
: Vị trí xã Mỹ Đức vào năm 1998 khi Hà Tiên trở thành thị xã và phường Mỹ Đức khi Hà Tiên trở thành thành phố (2018). Sau đó không còn xã Mỹ Đức nữa.
Trần Văn Mãnh
A/ Lời dẫn :
Nếu là người Hà Tiên, sinh ra và lớn lên tại Hà Tiên, nhà cửa của cha mẹ ở tại khu chợ cũ Hà Tiên, hoặc ngay cả ở bên ngoài khu chợ, mãi tận khu Pháo Đài, xa hơn nữa cho tới khu Thạch Động, gần sát biên giới (với nước Campuchia) thì trong giấy khai sinh của chúng ta vẫn ghi đơn giản ở phần nơi sinh là: Mỹ Đức, Hà Tiên. Vậy Mỹ Đức ngày xưa là một đơn vị hành chánh như thế nào và đối với Hà Tiên ra sao? Ngày nay ta cũng vẫn còn thấy cái tên Mỹ Đức như là một xã đối với thị xã Hà Tiên (từ năm 1998) và sau đó Mỹ Đức là tên của một phường đối với thành phố Hà Tiên (từ năm 2018). Chúng ta sẽ lần lượt nhắc lại quá trình xuất hiện và thay đổi về mặt địa lý, hành chánh của vùng đất mang tên quen thuộc Mỹ Đức qua các giai đoạn lịch sử của trấn Hà Tiên nói riêng và của cả Đàng Trong (1) nói chung.
B/ Sơ lược về các giai đoạn thay đổi đơn vị trấn thành tỉnh:
Giai đoạn 1802 – 1830, có thể gọi là thời kỳ Nguyễn Sơ, đây là thời kỳ quân quản, tản quyền, vẫn còn giữ hệ thống Doanh (hay là Dinh), Trấn, Phủ, Huyện,…Từ năm 1698 Chúa Nguyễn Phúc Chu cho thành lập phủ Gia Định, cho đến năm 1802, vua Gia Long thống nhất đất nước, triều đình nhà Nguyễn được chính thức thành lập, phủ Gia Định được đổi thành Trấn Gia Định. Tuy nhiên đến năm 1808 lại đổi Trấn Gia Định là Gia Định Thành (còn gọi là Tổng Trấn Gia Định), do một quan đại thần tài giỏi làm Tổng trấn cai quản (lúc đó là Nguyễn Văn Nhân), có quan phó là chức Hiệp Tổng trấn phụ giúp (lúc đó là Trịnh Hoài Đức). Giai đoạn nầy, Gia Định Thành được chia làm 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên.
Đến thời kỳ vua Minh Mạng (1820 – 1841), có một cuộc cải tổ hành chánh vào năm 1832, Gia Định Thành bị bãi bỏ, tên gọi trấn trở thành tỉnh, do đó, 5 trấn của Gia Định Thành được chia ra thành 6 tỉnh: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Vào năm 1834, 6 tỉnh của vùng Gia Định Thành trước đây được xem như là vùng đất có tên chung là Nam Kỳ, từ đó có tên Nam Kỳ Lục Tỉnh, gồm ba tỉnh miền Đông và ba tỉnh miền Tây:
Ba tỉnh miền Đông: Phiên An (năm 1835 được đổi tên là Gia Định; tỉnh lỵ ở Gia Định), Biên Hòa (tỉnh lỵ ở Biên Hòa), Định Tường (tỉnh lỵ ở Mỹ Tho).
Ba tỉnh miền Tây: Vĩnh Long (tỉnh lỵ ở Vĩnh Long), An Giang (tỉnh lỵ ở Châu Đốc), Hà Tiên (tỉnh lỵ ở Hà Tiên).
Năm 1836 vua Minh Mạng cho tổ chức đo đạc ruộng đất, lập địa bạ ở 6 tỉnh Nam Kỳ. Khi công việc nầy hoàn thành, triều đình có khoảng 1637 quyển địa bạ ghi đầy đủ tên làng, thôn, địa phận, địa giới, điền thổ…Theo đó 6 tỉnh Nam Kỳ gồm có 10 phủ, 25 huyện, 135 tổng, 1637 xã. Tên của xã Mỹ Đức ra đời vào lúc nầy, xã Mỹ Đức thuộc tổng Hà Thanh, huyện Hà Châu, phủ An Biên, tỉnh Hà Tiên. Sau năm 1836 có nhiều tổng mới thành lập, con số đơn vị hành chánh của 6 tỉnh Nam Kỳ lên tới 14 phủ, 40 huyện, 2104 xã thôn.
C/ Sơ lược về các thay đổi liên hệ đến tỉnh Hà Tiên thời kỳ trước khi Pháp chiếm:
Mạc Thiên Tích sau khi tiếp nối công trình mở đất của cha ông là Mạc Cửu, tiến hành củng cố việc hành chánh, quân sự, mở rộng đất đai mới (1739): Rạch Giá, Cà Mau, Trấn Di (một phần của Bạc Liêu), Trấn Giang (Cần Thơ). Năm 1757 Mạc Thiên Tích còn mở rộng Hà Tiên thêm 5 phủ của vùng đất thuộc bên nước Campuchia, đồng thời chú trọng về quân sự, phòng thủ với việc lập ra đạo Kiên Giang thuộc về vùng đất Rạch Giá nói trên và đạo Long Xuyên thuộc vùng Cà Mau (2), trấn Hà Tiên lúc đó phát triển nhanh chóng và có diện tích rất rộng lớn, trải dài từ vùng vịnh Kompong Som (nay là vùng Sihanoukville thuộc nước Campuchia) cho đến tận mũi Cà Mau.
Vào năm 1825 (thời vua Minh Mạng) bỏ đơn vị đạo, trấn Hà Tiên được chia thành một phủ tên An Biên và quản trị ba huyện : Hà Tiên, Kiên Giang, Long Xuyên (nhắc lại huyện Kiên Giang ở đây gồm vùng đất Rạch Giá và huyện Long Xuyên gồm vùng đất Cà Mau chứ không phải ở thành phố Long Xuyên hiện nay).
Vào lúc nầy nếu chỉ tính các đơn vị có người Việt ở trong trấn Hà Tiên, có 7 xã thôn như sau : Minh Hương xã, Hòa Mỹ xã, Tân Đông xã, Thuận An thôn, Tiên Hưng thôn, Tân An thôn, Tiên Hương thôn (3). Ngoài ra còn có các thôn thuộc đảo Phú Quốc, các phố của người Hoa và các sóc của người Khmer. Thời kỳ nầy tên gọi Mỹ Đức chưa xuất hiện (1825).
Đến năm 1832, đơn vị trấn được đổi thành tỉnh, tỉnh Hà Tiên gồm có phủ Quan Biên (đổi tên từ phủ An Biên) và quản trị 8 huyện : Hà Châu (đổi tên từ huyện Hà Tiên), Kiên Giang (vùng Rạch Giá), Long Xuyên (vùng Cà Mau) và 5 huyện khác vốn thuộc vùng đất của nước Campuchia nhưng đã được sát nhập vào trấn Hà Tiên từ trước.
