Nhưng rất lo lắng là khi Luật ANM thông qua sẽ ảnh hưởng ít nhiều 😦

  10. Tôi xin gửi bài viết này ở mục Lịch sử Việt Nam:

    “Thời đại Văn Lang – Âu Lạc trong lịch sử Việt Nam: Từ truyện ký đến tín sử”

    (Việt Nam, tháng 05 năm 2019. Tích Dã thủ bút)

    Tín sử Việt Nam từ thời đại Hai Bà Trưng về sau khi tiếp xúc và ảnh hưởng của văn minh Trung Quốc là khá rõ ràng. Từ thời Hai Ba Trưng trở về trước, có thời đại Văn Lang – Âu Lạc mà những sự kiện và nhân vật lịch sử của thời đại này phải qua trung gian gián tiếp mới được chép đến. Thời đại Văn Lang-Âu Lạc đặc thù ở Việt Nam chưa tiếp xúc và chưa ảnh hưởng nhiều với văn minh Trung Quốc, cho nên thông tin về thời đại Văn Lang – Âu Lạc chưa đến tai người Trung Quốc, hoặc thông tin rất ít ỏi và mù mờ. Thông qua các truyện ký của các tác giả người Trung Quốc sau khi họ du lịch hoặc sang làm quan ở Giao châu thời Hán-Tấn hoặc An Nam đô hộ phủ thời Đường thì thời đại Văn Lang-Âu Lạc mới được ghi chép trong sách vở, và bắt đầu được các tác giả đưa vào tín sử.

    Liệt kê lần lượt các sách truyện ký được các tác giả trích dẫn qua các thời như sau:

    1. Sử ký – Nam Việt liệt truyện (Tư Mã Thiên thời Hán soạn, Bùi Nhân thời Lưu Tống tập giải, Tư Mã Trinh thời Đường sách ẩn, Trương Thủ Tiết thời Đường chính nghĩa) dẫn Quảng châu ký (Bùi Uyên thời Tấn soạn) chép: 交趾有駱田,仰潮水上下,人食其田,名為駱人。有駱王、駱侯。諸縣自名為駱將,銅印青綬,即今之令長也。後蜀王子將兵討駱侯,自稱為安陽王,治封溪縣。後南越王尉他攻破安陽王,令二使典主交阯、九真二郡人。 Đất quận Giao Chỉ có ruộng Lạc, dân trông nước thủy triều lên xuống mà làm ăn ở ruộng ấy nên đặt tên là người Lạc. Có các chức Lạc Vương-Lạc hầu, các huyện tự đặt chức Lạc tướng đeo ấn đồng dải xanh, tức là chức Lệnh-Trưởng ngày nay vậy. Sau đó con vua Thục đem quân đánh Lạc hầu, tự xưng là An Dương Vương, trị ở huyện Phong Khê. Sau nữa vua Nam Việt là Úy Tha đánh phá An Dương Vương, sai hai sứ giả điển chủ người hai quận Giao Chỉ-Cửu Chân.

    2. Thủy kinh chú – Diệp Du hà (Lịch Đạo Nguyên thời Bắc Ngụy soạn) dẫn Giao châu ngoại vực kí (tác giả khuyết danh thời Tấn) chép: 交趾昔未有郡縣之時,土地有雒田,其田從潮水上下,民墾食其田,因名為雒民,設雒王、雒侯,主諸郡縣。縣多為雒將,雒將銅印青綬。後蜀王子將兵三萬來討雒王、雒侯,服諸雒將,蜀王子因稱為安陽王。後南越王尉佗舉衆攻安陽王,安陽王有神人名臯通,下輔佐,為安陽王治神弩一張,一發殺三百人,南越王知不可戰,却軍住武寧縣。按《晉太康記》,縣屬交趾。越遣太子名始,降服安陽王,稱臣事之。安陽王不知通神人,遇之無道,通便去,語王曰:能持此弩王天下,不能持此弩者亡天下。通去,安陽王有女名曰媚珠,見始端正,珠與始交通,始問珠,令取父弩視之,始見弩,便盜以鋸截弩訖,便逃歸報南越王。南越進兵攻之,安陽王發弩,弩折遂敗。安陽王下船逕出于海,今平道縣後王宮城見有故處。《晉太康地記》,縣屬交趾,越遂服諸雒將。Đất Giao Chỉ ngày xưa khi chưa đặt thành quận huyện, đất đai có ruộng Lạc, dân làm ăn ở ruộng ấy theo nước thủy triều lên xuống, nhân đó có tên là dân Lạc, đặt ra Lạc Vương-Lạc Hầu để làm chủ các quận huyện, huyện phần nhiều có chức Lạc tướng, Lạc tướng đeo ấn đồng thao xanh. Sau có con vua Thục đem ba vạn lính đánh Lạc Vương-Lạc hầu, chinh phục các Lạc tướng, con vua Thục nhân đó xưng là An Dương Vương. Sau nữa vua Nam Việt là Úy Đà đem quân đánh An Dương Vương, An Dương Vương có người thần tên là Cao Thông xuống phụ tá, làm cho An Dương Vương một chiếc nỏ thần, bắn một phát giết ba trăm người, vua Nam Việt biết không đánh được, rút quân về đóng ở huyện Vũ Ninh. Xét sách Tấn Thái Khang kí chép huyện này thuộc quận Giao Chỉ. Vua Nam Việt sai Thái tử tên là Thủy hàng phục An Dương Vương, xưng thần mà thờ vương. An Dương Vương không biết Thông là người thần, đối đãi không phải đạo, Thông bèn bỏ đi, bảo vương rằng: “Giữ được nỏ này thì làm vương thiên hạ, không giữ được nỏ này thì mất thiên hạ.” Thông đi rồi, An Dương Vương có con gái tên là Mị Châu thấy Thủy đoan chính, Châu thông giao với Thủy, Thủy hỏi Châu xin lấy nỏ của cha ra cho mình xem, Thủy thấy nỏ, bèn lén cưa đứt lẫy nỏ rồi trốn về báo cho vua Nam Việt. Vua Nam Việt tiến binh đánh vương, An Dương Vương bắn nỏ thì nỏ đã gãy, liền thua. An Dương Vương xuống thuyền đi tắt ra ở ngoài biển, thành cung cũ của vương ở huyện Bình Đạo ngày nay còn thấy vết tích. Tấn Thái Khang địa kí chép huyện này thuộc quận Giao Chỉ. Vua Nam Việt bèn chinh phục các Lạc tướng.

    3. Hậu Hán thư – Địa lý chí (Phạm Diệp thời Lưu Tống soạn, Lý Hiền thời Đường chú giải) chép: 交趾郡武帝置,即安陽王國。Quận Giao Chỉ đặt ra ở thời (Hán) Vũ Đế, là nước của An Dương Vương.

    4. Bắc Đường thư sao (Ngu Thế Nam thời Đường soạn) dẫn Giao châu ký (Lưu Hân kỳ thời Tấn soạn) chép: 安陽王者其城在平道縣之東北林賀周相睪通徐作神弩趙曲者南越王佗之孫屢戰不克矯託行人因得與安陽王女媚珠通截弦而兵既重交一戰而霸也。An Dương Vương có thành ở phía đông bắc của huyện Bình Đạo, có (người thần là) Cao Thông làm ra chiếc nỏ thần. Triệu Khúc là cháu của vua Nam Việt tên Đà nhiều lần đến đánh nhưng không thắng, bèn muợn cớ gửi người sang nhân đó mà thông giao với con gái của An Dương Vương là Mị Châu, cắt đứt dây nỏ mà đem binh sang đánh nữa, bèn một trận là xưng bá vậy.

    5. Cựu Đường thư – Địa lý chí (Lưu Hú thời Hậu Tấn soạn) dẫn Nam Việt chí (Thẩm Hoài Viễn thời Tiêu Lương soạn) chép: 交趾之地,最為膏腴。舊有君長曰雄王,其佐曰雄侯。後蜀王將兵三萬討雄王,滅之。蜀以其子為安陽王,治交趾。其國地,在今平道縣東。其城九重,周九里,士庶蕃阜。尉佗在番禺,遣兵攻之。王有神弩,一發殺越軍萬人,趙佗乃與之和,仍以其子始為質。安陽王以媚珠妻之,子始得弩毀之。越兵至,乃殺安陽王,兼其地。Đất quận Giao Chỉ rất là màu mỡ, ngày xưa có quân trưởng gọi là Hùng Vương, phụ tá là Hùng Hầu. Sau có vua Thục đem ba vạn lính đánh diệt Hùng Vương đi. Vua Thục nhân đó cho con mình làm An Dương Vương, trị đất Giao Chỉ. Đất nước ấy ở phía đông huyện Bình Đạo ngày nay. Thành nước ấy có chín vòng, chu vi chín dặm, dân chúng đông đúc. Úy Đà đóng đô ở thành Phiên Ngu phát binh sang đánh. Vương có nỏ thần bắn một phát giết một vạn quân Việt. Triệu Đà bèn hòa với vương, rồi sai con mình tên là Thủy làm con tin. An Dương Vương đem con gái tên là Mị Châu gả cho Thủy, Thủy thấy được nỏ thần bèn hủy đi. Kịp khi quân Việt đến liền giết An Dương Vương, chiếm cả nước ấy.

    6. Thái Bình ngự lãm (Lí Phưởng thời Bắc Tống soạn) dẫn Nhật Nam truyện (tác giả khuyết danh thời Tấn) chép: 南越王尉佗攻安陽。安陽王有神人睪通爲安陽王治神弩一張,一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄。Vua Nam Việt là Úy Đà đánh An Dương Vương. An Dương Vương có người thần là Cao Thông giúp An Dương Vương làm một chiếc nỏ thần, bắn một phát giết chết một vạn người, bắn ba phát giết ba vạn người. Đà bèn rút lui, sai Thái tử tên là Thủy hàng An Dương Vương. An Dương Vương không biết Thông là người thần, đối đãi không phải đạo lí, Thông bỏ đi. Thủy có dáng vẻ đẹp đẽ, con gái An Dương Vương tên là Mị Châu thích dáng vẻ ấy mà giao thông với Thủy. Thủy cùng Châu vào kho, lén cưa đứt lẫy nỏ thần, rồi trốn về báo cho Đà. Đà liền ra chỗ không ngờ mà đánh, An Dương Vương vì nỏ gãy quân thua, bèn vượt biển bỏ trốn.

    Những ghi chép trên là của các tác giả thời Tấn về sau, ít nhất cách thời đại Văn Lang – Âu Lạc khoảng 300 – 400 năm. Đại khái nói đất Giao châu thời xưa có quân trưởng là Hùng Vương (雄王) hoặc Lạc Vương (雒王 hoặc 駱王), sau có An Dương Vương (安陽王), cuối cùng bị Nam Việt Vương (南越王) là Triệu Đà (趙佗) đánh chiếm. Các tác giả ấy không thể tự mình biết các sự kiện và nhân vật thời kỳ ấy, mà họ phải đọc các sách thời trước. Xét đất Giao châu lần lượt nội thuộc nước Nam Việt (2, Tây Hán, Đông Hán, Đông Ngô trước khi nội thuộc nhà Tây Tấn, Đông Tấn và các nhà Nam triều là Lưu Tống – Tiêu Tề – Tiêu Lương – Trần rồi đến thời Tùy-Đường.

    Âu Lạc bắt đầu nội thuộc Nam Việt từ thời Triệu Đà đánh phá An Dương Vương. Sử ký – Nam Việt liệt truyện chép sau khi Lữ Hậu mất (năm 180 trước Công nguyên), “Đà đem quân uy hiếp biên giới, đem tài vật mua chuộc các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc, bắt các nước này thần phục theo mình, đông tây vạn dặm”. Triệu Đà cũng gửi thư cho Hán Văn Đế là Lưu Hằng rằng “phía tây, Âu Lạc là nước cởi trần cũng xưng vương.” Tây Âu Lạc hay Âu Lạc là chỉ nước Âu Lạc của An Dương Vương. Âu Lạc nội thuộc Nam Việt thời điểm năm 180 trước Công nguyên, xét ra cũng phù hợp với truyện ký đã dẫn ở trên và phù hợp với tiến trình lịch sử dựng nước Nam Việt của Triệu Đà. Vào năm Tần Thủy Hoàng thứ ba mươi ba (năm 214 trước Công nguyên) lược định đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận (bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và một phần các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam ngày nay), bấy giờ Triệu Đà được làm quan Huyện lệnh Long Xuyên thuộc quận Nam Hải. Sau khi nhà Tần mất dẫn đến Hán Sở tranh hùng thành lập nhà Hán (năm 206 – 202 trước Công nguyên) thì Triệu Đà cát cứ lấy ba quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận và xưng Nam Việt Vũ Vương. Khoảng 20 năm dựng nước tích trữ lương thảo và nuôi dưỡng sĩ dân của nước Nam Việt thì Triệu Đà mới có đủ nhân lực, vật lực chống trả cuộc tấn công của nhà Hán thời Lữ Hậu sai tướng Long Lư Hầu là Chu Táo sang đánh và đủ sức khuếch trương sức mạnh ra các nước xung quanh, đó là “đánh biên ấp của nước Trường Sa, phá mấy huyện rồi rút về”, “đem quân uy hiếp biên giới, đem tài vật mua chuộc các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc”. Thời điểm này, Triệu Đà có sai Thái tử là (Triệu) Thủy sang làm tin và lấy con gái An Dương Vương là Mị Châu cũng khá phù hợp. Tạm tính Triệu Đà xưng Nam Việt Vũ Vương (năm 206 – 202 trước Công nguyên), xưng vương là dựng triều nghi đặt bách quan, lập Vương hậu và bắt đầu sinh Thái tử Thủy, đến lúc chinh phục Âu Lạc (năm 180 trước Công nguyên) là khoảng trên 20 năm, là đủ tuổi để Thái tử Thủy lấy Mị Châu rồi.

    Âu Lạc (甌駱) có lẽ còn gọi là Tây Âu (西甌). Hán thư – Lưỡng Việt truyện: 西有西甌,其眾半羸,南面稱王 (Phía tây có Tây Âu, dân nước ấy nửa yếu nhược, cũng ngoảnh mặt nam xưng vương). Tây Âu (西甌) đọc gần giống Tây Vu (西于), là chỉ vùng đất đóng đô của An Dương Vương. Thời xưa chữ Âu (甌) đọc giống chữ Vu (于), ví như ở đất Chiết Giang xưa có nước Âu Việt (甌越) của bọn Câu Tiễn dòng dõi vua Vũ nhà Hạ, còn đọc là Vu Việt (于越 ) vậy. Vì là phiên âm địa phương nên mỗi người đọc một kiểu, giống như nước Ấn Độ (印度) xưa gọi là Thiên Trúc (天竹), còn đọc là Thân Độc (身毒), đều là phiên âm của từ Hindu trong tiếng Ấn Độ thôi. Tây Âu (西甌) hay Tây Vu (西于) là nước phía tây của Nam Việt, đến thời Tư Mã Thiên chép Sử ký Nam Việt liệt truyện cũng gọi là Âu Lạc (甌駱). Khi quân Hán chinh phục Nam Việt thì Tả tướng Âu Lạc là Hoàng Đồng chém Tây Vu Vương (西于王). Tây Vu Vương có thể là hậu duệ của An Dương Vương được Nam Việt phong cho ở kinh đô Tây Vu hoặc là một tông thất của Nam Việt được phong ở đấy. Kinh đô cũ Tây Vu của Tây Vu Vương sau đó bị đặt thành huyện Tây Vu (西于縣) thuộc quận Giao Chỉ. Thời Đông Hán, sai khi Mã Viện bình Hai Bà Trưng thì chia huyện Tây Vu đặt thêm hai huyện mới là Phong Khê, Vọng Hải. Kinh đô cũ của An Dương Vương thuộc huyện Phong Khê này, cho nên có sách còn nói An Dương Vương trị ở huyện Phong Khê là vì thế.

    Từ khi Âu Lạc nội thuộc Nam Việt, truyện ký về An Dương Vương cũng như lịch sử của Âu Lạc có thể được người Nam Việt bắt đầu ghi lại. Vì thông thường kẻ chinh phục ít nhiều phải điều tra thân thế sự nghiệp của đối thủ, đối thủ của Triệu Đà là An Dương Vương, qua đó gián tiếp biết thêm về Lạc Vương (Hùng Vương), và điều tra về địa lý, nhân khẩu, lịch sử của vùng đất Âu Lạc bị chinh phục nữa. Những thông tin về lịch sử Âu Lạc và thân thế Lạc Vương An Dương Vương lưu truyền qua thời Nam Việt, Tây Hán, Đông Hán, Đông Ngô đến thời Tấn được ghi lại trong các sách truyện ký đã dẫn là rất tự nhiên. Đây là cách tiếp cận thông tin chủ yếu vào thời xưa. Có thể lấy ví dụ, nhà Hán đương thời biết chuyện các nước Dạ Lang và Điền thông qua cuộc nói chuyện của sứ giả nhà Hán là Đường Mông với người Nam Việt, rồi hỏi nhà buôn đất Thục từng buôn bán ở các nước Tây Nam Di mới biết có nước Dạ Lang ở bên sông Tường Kha, từ đó nhà Hán phát binh đánh Dạ Lang, lược định các nước Tây Nam Di đặt thành bảy quận (bao gồm phần nam bộ tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu ngày nay), từ đó mới biết về lịch sử các nước Dạ Lang. Xem ở Sử ký – Tây Nam Di liệt truyện. Nhà Hán bình định Nam Việt chia thành chín quận (bao gồm Lưỡng Quảng, đảo Hải Nam và Bắc bộ Việt Nam ngày nay), trong đó có quận Giao Chỉ vốn là nước Âu Lạc của An Dương Vương, lẽ thường khi nhà Hán tiếp quản quận Giao Chỉ từ nước Nam Việt thì thu lấy sổ sách và điều tra lịch sử của quận Giao Chỉ thì sự tích An Dương Vương cũng được ghi lại. Ví dụ xa hơn nữa về cách tiếp cận thông tin gián tiếp, đó là sự tích về thời nhà Hạ và Ngũ Đế (Hiên Viên, Chuyên Húc, Cao Tân, Nghiêu, Thuấn), có thể được lưu truyền trong sách vở (hoặc các giáp cốt văn, minh văn) từ thời Thương-Chu về sau. Kẻ chinh phục nhà Hạ là nhà Thương có thể đã dùng văn tự ghi lại sự tích về đối thủ của mình là nhà Hạ, và gián tiếp ghi lại sự tích về Ngũ Đế. Dù sao thì văn tự hình thành có hệ thống từ thời Thương-Chu (giáp cốt văn, triện văn) thì truyện ký về thời trước đó là thời nhà Hạ và Ngũ Đế phải được ghi lại từ thời Thương-Chu vậy.