Đến năm 1834 lại đổi tên phủ Quan Biên trở lại thành phủ An Biên và lấy thêm một phần đất thuộc Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kompong Som) đặt thành 2 phủ mới là Quảng Biên và Khai Biên, vẫn thuộc tỉnh Hà Tiên. Năm 1837 phủ Khai Biên xuống cấp thành huyện, đặt thêm một huyện mới tên Kim Trường (sau đổi là Vĩnh Trường), hai huyện nầy nhập vào phủ Quảng Biên (4) thuộc tỉnh Hà Tiên.
Năm 1839, vua Minh Mạng lấy vùng đất nằm hai bên bờ kênh Vĩnh Tế trong đó có một phần lãnh thổ nước Campuchia nhưng lúc đó do nhà Nguyễn bảo hộ (gọi là Trấn Tây Thành) lập thành phủ Tịnh Biên chia làm 2 huyện Hà Âm (phía bắc của kênh Vĩnh tế) và Hà Dương (phía Nam của kênh Vĩnh Tế) và nhập vào phủ An Biên, tỉnh Hà Tiên. Đến năm 1842, tách phủ Tịnh Biên và huyện Hà Dương khỏi Hà Tiên để nhập vào tỉnh An Giang, huyện Hà Âm vẫn thuộc phủ An Biên, tỉnh Hà Tiên cho đến năm 1844 thì chuyển luôn cho phủ Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Cho đến lúc Pháp chiếm Hà Tiên, (1867), lúc nầy tỉnh Hà Tiên gồm phủ An Biên và 3 huyện : Hà Châu (tức ngay trung tâm Hà Tiên xưa), Kiên Giang (tức vùng đất Rạch Giá) và Long Xuyên (tức vùng đất Cà Mau).
D/ Bàn chi tiết về huyện Hà Châu (tức là trung tâm Hà Tiên xưa) từ năm 1836 :
Toàn bộ tỉnh Hà Tiên năm 1836 gồm phủ An Biên, quản trị ba huyện : Hà Châu, Kiên Giang và Long Xuyên. Theo sự ước lượng diện tich toàn tỉnh Hà Tiên vào thời điểm nầy được khoảng 10459 km vuông. Khi công việc đo đạc ở tỉnh Hà Tiên hoàn thành, nhà Nguyễn ghi chép được 35 tập, mỗi tập gồm nhiều quyển, tổng cộng được 144 quyển địa bạ, mỗi quyển địa bạ là một tài liệu ghi lại vị trí, địa danh của làng, xã hay thôn, tên họ người đứng đầu làng, xã hay thôn và thống kê về ruộng đất các loại với tên họ người chủ . . .
Ta chú ý riêng về huyện Hà Châu :
Huyện Hà Châu được chia làm 5 tổng, mỗi tổng quản lý các xã và thôn.
Nếu tính từ lãnh thổ trung tâm Hà Tiên xưa, thì 2 tổng Hà Thanh và Thanh Di (tài liệu xưa thường viết là Thanh Gi) tương đương với vùng đất Hà Tiên, Kiên Lương, Giang Thành.
Tổng Hà Nhuận và Nhuận Đức chiếm phần đất nay thuộc nước Campuchia, giáp với biên giới nước ta, ngay vùng Banteay Meas, Kompong Trach thuộc tỉnh Kampot, vùng Kiri Vong thuộc tỉnh Takeo và thành phố Kep.
Tổng thứ năm là tổng Phú Quốc.
Tổng Hà Thanh gồm có 2 xã và 9 thôn như sau :
Xã Mỹ Đức, xã Tiên Quán và các thôn sau : Bình An, Hòa Mỹ Đông, Hòa Thuận, Tân Thạnh, Tiên Mỹ, Tiên Thới, Thạnh Long, Thuận Yên, Vy Sơn.
Tổng Thanh Di gồm 1 xã và 10 thôn, địa giới gồm 2 phần riêng biệt nhau, phần rộng lớn nằm phía Nam và một phần nhỏ ở phía Bắc (sát biên giới với nước Campuchia) so với trung tâm Hà Tiên :
Xã Mông Mậu và các thôn sau : Cần Thu, Côn Văn, Dương Hòa, Nam An, Nam Hoa, Sa Kỳ, Tư Ngãi, Thuận Đức, Trà Câu, Trác Việt.
Như vậy xã Mỹ Đức có tên từ lúc nầy (1836) và gồm có 4 xứ (tên gọi các xóm trung tâm Hà Tiên khoảng đầu thế kỷ thứ 19 ) : Đại Phố, Phù Dung trường lũy, Tượng Tỉnh và Thạch Động. Địa giới của xã Mỹ Đức gồm các khu như : Bình San, Pháo Đài, Đông Hồ, Tô Châu, Mũi Nai, tính luôn tới Thạch Động và phần giáp với biên giới Campuchia.
Nếu chúng ta chú ý đến các chi tiết địa lý về tổng Hà Thanh, nơi có xã Mỹ Đức là trung tâm nói riêng hay các tổng khác thuộc huyện Hà Châu nói chung, vấn đề sẽ đặt ra là vị trí của các xã và thôn trong các tổng nầy. Tuy nhiên, rất khó định vị trí phần lớn các thôn xã vào thời điểm nầy vì không có bản đồ chi tiết lưu lại. Các đơn vị : Mỹ Đức, Thuận Yên, Bình An, Tiên Mỹ, Tân Thạnh được định vị khá dễ vì tên vẫn còn xuất hiện trên các bản đồ về sau.
Theo ghi nhận của các quyển địa bạ thời 1836, người xã trưởng xã Mỹ Đức có tên là Hoàng Trung Tín, là người Việt gốc Hoa và là chủ vườn tiêu, ruộng muối, vườn trồng cau và đất nhà với vườn chung quanh. Người phó lý trưởng tên Lê Văn Cẩm và một người dịch mục (nhân viên phụ tá giúp các việc chuyên môn trong xã) tên là Phụng Tử Trực.
Trong thời kỳ nầy (1836), đa số người dân trong xã Mỹ Đức là người Hoa gốc Triều Châu (người Tiều), người Hải Nam và là chủ của các ruộng muối, vườn tiêu, vườn trầu…Ta có thể kể ra một số tên họ như sau : Trịnh Sáng (chủ ruộng muối lớn), Quách Ái, Quách Tế, Hoàng Lạng, Mã Ký, Giang Ứng, Trần Tiếu, Hứa Niên, Hoàng Tảo, Mã Kim Nương (chủ vườn tiêu), Thẩm Tam (chủ vườn trầu)…
E/ Tỉnh Hà Tiên và xã Mỹ Đức tính từ năm 1867 về sau :
Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây : Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên vào năm 1867. Thời Pháp chiếm Hà Tiên, sự phân chia hành chánh của tỉnh Hà Tiên khá phức tạp, chúng ta chỉ kể tóm tắt ở đây.
1/ Tỉnh Hà Tiên lúc bấy giờ gồm 3 huyện Hà Châu, Kiên Giang và Long Xuyên, lúc đầu bị phân cắt lại thành 2 địa hạt thanh tra (Inspections) :
a/ Hạt Hà Tiên (tức huyện Hà Châu trước đó, vẫn gồm 5 tổng như đã nói phần trước).
b/ Hạt Rạch Giá (gồm 2 huyện Kiên Giang và Long Xuyên trước đó).
Như vậy từ lúc nầy (1868) tỉnh Hà Tiên cũ trở thành địa hạt thanh tra Hà Tiên, địa phận chỉ còn là vùng đất huyện Hà Châu cũ (kể cả Phú Quốc) mà thôi.
Trong các sổ danh bạ Nam Kỳ năm 1870 và 1871, có ghi là ở xã Mỹ Đức có một trường học tiếng Pháp gồm 30 học sinh (đến năm 1876 số học sinh tăng lên là 55 học sinh) và người ta còn thấy vài tên họ thương nhân gốc ở xã Mỹ Đức được ghi nhận như sau : Hồng Thông, Lâm Trường Thọ (ông chính là tổ tiên của thầy giáo Lâm Tấn Phác tức thi sĩ Đông Hồ). Thời kỳ nầy, dân số địa hạt thanh tra Hà Tiên chỉ khoảng 4689 người, đến năm 1871 được tăng lên khoảng 6357 người (không kể tổng Phú Quốc).
2/ Đến năm 1874, toàn Nam Kỳ có sự thay đổi giảm bớt về số lượng các hạt thanh tra, Pháp lại đổi tên các đơn vị hành chánh, đặt ra các hạt tham biện (Arrondissements), tỉnh Hà Tiên cũ cũng vẫn có hai hạt tham biện Hà Tiên và Rạch Giá với địa giới như phần trên.
Vào khoảng năm 1881 địa giới tỉnh Hà Tiên cũ trước khi Pháp chiếm (tức trước năm 1867) lại bị phân cắt thành 3 địa hạt tham biện :
a/ Hạt Hà Tiên (tức huyện Hà Châu trước đó)
b/ Hạt Rạch Giá (tức huyện Kiên Giang trước đó).
c/ Hạt Bạc Liêu (tức huyện Long Xuyên trước đó cộng thêm 2 tổng xưa của tỉnh An Giang thuộc địa hạt Sóc Trăng, nhắc lại khi nói địa danh Long Xuyên ở đây tức là nói vùng Cà Mau chứ không phải là thành phố Long Xuyên thời nay).
Như vậy từ lúc nầy (1881) tỉnh Hà Tiên cũ vẫn là địa hạt tham biện Hà Tiên, địa phận chỉ còn là vùng đất huyện Hà Châu kể cả Phú Quốc mà thôi, về phương diện hành chánh độc lập với hai hạt tham biện Rạch Giá và Bạc Liêu. Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ năm 1888 đến năm 1892, hạt tham biện Hà Tiên bị sát nhập vào hạt tham biện Châu Đốc. Sau năm 1892 thì được phục hồi trở lại hạt tham biện độc lập, địa hạt Hà Tiên vẫn gồm phần đất huyện Hà Châu cũ nhưng chỉ còn có 4 tổng Hà Thanh, Thanh Di, Bình An và Phú Quốc. (Hai tổng Hà Nhuận và Nhuận Đức thuộc về đất Campuchia).
Trong giai đoạn Pháp chiếm Hà Tiên (từ năm 1867) trở đi đến cuối thế kỷ 19, dân số hạt Hà Tiên nói chung gồm người Việt, Hoa, Khmer và người Âu Châu dao động trong khoảng 5000 đến 12000 người, trong đó dân số ở xã Mỹ Đức được ghi nhận vào năm 1879 là 1780 người.
Vào năm 1880, trong danh sách các hội viên Hiệp hội nông nghiệp bản địa (Comices agricoles indigènes) người ta thấy có hai người gốc ở xã Mỹ Đức : Lâm Thị An và Nguyễn Thần Hiến (5).
3/ Đến giai đoạn từ năm 1900 trở đi, các địa hạt lại đổi thành tỉnh, như vậy các hạt Rạch Giá, Bạc Liêu trở thành tỉnh Rạch Giá, tỉnh Bạc Liêu và hạt Hà Tiên lại trở thành tỉnh Hà Tiên chỉ gồm vùng huyện Hà Châu xưa nhưng địa phận chỉ còn gồm có 4 tổng (Tổng Hà Thanh có 6 xã trong đó xã Mỹ Đức nằm ở tỉnh lỵ, tổng Thanh Di, tổng Bình An và tổng Phú Quốc). Các đơn vị gọi là « thôn » được đổi là « làng » hoặc « xã ». Diện tích của tỉnh Hà Tiên là khoảng 1691 km vuông, dân số trong tỉnh khoảng chín, mười ngàn người (nói chung người Việt, Hoa, Khmer và Âu châu).
Trong khoảng thời gian từ năm 1913 đến năm 1924, tỉnh Hà Tiên bị sát nhập vào tỉnh Châu Đốc, tuy nhiên sau năm 1924 lại trở lại thành một tỉnh độc lập, kể từ giai đoạn nầy, tỉnh Hà Tiên gồm có các quận : Châu Thành, Giang Thành, Hòn Chông và Phú Quốc. Tỉnh lỵ Hà Tiên đặt tại xã Mỹ Đức thuộc quận Châu Thành. Diện tích của tỉnh có tăng lên đạt được 1723 km vuông.
Từ đầu thế kỷ 20 (1900) đến năm 1925, nhiều tài liệu còn ghi lại những yếu tố liên hệ đến xã Mỹ Đức thuộc tổng Hà Thanh, tỉnh Hà Tiên như sau :
Trường học ở tỉnh lỵ Hà Tiên (xã Mỹ Đức) gồm có 1 giáo viên tên là Nguyễn Văn Thanh và một thầy giáo dạy chữ Hán Việt tên là Huỳnh Thoại Bang.
Năm 1904 có người nhân viên thu thuế, thơ ký hạng 4 tên là La Thành Đầm (6). Chánh tổng Hà Thanh (nơi có xã Mỹ Đức ở ngay tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tiên) tên là Bùi Thiện Chơn, người phó tổng tên Huỳnh văn Mến.
Trong năm 1905, tờ báo « Avenir du Tonkin » N° 3201 xuất bản tại Hà Nội, trong phần tin tức Đông Dương có đăng một thông tin như sau : Nhà nước thuộc địa vừa mới mua với số tiền ba trăm đồng một căn nhà của bà Lâm Thị Hậu, được biết đến với cái tên Marie Printemps (vợ của thương nhân Vương Thái Tư tại chợ Mỹ Đức), ở xã Mỹ Đức, trung tâm Hà Tiên. Ngôi nhà này được xây dựng trên các cột trụ xi măng, đối diện con sông Hà Tiên, nhìn ra Pháo Đài, cạnh bến cảng dọc sông Hà Tiên, ngôi nhà sẽ được giao cho Cục Hải Quan quản lý, từ đó đây chính là công sở của Ty Quan Thuế (và sau nầy là Chi Quan Thuế), ở ngay góc đường Mạc Công Du và Trần Hầu.
Năm 1909, trên đồi Kim Dự, (còn gọi là núi Pháo Đài), tại xã Mỹ Đức khu trung tâm Hà Tiên người Pháp lập nhà thương và có một người bác sĩ, một người y tá người Pháp làm việc tại đó. Trường học ở tỉnh lỵ Hà Tiên (xã Mỹ Đức) gồm có 1 giáo viên tên là Nguyễn Văn Ruộng và một thầy giáo dạy chữ Hán Việt tên là Huỳnh Thoại Bang.