    Lịch sử Văn Lang-Âu Lạc qua truyện ký ghi lại, ít nhất có từ thời Tấn có các sách Giao châu ngoại vực ký (交州外域記), Giao châu ký (交州記), Quảng châu ký (廣州記), Nhật Nam truyện (日南傳), Nam Việt chí (南越志), trải qua thời Nam bắc triều, Tùy, Đường đều được các sách ghi lại, và chính thức được tín sử trích dẫn ở Cựu Đường thư (舊唐書) của tác giả Lưu Hú (劉昫) thời Ngũ đại thập quốc (thế kỷ 10 sau Công nguyên). Đó là cơ sở truyện ký và tín sử để khẳng định thời đại Văn Lang-Âu Lạc của Hùng Vương-An Dương Vương là thời đại dựng nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

  11. Bổ sử ký – Tam Hoàng bản kỷ: Truyền kỳ về thời Tam Hoàng trong lịch sử Trung Quốc

    (Đường 唐 – Tư Mã Trinh 司馬貞 biên soạn và chú giải)

    Ông Tư Mã nhỏ (Tiểu Tư Mã Thị 小司馬氏: tức Tư Mã Trinh tự xưng) nói: “Ông Thái Sử (Thái Sử Công 太史公: tức Tư Mã Thiên) làm Sử ký 史記, ghi chuyện vua tôi xưa nay, nên phải trên từ thời mở mang, dưới đến thời nay, để cho thấy chuyện đầu đuôi của một nhà. Nay (Sử ký) thiếu chuyện Tam Hoàng 三皇 mà lấy chuyện Ngũ Đế 五帝 làm đầu, chính là vì sách Đại Đái lễ 大戴禮 có chương Ngũ Đế đức 五帝德, lại nữa sách về các đời vua đều chép chuyện từ thời Ngũ Đế về sau, cho nên nhân đó lấy Ngũ Đế bản kỷ 五帝làm đầu. Thực ra từ thời Tam Hoàng về trước ít có sách vở ghi chép. Nhưng cái gốc của vua tôi, cái nguồn của giáo hóa, đã nói ở sử cũ, cũng không nên để sót. Gần đây Hoàng Phủ Mật (Hoàng Phủ Mật 皇甫密: tác giả thời Tây Tấn) làm Đế vương đại kỷ (Đế vương đại kỷ 帝王代紀: thường gọi là Đế vương thế kỷ 帝王世紀), Từ Chỉnh (Từ Chỉnh 徐整: tác giả thời Tam quốc) làm Tam ngũ lịch 三五曆, đều nói chuyện từ thời Tam Hoàng về sau. Đấy cũng là một lời chứng cho chuyện về thời gần xưa, nay tôi nhặt hết lại mà soạn nên Tam Hoàng bản kỷ 三皇本紀. Tuy còn nông cạn, nhưng tạm chắp vá cho chỗ thiếu sót vậy.”

    1. Thái Hạo 太皡, còn gọi là ông Bào Hy (Bào Hy Thị 庖犧氏) , thuộc họ Phong (Phong tính 風姓), thay ông Toại Nhân (Toại Nhân Thị 燧人氏), vâng mệnh trời mà làm vua. Mẹ ông là Hoa Tư 華胥, dẫm vào vết chân người lớn ở đầm Lôi Trạch 雷澤 mà (có chửa) sinh ra Bào Hy ở đất Thành Kỷ 成紀. Ông mang thân rắn nhưng đầu người. Xét: Chỗ chép ông Phục Hy thuộc họ Phong, là từ sách Quốc ngữ 國語. Chỗ chép từ Hoa Tư về sau là từ Đế vương thế kỷ. Lôi Trạch là tên đầm, là chỗ Thuấn (Thuấn 舜: là vị vua hiền thời Ngũ Đế) bắt cá, ở (quận) Tế Âm 濟陰. Thành Kỷ cũng là tên đất. Xét (quận) Thiên Thủy 天水 có huyện Thành Kỷ. Ông có đức tốt, ngẩng lên thì xem hình tượng ở trên trời, cúi xuống thì nhìn muôn vật ở dưới đất. Nhìn xem vết chân của muông thú, hình thế tiện lợi của đất đai, gần thì xét ở thân mình, xa thì xét ở muôn vật, bắt đầu vẽ ra tám quẻ (bát quái 八卦: tám hình vẽ biểu thị cho muôn vật) để thông với cái đức của thần minh, để biết cái tình của muôn vật. Làm ra thư khế (thư khế 書契: nét vẽ lúc đầu của chữ viết) để thay cho lối thắt gút (kết thằng 結繩: dùng dây buộc thắt gút để ghi nhớ sự việc). Do đó bắt đầu đặt ra lệ cưới gả (làm vợ chồng), dùng da hươu để làm lễ hỏi. Xét: Cổ sử khảo 古史考 của Tiếu Châu (Tiếu Châu 譙周: tác giả thời Tam quốc) chép Phục Hy 伏羲 đặt ra lệ cưới gả, lấy da hươu làm lễ hỏi. Ông dạy người dân buộc tấm lưới võng để săn bắt (chim muông và tôm cá), cho nên gọi là ông Mật Hy (Mật Hy Thị 密羲氏). Xét: Chỗ chép này là từ Hán thư lịch chí 漢書曆志 . Mật, còn đọc là ‘phục’. Ông dạy người dân nuôi con thú hy sinh (gia súc để xẻ thịt như bò, dê, lợn…) để nấu bếp, cho nên cũng gọi là Bào Hy 庖犧 . Có điềm lành rồng hiện, cho nên lấy tên ‘Long’ để gọi quan lại, hiệu là Long sư 龍師. Làm ra đàn sắt (sắt 瑟: một loại đàn thời xưa) có ba mươi lăm dây. Ông theo đức thuộc hành Mộc 木 mà làm vua, chủ về mùa xuân. Cho nên kinh Dịch 易 chép đế vương nổi lên ở quẻ Chấn 震 (chủ về phương đông), chương Nguyệt lệnh 月令 chép đầu mùa xuân có đế vương làm chủ là Thái Hạo 太皡 vậy. Xét: Ngôi vị ở phương đông, tượng trưng cho ánh sáng của Mặt Trời, cho nên gọi là Thái Hạo. Hạo là sáng vậy. Đóng đô ở đất Trần 陳, sang phía đông làm lễ tế trời ở núi Thái (Thái sơn 太山), làm vua được mười một năm thì mất. Xét: Hoàng Phủ Mật nói Phục Hy được chôn ở đất Nam Quận 南郡, có thuyết nói gò mộ ở phía tây (huyện) Cao Bình 高平 (quận) Sơn Dương 山陽. Dòng dõi của ông vào thời Xuân thu có người các nước Nhâm 任, Túc 宿, Tu 須, Câu 句, Chuyên Du 顓臾, đều là người thuộc họ Phong vậy.

    Ông (bà) Nữ Oa (Nữ Oa Thị 女媧氏) cũng thuộc họ Phong, mang mình rắn nhưng đầu người, có đức của thần thánh, thay ông Mật Hy làm vua, gọi là ông (bà) Nữ Hy (Nữ Hy Thị 女希氏), không làm nên cái gì thêm, chỉ làm ra cái khèn bè. Xét: Lễ minh đường vị 禮明堂位 và Hệ bản 系本, đều chép bà Nữ Oa làm ra khèn bè. Cho nên kinh Dịch 易 không nói đến, không ứng theo ngũ vận (chỉ ngũ hành 五行). Có thuyết nói Nữ Oa cũng theo hành Mộc mà làm vua, có lẽ là sau thời ông Phục Hy đã trải mấy đời nữa, các hành Kim-Mộc (và các hành Thổ-Hỏa-Thủy) xoay chuyển xong một vòng lại về như lúc đầu (ngũ hành khởi đầu từ Mộc), chỉ nêu Nữ Oa vì có công lớn mà xếp vào Tam Hoàng, cho nên giống theo hành Mộc mà làm vua vậy. Vào lúc cuối thời (bà Nữ Oa), chư hầu có ông Cộng Công (Cộng Công Thị 共工氏) dùng trí xảo mà lớn mạnh nhưng không được làm vua, muốn theo hành Thủy để tiếp nối hành Mộc, bèn đánh nhau với ông Chúc Dung (Chúc Dung 祝融), không thắng mà tức giận, bèn đâm đầu vào núi Bất Châu 不周山, làm cho núi lở, cột chống trời bị gãy, bốn góc đất bị sụt. Nữ Oa liền nấu đá năm màu để vá trời, chặt bốn chân con ngao (ngao 鰲: một loài rùa lớn thời xưa) để làm bốn cây cột chống bốn góc, chất tro cây lau để ngăn nước lụt, để cứu vớt đất Ký châu 冀州 (một trong chín châu thời xưa ở Trung Quốc). Xét: Chỗ chuyện này chép từ Hoài Nam Tử 淮南子. Do đó đất bằng trời cao, không đổi vật cũ.

    Bà Nữ Oa mất, ông Thần Nông (Thần Nông Thị 神農氏) lên thay làm vua. Xét: Các sách chép về Tam Hoàng không giống nhau. Tiếu Châu cho rằng Toại Nhân thuộc Tam Hoàng, Tống Quân 宋均 cho rằng Chúc Dung thuộc Tam Hoàng. Trịnh Huyền 鄭玄 theo sách Xuân thu vĩ 春秋緯 cho rằng Nữ Oa thuộc Tam Hoàng, là người tiếp nối Phục Hy, Hoàng Phủ Mật cũng giống như vậy, cho nên nay tôi dựa vào đó mà nói.

    Viêm Đế 炎帝 là ông Thần Nông (Thần Nông Thị 神農氏), thuộc họ Khương (Khương tính 姜姓). Mẹ ông là Nữ Đăng 女登, là con gái của ông Hữu Oa (Hữu Oa Thị 有媧氏), làm vợ của ông Thiếu Điển 少典, cảm rồng thần mà (có chửa) sinh ra Viêm Đế. Ông mang thân người nhưng đầu bò, lớn lên ở bên sông Khương (Khương thủy 姜水), nhân đó đặt ra họ ấy. Xét: Quốc ngữ chép Viêm Đế-Hoàng Đế 黃帝 đều là con trai của ông Thiếu Điển, mẹ của hai ông ấy lại đều là con gái của ông Hữu Oa. Dựa theo sách của các nhà và sách Cổ sử khảo chép thì dòng dõi của Viêm Đế có tám đời, trải hơn năm trăm năm thì ông Hiên Viên (Hiên Viên Thị 軒轅氏) tiếp nối lên làm vua. Lẽ nào Viêm Đế-Hoàng Đế là anh em và cùng cha mẹ được đây? Hoàng Phủ Mật cho rằng Thiếu Điển-Hữu Oa là tên nước chư hầu, vậy thì hai vua họ Khương 姜 (chỉ Viêm Đế) và họ Cơ 姬 (chỉ Hoàng Đế) cùng sinh ra bởi ông Thiếu Điển, mà mẹ của Hoàng Đế lại là con gái đời sau của mẹ ông Thần Nông, cho nên cùng là con gái của ông Hữu Oa vậy. Ông theo hành Hỏa 火 mà làm vua, cho nên gọi là Viêm Đế, lấy tên ‘Hỏa’ để gọi quan lại. Chặt cây là cày, đẽo gỗ làm bừa, làm các đồ cày cấy để dạy cho muôn dân. Bắt đầu dạy dân cách trồng trọt, cho nên gọi là ông Thần Nông. Do đó đặt ra lễ tế chạp (lạp tế 蜡祭: lễ tế tông miếu tổ tiên vào cuối năm). Dùng cái roi màu đỏ để đập cây cỏ (truyền thuyết nói là ông Thần Nông có cây roi thần đập vào cây cỏ để biết có độc hay làm thuốc được hay không). Bắt đầu nếm trăm loại cỏ. Bắt đầu làm ra thuốc chữa bệnh. Lại làm nên đàn sắt có năm dây. Dạy dân giữa ngày họp chợ, trao đổi (đồ dùng hàng hóa) xong thì về, đều đâu ra đó. Lại chồng tám quẻ thành sáu mươi tư hào quẻ. Mới đầu đóng đô ở đất Trần 陳, sau (dời đến) ở đất Khúc Phụ 曲阜. Xét: (Quận) Hoài Dương 淮陽ngày nay có giếng Thần Nông. Lại theo ông Tả (Tả thị 左氏: tác giả sách Tả truyện 左傳) chép nước Lỗ có kho chứa của ông Đại Đình (Đại Đình Thị 大庭氏) là vậy. Ông làm vua một trăm hai mươi năm thì mất, chôn ở đất Trường Sa 長沙. Ông Thần Nông vốn nổi lên ở núi Liệt Sơn (Liệt sơn 烈山) , cho nên Tả truyện chép “Con của ông Liệt Sơn tên là Trụ (Trụ 柱: một tên gọi của các đời vua sau ông Thần Nông) cũng gọi là ông Lệ Sơn (Lệ Sơn Thị 厲山氏) thời xưa có được thiên hạ” là vậy. Xét: Trịnh Huyền nói núi Lệ Sơn (Lệ sơn 厲山) là chỗ mà Thần Nông nổi lên, cũng gọi là núi Liệt Sơn. Hoàng Phủ Mật nói núi Lệ Sơn ở (làng) Lệ Hương 厲鄉 thuộc (huyện) Tùy 隨 ngày nay vậy.

    Thần Nông lấy con gái của ông Bôn Thủy (Bôn Thủy Thị 奔水氏) tên là Thính Bạt 聽詙 làm vợ, sinh ra Đế Ai 帝哀. Đế Ai sinh ra Đế Khắc 帝克. Đế Khắc sinh ra Đế Du Võng 帝榆罔. Cả thảy là tám đời vua, trải năm trăm ba mươi năm thì ông Hiên Viên nổi lên thay làm vua. Xét: Dòng dõi của Thần Nông cả thảy là tám đời vua, chuyện này chép từ Đế vương đại kỷ và Cổ sử khảo. Tuy các sách cổ đã mất rồi, nhưng hai ông Tiếu-Hoàng (Tiếu Châu và Hoàng Phủ Mật) đều là người quân tử nổi danh thời trước, xét theo sách cũ mà soạn nên sách ấy. Đến nay há lại bỏ trống sao? Cho nên tôi dựa vào đó để chép (Tam Hoàng bản kỷ). Kinh Dịch chép “Ông Thần Nông mất”, tức ông Du Võng mất. Du Võng vẫn nối dùng hiệu Thần Nông vậy. Dòng dõi của ông là người các nước Châu 州, Phủ 甫, Cam 甘, Hứa 許, Hí 戲, Lộ 露, Tề 齊, Kỷ 紀, Di 怡, Hướng 向, Thân 申, Lữ 呂, đều thuộc họ Khương, cùng làm chư hầu, hoặc chia ra nắm giữ chức Tứ nhạc 四岳. Vào thời nhà Châu có Phủ Hầu 甫侯 và Thân Bá 申伯 đều làm Tể tướng giỏi của nhà vua, có vua các nước Tề và nước Hứa xưng bá ở Trung Quốc. Có lẽ đức trạch của thánh nhân rộng lớn, cho nên dòng dõi được hưởng phúc rạng rỡ lâu dài vậy.

    2. Có một thuyết khác nói về Tam Hoàng, gọi Thiên Hoàng 天皇, Địa Hoàng 地皇, Nhân Hoàng 人皇 là Tam Hoàng. Như vậy vào buổi đầu mở mang, lúc mới có vua tôi, là chuyện mà sách Đồ vĩ 圖緯chép lại, không nên bỏ hết, cho nên tôi chép luôn ở đây.

    Vào lúc trời đất mới sinh, có ông Thiên Hoàng, trên mình có mười hai cái đầu, ông sống đạm bạc không làm gì mà muôn dân tự tự giáo hóa, theo hành Mộc mà làm vua, mở đầu lúc sao Tuế (tức sao Mộc) mọc ở chòm sao Nhiếp Đề 攝提. Có mười hai người anh em, đều ở ngôi vua được một vạn tám nghìn năm. Xét: Có lẽ vào lúc trời đất mới sinh ra thì có người thần bắt đầu đi giáo hóa, cho nên số tuổi đời mới lâu dài như vậy. Nhưng nói là có mười hai cái đầu, không phải là mười hai cái đầu trên mình của một người. Có lẽ là vì thời xưa sánh mình như số cái đầu của muông thú vậy.

    Ông Địa Hoàng có mười một cái đầu, theo hành Hỏa mà làm vua, trong họ có mười một người, nổi lên ở các núi Hùng Nhĩ 熊耳-Long Môn 龍門, cũng đều ở ngôi được một vạn tám nghìn năm.

    Ông Nhân Hoàng có chín cái đầu, cưỡi xe mây có sáu cái cánh chim, nổi lên ở cửa hang, có chín người anh em, chia ra làm vua của chín châu (cửu châu九州: chỉ đất Trung Quốc xưa), đều dựng thành ấp, cả thảy trải một trăm năm mươi đời, cộng lại là bốn vạn năm nghìn sáu trăm năm. Xét: Chỗ chép từ Thiên Hoàng về sau đây đều từ sách Hà đồ 河圖 và Tam ngũ lịch.