Năm 1910, tài liệu có ghi nhận ở xã Mỹ Đức có 3 nghệ nhân làm nghề chế tạo vật dụng thủ công nghệ bằng vảy đồi mồi : Hồ Tri Vang, Nguyễn Văn Cầu và Huỳnh Thanh Nghi, đến năm 1930 xã Mỹ Đức có 6 nghệ nhân và 20 người thợ, sản xuất có tính chất gia đình, không quy mô.
Năm 1913, tài liệu ghi chép diện tích tỉnh Hà Tiên là 1691 km vuông kể cả các đảo phụ thuộc tỉnh. Toàn tỉnh vẫn có 4 tổng :
Tổng Hà Thanh : có 6 xã, Mỹ Đức (trung tâm của tỉnh), Lộc Trĩ, Phú Mỹ, Tiên Khánh, Tân Thạnh và Hòa Thạnh.
Tổng Thanh Di : có 3 xã, Trà Tiên, Thuận Yên và Dương Hòa.
Tổng Bình An ; có 2 xã, Bình Trị, Hòn Chông.
Tổng Phú Quốc : có 4 xã, Dương Đông, Hàm Ninh, Lạc Phú và Phú Dự.
Năm 1915, ông Lâm Tấn Đức (anh của ông Lâm Tấn Thoại, ông Lâm Tấn Thoại là cha của ông Lâm Tấn Phác tức thi sĩ Đông Hồ) trước đây có tên trong Hội đồng cố vấn tỉnh Hà Tiên, nay chuyển làm hương chủ xã Mỹ Đức.
Năm 1917, 1918 Chánh tổng Hà Thanh tên là Huỳnh Chí Hiếu, hương chủ xã Mỹ Đức tên là Nguyễn Kim Long và ông Nguyễn Đức Chánh là hương quản (7).
Từ năm 1919 đến năm 1925, ông Huỳnh Chí Hiếu vẫn làm chánh tổng Hà Thanh, ông Nguyễn Kim Long làm hương chủ xã Mỹ Đức, cho đến năm 1924 thì có ông Hà Hữu Trí lên làm hương chủ. Trong khoảng thời gian nầy xã Mỹ Đức lần lượt có những hương quản như sau : Lâm Như Phụng (1919), Hứa Văn Thu (1920), Phan Kỳ Sanh (1921), Lý Cập Đệ (1923), Trịnh Văn Vi (1924).
Trường học chính ở xã Mỹ Đức được có 3 giáo viên và một thầy dạy chữ Hán Việt (Huỳnh Thoại Bang). Đến năm 1924 số giáo viên tăng lên 5 người, 3 người phụ tá và một thầy dạy chữ Hán Việt.
Vào những năm 30 trở đi, trên đồi Kim Dự, xã Mỹ Đức, người ta cất nhà cửa, khách sạn gọi là Bungalow và núi Pháo Đài được dùng như một nơi nghỉ mát và nghỉ đêm, phục vụ cho khách du ngoạn viếng thăm Hà Tiên, người quản lý Bungalow lúc đó tên là Phùng Văn Ngọc.
Một số thương nhân buôn bán ở chung quanh khu chợ xã Mỹ Đức được ghi nhận như sau :
*/ Chăn nuôi đồi mồi và sản xuất vật dụng mỹ nghệ bằng vảy đồi mồi : Lâm Văn Cao, Thái Văn Dần, Phan Văn Chi, Trần Thị Bảy…
*/ Sản xuất và buôn bán vật dụng mỹ nghệ bằng đá huyền : Lưu Văn Huê, Trần Văn Nhi, Lý Văn Liêu…
*/ Thợ chế tạo và buôn bán kim hoàn (vàng, bạc) : Nguyễn Thị Được, Huỳnh văn Được, Phạm Bình Hương, Nguyễn Văn Hên…
*/ Cửa hàng tạp hóa : Fong Kam, La Tư Âu, Vương Thái Tư…
*/ Thương nhân bán sỉ và lẻ : Tạ Bỉnh Sanh (Bang trưởng Triều Châu), Phan Thái, Huỳnh Chất Thông, Vương La, Tăng Quan, Thái Vinh Thi, Trần Hao, Châu Triên Mang, Trương Hùng, Tạ Sa, Gian Chim, Lý Thăng…
*/ Sạp bán cá tôm : Nguyễn Văn Mai, Lâm Thị Lên, Trần văn Bửu, Phạm Ngọc Thanh…
*/ Tiệm thuốc Tây, thuốc Bắc : Huỳnh Chất Thông, Trần Văn Cang, Huỳnh Thăng, Tăng Quan…
*/ Xí nghiệp xe chuyên chở hành khách : Vương Châu Nha…
*/ Thợ chụp hình : Nguyễn Văn Tô…
*/ Cung cấp thực phẩm cho tù nhân : Ong Thị Mai…
*/ Chủ tiệm bán xăng, nhớt : Huỳnh Thiện Anh…
4/ Nhắc lại, kể từ năm 1924, tỉnh Hà Tiên có trung tâm đặt tại xã Mỹ Đức thuộc quận Châu Thành. Từ giai đoạn nầy, tỉnh Hà Tiên gồm 4 quận như sau : Châu Thành, Giang Thành, Hòn Chông và Phú Quốc.
Quận Châu Thành gồm 5 xã : Mỹ Đức, Lộc Trĩ, Kỳ Lộ (thuộc địa phận tổng Hà Thanh cũ), Thuận Yên, Dương Hòa (thuộc địa phận tổng Thanh Di cũ).
Quận Giang Thành gồm 5 xã: Tân Khánh Hòa, Vĩnh Điều, Vĩnh Phú, Phú Mỹ, Trà Tiên.
Quận Hòn Chông gồm 2 xã : Bình Trị, An Bình.
Quận Phú Quốc gồm 3 xã : Dương Đông, Hàm Ninh, Phú Dự.
Về trường học, chánh quyền Pháp có lập ra một ngôi trường mang tên Trường Sơ Đẳng Tiểu Học Pháp Việt, dạy tiếng Pháp và tiếng Việt, tiếng là như vậy nhưng giờ Việt Văn rất ít so với giờ Pháp Văn. Lúc ban đầu, vào các thập niên đầu thế kỷ thứ 20, khoảng những năm 1910 trở đi, trường chỉ có 2 lớp, dạy sơ đẳng chỉ tới lớp ba, học sinh muốn lên bậc cao hơn thì có ông thầy Trần Minh Đạo đưa đường cho học sinh lên tận Gia Định học để có thể thi vào Trung Học. Quý vị giáo viên ở trường gồm có: Ông Nguyễn Văn Tình (vốn là quan Đốc Học), ông Huỳnh Thoại Bang chuyên về khoa Hán Học và Luân Lý, ông Lư Sanh Nho. Từ năm 1924, 1925 trở đi tại ngôi trường Sơ Đẳng Tiểu Học Hà Tiên ngoài các thầy giáo khác, còn có hai ông giáo dạy ở đó, thầy giáo Nguyễn Văn Kiêm tức nhà báo Trọng Toàn (quê ở Tân An), dạy lớp nhứt và thầy giáo Lâm Tấn Phác (gốc ở làng Mỹ Đức, Hà Tiên) tức thi sĩ Đông Hồ dạy lớp Ba.
Đến năm 1926, thầy Đông Hồ nhận thấy những giờ dạy Quốc Văn (tiếng Việt) ở nhà trường của chánh quyền Pháp quả thật quá ít và học trò không thể nào tiến bộ được nên ông quyết định mở ra một ngôi trường riêng, đặt tại nhà ông ở mé Đông Hồ (cũng là nhà của bác của ông là ông Hữu Lân – Lâm Tấn Đức), đầu tiên lấy tên là “Khai Trí Tiến Đức Học Xá” (qua năm sau 1927 thì đổi tên gọn lại là “Trí Đức Học Xá”) và mở rộng cửa cho các học trò và mọi người ai muốn thì cứ đến học, trường tạo trên khu đất rất rộng có cả chỗ cho học sinh ở xa đến ở tại trường. Trường Trí Đức Học Xá hoạt động được trong thời gian 1926 đến năm 1931 thì phải đóng cửa, tuy nhiên sau đó trường vẫn còn dạy học dưới hình thức hàm thụ cho các học sinh ở các tỉnh xa cho đến năm 1934 thì thật sự nghỉ luôn.
Năm 1930, có thầy Nguyễn Văn Tình, giáo viên chinh thức hạng nhất, giữ chức vụ Đốc học ở tỉnh Hà Tiên, hiệu trưởng và thanh tra. Trường học ở xã Mỹ Đức gồm 9 giáo viên nam và 2 giáo viên nữ, một thầy dạy chữ Hán Việt : Lục Văn Phân giáo viên hạng 3, Nguyễn Văn Kiêm giáo viên hạng 5, Hà Văn Điền giáo viên hạng 5, Lý Văn Nhơn giáo viên hạng 5, Huỳnh Thoại Bang dạy chữ Hán, Nguyễn Văn Tượng giáo viên trợ lý hạng 5, Lâm Tấn Phác giáo viên trợ lý hạng 7, Lê Quang Phấn giáo viên trợ lý hạng 8, Vương văn Giỏi giáo viên trợ lý thực tập. hai giáo viên nữ là Nguyễn Thị Liễu giáo viên trợ lý hạng 8 và Nguyễn Thị Sanh giáo viên địa phương.Đến năm 1932, có thầy Nguyễn Văn Tam, thầy giáo hạng 4, giữ chức vụ Đốc học ở tỉnh Hà Tiên. Trường học ở xã Mỹ Đức gồm 7 giáo viên nam và 2 giáo viên nữ, một thầy dạy chữ Hán Việt.
5/ Một vụ án mạng chết người xảy ra ở tại Bungalow Pháo Đài, xã Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên, gây chấn động dư luận từ Hà Tiên cho đến cả giới báo chí xảy ra cuối năm 1936 :
Câu chuyện như vầy : Vào đêm 8 tháng 12 năm 1936, có bà Bernard, người Pháp (vợ ông Bernard, lúc nầy quản lý khách sạn Bungalow Pháo Đài), phát hiện là bà đã bị mất số tiền 250 đồng mà bà để trong ngăn kéo trong phòng bà. Ông Bernard liền đi báo cáo với cảnh sát Hà Tiên. Lúc đó trong giới khách hàng nghỉ đêm tại Bungalow, có một người Pháp khác tên là Furcy, tiếp bà Bernard tra hỏi những người giúp việc trong Bungalow nầy. Thấy có người làm tên là Lý Văn Bình vắng mặt nên cho người kêu Lý Văn Bình đến để hỏi chuyện. Vì người làm Lý Văn Bình một mực kêu oan là không có lấy tiền của bà Bernard nên hai người Pháp Bernard (quản lý Bungalow) và Furcy (khách ngủ đêm) bắt đầu đánh đập anh Lý Văn Bình một cách rất hung bạo, những cú đánh vào đầu, cú đá vào ngực và bụng, thậm chí Furcy còn lấy đèn cầy đốt và hơ vào lỗ mũi và trái tai trên mặt của Lý Văn Bình. Sau một lúc tra tấn như vậy thì anh Lý Văn Bình bất tỉnh, đưa đi nhà thương Hà Tiên một lúc sau thì anh tắt thở chết. Mọi việc đánh đập tra tấn dều dưới sự có mặt của ông Quận Nguyễn Duy Ân, hương quản Thái Văn Long và người lính tên Giác nhưng không ai dám can thiệp hay đi kêu cứu với cấp trên.
Anh Lý Văn Bình chết để lại một mẹ già, một người vợ và 4 người con. Kết cuộc việc nầy được đưa ra tòa Đại hình Sài Gòn và tòa án xử phạt Furcy 5 năm từ treo, Bernard 18 tháng tù treo và cả hai phải chung nhau bồi thường cho gia đình anh Lý Văn Bình một số tiền là 1500 đồng. Vụ xử như thế đã gây ra bao nhiêu nỗi bất bình của người Hà Tiên thời đó và cả giới nhà báo tiếng Việt, tiếng Pháp đã viết rất nhiều bài, phê bình, chỉ trích nhà cầm quyền Pháp ở Sài Gòn. Cuối cùng hai tội phạm đánh chết người chỉ bị tù treo và cũng không phải trả tiền phạt bồi thường cho gia đình nạn nhân Lý Văn Bình vì hai người Pháp Bernard và Furcy nầy đều được xem như không có khả năng trả tiền nên không thể nộp tiền bồi thường được. Tờ báo La Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương) có viết một bài báo kêu gọi người dân Nam Kỳ chung tay đóng góp chút ít tiền của để gởi đến giúp cho gia đình của anh Lý Văn Bình (số tiền sau nhiều lần quyên góp, được khoảng trên 200 đồng).
Một thời gian ngắn sau quan Thống Đốc Nam Kỳ quyết định ủy bỏ giao kèo, không cho vợ chồng Bernard quản lý Bungalow Pháo Đài nữa vì tính tình hung hăng của Bernard.
F/ Tỉnh Hà Tiên và xã Mỹ Đức tính từ giai đoạn 1945 đến 1956 :
Đây là thời kỳ rất phức tạp và bất ổn dưới ảnh hưởng của thế chiến thứ hai (1939 – 1945), toàn nước nói chung và tỉnh Hà Tiên nói riêng cũng chịu nhiều ảnh hưởng to lớn. Đầu tiên Nhật lật đổ chánh quyền Pháp ở Đông Dương, các quan chức đầu tỉnh người Pháp ở Hà Tiên đều bị bắt, trong khi đó Việt Nam trở thành một nhà nước thân Nhật. Đồng thời phong trào Việt Minh nổi dậy khắp nơi, đến tháng 8 năm 1945, phong trào dành được chánh quyền, công việc hành chánh ở tỉnh Hà Tiên được giao cho một ủy ban đãm nhiệm, trong đó có những người tên tuổi như : Lê Văn Đằng, Phạm Văn Học, Tạ Trung Cang, Lâm Tấn Phác (tức thi sĩ Đông Hồ), Nguyễn Ngọc Lầu (giáo viên trường Tiểu Học Hà Tiên)…
Đến năm 1946 khi Pháp trở lại với ý đồ đánh chiếm lại nước ta, trung tâm Hà Tiên bị phá hủy khá nhiều dưới biện pháp tiêu thổ kháng chiến, các công thự, nhà cửa, trường học, chợ búa, nhà thương đều bị đốt cháy, phần nhiều dân cư tản cư đi nơi khác.