    Từ sau thời Nhân Hoàng có thời ông Ngũ Long (Ngũ Long Thị 五龍氏), Ông Ngũ Long có năm anh em đều cưỡi rồng đi lại, cho nên gọi là ông Ngũ Long. thời ông Toại Nhân (Toại Nhân Thị 燧人氏), Xét: Vua thời này dùi khoan ra lửa, dạy dân nấu chín đồ ăn, ở trước thời ông Phục Hy. Tiếu Châu cho rằng (Toại Nhân) là đứng đầu của Tam Hoàng vậy. thời ông Đại Đình (Đại Đình Thị 大庭氏), thời ông Bách Hoàng (Bách Hoàng Thị 栢皇氏), thời ông Trung Ương (Trung Ương Thị 中央氏), thời ông Quyển Tu (Quyển Tu Thị 卷須氏), thời ông Lật Lục (Lật Lục Thị 栗陸氏), thời ông Li Liên (Li Liên Thị 驪連氏), thời ông Hách Tư (Hách Tư Thị 赫胥氏), thời ông Tôn Lô (Tôn Lô Thị 尊盧氏), thời ông Hồn Độn (Hồn Độn Thị 渾沌氏), thời ông Hạo Anh (Hạo Anh Thị 昊英氏), thời ông Hữu Sào (Hữu Sào Thị 有巢氏), thời ông Chu Tương (Chu Tương Thị 朱襄氏), thời ông Cát Thiên (Cát Thiên Thị 葛天氏), thời ông Âm Khang (Âm Khang Thị 陰康氏), thời ông Vô Hoài (Vô Hoài Thị 無懷氏). Đấy có lẽ là hiệu của những người có thiên hạ từ thời Tam Hoàng về sau này. Xét: Hoàng Phủ Mật cho rằng từ thời ông Đại Đình về sau có mười lăm vị vua đều tiếp nối gọi là Bào Hy. Chuyện này tôi chưa biết qua, khó mà dựa vào đây. Nhưng xét những vị vua thời xưa từng tế trời ở núi Thái, đứng đầu có ông Vô Hoài, là vị ở trước thời Thái Hạo, sao giống như lời mà (Hoàng Phủ) Mật nói? Nhưng sách vở không ghi, chẳng biết họ, số năm làm vua và chỗ đóng đô. Mà sách Hàn thi 韓詩 cho rằng thời xưa có hơn một vạn vị vua từng tế trời ở núi Thái và tế đất ở núi Lương Phủ 梁甫, Trọng Ni 仲尼 (tức Khổng Tử tên chữ là Trọng Ni) xem qua nhưng không thể nhớ hết. Quản Tử 管子 (tức Quản Trọng tên chữ là Di Ngô) cũng nói thời xưa có bảy mươi hai vị vua từng tế trời ở núi Thái. Di Ngô cũng chỉ biết được tên mười hai vị thôi. Đứng đầu là ông Vô Hoài, nhưng trước ông Vô Hoài, từ thời ông Thiên Hoàng về sau thì số năm xa xôi, biết sao được vị vua nào lên núi Thái mà tế trời? Dù sách xưa đã mất, không ghi lại được, há vì thế mà cho rằng không có vị vua nào (thời Tam Hoàng) sao? Cho nên Xuân thu vĩ 春秋緯 chép từ thủa mở mang đến lúc bắt được con lân (chỉ năm thứ mười bốn thời Lỗ Ai Công 魯哀公 đi săn bắt được con lân) cả thảy là ba trăm hai mươi bảy vạn sáu nghìn năm, chia làm mười kỷ, mỗi đời là bảy vạn sáu trăm năm. Một là kỷ Cửu Đầu (Cửu Đầu kỷ 九頭紀), hai là kỷ Ngũ Long (Ngũ Long kỷ 五龍紀), ba là kỷ Nhiếp Đề (Nhiếp Đề 攝提紀), bốn là kỷ Hợp Lạc (Hợp Lạc kỷ 合雒紀), năm là kỷ Liên Thông (Liên Thông kỷ 連通紀), sáu là kỷ Tự Mệnh (Tự Mệnh kỷ 序命紀), bảy là kỷ Tu Phi (Tu Phi kỷ 脩飛紀), tám là kỷ Nhân Đề (Nhân Đề kỷ 因提紀), chín là kỷ Thiền Thông (Thiền Thông 禪通紀), mười là kỷ Lưu Cật (Lưu Cật kỷ 流訖紀). Có lẽ kỷ Lưu Cật là thời Hoàng Đế 黃帝, gọi tên cho chín kỷ trước. Cho nên tôi chép ở đây, chắp vá thêm vào vậy.

  12. Tôi xin gửi tới mục Lịch sử phương Đông:

    Bổ sử ký – Tam Hoàng bản kỷ: Truyền kỳ về thời Tam Hoàng trong lịch sử Trung Quốc

    (Đường 唐 – Tư Mã Trinh 司馬貞 biên soạn và chú giải)

    Ông Tư Mã nhỏ (Tiểu Tư Mã Thị 小司馬氏: tức Tư Mã Trinh tự xưng) nói: “Ông Thái Sử (Thái Sử Công 太史公: tức Tư Mã Thiên) làm Sử ký 史記, ghi chuyện vua tôi xưa nay, nên phải trên từ thời mở mang, dưới đến thời nay, để cho thấy chuyện đầu đuôi của một nhà. Nay (Sử ký) thiếu chuyện Tam Hoàng 三皇 mà lấy chuyện Ngũ Đế 五帝 làm đầu, chính là vì sách Đại Đái lễ 大戴禮 có chương Ngũ Đế đức 五帝德, lại nữa sách về các đời vua đều chép chuyện từ thời Ngũ Đế về sau, cho nên nhân đó lấy Ngũ Đế bản kỷ 五帝làm đầu. Thực ra từ thời Tam Hoàng về trước ít có sách vở ghi chép. Nhưng cái gốc của vua tôi, cái nguồn của giáo hóa, đã nói ở sử cũ, cũng không nên để sót. Gần đây Hoàng Phủ Mật (Hoàng Phủ Mật 皇甫密: tác giả thời Tây Tấn) làm Đế vương đại kỷ (Đế vương đại kỷ 帝王代紀: thường gọi là Đế vương thế kỷ 帝王世紀), Từ Chỉnh (Từ Chỉnh 徐整: tác giả thời Tam quốc) làm Tam ngũ lịch 三五曆, đều nói chuyện từ thời Tam Hoàng về sau. Đấy cũng là một lời chứng cho chuyện về thời gần xưa, nay tôi nhặt hết lại mà soạn nên Tam Hoàng bản kỷ 三皇本紀. Tuy còn nông cạn, nhưng tạm chắp vá cho chỗ thiếu sót vậy.”

    1. Thái Hạo 太皡, còn gọi là ông Bào Hy (Bào Hy Thị 庖犧氏) , thuộc họ Phong (Phong tính 風姓), thay ông Toại Nhân (Toại Nhân Thị 燧人氏), vâng mệnh trời mà làm vua. Mẹ ông là Hoa Tư 華胥, dẫm vào vết chân người lớn ở đầm Lôi Trạch 雷澤 mà (có chửa) sinh ra Bào Hy ở đất Thành Kỷ 成紀. Ông mang thân rắn nhưng đầu người. Xét: Chỗ chép ông Phục Hy thuộc họ Phong, là từ sách Quốc ngữ 國語. Chỗ chép từ Hoa Tư về sau là từ Đế vương thế kỷ. Lôi Trạch là tên đầm, là chỗ Thuấn (Thuấn 舜: là vị vua hiền thời Ngũ Đế) bắt cá, ở (quận) Tế Âm 濟陰. Thành Kỷ cũng là tên đất. Xét (quận) Thiên Thủy 天水 có huyện Thành Kỷ. Ông có đức tốt, ngẩng lên thì xem hình tượng ở trên trời, cúi xuống thì nhìn muôn vật ở dưới đất. Nhìn xem vết chân của muông thú, hình thế tiện lợi của đất đai, gần thì xét ở thân mình, xa thì xét ở muôn vật, bắt đầu vẽ ra tám quẻ (bát quái 八卦: tám hình vẽ biểu thị cho muôn vật) để thông với cái đức của thần minh, để biết cái tình của muôn vật. Làm ra thư khế (thư khế 書契: nét vẽ lúc đầu của chữ viết) để thay cho lối thắt gút (kết thằng 結繩: dùng dây buộc thắt gút để ghi nhớ sự việc). Do đó bắt đầu đặt ra lệ cưới gả (làm vợ chồng), dùng da hươu để làm lễ hỏi. Xét: Cổ sử khảo 古史考 của Tiếu Châu (Tiếu Châu 譙周: tác giả thời Tam quốc) chép Phục Hy 伏羲 đặt ra lệ cưới gả, lấy da hươu làm lễ hỏi. Ông dạy người dân buộc tấm lưới võng để săn bắt (chim muông và tôm cá), cho nên gọi là ông Mật Hy (Mật Hy Thị 密羲氏). Xét: Chỗ chép này là từ Hán thư lịch chí 漢書曆志 . Mật, còn đọc là ‘phục’. Ông dạy người dân nuôi con thú hy sinh (gia súc để xẻ thịt như bò, dê, lợn…) để nấu bếp, cho nên cũng gọi là Bào Hy 庖犧 . Có điềm lành rồng hiện, cho nên lấy tên ‘Long’ để gọi quan lại, hiệu là Long sư 龍師. Làm ra đàn sắt (sắt 瑟: một loại đàn thời xưa) có ba mươi lăm dây. Ông theo đức thuộc hành Mộc 木 mà làm vua, chủ về mùa xuân. Cho nên kinh Dịch 易 chép đế vương nổi lên ở quẻ Chấn 震 (chủ về phương đông), chương Nguyệt lệnh 月令 chép đầu mùa xuân có đế vương làm chủ là Thái Hạo 太皡 vậy. Xét: Ngôi vị ở phương đông, tượng trưng cho ánh sáng của Mặt Trời, cho nên gọi là Thái Hạo. Hạo là sáng vậy. Đóng đô ở đất Trần 陳, sang phía đông làm lễ tế trời ở núi Thái (Thái sơn 太山), làm vua được mười một năm thì mất. Xét: Hoàng Phủ Mật nói Phục Hy được chôn ở đất Nam Quận 南郡, có thuyết nói gò mộ ở phía tây (huyện) Cao Bình 高平 (quận) Sơn Dương 山陽. Dòng dõi của ông vào thời Xuân thu có người các nước Nhâm 任, Túc 宿, Tu 須, Câu 句, Chuyên Du 顓臾, đều là người thuộc họ Phong vậy.

    Ông (bà) Nữ Oa (Nữ Oa Thị 女媧氏) cũng thuộc họ Phong, mang mình rắn nhưng đầu người, có đức của thần thánh, thay ông Mật Hy làm vua, gọi là ông (bà) Nữ Hy (Nữ Hy Thị 女希氏), không làm nên cái gì thêm, chỉ làm ra cái khèn bè. Xét: Lễ minh đường vị 禮明堂位 và Hệ bản 系本, đều chép bà Nữ Oa làm ra khèn bè. Cho nên kinh Dịch 易 không nói đến, không ứng theo ngũ vận (chỉ ngũ hành 五行). Có thuyết nói Nữ Oa cũng theo hành Mộc mà làm vua, có lẽ là sau thời ông Phục Hy đã trải mấy đời nữa, các hành Kim-Mộc (và các hành Thổ-Hỏa-Thủy) xoay chuyển xong một vòng lại về như lúc đầu (ngũ hành khởi đầu từ Mộc), chỉ nêu Nữ Oa vì có công lớn mà xếp vào Tam Hoàng, cho nên giống theo hành Mộc mà làm vua vậy. Vào lúc cuối thời (bà Nữ Oa), chư hầu có ông Cộng Công (Cộng Công Thị 共工氏) dùng trí xảo mà lớn mạnh nhưng không được làm vua, muốn theo hành Thủy để tiếp nối hành Mộc, bèn đánh nhau với ông Chúc Dung (Chúc Dung 祝融), không thắng mà tức giận, bèn đâm đầu vào núi Bất Châu 不周山, làm cho núi lở, cột chống trời bị gãy, bốn góc đất bị sụt. Nữ Oa liền nấu đá năm màu để vá trời, chặt bốn chân con ngao (ngao 鰲: một loài rùa lớn thời xưa) để làm bốn cây cột chống bốn góc, chất tro cây lau để ngăn nước lụt, để cứu vớt đất Ký châu 冀州 (một trong chín châu thời xưa ở Trung Quốc). Xét: Chỗ chuyện này chép từ Hoài Nam Tử 淮南子. Do đó đất bằng trời cao, không đổi vật cũ.

    Bà Nữ Oa mất, ông Thần Nông (Thần Nông Thị 神農氏) lên thay làm vua. Xét: Các sách chép về Tam Hoàng không giống nhau. Tiếu Châu cho rằng Toại Nhân thuộc Tam Hoàng, Tống Quân 宋均 cho rằng Chúc Dung thuộc Tam Hoàng. Trịnh Huyền 鄭玄 theo sách Xuân thu vĩ 春秋緯 cho rằng Nữ Oa thuộc Tam Hoàng, là người tiếp nối Phục Hy, Hoàng Phủ Mật cũng giống như vậy, cho nên nay tôi dựa vào đó mà nói.

    Viêm Đế 炎帝 là ông Thần Nông (Thần Nông Thị 神農氏), thuộc họ Khương (Khương tính 姜姓). Mẹ ông là Nữ Đăng 女登, là con gái của ông Hữu Oa (Hữu Oa Thị 有媧氏), làm vợ của ông Thiếu Điển 少典, cảm rồng thần mà (có chửa) sinh ra Viêm Đế. Ông mang thân người nhưng đầu bò, lớn lên ở bên sông Khương (Khương thủy 姜水), nhân đó đặt ra họ ấy. Xét: Quốc ngữ chép Viêm Đế-Hoàng Đế 黃帝 đều là con trai của ông Thiếu Điển, mẹ của hai ông ấy lại đều là con gái của ông Hữu Oa. Dựa theo sách của các nhà và sách Cổ sử khảo chép thì dòng dõi của Viêm Đế có tám đời, trải hơn năm trăm năm thì ông Hiên Viên (Hiên Viên Thị 軒轅氏) tiếp nối lên làm vua. Lẽ nào Viêm Đế-Hoàng Đế là anh em và cùng cha mẹ được đây? Hoàng Phủ Mật cho rằng Thiếu Điển-Hữu Oa là tên nước chư hầu, vậy thì hai vua họ Khương 姜 (chỉ Viêm Đế) và họ Cơ 姬 (chỉ Hoàng Đế) cùng sinh ra bởi ông Thiếu Điển, mà mẹ của Hoàng Đế lại là con gái đời sau của mẹ ông Thần Nông, cho nên cùng là con gái của ông Hữu Oa vậy. Ông theo hành Hỏa 火 mà làm vua, cho nên gọi là Viêm Đế, lấy tên ‘Hỏa’ để gọi quan lại. Chặt cây là cày, đẽo gỗ làm bừa, làm các đồ cày cấy để dạy cho muôn dân. Bắt đầu dạy dân cách trồng trọt, cho nên gọi là ông Thần Nông. Do đó đặt ra lễ tế chạp (lạp tế 蜡祭: lễ tế tông miếu tổ tiên vào cuối năm). Dùng cái roi màu đỏ để đập cây cỏ (truyền thuyết nói là ông Thần Nông có cây roi thần đập vào cây cỏ để biết có độc hay làm thuốc được hay không). Bắt đầu nếm trăm loại cỏ. Bắt đầu làm ra thuốc chữa bệnh. Lại làm nên đàn sắt có năm dây. Dạy dân giữa ngày họp chợ, trao đổi (đồ dùng hàng hóa) xong thì về, đều đâu ra đó. Lại chồng tám quẻ thành sáu mươi tư hào quẻ. Mới đầu đóng đô ở đất Trần 陳, sau (dời đến) ở đất Khúc Phụ 曲阜. Xét: (Quận) Hoài Dương 淮陽ngày nay có giếng Thần Nông. Lại theo ông Tả (Tả thị 左氏: tác giả sách Tả truyện 左傳) chép nước Lỗ có kho chứa của ông Đại Đình (Đại Đình Thị 大庭氏) là vậy. Ông làm vua một trăm hai mươi năm thì mất, chôn ở đất Trường Sa 長沙. Ông Thần Nông vốn nổi lên ở núi Liệt Sơn (Liệt sơn 烈山) , cho nên Tả truyện chép “Con của ông Liệt Sơn tên là Trụ (Trụ 柱: một tên gọi của các đời vua sau ông Thần Nông) cũng gọi là ông Lệ Sơn (Lệ Sơn Thị 厲山氏) thời xưa có được thiên hạ” là vậy. Xét: Trịnh Huyền nói núi Lệ Sơn (Lệ sơn 厲山) là chỗ mà Thần Nông nổi lên, cũng gọi là núi Liệt Sơn. Hoàng Phủ Mật nói núi Lệ Sơn ở (làng) Lệ Hương 厲鄉 thuộc (huyện) Tùy 隨 ngày nay vậy.

    Thần Nông lấy con gái của ông Bôn Thủy (Bôn Thủy Thị 奔水氏) tên là Thính Bạt 聽詙 làm vợ, sinh ra Đế Ai 帝哀. Đế Ai sinh ra Đế Khắc 帝克. Đế Khắc sinh ra Đế Du Võng 帝榆罔. Cả thảy là tám đời vua, trải năm trăm ba mươi năm thì ông Hiên Viên nổi lên thay làm vua. Xét: Dòng dõi của Thần Nông cả thảy là tám đời vua, chuyện này chép từ Đế vương đại kỷ và Cổ sử khảo. Tuy các sách cổ đã mất rồi, nhưng hai ông Tiếu-Hoàng (Tiếu Châu và Hoàng Phủ Mật) đều là người quân tử nổi danh thời trước, xét theo sách cũ mà soạn nên sách ấy. Đến nay há lại bỏ trống sao? Cho nên tôi dựa vào đó để chép (Tam Hoàng bản kỷ). Kinh Dịch chép “Ông Thần Nông mất”, tức ông Du Võng mất. Du Võng vẫn nối dùng hiệu Thần Nông vậy. Dòng dõi của ông là người các nước Châu 州, Phủ 甫, Cam 甘, Hứa 許, Hí 戲, Lộ 露, Tề 齊, Kỷ 紀, Di 怡, Hướng 向, Thân 申, Lữ 呂, đều thuộc họ Khương, cùng làm chư hầu, hoặc chia ra nắm giữ chức Tứ nhạc 四岳. Vào thời nhà Châu có Phủ Hầu 甫侯 và Thân Bá 申伯 đều làm Tể tướng giỏi của nhà vua, có vua các nước Tề và nước Hứa xưng bá ở Trung Quốc. Có lẽ đức trạch của thánh nhân rộng lớn, cho nên dòng dõi được hưởng phúc rạng rỡ lâu dài vậy.