Sau khi chiếm lại Hà Tiên, đến năm 1948 chánh quyền Pháp lần lượt cho xây cất lại dinh thự, trường học, chợ búa, nhà thương… trong khu trung tâm Hà Tiên ở xã Mỹ Đức. Nhân dịp nầy trường học Hà Tiên được xây cất mới lại, mặt trước cổng trường nhìn ra đường Hàng Dương tức đường Mạc Công Du, mặt sau nhìn ra đường Trường Học tức là đường Đống Đa.Trong những năm 50, 60, 70 ngôi trường nầy chính là Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên.
Kể từ năm 1946, đặc biệt có mặt các quan chức người Việt Nam làm chủ tỉnh Hà Tiên thay vì người Pháp như từ trước đó. Tên các vị Đốc Phủ Sứ nầy được ghi nhận như sau : Lê Văn An, Nguyễn Văn Hải, Ngô Tư Tri…
Trước đây sau khi chiếm Hà Tiên từ năm 1867 và sau đó kể từ năm 1871, người Pháp bắt đầu làm các công trình xây đắp đường sá trong địa phận xã Mỹ Đức ở trung tâm tỉnh Hà Tiên. Từ đó các con đường được thực hiện và đều mang tên bằng tiếng Pháp, đến năm 1952, tỉnh trưởng Lê Văn An đặt tên lại các con đường trong sở lỵ với tên Việt Nam như : Avenue Inspection (đường Mạc Công Du), rue des Cocotiers (đường Bạch Đằng), rue de la Poste (đường Tô Châu), rue de la Pagode (đường Lam Sơn), rue de l’appontement (đường Mạc Tử Hoàng) …
Bảng liệt kê tên các đường sá trong xã Mỹ Đức tại trung tâm Hà Tiên với tên Pháp và tên Việt kể từ năm 1952 :
Rue de l’Hôpital : Đường Tham Tướng Sanh
Rue de Kampot : Đường Phương Thành
Rue de l’Inspection : Đường Mạc Công Du
Rue de la Poste : Đường Tô Châu
Rue des Cocotiers : Đường Bạch Đằng
Rue de la Pagode : Đường Lam Sơn
Rue de Mui Nai : Đường Chi Lăng
Rue de l’Ecole : Đường Đống Đa
Boulevard de Phao Dai : Đường Mạc Thiên Tích
Quai Doceul : Bến Trần Hầu (Trong những năm 60-70, khúc đường tiếp theo bến Trần Hầu về phía đầm Đông Hồ nầy còn có tên là Bến Nguyễn Văn Hải, có bản đồ Hà Tiên của Pháp năm 1951 ghi tên là Quai de Rach Gia).
Rue de l’Appontement (Avenue Foch) ; Đường Mạc Tử Hoàng
Rue de Labellivière : Đường Nguyễn Thần Hiến
Rue de Fournier : Đường Nhật Tảo
G/ Tỉnh Hà Tiên và xã Mỹ Đức tính từ giai đoạn 1956 – 1975 :
Vào tháng 10 năm 1956, tổng thống nước Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) Ngô Đình Diệm thay đổi toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam, theo đó địa phận bao gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Từ đó tỉnh Hà Tiên bị giải thể và 4 quận thuộc tỉnh Hà Tiên: Châu Thành, Giang Thành, Hòn Chông và Phú Quốc được sát nhập vào tỉnh Rạch Giá (8) lúc đó để thành lập một tỉnh mới là tỉnh Kiên Giang.
Như vậy tỉnh Hà Tiên cũ trở thành quận Hà Tiên và địa giới chỉ gồm các vùng thuộc các quận cũ : Châu Thành, Giang Thành và Hòn Chông trước năm 1956 mà thôi.
Đến năm 1961, chánh quyền VNCH thành lập quận Kiên Lương, thuộc tỉnh Kiên Giang. Từ đó các xã của quận Hà Tiên là Dương Hòa, An Bình, Bình Trị đều thuộc về quận Kiên Lương. Quận Kiên Lương gồm các xã : An Bình, Bình Trị, Thổ Sơn, An Hòa, Dương Hòa. Quận lỵ đặt tại xã An Bình, sau đó có thêm một xã mới là Đức Phương.
Sau khi thành lập quận Kiên Lương, quận Hà Tiên lúc bấy giờ chỉ gồm các xã : Mỹ Đức, Phú Mỹ và Thuận Yên và 15 ấp. Quận lỵ đặt tại xã Mỹ Đức. Dân số ở quận Hà Tiên nói chung vào năm 1965 là khoảng 11600 người.
Đến năm 1970, theo tài liệu ghi chép, quận Hà Tiên (thuộc tỉnh Kiên Giang) có diện tích toàn thể là 466,9 km vuông, và dân số khoảng 17128 người. Trong đó :
Xã Mỹ Đức có diện tích 44,9 km vuông và có dân số khoảng 9907 người.
Xã Phú Mỹ có diện tích 331,3 km vuông và có dân số khoảng 2419 người.
Xã Thuận Yên có diện tích 90,7 km vuông và có dân số khoảng 4802 người.
Địa giới xã Mỹ Đức vẫn bao gồm các vùng ngay trung tâm có chợ Hà Tiên, tính cả khu Pháo Đài, Đông Hồ (về mặt hành chánh tương ứng với ấp Bình San), vùng Bãi Nò có núi Đèn (về mặt hành chánh tương ứng với ấp Việt Nam), vùng bãi Mũi Nai có núi Tiểu Táo, núi Đại Táo và núi Bà Lý (về mặt hành chánh tương ứng với ấp Bà Lý), vùng thôn Kỳ Lộ xưa, có Thạch Động, Đá Dựng và ra tới biên giới với nước Campuchia (về mặt hành chánh tương ứng với ấp Thạch Động).
Ngoài ra địa giới xã Mỹ Đức có thể bao gồm luôn cả phần các đảo thuộc nhóm đảo Hải Tặc (về mặt hành chánh tương ứng với ấp Hòn Đốc) và phần các cồn cát phía trong đầm Đông Hồ (về mặt hành chánh tương ứng với ấp Cừ Đứt (9).
H/ Công sở của xã Mỹ Đức :
Tên gọi chánh thức xã (hay làng) Mỹ Đức bắt đầu có từ năm 1836 khi vua Minh Mạng cho tổ chức đo đạc ruộng đất, lập địa bạ ở 6 tỉnh Nam Kỳ. Từ đó xã Mỹ Đức chính là nơi đặt tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tiên và về sau cũng là nơi trung tâm của quận Hà Tiên. Chúng ta không có tài liệu rõ về nơi đặt công sở (hay trụ sở, văn phòng làm việc) của xã Mỹ Đức. Tuy nhiên có một vài chi tiết được ghi nhận như sau :
a/ Khi nghiên cứu về lịch sử của ngôi đình Thành Hoàng Bổn Cảnh của xã Mý Đức, có các chi tiết như sau : Ngôi đình nằm trong phần đất giới hạn bởi bốn con đường: đứng trước ngôi đình nhìn vào, bên trái là đường Bạch Đằng, bên phải là đường Tô Châu, sau lưng đình là đường Chi Lăng, trước mặt đình là đường Trần Hầu. Ta không biết chính xác niên hiệu tạo dựng ngôi đình nầy vào năm nào, tuy nhiên theo sách « Gia Định Thành Thông Chí » (hoàn thành vào năm 1820) của Trịnh Hoài Đức thì đã có đoạn văn tả ngôi đình nầy, lúc đó ngôi đình có tên là Miếu Hội Đồng. Như vậy Miếu Hội Đồng ở trung tâm trấn Hà Tiên đã có trước năm 1820 (10).
b/ Từ năm 1820 cho đến năm người Pháp chiếm Hà Tiên (1867), theo bản đồ vẽ tay của người Pháp vào năm 1869, ta thấy trên bản đồ còn ghi rõ vị trí của ngôi Miếu Hội Đồng (người Pháp ghi là Mairie : Tòa thị sảnh, trụ sở của xã), và phía trước đó về mé bến sông ghe tàu đậu thì là ngôi chợ cũ ngày xưa (người Pháp ghi là Marché : Ngôi chợ).
Theo hai chi tiết vừa nêu ra phía trên, ta có thể suy luận ra là mặc dù từ năm 1820 trở đi, xã Mỹ Đức chưa có tên trong thành phần của tổng Hà Thanh thuộc huyện Hà Châu, trấn Hà Tiên xưa, nhưng có lẽ ngôi đình nầy chính là nơi hội họp, bàn luận của các vị hội đồng của làng xã ở trung tâm huyện Hà Châu (tức là trung tâm Hà Tiên). Từ năm 1836 trở đi, xã Mỹ Đức chính là nơi trung tâm của tổng Hà Thanh, huyện Hà Châu (Hà Tiên), như vậy ta có thể suy luận là ngôi đình nầy vẫn là nơi làm việc và được xem như công sở của xã Mỹ Đức sau khi tên xã được xuất hiện.
c/ Theo một bức hình xưa chụp mặt Nam của ngôi chợ xưa của trung tâm Hà Tiên (11), phía trên cao có một bức tường và có ghi các hàng chữ : « Quốc Gia Việt Nam » và phía dưới là « Công Sở Mỹ Đức », dưới chữ Mỹ Đức ta còn thấy có ghi năm 1950. Vậy sau khi người Pháp trở lại chiếm Hà Tiên và bắt đầu xây dựng lại các công sở, dinh thự, nhà thương, trường học, bưu điện (1946) thì công sở xã Mỹ Đức được cất lên, công sở nầy nằm ở phía mặt Nam của ngôi chợ, ngôi chợ ở trung tâm Hà Tiên thì nằm ở giữa các con đường Tham Tướng Sanh (mặt Đông), Tuần Phủ Đạt (mặt Tây), Lam Sơn (mặt Bắc) và Trần Hầu (mặt Nam).
Cho đến những năm đầu của thập niên 1960, công sở xã Mỹ Đức được dời xuống mé sông Đông Hồ gần căn nhà xưa của thầy giáo Lâm Tấn Phác (tức thi sĩ Đông Hồ) thì công sở cũ ở phía Nam của ngôi nhà lồng chợ Hà Tiên nầy chuyển thành văn phòng làm việc của Chi Thông Tin Hà Tiên.
Một số các vị chủ tịch xã Mỹ Đức được ghi nhận trong các thập niên 60 – 70 như sau :
Phan Văn Nảng, La Từ Sự (giáo viên trường Tiểu Học cộng đồng Hà Tiên), Phan Văn Thân, Hồ Văn Hai (tự Điệp), Trần Tiến Sủng (giáo viên trường Tư thục Sơ cấp Hữu Đức Hà Tiên).
J/ Các cửa hàng, hiệu tiệm chung quanh chợ Hà Tiên thuộc xã Mỹ Đức trong những năm 50 – 60 -70 :
Như phần trên đã viết, ngôi chợ chính của sở lỵ tỉnh và sau đó quận Hà Tiên nằm trong xã Mỹ Đức ở trung tâm Hà Tiên và thường được gọi tên là nhà lồng chợ, nằm ở giữa các con đường Tham Tướng Sanh (mặt Đông), Tuần Phủ Đạt (mặt Tây), Lam Sơn (mặt Bắc) và Trần Hầu (mặt Nam), riêng ở mặt Nam có một căn phố gọi là Phố Tứ Diện nằm giữa ngôi chợ và đường Trần Hầu.
Chung quanh ngôi chợ với 4 con đường kể trên, đều có các cửa hàng, hiệu tiệm buôn, đa số là do người Hoa làm chủ và có các tên hiệu, hoạt động buôn bán như sau :
a/ Cửa hàng, hiệu tiệm trên đường Lam Sơn ở mặt Bắc ngôi chợ Hà Tiên :
Trên đường Lam Sơn trước mặt chợ Hà Tiên có ba ngôi nhà : Nhà ông Tào Lái, tiệm Sanh Hoạt : bán thuốc Bắc và tạp hóa, tiệm Dũ Long : bán cà phê, hũ tiếu ăn sáng của gia đình hia Năm Nghép, hia Sáu Lỹ.
b/ Cửa hàng, hiệu tiệm trên đường Tuần Phủ Đạt ở mặt Tây ngôi chợ Hà Tiên :
Trên đường Tuần Phủ Đạt đối diện với bên hông mặt Tây của ngôi chợ Hà Tiên có rất nhiều hiệu tiệm buôn, đa số là do người Hoa làm chủ. Tính từ phía đường Trần Hầu trở lên theo thứ tự ta có các hiệu tiệm như sau :
1- Căn tiệm Ỹ Ba Long Xuyên: Ngôi nhà này được Ông Lý Thắng và bà Thái Liễu Anh xây dựng năm 1930. Hồi xưa (những năm 50, 60) bán gạo, tên hiệu tiệm là Thắng Phát, sau đó không buôn bán nữa, con cháu trong gia đình đang ở. Tiệm ở ngay góc đường Trần Hầu – Tuần Phủ Đạt.
2- Mỹ Nam : bán cà phê và bánh bao.
3- Hiệp Phát : Bán gạo.
4- Nam Viên : Tiệm của ba má bạn Trần Tiên học cùng lớp ở Trung Học. Lúc xưa bán than nấu bếp, sau đó không có buôn bán gì nữa.
5- Duy Phong : Bán tạp hóa, tô nồi, vật dụng trong nhà, đèn chai.
6- Vĩnh Xương : Bán tạp hóa, sau đó có bán vải vóc.
7- Vạn Ích Đường : Tiệm thuốc Bắc, có ông Huỳnh Tường Văn, người Hà Tiên gọi thân mật là « Cù Bớt » đứng quản lý, ông thường chạy chiếc xe moto Harley-Davidson.
8- Bình Dân : Khách sạn
9- Hoa Tân : Tiệm may của ba má chị Phù Ngọc Anh.