    2. Có một thuyết khác nói về Tam Hoàng, gọi Thiên Hoàng 天皇, Địa Hoàng 地皇, Nhân Hoàng 人皇 là Tam Hoàng. Như vậy vào buổi đầu mở mang, lúc mới có vua tôi, là chuyện mà sách Đồ vĩ 圖緯chép lại, không nên bỏ hết, cho nên tôi chép luôn ở đây.

    Vào lúc trời đất mới sinh, có ông Thiên Hoàng, trên mình có mười hai cái đầu, ông sống đạm bạc không làm gì mà muôn dân tự tự giáo hóa, theo hành Mộc mà làm vua, mở đầu lúc sao Tuế (tức sao Mộc) mọc ở chòm sao Nhiếp Đề 攝提. Có mười hai người anh em, đều ở ngôi vua được một vạn tám nghìn năm. Xét: Có lẽ vào lúc trời đất mới sinh ra thì có người thần bắt đầu đi giáo hóa, cho nên số tuổi đời mới lâu dài như vậy. Nhưng nói là có mười hai cái đầu, không phải là mười hai cái đầu trên mình của một người. Có lẽ là vì thời xưa sánh mình như số cái đầu của muông thú vậy.

    Ông Địa Hoàng có mười một cái đầu, theo hành Hỏa mà làm vua, trong họ có mười một người, nổi lên ở các núi Hùng Nhĩ 熊耳-Long Môn 龍門, cũng đều ở ngôi được một vạn tám nghìn năm.

    Ông Nhân Hoàng có chín cái đầu, cưỡi xe mây có sáu cái cánh chim, nổi lên ở cửa hang, có chín người anh em, chia ra làm vua của chín châu (cửu châu九州: chỉ đất Trung Quốc xưa), đều dựng thành ấp, cả thảy trải một trăm năm mươi đời, cộng lại là bốn vạn năm nghìn sáu trăm năm. Xét: Chỗ chép từ Thiên Hoàng về sau đây đều từ sách Hà đồ 河圖 và Tam ngũ lịch.

    Từ sau thời Nhân Hoàng có thời ông Ngũ Long (Ngũ Long Thị 五龍氏), Ông Ngũ Long có năm anh em đều cưỡi rồng đi lại, cho nên gọi là ông Ngũ Long. thời ông Toại Nhân (Toại Nhân Thị 燧人氏), Xét: Vua thời này dùi khoan ra lửa, dạy dân nấu chín đồ ăn, ở trước thời ông Phục Hy. Tiếu Châu cho rằng (Toại Nhân) là đứng đầu của Tam Hoàng vậy. thời ông Đại Đình (Đại Đình Thị 大庭氏), thời ông Bách Hoàng (Bách Hoàng Thị 栢皇氏), thời ông Trung Ương (Trung Ương Thị 中央氏), thời ông Quyển Tu (Quyển Tu Thị 卷須氏), thời ông Lật Lục (Lật Lục Thị 栗陸氏), thời ông Li Liên (Li Liên Thị 驪連氏), thời ông Hách Tư (Hách Tư Thị 赫胥氏), thời ông Tôn Lô (Tôn Lô Thị 尊盧氏), thời ông Hồn Độn (Hồn Độn Thị 渾沌氏), thời ông Hạo Anh (Hạo Anh Thị 昊英氏), thời ông Hữu Sào (Hữu Sào Thị 有巢氏), thời ông Chu Tương (Chu Tương Thị 朱襄氏), thời ông Cát Thiên (Cát Thiên Thị 葛天氏), thời ông Âm Khang (Âm Khang Thị 陰康氏), thời ông Vô Hoài (Vô Hoài Thị 無懷氏). Đấy có lẽ là hiệu của những người có thiên hạ từ thời Tam Hoàng về sau này. Xét: Hoàng Phủ Mật cho rằng từ thời ông Đại Đình về sau có mười lăm vị vua đều tiếp nối gọi là Bào Hy. Chuyện này tôi chưa biết qua, khó mà dựa vào đây. Nhưng xét những vị vua thời xưa từng tế trời ở núi Thái, đứng đầu có ông Vô Hoài, là vị ở trước thời Thái Hạo, sao giống như lời mà (Hoàng Phủ) Mật nói? Nhưng sách vở không ghi, chẳng biết họ, số năm làm vua và chỗ đóng đô. Mà sách Hàn thi 韓詩 cho rằng thời xưa có hơn một vạn vị vua từng tế trời ở núi Thái và tế đất ở núi Lương Phủ 梁甫, Trọng Ni 仲尼 (tức Khổng Tử tên chữ là Trọng Ni) xem qua nhưng không thể nhớ hết. Quản Tử 管子 (tức Quản Trọng tên chữ là Di Ngô) cũng nói thời xưa có bảy mươi hai vị vua từng tế trời ở núi Thái. Di Ngô cũng chỉ biết được tên mười hai vị thôi. Đứng đầu là ông Vô Hoài, nhưng trước ông Vô Hoài, từ thời ông Thiên Hoàng về sau thì số năm xa xôi, biết sao được vị vua nào lên núi Thái mà tế trời? Dù sách xưa đã mất, không ghi lại được, há vì thế mà cho rằng không có vị vua nào (thời Tam Hoàng) sao? Cho nên Xuân thu vĩ 春秋緯 chép từ thủa mở mang đến lúc bắt được con lân (chỉ năm thứ mười bốn thời Lỗ Ai Công 魯哀公 đi săn bắt được con lân) cả thảy là ba trăm hai mươi bảy vạn sáu nghìn năm, chia làm mười kỷ, mỗi đời là bảy vạn sáu trăm năm. Một là kỷ Cửu Đầu (Cửu Đầu kỷ 九頭紀), hai là kỷ Ngũ Long (Ngũ Long kỷ 五龍紀), ba là kỷ Nhiếp Đề (Nhiếp Đề 攝提紀), bốn là kỷ Hợp Lạc (Hợp Lạc kỷ 合雒紀), năm là kỷ Liên Thông (Liên Thông kỷ 連通紀), sáu là kỷ Tự Mệnh (Tự Mệnh kỷ 序命紀), bảy là kỷ Tu Phi (Tu Phi kỷ 脩飛紀), tám là kỷ Nhân Đề (Nhân Đề kỷ 因提紀), chín là kỷ Thiền Thông (Thiền Thông 禪通紀), mười là kỷ Lưu Cật (Lưu Cật kỷ 流訖紀). Có lẽ kỷ Lưu Cật là thời Hoàng Đế 黃帝, gọi tên cho chín kỷ trước. Cho nên tôi chép ở đây, chắp vá thêm vào vậy.

  13. Bổ sử ký – Tam Hoàng bản kỷ: Truyền kỳ về thời Tam Hoàng trong lịch sử Trung Quốc

    Người thời Hán 漢 là Tư Mã Thiên 司馬遷 làm Sử ký 史記 chỉ chép từ thời Ngũ Đế 五帝 về sau mà không chép về thời Tam Hoàng 三皇, chỉ gián tiếp nhắc đến mà thôi. Tuy nhiên các sách vở trước đó và đời sau đều có chép đến Tam Hoàng theo thể văn truyền kỳ. Thời Đường 唐 có Tư Mã Trinh 司馬貞 cóp nhặt các ghi chép đời trước về thời Tam Hoàng gọi là Tam Hoàng bản kỷ 三皇本紀 để bổ sung vào Sử ký. Tuy nhiên thời Tam Hoàng vẫn là thời hồng hoang, không thể xem là chính sử.

    補史記 · 三皇本紀
    Bổ sử ký – Tam Hoàng bản kỷ

    (Đường 唐 – Tư Mã Trinh 司馬貞 biên soạn và chú giải)

    Ông Tư Mã nhỏ (Tiểu Tư Mã Thị 小司馬氏: tức Tư Mã Trinh tự xưng) nói:

    – “Ông Thái Sử (Thái Sử Công 太史公: tức Tư Mã Thiên 司馬遷) làm Sử ký 史記, ghi chuyện vua tôi xưa nay, nên phải trên từ thời mở mang, dưới đến thời nay, để cho thấy chuyện đầu đuôi của một nhà. Nay (Sử ký) thiếu chuyện Tam Hoàng 三皇 mà lấy chuyện Ngũ Đế 五帝 làm đầu, chính là vì sách Đại Đái lễ 大戴禮 có chương Ngũ Đế đức 五帝德, lại nữa sách về các đời vua đều chép chuyện từ thời Ngũ Đế về sau, cho nên nhân đó lấy Ngũ Đế bản kỷ 五帝làm đầu. Thực ra từ thời Tam Hoàng về trước ít có sách vở ghi chép. Nhưng cái gốc của vua tôi, cái nguồn của giáo hóa, đã nói ở sử cũ, cũng không nên để sót. Gần đây Hoàng Phủ Mật (Hoàng Phủ Mật 皇甫密: tác giả thời Tây Tấn) làm Đế vương đại kỷ (Đế vương đại kỷ 帝王代紀: thường gọi là Đế vương thế kỷ 帝王世紀), Từ Chỉnh (Từ Chỉnh 徐整: tác giả thời Tam quốc) làm Tam ngũ lịch 三五曆, đều nói chuyện từ thời Tam Hoàng về sau. Đấy cũng là một lời chứng cho chuyện về thời gần xưa, nay tôi nhặt hết lại mà soạn nên Tam Hoàng bản kỷ 三皇本紀. Tuy còn nông cạn, nhưng tạm chắp vá cho chỗ thiếu sót vậy.”

    1. Thái Hạo 太皡, còn gọi là ông Bào Hy (Bào Hy Thị 庖犧氏) , thuộc họ Phong (Phong tính 風姓), thay ông Toại Nhân (Toại Nhân Thị 燧人氏), vâng mệnh trời mà làm vua. Mẹ ông là Hoa Tư 華胥, dẫm vào vết chân người lớn ở đầm Lôi Trạch 雷澤 mà (có chửa) sinh ra Bào Hy ở đất Thành Kỷ 成紀. Ông mang thân rắn nhưng đầu người. Xét: Chỗ chép ông Phục Hy thuộc họ Phong, là từ sách Quốc ngữ 國語. Chỗ chép từ Hoa Tư về sau là từ Đế vương thế kỷ. Lôi Trạch là tên đầm, là chỗ Thuấn (Thuấn 舜: là vị vua hiền thời Ngũ Đế) bắt cá, ở (quận) Tế Âm 濟陰. Thành Kỷ cũng là tên đất. Xét (quận) Thiên Thủy 天水 có huyện Thành Kỷ. Ông có đức thánh, ngẩng lên thì xem hình tượng ở trên trời, cúi xuống thì nhìn muôn vật ở dưới đất. Nhìn xem vết chân của muông thú, hình thế tiện lợi của đất đai, gần thì xét ở thân mình, xa thì xét ở muôn vật, bắt đầu vẽ ra tám quẻ (bát quái 八卦: tám hình vẽ biểu thị cho muôn vật) để thông với cái đức của thần minh, để biết cái tình của muôn vật. Làm ra thư khế (thư khế 書契: nét vẽ lúc đầu của chữ viết) để thay cho lối thắt gút (kết thằng 結繩: dùng dây buộc thắt gút để ghi nhớ sự việc). Do đó bắt đầu đặt ra lệ cưới gả (làm vợ chồng), dùng da hươu để làm lễ hỏi. Xét: Cổ sử khảo 古史考 của Tiếu Châu (Tiếu Châu 譙周: tác giả thời Tam quốc) chép Phục Hy 伏羲 đặt ra lệ cưới gả, lấy da hươu làm lễ hỏi. Ông dạy người dân buộc tấm lưới võng để săn bắt (chim muông và tôm cá), cho nên gọi là ông Mật Hy (Mật Hy Thị 密羲氏). Xét: Chỗ chép này là từ Hán thư lịch chí 漢書曆志 . Mật, còn đọc là ‘phục’. Ông dạy người dân nuôi con thú hy sinh (gia súc để xẻ thịt như bò, dê, lợn…) để nấu bếp, cho nên cũng gọi là Bào Hy 庖犧 . Có điềm lành rồng hiện, cho nên lấy tên ‘Long’ để gọi quan lại, hiệu là Long sư 龍師. Làm ra đàn sắt (sắt 瑟: một loại đàn thời xưa) có ba mươi lăm dây. Ông theo đức thuộc hành Mộc 木 mà làm vua, chủ về mùa xuân. Cho nên kinh Dịch 易 chép đế vương nổi lên ở quẻ Chấn 震 (chủ về phương đông), chương Nguyệt lệnh 月令 chép đầu mùa xuân có đế vương làm chủ là Thái Hạo 太皡 vậy. Xét: Ngôi vị ở phương đông, tượng trưng cho ánh sáng của Mặt Trời, cho nên gọi là Thái Hạo. Hạo là sáng vậy. Đóng đô ở đất Trần 陳, sang phía đông làm lễ tế trời ở núi Thái (Thái sơn 太山), làm vua được mười một năm thì mất. Xét: Hoàng Phủ Mật nói Phục Hy được chôn ở đất Nam Quận 南郡, có thuyết nói gò mộ ở phía tây (huyện) Cao Bình 高平 (quận) Sơn Dương 山陽. Dòng dõi của ông vào thời Xuân thu có người các nước Nhâm 任, Túc 宿, Tu 須, Câu 句, Chuyên Du 顓臾, đều là người thuộc họ Phong vậy.

    Ông (bà) Nữ Oa (Nữ Oa Thị 女媧氏) cũng thuộc họ Phong, mang mình rắn nhưng đầu người, có đức của thần thánh, thay ông Mật Hy làm vua, gọi là ông (bà) Nữ Hy (Nữ Hy Thị 女希氏), không làm nên cái gì thêm, chỉ làm ra cái khèn bè. Xét: Lễ minh đường vị 禮明堂位 và Hệ bản 系本, đều chép bà Nữ Oa làm ra khèn bè. Cho nên kinh Dịch 易 không nói đến, không ứng theo ngũ vận (chỉ ngũ hành 五行). Có thuyết nói Nữ Oa cũng theo hành Mộc mà làm vua, có lẽ là sau thời ông Phục Hy đã trải mấy đời nữa, các hành Kim-Mộc (và các hành Thổ-Hỏa-Thủy) xoay chuyển xong một vòng lại về như lúc đầu (ngũ hành khởi đầu từ Mộc), chỉ nêu Nữ Oa vì có công lớn mà xếp vào Tam Hoàng, cho nên giống theo hành Mộc mà làm vua vậy. Vào lúc cuối thời (bà Nữ Oa), chư hầu có ông Cộng Công (Cộng Công Thị 共工氏) dùng trí xảo mà lớn mạnh nhưng không được làm vua, muốn theo hành Thủy để tiếp nối hành Mộc, bèn đánh nhau với ông Chúc Dung (Chúc Dung 祝融), không thắng mà tức giận, bèn đâm đầu vào núi Bất Châu 不周山, làm cho núi lở, cột chống trời bị gãy, bốn góc đất bị sụt. Nữ Oa liền nấu đá năm màu để vá trời, chặt bốn chân con ngao (ngao 鰲: một loài rùa lớn thời xưa) để làm bốn cây cột chống bốn góc, chất tro cây lau để ngăn nước lụt, để cứu vớt đất Ký châu 冀州 (một trong chín châu thời xưa ở Trung Quốc). Xét: Chỗ chuyện này chép từ Hoài Nam Tử 淮南子. Do đó đất bằng trời cao, không đổi vật cũ.

    Bà Nữ Oa mất, ông Thần Nông (Thần Nông Thị 神農氏) lên thay làm vua. Xét: Các sách chép về Tam Hoàng không giống nhau. Tiếu Châu cho rằng Toại Nhân thuộc Tam Hoàng, Tống Quân 宋均 cho rằng Chúc Dung thuộc Tam Hoàng. Trịnh Huyền 鄭玄 theo sách Xuân thu vĩ 春秋緯 cho rằng Nữ Oa thuộc Tam Hoàng, là người tiếp nối Phục Hy, Hoàng Phủ Mật cũng giống như vậy, cho nên nay tôi dựa vào đó mà nói.

    Viêm Đế 炎帝 là ông Thần Nông (Thần Nông Thị 神農氏), thuộc họ Khương (Khương tính 姜姓). Mẹ ông là Nữ Đăng 女登, là con gái của ông Hữu Oa (Hữu Oa Thị 有媧氏), làm vợ của ông Thiếu Điển 少典, cảm rồng thần mà (có chửa) sinh ra Viêm Đế. Ông mang thân người nhưng đầu bò, lớn lên ở bên sông Khương (Khương thủy 姜水), nhân đó đặt ra họ ấy. Xét: Quốc ngữ chép Viêm Đế-Hoàng Đế 黃帝 đều là con trai của ông Thiếu Điển, mẹ của hai ông ấy lại đều là con gái của ông Hữu Oa. Dựa theo sách của các nhà và sách Cổ sử khảo chép thì dòng dõi của Viêm Đế có tám đời, trải hơn năm trăm năm thì ông Hiên Viên (Hiên Viên Thị 軒轅氏) tiếp nối lên làm vua. Lẽ nào Viêm Đế-Hoàng Đế là anh em và cùng cha mẹ được đây? Hoàng Phủ Mật cho rằng Thiếu Điển-Hữu Oa là tên nước chư hầu, vậy thì hai vua họ Khương 姜 (chỉ Viêm Đế) và họ Cơ 姬 (chỉ Hoàng Đế) cùng sinh ra bởi ông Thiếu Điển, mà mẹ của Hoàng Đế lại là con gái đời sau của mẹ ông Thần Nông, cho nên cùng là con gái của ông Hữu Oa vậy. Ông theo hành Hỏa 火 mà làm vua, cho nên gọi là Viêm Đế, lấy tên ‘Hỏa’ để gọi quan lại. Chặt cây là cày, đẽo gỗ làm bừa, làm các đồ cày cấy để dạy cho muôn dân. Bắt đầu dạy dân cách trồng trọt, cho nên gọi là ông Thần Nông. Do đó đặt ra lễ tế chạp (lạp tế 蜡祭: lễ tế tông miếu tổ tiên vào cuối năm). Dùng cái roi màu đỏ để đập cây cỏ (truyền thuyết nói là ông Thần Nông có cây roi thần đập vào cây cỏ để biết có độc hay làm thuốc được hay không). Bắt đầu nếm trăm loại cỏ. Bắt đầu làm ra thuốc chữa bệnh. Lại làm nên đàn sắt có năm dây. Dạy dân giữa ngày họp chợ, trao đổi (đồ dùng hàng hóa) xong thì về, đều đâu ra đó. Lại chồng tám quẻ thành sáu mươi tư hào quẻ. Mới đầu đóng đô ở đất Trần 陳, sau (dời đến) ở đất Khúc Phụ 曲阜. Xét: (Quận) Hoài Dương 淮陽ngày nay có giếng Thần Nông. Lại theo Tả truyện 左傳 chép nước Lỗ 魯 có kho chứa của ông Đại Đình (Đại Đình Thị 大庭氏) là vậy. Ông làm vua một trăm hai mươi năm thì mất, chôn ở đất Trường Sa 長沙. Ông Thần Nông vốn nổi lên ở núi Liệt Sơn (Liệt Sơn 烈山) , cho nên ông Tả (Tả Thị 左氏: tức tác giả của Tả truyện 左傳 là Tả Khâu Minh 左丘明) chép “Con của ông Liệt Sơn tên là Trụ (Trụ 柱: một tên gọi của các đời vua sau ông Thần Nông) cũng gọi là ông Lệ Sơn (Lệ Sơn Thị 厲山氏) thời xưa có được thiên hạ” là vậy. Xét: Trịnh Huyền nói núi Lệ Sơn (Lệ sơn 厲山) là chỗ mà Thần Nông nổi lên, cũng gọi là núi Liệt Sơn. Hoàng Phủ Mật nói núi Lệ Sơn ở (làng) Lệ Hương 厲鄉 thuộc (huyện) Tùy 隨 ngày nay vậy.

    Thần Nông lấy con gái của ông Bôn Thủy (Bôn Thủy Thị 奔水氏) tên là Thính Bạt 聽詙 làm vợ, sinh ra Đế Ai 帝哀. Đế Ai sinh ra Đế Khắc 帝克. Đế Khắc sinh ra Đế Du Võng 帝榆罔. Cả thảy là tám đời vua, trải năm trăm ba mươi năm (530 năm) thì ông Hiên Viên nổi lên thay làm vua. Xét: Dòng dõi của Thần Nông cả thảy là tám đời vua, chuyện này chép từ Đế vương đại kỷ và Cổ sử khảo. Tuy các sách cổ đã mất rồi, nhưng hai ông Tiếu-Hoàng (Tiếu Châu và Hoàng Phủ Mật) đều là người quân tử nổi danh thời trước, xét theo sách cũ mà soạn nên sách ấy. Đến nay há lại bỏ trống sao? Cho nên tôi dựa vào đó để chép (Tam Hoàng bản kỷ). Kinh Dịch chép “Ông Thần Nông mất”, tức ông Du Võng mất. Du Võng vẫn nối dùng hiệu Thần Nông vậy. Dòng dõi của ông là vua các nước Châu 州, Phủ 甫, Cam 甘, Hứa 許, Hí 戲, Lộ 露, Tề 齊, Kỷ 紀, Di 怡, Hướng 向, Thân 申, Lữ 呂, đều thuộc họ Khương, cùng làm chư hầu, hoặc chia ra nắm giữ chức Tứ nhạc 四岳. Vào thời nhà Châu có Phủ Hầu 甫侯 và Thân Bá 申伯 đều làm Tể tướng giỏi của nhà vua (nhà Châu), có vua các nước Tề và nước Hứa xưng bá ở Trung Quốc. Có lẽ đức trạch của thánh nhân rộng lớn, cho nên dòng dõi được hưởng phúc rạng rỡ lâu dài vậy.

    2. Có một thuyết khác nói về Tam Hoàng, gọi Thiên Hoàng 天皇, Địa Hoàng 地皇, Nhân Hoàng 人皇 là Tam Hoàng. Như vậy vào buổi đầu mở mang, lúc mới có vua tôi, là chuyện mà sách Đồ vĩ 圖緯chép lại, không nên bỏ hết, cho nên tôi chép luôn ở đây.

    Vào lúc trời đất mới sinh, có ông Thiên Hoàng, trên mình có mười hai cái đầu, ông sống đạm bạc không làm gì mà muôn dân tự giáo hóa, theo hành Mộc mà làm vua, mở đầu lúc sao Tuế (tức sao Mộc, chu kỳ 12 năm trên vòm trời) mọc ở chòm sao Nhiếp Đề 攝提. Có mười hai người anh em, đều ở ngôi vua được một vạn tám nghìn năm. Xét: Có lẽ vào lúc trời đất mới sinh ra thì có người thần bắt đầu đi giáo hóa, cho nên số tuổi đời mới lâu dài như vậy. Nhưng nói là có mười hai cái đầu, không phải là mười hai cái đầu trên mình của một người. Có lẽ là vì thời xưa sánh mình như số cái đầu của muông thú vậy.

    Ông Địa Hoàng có mười một cái đầu, theo hành Hỏa mà làm vua, trong họ có mười một người, nổi lên ở các núi Hùng Nhĩ 熊耳-Long Môn 龍門, cũng đều ở ngôi được một vạn tám nghìn năm (18.000 năm).

    Ông Nhân Hoàng có chín cái đầu, cưỡi xe mây có sáu cái cánh chim, nổi lên ở cửa hang, có chín người anh em, chia ra làm vua của chín châu (cửu châu九州: chỉ đất Trung Quốc xưa), đều dựng thành ấp, cả thảy trải một trăm năm mươi đời, cộng lại là bốn vạn năm nghìn sáu trăm năm (45.600 năm). Xét: Chỗ chép từ Thiên Hoàng về sau đây đều từ sách Hà đồ 河圖 và Tam ngũ lịch.

    Từ sau thời Nhân Hoàng có thời ông Ngũ Long (Ngũ Long Thị 五龍氏), Ông Ngũ Long có năm anh em đều cưỡi rồng đi lại, cho nên gọi là ông Ngũ Long. thời ông Toại Nhân (Toại Nhân Thị 燧人氏), Xét: Vua thời này dùi khoan ra lửa, dạy dân nấu chín đồ ăn, ở trước thời ông Phục Hy. Tiếu Châu cho rằng (Toại Nhân) là đứng đầu của Tam Hoàng vậy. thời ông Đại Đình (Đại Đình Thị 大庭氏), thời ông Bách Hoàng (Bách Hoàng Thị 栢皇氏), thời ông Trung Ương (Trung Ương Thị 中央氏), thời ông Quyển Tu (Quyển Tu Thị 卷須氏), thời ông Lật Lục (Lật Lục Thị 栗陸氏), thời ông Li Liên (Li Liên Thị 驪連氏), thời ông Hách Tư (Hách Tư Thị 赫胥氏), thời ông Tôn Lô (Tôn Lô Thị 尊盧氏), thời ông Hồn Độn (Hồn Độn Thị 渾沌氏), thời ông Hạo Anh (Hạo Anh Thị 昊英氏), thời ông Hữu Sào (Hữu Sào Thị 有巢氏), thời ông Chu Tương (Chu Tương Thị 朱襄氏), thời ông Cát Thiên (Cát Thiên Thị 葛天氏), thời ông Âm Khang (Âm Khang Thị 陰康氏), thời ông Vô Hoài (Vô Hoài Thị 無懷氏). Đấy có lẽ là hiệu của những người có thiên hạ từ thời Tam Hoàng về sau này. Xét: Hoàng Phủ Mật cho rằng từ thời ông Đại Đình về sau có mười lăm vị vua đều tiếp nối gọi là Bào Hy. Chuyện này tôi chưa biết qua, khó mà dựa vào đây. Nhưng xét những vị vua thời xưa từng tế trời ở núi Thái, đứng đầu có ông Vô Hoài, là vị ở trước thời Thái Hạo, sao giống như lời mà (Hoàng Phủ) Mật nói? Nhưng sách vở không ghi, chẳng biết tên họ, số năm làm vua và chỗ đóng đô. Mà sách Hàn thi 韓詩 cho rằng thời xưa có hơn một vạn vị vua từng tế trời ở núi Thái và tế đất ở núi Lương Phủ 梁甫, Trọng Ni 仲尼 (tức Khổng Khâu 孔丘 tên chữ là Trọng Ni) xem qua nhưng không thể nhớ hết. Quản Tử 管子 (tức Quản Trọng 管仲 tên chữ là Di Ngô 夷吾) cũng nói thời xưa có bảy mươi hai vị vua từng tế trời ở núi Thái. Di Ngô cũng chỉ biết được tên mười hai vị thôi. Đứng đầu là ông Vô Hoài, nhưng trước ông Vô Hoài, từ thời ông Thiên Hoàng về sau thì số năm xa xôi, biết sao được vị vua nào lên núi Thái mà tế trời? Dù sách xưa đã mất, không ghi lại được, há vì thế mà cho rằng không có vị vua nào (thời Tam Hoàng) sao? Cho nên Xuân thu vĩ 春秋緯 chép từ thủa mở mang đến lúc bắt được con lân (chỉ năm thứ mười bốn thời Lỗ Ai Công 魯哀公 đi săn bắt được con lân) cả thảy là ba trăm hai mươi bảy vạn sáu nghìn năm (3.276.000 năm), chia làm mười kỷ, mỗi đời là bảy vạn sáu trăm năm (70.600 năm). Một là kỷ Cửu Đầu (Cửu Đầu kỷ 九頭紀), hai là kỷ Ngũ Long (Ngũ Long kỷ 五龍紀), ba là kỷ Nhiếp Đề (Nhiếp Đề 攝提紀), bốn là kỷ Hợp Lạc (Hợp Lạc kỷ 合雒紀), năm là kỷ Liên Thông (Liên Thông kỷ 連通紀), sáu là kỷ Tự Mệnh (Tự Mệnh kỷ 序命紀), bảy là kỷ Tu Phi (Tu Phi kỷ 脩飛紀), tám là kỷ Nhân Đề (Nhân Đề kỷ 因提紀), chín là kỷ Thiền Thông (Thiền Thông 禪通紀), mười là kỷ Lưu Cật (Lưu Cật kỷ 流訖紀). Có lẽ kỷ Lưu Cật là thời Hoàng Đế 黃帝, gọi tên cho chín kỷ trước. Cho nên tôi chép ở đây, chắp vá thêm vào vậy.

    _______


    Tranh vẽ ông Phục Hy

    • Tôi xin gửi bài viết tới mục Lịch sử phương Đông:

      Bổ sử ký – Tam Hoàng bản kỷ: Truyền kỳ về thời Tam Hoàng trong lịch sử Trung Quốc

      Người dịch chú thích rằng:

      – “Người thời Hán 漢 là Tư Mã Thiên 司馬遷 làm Sử ký 史記 chỉ chép từ thời Ngũ Đế 五帝 về sau mà không chép về thời Tam Hoàng 三皇, chỉ gián tiếp nhắc đến mà thôi. Tuy nhiên các sách vở trước đó và đời sau đều có chép đến Tam Hoàng theo thể văn truyền kỳ. Thời Đường 唐 có Tư Mã Trinh 司馬貞 cóp nhặt các ghi chép đời trước về thời Tam Hoàng gọi là Tam Hoàng bản kỷ 三皇本紀 để bổ sung vào Sử ký. Tuy nhiên thời Tam Hoàng vẫn là thời hồng hoang, không thể xem là chính sử.”

      _________

      補史記 · 三皇本紀
      Bổ sử ký – Tam Hoàng bản kỷ

      (Đường 唐 – Tư Mã Trinh 司馬貞 biên soạn và chú giải)

      Ông Tư Mã nhỏ (Tiểu Tư Mã Thị 小司馬氏: tức Tư Mã Trinh tự xưng) nói:

      – “Ông Thái Sử (Thái Sử Công 太史公: tức Tư Mã Thiên 司馬遷) làm Sử ký 史記, ghi chuyện vua tôi xưa nay, nên phải trên từ thời mở mang, dưới đến thời nay, để cho thấy chuyện đầu đuôi của một nhà. Nay (Sử ký) thiếu chuyện Tam Hoàng 三皇 mà lấy chuyện Ngũ Đế 五帝 làm đầu, chính là vì sách Đại Đái lễ 大戴禮 có chương Ngũ Đế đức 五帝德, lại nữa sách về các đời vua đều chép chuyện từ thời Ngũ Đế về sau, cho nên nhân đó lấy Ngũ Đế bản kỷ 五帝làm đầu. Thực ra từ thời Tam Hoàng về trước ít có sách vở ghi chép. Nhưng cái gốc của vua tôi, cái nguồn của giáo hóa, đã nói ở sử cũ, cũng không nên để sót. Gần đây Hoàng Phủ Mật (Hoàng Phủ Mật 皇甫密: tác giả thời Tây Tấn) làm Đế vương đại kỷ (Đế vương đại kỷ 帝王代紀: thường gọi là Đế vương thế kỷ 帝王世紀), Từ Chỉnh (Từ Chỉnh 徐整: tác giả thời Tam quốc) làm Tam ngũ lịch 三五曆, đều nói chuyện từ thời Tam Hoàng về sau. Đấy cũng là một lời chứng cho chuyện về thời gần xưa, nay tôi nhặt hết lại mà soạn nên Tam Hoàng bản kỷ 三皇本紀. Tuy còn nông cạn, nhưng tạm chắp vá cho chỗ thiếu sót vậy.”

      Thái Hạo 太皡, còn gọi là ông Bào Hy (Bào Hy Thị 庖犧氏) , thuộc họ Phong (Phong tính 風姓), thay ông Toại Nhân (Toại Nhân Thị 燧人氏), vâng mệnh trời mà làm vua. Mẹ ông là Hoa Tư 華胥, dẫm vào vết chân người lớn ở đầm Lôi Trạch 雷澤 mà (có chửa) sinh ra Bào Hy ở đất Thành Kỷ 成紀. Ông mang thân rắn nhưng đầu người. [1] Ông có đức thánh, ngẩng lên thì xem hình tượng ở trên trời, cúi xuống thì nhìn muôn vật ở dưới đất. Nhìn xem vết chân của muông thú, hình thế tiện lợi của đất đai, gần thì xét ở thân mình, xa thì xét ở muôn vật, bắt đầu vẽ ra tám quẻ (bát quái 八卦: tám hình vẽ biểu thị cho muôn vật) để thông với cái đức của thần minh, để biết cái tình của muôn vật. Làm ra thư khế (thư khế 書契: nét vẽ lúc đầu của chữ viết) để thay cho lối thắt gút (kết thằng 結繩: dùng dây buộc thắt gút để ghi nhớ sự việc). Do đó bắt đầu đặt ra lệ cưới gả (làm vợ chồng), dùng da hươu để làm lễ hỏi. [2] Ông dạy người dân buộc tấm lưới võng để săn bắt (chim muông và tôm cá), cho nên gọi là ông Mật Hy (Mật Hy Thị 密羲氏). [3] Ông dạy người dân nuôi con thú hy sinh (gia súc để xẻ thịt như bò, dê, lợn…) để nấu bếp, cho nên cũng gọi là Bào Hy 庖犧 . Có điềm lành rồng hiện, cho nên lấy tên ‘Long’ để gọi quan lại, hiệu là Long sư 龍師. Làm ra đàn sắt (sắt 瑟: một loại đàn thời xưa) có ba mươi lăm dây. Ông theo đức thuộc hành Mộc 木 mà làm vua, chủ về mùa xuân. Cho nên kinh Dịch 易 chép đế vương nổi lên ở quẻ Chấn 震 (chủ về phương đông), chương Nguyệt lệnh 月令 chép đầu mùa xuân có đế vương làm chủ là Thái Hạo 太皡 vậy. [4] Đóng đô ở đất Trần 陳, sang phía đông làm lễ tế trời ở núi Thái (Thái sơn 太山), làm vua được mười một năm thì mất. [5] Dòng dõi của ông vào thời Xuân thu có người các nước Nhâm 任, Túc 宿, Tu 須, Câu 句, Chuyên Du 顓臾, đều là người thuộc họ Phong vậy.

      [1] Xét: Chỗ chép ông Phục Hy thuộc họ Phong, là từ sách Quốc ngữ 國語. Chỗ chép từ Hoa Tư về sau là từ Đế vương thế kỷ. Lôi Trạch là tên đầm, là chỗ Thuấn (Thuấn 舜: là vị vua hiền thời Ngũ Đế) bắt cá, ở (quận) Tế Âm 濟陰. Thành Kỷ cũng là tên đất. Xét (quận) Thiên Thủy 天水 có huyện Thành Kỷ.

      [2] Xét: Cổ sử khảo 古史考 của Tiếu Châu (Tiếu Châu 譙周: tác giả thời Tam quốc) chép Phục Hy 伏羲 đặt ra lệ cưới gả, lấy da hươu làm lễ hỏi.

      [3] Xét: Chỗ chép này là từ Hán thư lịch chí 漢書曆志 . Mật, còn đọc là ‘phục’.

      [4] Xét: Ngôi vị ở phương đông, tượng trưng cho ánh sáng của Mặt Trời, cho nên gọi là Thái Hạo. Hạo là sáng vậy.

      [5] Xét: Hoàng Phủ Mật nói Phục Hy được chôn ở đất Nam Quận 南郡, có thuyết nói gò mộ ở phía tây (huyện) Cao Bình 高平 (quận) Sơn Dương 山陽.

      Ông (bà) Nữ Oa (Nữ Oa Thị 女媧氏) cũng thuộc họ Phong, mang mình rắn nhưng đầu người, có đức của thần thánh, thay ông Mật Hy làm vua, gọi là ông (bà) Nữ Hy (Nữ Hy Thị 女希氏), không làm nên cái gì thêm, chỉ làm ra cái khèn bè. [6] Cho nên kinh Dịch 易 không nói đến, không ứng theo ngũ vận (chỉ ngũ hành 五行). Có thuyết nói Nữ Oa cũng theo hành Mộc mà làm vua, có lẽ là sau thời ông Phục Hy đã trải mấy đời nữa, các hành Kim-Mộc (và các hành Thổ-Hỏa-Thủy) xoay chuyển xong một vòng lại về như lúc đầu (ngũ hành khởi đầu từ Mộc), chỉ nêu Nữ Oa vì có công lớn mà xếp vào Tam Hoàng, cho nên giống theo hành Mộc mà làm vua vậy. Vào lúc cuối thời (bà Nữ Oa), chư hầu có ông Cộng Công (Cộng Công Thị 共工氏) dùng trí xảo mà lớn mạnh nhưng không được làm vua, muốn theo hành Thủy để tiếp nối hành Mộc, bèn đánh nhau với ông Chúc Dung (Chúc Dung 祝融), không thắng mà tức giận, bèn đâm đầu vào núi Bất Châu 不周山, làm cho núi lở, cột chống trời bị gãy, bốn góc đất bị sụt. Nữ Oa liền nấu đá năm màu để vá trời, chặt bốn chân con ngao (ngao 鰲: một loài rùa lớn thời xưa) để làm bốn cây cột chống bốn góc, chất tro cây lau để ngăn nước lụt, để cứu vớt đất Ký châu 冀州 (một trong chín châu thời xưa ở Trung Quốc). [7] Do đó đất bằng trời cao, không đổi vật cũ. Bà Nữ Oa mất, ông Thần Nông (Thần Nông Thị 神農氏) lên thay làm vua. [8]

      [6] Xét: Lễ minh đường vị 禮明堂位 và Hệ bản 系本, đều chép bà Nữ Oa làm ra khèn bè.

      [7] Xét: Chỗ chuyện này chép từ Hoài Nam Tử 淮南子.

      [8] Xét: Các sách chép về Tam Hoàng không giống nhau. Tiếu Châu cho rằng Toại Nhân thuộc Tam Hoàng, Tống Quân 宋均 cho rằng Chúc Dung thuộc Tam Hoàng. Trịnh Huyền 鄭玄 theo sách Xuân thu vĩ 春秋緯 cho rằng Nữ Oa thuộc Tam Hoàng, là người tiếp nối Phục Hy, Hoàng Phủ Mật cũng giống như vậy, cho nên nay tôi dựa vào đó mà nói.

      Viêm Đế 炎帝 là ông Thần Nông (Thần Nông Thị 神農氏), thuộc họ Khương (Khương tính 姜姓). Mẹ ông là Nữ Đăng 女登, là con gái của ông Hữu Oa (Hữu Oa Thị 有媧氏), làm vợ của ông Thiếu Điển 少典, cảm rồng thần mà (có chửa) sinh ra Viêm Đế. Ông mang thân người nhưng đầu bò, lớn lên ở bên sông Khương (Khương thủy 姜水), nhân đó đặt ra họ ấy. [9]

      [9] Xét: Quốc ngữ chép Viêm Đế-Hoàng Đế 黃帝 đều là con trai của ông Thiếu Điển, mẹ của hai ông ấy lại đều là con gái của ông Hữu Oa. Dựa theo sách của các nhà và sách Cổ sử khảo chép thì dòng dõi của Viêm Đế có tám đời, trải hơn năm trăm năm thì ông Hiên Viên (Hiên Viên Thị 軒轅氏) tiếp nối lên làm vua. Lẽ nào Viêm Đế-Hoàng Đế là anh em và cùng cha mẹ được đây? Hoàng Phủ Mật cho rằng Thiếu Điển-Hữu Oa là tên nước chư hầu, vậy thì hai vua họ Khương 姜 (chỉ Viêm Đế) và họ Cơ 姬 (chỉ Hoàng Đế) cùng sinh ra bởi ông Thiếu Điển, mà mẹ của Hoàng Đế lại là con gái đời sau của mẹ ông Thần Nông, cho nên cùng là con gái của ông Hữu Oa vậy.

      Ông theo hành Hỏa 火 mà làm vua, cho nên gọi là Viêm Đế, lấy tên ‘Hỏa’ để gọi quan lại. Chặt cây là cày, đẽo gỗ làm bừa, làm các đồ cày cấy để dạy cho muôn dân. Bắt đầu dạy dân cách trồng trọt, cho nên gọi là ông Thần Nông. Do đó đặt ra lễ tế chạp (lạp tế 蜡祭: lễ tế tông miếu tổ tiên vào cuối năm). Dùng cái roi màu đỏ để đập cây cỏ (truyền thuyết nói là ông Thần Nông có cây roi thần đập vào cây cỏ để biết có độc hay làm thuốc được hay không). Bắt đầu nếm trăm loại cỏ. Bắt đầu làm ra thuốc chữa bệnh. Lại làm nên đàn sắt có năm dây. Dạy dân giữa ngày họp chợ, trao đổi (đồ dùng hàng hóa) xong thì về, đều đâu ra đó. Lại chồng tám quẻ thành sáu mươi tư hào quẻ. Mới đầu đóng đô ở đất Trần 陳, sau (dời đến) ở đất Khúc Phụ 曲阜. [10]

      [10] Xét: (Quận) Hoài Dương 淮陽ngày nay có giếng Thần Nông. Lại theo Tả truyện 左傳 chép nước Lỗ 魯 có kho chứa của ông Đại Đình (Đại Đình Thị 大庭氏) là vậy.

      Ông làm vua một trăm hai mươi năm thì mất, chôn ở đất Trường Sa 長沙. Ông Thần Nông vốn nổi lên ở núi Liệt Sơn (Liệt Sơn 烈山) , cho nên ông Tả (Tả Thị 左氏: tức tác giả của Tả truyện 左傳 là Tả Khâu Minh 左丘明) chép “Con của ông Liệt Sơn tên là Trụ (Trụ 柱: một tên gọi của các đời vua sau ông Thần Nông) cũng gọi là ông Lệ Sơn (Lệ Sơn Thị 厲山氏) thời xưa có được thiên hạ” là vậy. [11]

      [11] Xét: Trịnh Huyền nói núi Lệ Sơn (Lệ sơn 厲山) là chỗ mà Thần Nông nổi lên, cũng gọi là núi Liệt Sơn. Hoàng Phủ Mật nói núi Lệ Sơn ở (làng) Lệ Hương 厲鄉 thuộc (huyện) Tùy 隨 ngày nay vậy.

      Thần Nông lấy con gái của ông Bôn Thủy (Bôn Thủy Thị 奔水氏) tên là Thính Bạt 聽詙 làm vợ, sinh ra Đế Ai 帝哀. Đế Ai sinh ra Đế Khắc 帝克. Đế Khắc sinh ra Đế Du Võng 帝榆罔. Cả thảy là tám đời vua, trải năm trăm ba mươi năm (530 năm) thì ông Hiên Viên nổi lên thay làm vua. [12]

      [12] Xét: Dòng dõi của Thần Nông cả thảy là tám đời vua, chuyện này chép từ Đế vương đại kỷ và Cổ sử khảo. Tuy các sách cổ đã mất rồi, nhưng hai ông Tiếu-Hoàng (Tiếu Châu và Hoàng Phủ Mật) đều là người quân tử nổi danh thời trước, xét theo sách cũ mà soạn nên sách ấy. Đến nay há lại bỏ trống sao? Cho nên tôi dựa vào đó để chép (Tam Hoàng bản kỷ). Kinh Dịch chép “Ông Thần Nông mất”, tức ông Du Võng mất. Du Võng vẫn nối dùng hiệu Thần Nông vậy.

      Dòng dõi của ông là vua các nước Châu 州, Phủ 甫, Cam 甘, Hứa 許, Hí 戲, Lộ 露, Tề 齊, Kỷ 紀, Di 怡, Hướng 向, Thân 申, Lữ 呂, đều thuộc họ Khương, cùng làm chư hầu, hoặc chia ra nắm giữ chức Tứ nhạc 四岳. Vào thời nhà Châu có Phủ Hầu 甫侯 và Thân Bá 申伯 đều làm Tể tướng giỏi của nhà vua (nhà Châu), có vua các nước Tề và nước Hứa xưng bá ở Trung Quốc. Có lẽ đức trạch của thánh nhân rộng lớn, cho nên dòng dõi được hưởng phúc rạng rỡ lâu dài vậy.

      Có một thuyết khác nói về Tam Hoàng, gọi Thiên Hoàng 天皇, Địa Hoàng 地皇, Nhân Hoàng 人皇 là Tam Hoàng. Như vậy vào buổi đầu mở mang, lúc mới có vua tôi, là chuyện mà sách Đồ vĩ 圖緯chép lại, không nên bỏ hết, cho nên tôi chép luôn ở đây.

      Vào lúc trời đất mới sinh, có ông Thiên Hoàng, trên mình có mười hai cái đầu, ông sống đạm bạc không làm gì mà muôn dân tự giáo hóa, theo hành Mộc mà làm vua, mở đầu lúc sao Tuế (tức sao Mộc, chu kỳ 12 năm trên vòm trời) mọc ở chòm sao Nhiếp Đề 攝提. Có mười hai người anh em, đều ở ngôi vua được một vạn tám nghìn năm (18.000 năm). [13]

      Ông Địa Hoàng có mười một cái đầu, theo hành Hỏa mà làm vua, trong họ có mười một người, nổi lên ở các núi Hùng Nhĩ 熊耳-Long Môn 龍門, cũng đều ở ngôi được một vạn tám nghìn năm (18.000 năm).

      Ông Nhân Hoàng có chín cái đầu, cưỡi xe mây có sáu cái cánh chim, nổi lên ở cửa hang, có chín người anh em, chia ra làm vua của chín châu (cửu châu九州: chỉ đất Trung Quốc xưa), đều dựng thành ấp, cả thảy trải một trăm năm mươi đời, cộng lại là bốn vạn năm nghìn sáu trăm năm (45.600 năm). [14]

      Từ sau thời ông Nhân Hoàng có thời ông Ngũ Long (Ngũ Long Thị 五龍氏), [15] thời ông Toại Nhân (Toại Nhân Thị 燧人氏), [16] thời ông Đại Đình (Đại Đình Thị 大庭氏), thời ông Bách Hoàng (Bách Hoàng Thị 栢皇氏), thời ông Trung Ương (Trung Ương Thị 中央氏), thời ông Quyển Tu (Quyển Tu Thị 卷須氏), thời ông Lật Lục (Lật Lục Thị 栗陸氏), thời ông Li Liên (Li Liên Thị 驪連氏), thời ông Hách Tư (Hách Tư Thị 赫胥氏), thời ông Tôn Lô (Tôn Lô Thị 尊盧氏), thời ông Hồn Độn (Hồn Độn Thị 渾沌氏), thời ông Hạo Anh (Hạo Anh Thị 昊英氏), thời ông Hữu Sào (Hữu Sào Thị 有巢氏), thời ông Chu Tương (Chu Tương Thị 朱襄氏), thời ông Cát Thiên (Cát Thiên Thị 葛天氏), thời ông Âm Khang (Âm Khang Thị 陰康氏), thời ông Vô Hoài (Vô Hoài Thị 無懷氏). Đấy có lẽ là hiệu của những người có thiên hạ từ thời Tam Hoàng về sau này. [17] Nhưng sách vở không ghi, chẳng biết tên họ, số năm làm vua và chỗ đóng đô. Mà sách Hàn thi 韓詩 cho rằng thời xưa có hơn một vạn vị vua từng tế trời ở núi Thái và tế đất ở núi Lương Phủ 梁甫, Trọng Ni 仲尼 (tức Khổng Khâu 孔丘 tên chữ là Trọng Ni) xem qua nhưng không thể nhớ hết. Quản Tử 管子 (tức Quản Trọng 管仲 tên chữ là Di Ngô 夷吾) cũng nói thời xưa có bảy mươi hai vị vua từng tế trời ở núi Thái. Di Ngô cũng chỉ biết được tên mười hai vị, đứng đầu là ông Vô Hoài, nhưng trước ông Vô Hoài, từ thời ông Thiên Hoàng về sau thì số năm xa xôi, biết sao được vị vua nào lên núi Thái mà tế trời? Dù sách xưa đã mất, không ghi lại được, há vì thế mà cho rằng không có vị vua nào (thời Tam Hoàng) sao? Cho nên Xuân thu vĩ 春秋緯 chép từ thủa mở mang đến lúc bắt được con lân (chỉ năm thứ mười bốn thời Lỗ Ai Công 魯哀公 đi săn bắt được con lân) cả thảy là ba trăm hai mươi bảy vạn sáu nghìn năm (3.276.000 năm), chia làm mười kỷ, mỗi đời là bảy vạn sáu trăm năm (70.600 năm). Một là kỷ Cửu Đầu (Cửu Đầu kỷ 九頭紀), hai là kỷ Ngũ Long (Ngũ Long kỷ 五龍紀), ba là kỷ Nhiếp Đề (Nhiếp Đề 攝提紀), bốn là kỷ Hợp Lạc (Hợp Lạc kỷ 合雒紀), năm là kỷ Liên Thông (Liên Thông kỷ 連通紀), sáu là kỷ Tự Mệnh (Tự Mệnh kỷ 序命紀), bảy là kỷ Tu Phi (Tu Phi kỷ 脩飛紀), tám là kỷ Nhân Đề (Nhân Đề kỷ 因提紀), chín là kỷ Thiền Thông (Thiền Thông 禪通紀), mười là kỷ Lưu Cật (Lưu Cật kỷ 流訖紀). Có lẽ kỷ Lưu Cật là thời Hoàng Đế 黃帝, gọi tên cho chín kỷ trước. Cho nên tôi chép ở đây, chắp vá thêm vào vậy.

      [13] Xét: Có lẽ vào lúc trời đất mới sinh ra thì có người thần bắt đầu đi giáo hóa, cho nên số tuổi đời mới lâu dài như vậy. Nhưng nói là có mười hai cái đầu, không phải là mười hai cái đầu trên mình của một người. Có lẽ là vì thời xưa sánh mình như số cái đầu của muông thú vậy.

      [14] Xét: Chỗ chép từ Thiên Hoàng về sau đây đều từ sách Hà đồ 河圖 và Tam ngũ lịch.

      [15] Ông Ngũ Long có năm anh em đều cưỡi rồng đi lại, cho nên gọi là ông Ngũ Long.

      [16] Xét: Vua thời này dùi khoan ra lửa, dạy dân nấu chín đồ ăn, ở trước thời ông Phục Hy. Tiếu Châu cho rằng (Toại Nhân) là đứng đầu của Tam Hoàng vậy.

      [17] Xét: Hoàng Phủ Mật cho rằng từ thời ông Đại Đình về sau có mười lăm vị vua đều tiếp nối gọi là Bào Hy. Chuyện này tôi chưa biết qua, khó mà dựa vào đây. Nhưng xét những vị vua thời xưa từng tế trời ở núi Thái, đứng đầu có ông Vô Hoài, là vị ở trước thời Thái Hạo, sao giống như lời mà (Hoàng Phủ) Mật nói?

  14. Tôi xin gửi đến mục Lịch sử Việt Nam:

    Thục Vương bản kỷ: Lịch sử và truyền kỳ về nước Thục xưa

    Hán 漢 – Dương Hùng 揚雄 soạn

    Người dịch văn là Tích Dã chú thích:

    – “Nước Thục xưa xa lánh ở miền tây nam, ít qua lại với Trung Quốc. Những chuyện xảy ra ở đấy được chính sử chép rất ít, chủ yếu liên quan đến nước Tần 秦 láng giềng. Đến thời Hán 漢 có người đất Thục là Dương Hùng 揚雄 đã dựa theo chính sử và truyền kỳ ở đấy để soạn nên Thục Vương bản kỷ 蜀王本紀, kể chuyện nước Thục 蜀 từ lúc dựng nước đến lúc bị nước Tần diệt và đặt thành quận huyện. Sách ấy qua 2.000 năm bãi bể nương dâu đã bị mất, nhưng được sao chép và trích dẫn ở một số sách khác đời sau.”

    ________

    Tổ tiên của vua nước Thục từng xưng vương có Tàm Tùng 蠶叢, Bách Hoạch 柏濩 (hoặc có sách chép là Bách Quyền 柏灌, có lẽ mặt chữ giống nhau), Ngư Phù 魚鳧, [1] Khai Minh 開明. Người dân (nước Thục) thời ấy búi tóc hình cái vồ, cài vạt áo bên trái, không biết chữ viết, chưa có lễ nhạc. Từ thời Khai Minh về trước đến thời Tàm Tùng cả thảy là ba vạn bốn nghìn năm (34.000 năm). [2]

    [1] Họ Lưu 劉 chú Văn tuyển Thục Đô phú 文選蜀都賦 dẫn (Thục Vương bản kỷ) có thêm hai chữ Bồ Trạch 蒲澤 (tên một đời vua Thục).
    [2] Ngự lãm 御覽 dẫn chép cả thảy là bốn nghìn năm (4.000 năm). Họ Lưu chú Ngụy Đô phú 魏都賦 dẫn. Vương Nguyên Trường 王元長 chú Tam nguyệt tam nhật khúc thủy thi tự 三月三日曲水詩序 dẫn. Ngự lãm quyển một trăm sáu mươi sáu dẫn.

    Tổ tiên của vua nước Thục tên là Tàm Tùng, vua đời sau tên là Bách Hoạch, sau nữa tên là Ngư Phù. [3] Ba đời vua ấy đều sống thọ mấy trăm tuổi, đều thành thần không chết, người dân thời ấy cũng có kẻ đi theo vua mà cũng thành thần. Ngư Phù làm ruộng ở núi Tiên (Tiên sơn 湔山) mà thành tiên. Miếu thờ ngày nay ở núi Tiên. Bấy giờ dân nước Thục còn ít ỏi. [4]

    [3] Sơ học ký 初學紀 quyển tám dẫn, Nghệ văn loại tụ 藝文類聚 quyển sáu dẫn, Ngự lãm 御覽 quyển một trăm sáu mươi sáu chép sau nữa là Bá Ung 伯雍, lại sau nữa là Ngư Phù.
    [4] Ngự lãm quyển một trăm sáu mươi sáu và quyển chín trăm mười ba dẫn.

    Sau này có một người con trai tên là Đỗ Vũ 杜宇 từ trên trời xuống ở huyện Chu Đề 朱提, [5] có một người con gái tên là Lợi 利 hiện ra từ trong giếng ở đầu nguồn sông mà đến làm vợ của Đỗ Vũ, (Đỗ Vũ) bèn tự lập làm vua nước Thục, gọi là Vọng Đế 望帝. [6] Dựng ấp ở dưới núi Vấn (Vấn sơn 汶山) gọi là ấp Bì 郫, thường lúc giáo hóa người dân lại đi ra. [7]

    [5] 〈Xét ét Xét: Sử ký Tam đại thế biểu sách ẩn 史記三代世表索隱 dẫn chép là huyện Chu Đề có người con trai tên là Đỗ Vũ 杜宇.
    [6] Xét: Ngự lãm quyển một trăm sáu mươi sáu dẫn dưới có bốn chữ là cư cố bang ấp 居故邦邑 (nghĩa là “ở chỗ bang ấp trước đây”).
    [7] (Họ Lưu) chú Văn tuyển Tư huyền phú 〈文選思玄賦 dẫn, Ngự lãm quyển một trăm sáu mươi sáu và quyển tám trăm tám mươi tám dẫn.

    Vọng Đế làm vua được hơn một trăm năm, ở nước Kinh 荊 (tức tên khác của nước Sở 楚) có một người tên là Miết Linh 鱉靈 chết mà xác trôi đi mất, người nước Kinh tìm mà không thấy. Xác Miết Linh trôi ngược sông đến ấp Bì, bèn sống lại, gặp nhau với Vọng Đế, Vọng Đế lấy Miết Linh là Tướng quốc. [8] Bấy giờ ở núi Ngọc (Ngọc sơn 玉山) tuôn nước ra như nước lụt thời vua Nghiêu 堯, Vọng Đế không ngăn được, sai Miết Linh khoét núi Ngọc dẫn nước đi, người dân được ở yên. Sau khi Miết Linh dẫn nước đi được rồi, Vọng Đế lại thông dâm với vợ của Miết Linh, lấy làm hổ thẹn, tự cho là mình đức mỏng, không bằng Miết Linh, bèn trao việc nước cho Miết Linh mà bỏ đi, giống chuyện vua Nghiêu 堯 nhường ngôi vua cho Thuấn. Miết Linh lên ngôi vua, gọi là đế Khai Minh (Khai Minh Đế 開明帝). Vua sinh ra Lô Bảo, cũng gọi là đế Khai Minh. [9]

    [8] Hán thư chú 漢書注, Văn tuyển chú dẫn chép là Miết Linh 鱉令.
    [9] Hậu Hán thư Trương Hành truyện chú 後漢書張衡傳注, Văn tuyển Tư huyền phú chú 文選思玄賦注, Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám và quyển chín trăm hai mươi ba, Sự loại phú chú 事類賦注 quyển sáu.

    Vào lúc Vọng Đế bỏ đi, chim tử quy 子䳏 (tức chim cuốc) kêu, cho nên người Thục hễ nghe tiếng chim tử quy kêu buồn lại nhớ Vọng Đế. Vọng Đế tên là Đỗ Vũ, là người từ trên trời xuống. [10]

    [10] Ngự lãm quyển chín trăm hai mươi ba dẫn.

    Từ thời đế Khai Minh về sau được năm đời thì có Khai Minh Thượng 開明尚 bắt đầu bỏ xưng đế, trở lại xưng vương. [11]

    [11] Hậu Hán thư Trương Hành truyện chú dẫn.

    Trời giúp vua Thục có năm vị lực sĩ có thể dời được các trái núi của nước Thục. Vua Thục chết, năm vị lực sĩ liền dựng một khối đá lớn dài ba trượng, nặng nghìn quân, gọi là bò đá (thạch ngưu 石牛), nghìn người không lay được, vạn người không dời được. [12]

    [12] Nghệ văn loại tụ quyển bảy, Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám dẫn.

    Vua Thục đóng giữ ở đất Ba-Thục, vốn trị ở làng Phàn Hương 樊鄉 huyện Quảng Đô 廣都, sau dời đến ở huyện Thành Đô 成都. Tần Huệ Vương 秦惠王 sai bọn Trương Nghi 張儀-Tư Mã Thác 司馬錯 đi bình định nước Thục, nhân đó lấy đất Thành Đô mà lập thành huyện. Huyện Thành Đô trị ở phố Xích Lí (Xích Lí nhai 赤里街).Trương Nhược 張若 dời đến trị ở trong Thiểu Thành 少城, bắt đầu dựng phủ xá thành huyện, nay giống quy tắc của thành Trường An. [13]

    [13] Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám, Hoàn vũ ký 寰宇記 quyển bảy mươi hai dẫn.

    Vào thời Tần Huệ Vương, vua Thục không hàng người Tần, người Tần cũng không có đường để phát binh vào đánh nước Thục. Bấy giờ vua Thục đem hơn vạn người sang phía đông đi săn, đến ở hang Bao Cốc 褒谷, rút cuộc gặp Tần Huệ Vương. Vua Tần đem một giỏ vàng tặng cho vua Thục. Vua Thục cũng dùng lễ vật tặng lại, nhưng lễ vật đều hóa thành đất. Vua Tần giận, bề tôi đều bái lạy chúc mừng nói: “Đất là lãnh thổ. Nước Tần sẽ lấy được đất Thục vậy.” [14]

    [14] Ngự lãm quyển ba mươi bảy và quyển bốn trăm bảy mươi tám và quyển tám trăm mười một và quyển tám trăm bảy mươi hai và quyển tám trăm tám mươi tám dẫn, Sự loại phú chú 事類賦注 quyển chín dẫn.

    Tần Huệ Vương bản kỷ chép: “Tần Huệ Vương muốn đánh Thục, bèn đẽo năm con bò đá, [15] đặt vàng ở sau (đít) nó. Người Thục thấy thế, cho là bò đá biết ỉa ra vàng〉., d,, dưới bò đá có người lính chăm sóc, cho rằng đấy là bò trời, biết ỉa ra vàng. Vua Thục cho là phải, liền phát hơn một nghìn lính, sai năm vị lực sĩ làm đường để chuyển bò đá về nước Thục, đặt ba con ở Thành Đô. Do đó đường (từ đất Thục) qua đất Tần được mở, là do sức của bò đá vậy. Sau đó vua Tần sai bọn Thừa tướng là Trương Nghi theo đường bò đá mở mà sang đánh Thục. [16]

    [15] Xét: Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám dẫn chép vua Tần sợ không có chỗ gặp nhau, bèn đẽo năm con bò đá.
    [16] Bắc đường thư sao 〈北堂書鈔 quyển một trăm mười sáu dẫn, Nghệ văn loại tụ quyển chín mươi tư, Bạch thiếp quyển chín mươi sáu, Ngự lãm quyển ba trăm lẻ năm và quyển tám trăm tám mươi tám.

    Ở quận Vũ Đô 武都 có người tài trí, vua Thục đem vợ và con gái của người ấy về nước Thục. Ở đất Thục không quen đất nước, muốn về. Vua Thục trong lòng thích người con gái ấy, giữ ở lại, bèn làm sáu bài hát ‘Y minh chi thanh’ 伊鳴之聲 mà múa hát cho người con gái ấy vui lòng. [17]

    [17] Xét: Bắc đường thư sao dẫn chép là làm bài hát ‘Đông bình chi ca’ 東平之歌 để cho người con gái ấy vui lòng. Bắc đường thư sao quyển một trăm lẻ sáu, Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám dẫn. 〉

    Ở quận Vũ Đô có người con trai hóa thành con gái, [18] vẻ mặt xinh đẹp, có lẽ là khí tinh hoa của rừng núi làm nên. Vua Thục lấy người con gái ấy làm vợ. [19] Không quen đất đai, mắc bệnh tật muốn về. Vua Thục giữ ở lại, không lâu thì người con gái ấy chết. Vua Thục phát lính đến quận Vũ Đô gánh đất về Thành Đô cho vào trong quách mà chôn, đắp mả đất rộng ba mẫu, cao bảy trượng, gọi là Vũ đảm 武擔, [20] lấy đá làm một tấm gương đặt ở trên mả. Gương rộng một trượng, cao năm thước. [21]

    [18] Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám dẫn chép trước từ ‘Vũ Đô’ là ba chữ ‘hoặc viết tiền’ 或曰前 (nghĩa là: ‘có sách nói trước đây).
    [19] Xét: Nghệ văn loại tụ chép là phu nhân 夫人.
    [20] Xét: Khai Nguyên chiêm kinh 開元占經 dẫn chép là người (nước Thục) giận chuyện ấy gọi là Vũ đảm 武擔.
    [21] Hậu Hán thư Nhâm Văn Công truyện chú 後漢書任文公傳注, Tam quốc chí Thục tiên chủ truyện chú 三國志蜀先主傳注, Bắc đường thư sao quyển chín mươi tư và quyển một trăm ba mươi sáu, Sơ học ký quyển năm, Nghệ văn loại tụ quyển sáu và quyển bảy mươi, Khai Nguyên chiêm kinh quyển một trăm mười ba, Ngự lãm quyển năm mươi hai và quyển bảy trăm mười bảy và quyển tám trăm tám mươi tám, Sự loại phú quyển bảy dẫn.

    Do đó vua Tần biết vua Thục ưa gái đẹp, bèn dâng năm người con gái đẹp cho vua Thục. Vua Thục lấy làm thích, sai năm vị lực sĩ đi đón năm người con gái ấy về. Về qua huyện Tử Đồng, gặp một con rắn lớn chui vào vào trong hang núi. Một vị lực sĩ cầm đuôi rắn kéo ra, rồi cả năm vị cùng kéo rắn, núi bèn lở, đè lên cả năm vị lực sĩ. Năm vị lực sĩ dẫm đất kêu to gọi vua Tần, nhưng cùng năm người con gái và người đi đón đều bị núi đè lên hóa thành đá. Vua Thục lên đài cao ngóng nhìn mà không thấy người về, nhân đó gọi là đài Ngũ Phụ Hầu (Ngũ Phụ Hầu đài 五婦侯臺). Vua Thục tự mình đi chôn mà làm gò mả cho những người ấy, đều đắp đến muôn tảng đá để ghi nhớ mộ của họ. [22]

    [22] Sơ học ký quyển năm, Nghệ văn loại tụ quyển bảy và quyển chín mươi sáu, Bạch thiếp quyển năm, Ngự lãm quyển năm mươi hai và quyển ba trăm tám mươi sáu và quyển tám trăm tám mươi tám và quyển chín trăm ba mươi tư, Sự loại phú chú quyển hai mươi mươi tám dẫn.

    Tần Huệ Vương sai bọn Trương Nghi-Tư Mã Thác đánh Thục. Vua Thục là Khai Minh đánh giữ, không được lợi, rút chạy về huyện Vũ Dương 武陽, bị bắt. [23]

    [23] Hoàn vũ ký quyển bảy mươi hai dẫn.

    Trương Nghi đánh Thục, vua Thục là Khai Minh đánh không thắng, bị Nghi diệt đi. [24]

    [24] Sử ký Tần bản kỷ sách ẩn 〈史記秦本紀索隱 dẫn.

    Vua Thục có thuyền anh vũ (anh vũ chu 鸚武舟). [25]

    [25] Sơ học ký quyển hai mươi lăm, Ngự lãm quyển một trăm ba mươi bảy dẫn.

    Vua Tần làm một vạn chiếc thuyền thái bạch (thái bạch thuyền 太白船) muốn để đánh nước Sở 楚. [26]

    [26] Vốn chú là tên thuyền thái bạch. Sơ học ký quyển hai mươi lăm dẫn.

    Vua Tần làm hơn vạn chiếc thuyền bè, muốn đánh Sở. [27]

    [27] Ngự lãm quyển bảy trăm sáu mươi chín, Sự loại phú chú quyển mười sáu dẫn.

    Vua Tần sau khi giết Thục Hầu 蜀侯 tên là Huy 煇, đón về chôn ở thành Hàm Dương 咸陽, trời mua suốt ba tháng, không đi được, nhân đó chôn ở huyện Thành Đô. Người Thục xin mưa thì cúng Thục Hầu thì tất có mưa. [28]

    [28] Ngự lãm quyển mười một dẫn.

    Vào thời Tần Tương Vương 秦襄王, quận Hữu Cừ (Hữu Cừ quận 宕渠郡) dâng người lớn (trường nhân 長人), cao hai mươi lăm trượng sáu thước. [29]

    [29] Pháp uyển châu lâm 法苑珠林 quyển tám, Ngự lãm quyển ba trăm bảy mươi bảy dẫn.

    Vũ 禹 vốn là người huyện Quảng Nhu (Quảng Nhu huyện 廣柔縣) quận Vấn Sơn (Vấn Sơn quận 汶山郡), sinh ra ở ấp Thạch Nữu 石紐, tên đất ấy là Lị Nghê Bạn 痢兒畔. Mẹ của Vũ nuốt hạt châu mà mang thai Vũ, rạch mổ mà sinh ra Vũ ở núi Đồ (Đồ sơn 塗山) trong huyện ấy. Vũ lấy vợ sinh con tên là Khải 啟. Ở núi Đồ ngày nay có miếu thờ Vũ, cũng có dựng miếu thờ mẹ của Vũ ở đó. [30]

    [30] Sử ký Hạ bản kỷ chính nghĩa 史記夏本紀正義, Sơ học ký quyển chín, Ngự lãm quyển tám mươi ba và quyển năm trăm ba mươi mốt dẫn.

    Lão Tử 老子 vì nể lời của Quan lệnh doãn 關令尹 tên là Hỉ 喜 mà làm sách Đạo đức kinh 道德經, lúc chia tay nói: “Ông học đạo này hơn nghìn ngày sau thì đến tìm ta ở chợ Thanh Dương (Thanh Dương tứ 青羊肆) đất Thành Đô.” Là quán Thanh Ngưu (Thanh Ngưu quán 青牛觀) ngày nay vậy. [31]

    [31] Ngự lãm quyển một trăm chín mươi mốt, Hoàn vũ quyển bảy mươi hai dẫn.

    Nước sông gây hại, Thục Thú 蜀守 là Lý Băng 李冰 làm năm con tê đá, đặt hai con ở trong phủ, đặt một con ở dưới cầu chợ, đặt hai con ở giữa sông để áp thần nước (thủy tinh 水精), nhân đó gọi là làng Thạch Tê (Thạch Tê lý 石犀里). [32]

    [32] Bắc đường thư sao quyển ba mươi chín, Nghệ văn loại tụ quyển chín mươi lăm, Ngự lãm quyển tám trăm chín mươi dẫn.

    Lý Băng vào thời Tần làm Thục Thú 蜀守, gọi núi Vấn (Vấn sơn 汶山) là ải Thiên Bành (Thiên Bành khuyết 天彭門), còn gọi là cửa Thiên Bành (Thiên Bành môn 天彭門), nói rằng hồn người chết phải đi qua giữa cửa ấy, thần linh ma quỷ xuất hiện nhiều ở đấy. [33]

    [33] Hoàn vũ ký quyển bảy mươi ba dẫn.

    Trước huyện Tiên Đê Đạo (Tiên Đê Đạo huyện 湔氐道縣) có hai tảng đá đứng đối nhau như cánh cửa, gọi là cửa Bành (Bành môn 彭門) [34]

    [34] Tục Hán quận quốc chí bổ chú 續漢郡國志補注 dẫn.

    Vào thời Tuyên Đế 宣帝 (nhà Hán) giữa những năm Địa Tiết 地節 (năm 69 – 66 trước Công nguyên) bắt đầu đào mấy chục cái giếng muối (ở đất Thục). [35]

    [35] Ngự lãm quyển tám trăm sáu mươi lăm dẫn.

    • Xin sửa lại,

      Tôi xin gửi đến mục Lịch sử Việt Nam:

      Thục Vương bản kỷ: Lịch sử và truyền kỳ về nước Thục xưa

      Hán 漢 – Dương Hùng 揚雄 soạn

      Người dịch văn là Tích Dã chú thích:

      – “Nước Thục xưa xa lánh ở miền tây nam, ít qua lại với Trung Quốc. Những chuyện xảy ra ở đấy được chính sử chép rất ít, chủ yếu liên quan đến nước Tần 秦 láng giềng. Đến thời Hán 漢 có người đất Thục là Dương Hùng 揚雄 đã dựa theo chính sử và truyền kỳ ở đấy để soạn nên Thục Vương bản kỷ 蜀王本紀, kể chuyện nước Thục 蜀 từ lúc dựng nước đến lúc bị nước Tần diệt và đặt thành quận huyện. Sách ấy qua 2.000 năm bãi bể nương dâu đã bị mất, nhưng được sao chép và trích dẫn ở một số sách khác đời sau.”

      ________

      Tổ tiên của vua nước Thục từng xưng vương có Tàm Tùng 蠶叢, Bách Hoạch 柏濩 (hoặc có sách chép là Bách Quyền 柏灌, có lẽ mặt chữ giống nhau), Ngư Phù 魚鳧, [1] Khai Minh 開明. Người dân (nước Thục) thời ấy búi tóc hình cái vồ, cài vạt áo bên trái, không biết chữ viết, chưa có lễ nhạc. Từ thời Khai Minh về trước đến thời Tàm Tùng cả thảy là ba vạn bốn nghìn năm (34.000 năm). [2]

      [1] Họ Lưu 劉 chú Văn tuyển Thục Đô phú 文選蜀都賦 dẫn (Thục Vương bản kỷ) có thêm hai chữ Bồ Trạch 蒲澤 (tên một đời vua Thục).
      [2] Ngự lãm 御覽 dẫn chép cả thảy là bốn nghìn năm (4.000 năm). Họ Lưu chú Ngụy Đô phú 魏都賦 dẫn. Vương Nguyên Trường 王元長 chú Tam nguyệt tam nhật khúc thủy thi tự 三月三日曲水詩序 dẫn. Ngự lãm quyển một trăm sáu mươi sáu dẫn.

      Tổ tiên của vua nước Thục tên là Tàm Tùng, vua đời sau tên là Bách Hoạch, sau nữa tên là Ngư Phù. [3] Ba đời vua ấy đều sống thọ mấy trăm tuổi, đều thành thần không chết, người dân thời ấy cũng có kẻ đi theo vua mà cũng thành thần. Ngư Phù làm ruộng ở núi Tiên (Tiên sơn 湔山) mà thành tiên. Miếu thờ ngày nay ở núi Tiên. Bấy giờ dân nước Thục còn ít ỏi. [4]

      [3] Sơ học ký 初學紀 quyển tám dẫn, Nghệ văn loại tụ 藝文類聚 quyển sáu dẫn, Ngự lãm 御覽 quyển một trăm sáu mươi sáu chép sau nữa là Bá Ung 伯雍, lại sau nữa là Ngư Phù.
      [4] Ngự lãm quyển một trăm sáu mươi sáu và quyển chín trăm mười ba dẫn.

      Sau này có một người con trai tên là Đỗ Vũ 杜宇 từ trên trời xuống ở huyện Chu Đề 朱提, [5] có một người con gái tên là Lợi 利 hiện ra từ trong giếng ở đầu nguồn sông mà đến làm vợ của Đỗ Vũ, (Đỗ Vũ) bèn tự lập làm vua nước Thục, gọi là Vọng Đế 望帝. [6] Dựng ấp ở dưới núi Vấn (Vấn sơn 汶山) gọi là ấp Bì 郫, thường lúc giáo hóa người dân lại đi ra. [7]

      [5] 〈Xét ét Xét: Sử ký Tam đại thế biểu sách ẩn 史記三代世表索隱 dẫn chép là huyện Chu Đề có người con trai tên là Đỗ Vũ 杜宇.
      [6] Xét: Ngự lãm quyển một trăm sáu mươi sáu dẫn dưới có bốn chữ là cư cố bang ấp 居故邦邑 (nghĩa là “ở chỗ bang ấp trước đây”).
      [7] (Họ Lưu) chú Văn tuyển Tư huyền phú 文選思玄賦 dẫn, Ngự lãm quyển một trăm sáu mươi sáu và quyển tám trăm tám mươi tám dẫn.

      Vọng Đế làm vua được hơn một trăm năm, ở nước Kinh 荊 (tức tên khác của nước Sở 楚) có một người tên là Miết Linh 鱉靈 chết mà xác trôi đi mất, người nước Kinh tìm mà không thấy. Xác Miết Linh trôi ngược sông đến ấp Bì, bèn sống lại, gặp nhau với Vọng Đế, Vọng Đế lấy Miết Linh làm Tướng quốc. [8] Bấy giờ ở núi Ngọc (Ngọc sơn 玉山) tuôn nước ra như nước lụt thời vua Nghiêu 堯, Vọng Đế không ngăn được, sai Miết Linh khoét núi Ngọc dẫn nước đi, người dân được ở yên. Sau khi Miết Linh dẫn nước đi được rồi, Vọng Đế lại thông dâm với vợ của Miết Linh, lấy làm hổ thẹn, tự cho là mình đức mỏng, không bằng Miết Linh, bèn trao việc nước cho Miết Linh mà bỏ đi, giống chuyện vua Nghiêu 堯 nhường ngôi vua cho Thuấn. Miết Linh lên ngôi vua, gọi là đế Khai Minh (Khai Minh Đế 開明帝). Vua sinh ra Lô Bảo 盧保, cũng gọi là đế Khai Minh. [9]

      [8] Hán thư chú 漢書注, Văn tuyển chú dẫn chép là Miết Linh 鱉令.
      [9] Hậu Hán thư Trương Hành truyện chú 後漢書張衡傳注, Văn tuyển Tư huyền phú chú 文選思玄賦注, Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám và quyển chín trăm hai mươi ba, Sự loại phú chú 事類賦注 quyển sáu.

      Vào lúc Vọng Đế bỏ đi, chim tử quy 子䳏 (tức chim cuốc) kêu, cho nên người Thục hễ nghe tiếng chim tử quy kêu buồn lại nhớ Vọng Đế. Vọng Đế tên là Đỗ Vũ, là người từ trên trời xuống. [10]

      [10] Ngự lãm quyển chín trăm hai mươi ba dẫn.

      Từ thời đế Khai Minh về sau được năm đời thì có Khai Minh Thượng 開明尚 bắt đầu bỏ xưng đế, trở lại xưng vương. [11]

      [11] Hậu Hán thư Trương Hành truyện chú dẫn.

      Trời giúp vua Thục có năm vị lực sĩ có thể dời được các trái núi của nước Thục. Vua Thục chết, năm vị lực sĩ liền dựng một khối đá lớn dài ba trượng, nặng nghìn quân, gọi là bò đá (thạch ngưu 石牛), nghìn người không lay được, vạn người không dời được. [12]

      [12] Nghệ văn loại tụ quyển bảy, Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám dẫn.

      Vua Thục đóng giữ ở đất Ba-Thục, vốn trị ở làng Phàn Hương 樊鄉 huyện Quảng Đô 廣都, sau dời đến ở huyện Thành Đô 成都. Tần Huệ Vương 秦惠王 sai bọn Trương Nghi 張儀-Tư Mã Thác 司馬錯 đi bình định nước Thục, nhân đó lấy đất Thành Đô mà lập thành huyện. Huyện Thành Đô trị ở phố Xích Lí (Xích Lí nhai 赤里街).Trương Nhược 張若 dời đến trị ở trong Thiểu Thành 少城, bắt đầu dựng phủ xá thành huyện, nay giống quy tắc của thành Trường An. [13]

      [13] Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám, Hoàn vũ ký 寰宇記 quyển bảy mươi hai dẫn.

      Vào thời Tần Huệ Vương, vua Thục không hàng người Tần, người Tần cũng không có đường để phát binh vào đánh nước Thục. Bấy giờ vua Thục đem hơn vạn người sang phía đông đi săn, đến ở hang Bao Cốc 褒谷, rút cuộc gặp Tần Huệ Vương. Vua Tần đem một giỏ vàng tặng cho vua Thục. Vua Thục cũng dùng lễ vật tặng lại, nhưng lễ vật đều hóa thành đất. Vua Tần giận, bề tôi đều bái lạy chúc mừng nói: “Đất là lãnh thổ. Nước Tần sẽ lấy được đất Thục vậy.” [14]

      [14] Ngự lãm quyển ba mươi bảy và quyển bốn trăm bảy mươi tám và quyển tám trăm mười một và quyển tám trăm bảy mươi hai và quyển tám trăm tám mươi tám dẫn, Sự loại phú chú 事類賦注 quyển chín dẫn.

      Tần Huệ Vương bản kỷ chép: “Tần Huệ Vương muốn đánh Thục, bèn đẽo năm con bò đá, [15] đặt vàng ở sau (đít) nó. Người Thục thấy thế, cho là bò đá biết ỉa ra vàng, dưới bò đá có người lính chăm sóc, cho rằng đấy là bò trời, biết ỉa ra vàng. Vua Thục cho là phải, liền phát hơn một nghìn lính, sai năm vị lực sĩ làm đường để chuyển bò đá về nước Thục, đặt ba con ở Thành Đô. Do đó đường (từ đất Thục) qua đất Tần được mở, là do sức của bò đá vậy. Sau đó vua Tần sai bọn Thừa tướng là Trương Nghi theo đường bò đá mở mà sang đánh Thục. [16]

      [15] Xét: Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám dẫn chép vua Tần sợ không có chỗ gặp nhau, bèn đẽo năm con bò đá.
      [16] Bắc đường thư sao 北堂書鈔 quyển một trăm mười sáu dẫn, Nghệ văn loại tụ quyển chín mươi tư, Bạch thiếp quyển chín mươi sáu, Ngự lãm quyển ba trăm lẻ năm và quyển tám trăm tám mươi tám.

      Ở quận Vũ Đô 武都 có người tài trí, vua Thục đem vợ và con gái của người ấy về nước Thục. Ở đất Thục không quen đất nước, muốn về. Vua Thục trong lòng thích người con gái ấy, giữ ở lại, bèn làm sáu bài hát ‘Y minh chi thanh’ 伊鳴之聲 mà múa hát cho người con gái ấy vui lòng. [17]

      [17] Xét: Bắc đường thư sao dẫn chép là làm bài hát ‘Đông bình chi ca’ 東平之歌 để cho người con gái ấy vui lòng. Bắc đường thư sao quyển một trăm lẻ sáu, Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám dẫn.

      Ở quận Vũ Đô có người con trai hóa thành con gái, [18] vẻ mặt xinh đẹp, có lẽ là khí tinh hoa của rừng núi làm nên. Vua Thục lấy người con gái ấy làm vợ. [19] Không quen đất đai, mắc bệnh tật muốn về. Vua Thục giữ ở lại, không lâu thì người con gái ấy chết. Vua Thục phát lính đến quận Vũ Đô gánh đất về Thành Đô cho vào trong quách mà chôn, đắp mả đất rộng ba mẫu, cao bảy trượng, gọi là Vũ đảm 武擔, [20] lấy đá làm một tấm gương đặt ở trên mả. Gương rộng một trượng, cao năm thước. [21]

      [18] Ngự lãm quyển tám trăm tám mươi tám dẫn chép trước từ ‘Vũ Đô’ là ba chữ ‘hoặc viết tiền’ 或曰前 (nghĩa là: ‘có sách nói trước đây).
      [19] Xét: Nghệ văn loại tụ chép là phu nhân 夫人.
      [20] Xét: Khai Nguyên chiêm kinh 開元占經 dẫn chép là người (nước Thục) giận chuyện ấy gọi là Vũ đảm 武擔.
      [21] Hậu Hán thư Nhâm Văn Công truyện chú 後漢書任文公傳注, Tam quốc chí Thục tiên chủ truyện chú 三國志蜀先主傳注, Bắc đường thư sao quyển chín mươi tư và quyển một trăm ba mươi sáu, Sơ học ký quyển năm, Nghệ văn loại tụ quyển sáu và quyển bảy mươi, Khai Nguyên chiêm kinh quyển một trăm mười ba, Ngự lãm quyển năm mươi hai và quyển bảy trăm mười bảy và quyển tám trăm tám mươi tám, Sự loại phú quyển bảy dẫn.

      Do đó vua Tần biết vua Thục ưa gái đẹp, bèn dâng năm người con gái đẹp cho vua Thục. Vua Thục lấy làm thích, sai năm vị lực sĩ đi đón năm người con gái ấy về. Về qua huyện Tử Đồng 梓潼, gặp một con rắn lớn chui vào vào trong hang núi. Một vị lực sĩ cầm đuôi rắn kéo ra, rồi cả năm vị cùng kéo rắn, núi bèn lở, đè lên cả năm vị lực sĩ. Năm vị lực sĩ dẫm đất kêu to gọi vua Tần, nhưng cùng năm người con gái và người đi đón đều bị núi đè lên, hóa thành đá. Vua Thục lên đài cao ngóng nhìn mà không thấy người về, nhân đó gọi là đài Ngũ Phụ Hầu (Ngũ Phụ Hầu đài 五婦侯臺). Vua Thục tự mình đi chôn mà làm gò mả cho những người ấy, đều đắp đến muôn tảng đá để ghi nhớ mộ của họ. [22]

      [22] Sơ học ký quyển năm, Nghệ văn loại tụ quyển bảy và quyển chín mươi sáu, Bạch thiếp quyển năm, Ngự lãm quyển năm mươi hai và quyển ba trăm tám mươi sáu và quyển tám trăm tám mươi tám và quyển chín trăm ba mươi tư, Sự loại phú chú quyển hai mươi mươi tám dẫn.

      Tần Huệ Vương sai bọn Trương Nghi-Tư Mã Thác đánh Thục. Vua Thục là Khai Minh đánh giữ, không được lợi, rút chạy về huyện Vũ Dương 武陽, bị bắt. [23]

      [23] Hoàn vũ ký quyển bảy mươi hai dẫn.

      Trương Nghi đánh Thục, vua Thục là Khai Minh đánh không thắng, bị Nghi diệt đi. [24]

      [24] Sử ký Tần bản kỷ sách ẩn 史記秦本紀索隱 dẫn.

      Vua Thục có thuyền anh vũ (anh vũ chu 鸚武舟). [25]

      [25] Sơ học ký quyển hai mươi lăm, Ngự lãm quyển một trăm ba mươi bảy dẫn.

      Vua Tần làm một vạn chiếc thuyền thái bạch (thái bạch thuyền 太白船) muốn để đánh nước Sở 楚. [26]

      [26] Vốn chú là tên thuyền thái bạch. Sơ học ký quyển hai mươi lăm dẫn.

      Vua Tần làm hơn vạn chiếc thuyền bè, muốn đánh Sở. [27]

      [27] Ngự lãm quyển bảy trăm sáu mươi chín, Sự loại phú chú quyển mười sáu dẫn.

      Vua Tần sau khi giết Thục Hầu 蜀侯 tên là Huy 煇, đón về chôn ở thành Hàm Dương 咸陽, trời mua suốt ba tháng, không đi được, nhân đó chôn ở huyện Thành Đô. Người Thục xin mưa thì cúng Thục Hầu thì tất có mưa. [28]

      [28] Ngự lãm quyển mười một dẫn.

      Vào thời Tần Tương Vương 秦襄王, quận Hữu Cừ (Hữu Cừ quận 宕渠郡) dâng người lớn (trường nhân 長人), cao hai mươi lăm trượng sáu thước. [29]

      [29] Pháp uyển châu lâm 法苑珠林 quyển tám, Ngự lãm quyển ba trăm bảy mươi bảy dẫn.

      Vũ 禹 vốn là người huyện Quảng Nhu (Quảng Nhu huyện 廣柔縣) quận Vấn Sơn (Vấn Sơn quận 汶山郡), sinh ra ở ấp Thạch Nữu 石紐, tên đất ấy là Lị Nghê Bạn 痢兒畔. Mẹ của Vũ nuốt hạt châu mà mang thai Vũ, rạch mổ mà sinh ra Vũ ở núi Đồ (Đồ sơn 塗山) trong huyện ấy. Vũ lấy vợ sinh con tên là Khải 啟. Ở núi Đồ ngày nay có miếu thờ Vũ, cũng có dựng miếu thờ mẹ của Vũ ở đó. [30]

      [30] Sử ký Hạ bản kỷ chính nghĩa 史記夏本紀正義, Sơ học ký quyển chín, Ngự lãm quyển tám mươi ba và quyển năm trăm ba mươi mốt dẫn.

      Lão Tử 老子 vì nể lời của Quan lệnh doãn 關令尹 tên là Hỉ 喜 mà làm sách Đạo đức kinh 道德經, lúc chia tay nói: “Ông học đạo này hơn nghìn ngày sau thì đến tìm ta ở chợ Thanh Dương (Thanh Dương tứ 青羊肆) đất Thành Đô.” Là quán Thanh Ngưu (Thanh Ngưu quán 青牛觀) ngày nay vậy. [31]

      [31] Ngự lãm quyển một trăm chín mươi mốt, Hoàn vũ quyển bảy mươi hai dẫn.

      Nước sông gây hại, Thục Thú 蜀守 là Lý Băng 李冰 làm năm con tê đá, đặt hai con ở trong phủ, đặt một con ở dưới cầu chợ, đặt hai con ở giữa sông để áp thần nước (thủy tinh 水精), nhân đó gọi là làng Thạch Tê (Thạch Tê lý 石犀里). [32]

      [32] Bắc đường thư sao quyển ba mươi chín, Nghệ văn loại tụ quyển chín mươi lăm, Ngự lãm quyển tám trăm chín mươi dẫn.

      Lý Băng vào thời Tần làm Thục Thú 蜀守, gọi núi Vấn (Vấn sơn 汶山) là ải Thiên Bành (Thiên Bành khuyết 天彭門), còn gọi là cửa Thiên Bành (Thiên Bành môn 天彭門), nói rằng hồn người chết phải đi qua giữa cửa ấy, thần linh ma quỷ xuất hiện nhiều ở đấy. [33]

      [33] Hoàn vũ ký quyển bảy mươi ba dẫn.

      Trước huyện Tiên Đê Đạo (Tiên Đê Đạo huyện 湔氐道縣) có hai tảng đá đứng đối nhau như cánh cửa, gọi là cửa Bành (Bành môn 彭門) [34]

      [34] Tục Hán quận quốc chí bổ chú 續漢郡國志補注 dẫn.

      Vào thời Tuyên Đế 宣帝 (nhà Hán) giữa những năm Địa Tiết 地節 (năm 69 – 66 trước Công nguyên) bắt đầu đào mấy chục cái giếng muối (ở đất Thục). [35]

      [35] Ngự lãm quyển tám trăm sáu mươi lăm dẫn.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s