10- Thái Dũ : Chủ tiệm cây xăng ở phía dưới Đài Kỷ Niệm xưa. Tiệm ở đường Tuần Phủ Đạt nầy bán vải vóc.
11- Tòng Phát : Bán tạp hóa, đậu, đường.
12- Căn tiệm Ỷ Hai Đông (anh Tiều Ngoánh)
13- Hải Ký : Bán tạp hóa, tô chén, nồi…
14- Minh Thái Phong : Vựa chứa hàng hóa, không có bán hàng tại đây. Nhà Minh Thái Phong có tiệm bán văn phòng phẩm ở mặt Tây của Phố Tứ Diện.
15- Đức Quang : Tiệm chụp hình ở chợ Hà Tiên.
16- Đức Thạnh : Không có buôn bán, là vựa muối.
17- Dũ Long : Chủ là Ông Chiêu, nhà có bán nhang đèn…
18- Đặng Tấn Tài : Chủ là bác Ba Góp, má của anh Minh Thế, anh Mạnh, bạn Nhựt…Tiệm bán tạp hóa, ở ngay góc đường Lam Sơn – Tuần Phủ Đạt.
c/ Cửa hàng, hiệu tiệm trên đường Tham Tướng Sanh ở mặt Đông ngôi chợ Hà Tiên :
Trên đường Tham Tướng Sanh đối diện với bên hông mặt Đông của ngôi chợ Hà Tiên có rất nhiều hiệu tiệm buôn, đa số là do người Hoa làm chủ. Tính từ phía đường Trần Hầu trở lên theo thứ tự ta có các hiệu tiệm như sau :
1- Xuân Thạnh : Tiệm cơm lớn hồi xưa ở chợ Hà Tiên.
2- Vạn Phước : Tiệm thụt vào phía trong nằm sau tiệm Xuân Thạnh, tiệm của gia đình dì Hai Sánh, má của cô Võ Ngọc Điệp. Bán tạp hóa, đậu, đường…
3- Tiệm có bảng hiệu là Cơ Phát : Tiệm nằm trên đường Tham Tướng Sanh, phía trước có một cây me rất to lớn. Chủ tiệm là ông Xà Èm là ông nội của chị Đỗ Mùi. Thỉnh thoảng ông mua con trăn và lột da bán.
4- Căn tiệm không có bảng hiệu : Do hai người cháu của ông Thái Dũ ở (Hia Hạp và Chế Bùi), một thời gian có bán bánh kẹo.
5- Phục Hưng : Tiệm của gia đình ông Huỳnh Thuật Sanh (ba của hai bạn Huỳnh Vạn Tường tức Sện và Huỳnh Bá Tường tức Bẻ). Hoạt động của tiệm là uốn tóc và trồng răng.
6- Hiệp Lợi : Tiệm của gia đình bác Trần Tú Chi (thân mẫu của em Trần Tố Chinh). Bán tạp hóa.
7- Thái Sơn : Tiệm của ông nội của các bạn Huỳnh Lâm, Huỳnh Phát, Huỳnh Lợi, Huỳnh Thanh Xuân. Một thời gian có bán cà phê.
8- Nam Thiên : Bán tạp hóa, đường, dầu lửa, vật dụng gia đình.
9- Hòa Hiệp : Tiệm cơm. Ngày xưa có một người bạn học cùng lớp tên là Lê Văn Tịnh ở đây.
10- Nhà không có bảng hiệu : Nhà của gia đình các bạn Liêu Thọ Vĩ (Úi) và Liêu Thọ Hoa (Đệ). Nhà không có hoạt động thương mại, tuy nhiên phía trước nhà có cho người thợ hàn tên là ông Tư Xây mướn để sản xuất các loại hàng thiếc. Trước nhà cũng có một cây me rất to lớn.
K/ Một số nhân vật nổi tiếng quê quán ở xã Mỹ Đức, Hà Tiên :
1/ Chí sĩ Nguyễn Thần Hiến: Ông Nguyễn Thần Hiến, tự Phác Đình, hiệu Chương Chu, sinh năm 1857 tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên, là con của cụ Nguyễn Như Ngươn. Cụ Nguyễn Như Ngươn làm quan dưới triều vua Tự Đức và từng được bổ vào Hà Tiên giữ chức Kinh lịch tại tỉnh. Kinh lịch là chức quan, hàm chánh thất phẩm, làm việc tại tỉnh đường, chuyên việc giấy tờ, công văn và giải quyết các việc hành chánh của tỉnh.
Từ nhỏ cha mẹ đặt tên ông Nguyễn Thần Hiến là Nguyễn Như Khuê, năm 18 tuổi ông tự đổi là Nguyễn Thần Hiến. Ông được thấm nhuần một nền giáo dục chữ Hán, ảnh hưởng Khổng Mạnh và nói được nhiều tiếng địa phương của nước Trung Hoa. Ông giao du với các nhân sĩ làng Mỹ Đức, Hà Tiên như quý ông: Lâm Tấn Đức, Trần Đình Quang, Huỳnh Đăng Khoa, Nguyễn Phương Chánh, La Thành Đầm….trong công việc chấn hưng đạo đức, văn hóa tại địa phương. Khi còn ở Hà Tiên, ông Nguyễn Thần Hiến mở lớp dạy chữ Nho, và chuyên nghề thuốc Bắc, châm cứu…Năm 1888 ông cùng với nhân dân Hà Tiên khởi công kiến tạo lại đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức và sau đó lại cùng với nhân dân địa phương trùng tu Mạc Công Miếu tại núi Bình San. Năm 1902 khi mẹ ông qua đời ông cùng với gia đình dời về sống ở Cần Thơ.
Khi bước vào cuộc đời cách mạng kháng Pháp, ông Nguyễn Thần Hiến là một trong những người hoạt động tích cực cho phong trào Đông Du ở miền Nam. Trên con đường hoạt động chánh trị, ông Nguyễn Thần Hiến đi khắp nơi kể cả bôn ba ở hải ngoại. Ông bị bắt ở Hồng Kông năm 1913 cùng với nhiều bạn cộng sự và bị đưa về giam ở Hà Nội. Vì điều kiện giam cầm khắc nghiệt lại bị tra tấn, sức khỏe ông kém dần, cuối cùng ông bị kết án mười năm lưu đày bên đất Nam Mỹ. Tuy nhiên vì sức khỏe yếu và lâm bệnh nặng, ông quyết tuyệt thực và và đã mất vào giờ giao thừa đêm ba mươi Tết Giáp Dần, tức ngày 26 tháng 1 năm 1914,, hưởng thọ 58 tuổi.
Ở Hà Tiên từ xưa đến nay còn có một con đường, một bệnh viện trong những năm 60-70 và hiện nay một ngôi trường Phổ Thông cấp 3 được mang tên Nguyễn Thần Hiến.
2/ Ông Hội đồng Lâm Tấn Đức : Ông Lâm Tấn Đức tự là Hữu Lân, sinh năm 1866 tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên. Ông có dáng oai nghiêm, bệ vệ, thông minh và hoạt bát, ngoài ra ông giỏi chữ Hán, thảo chữ trên giấy rất đẹp và được mọi người trong làng Mỹ Đức kính trọng và tin tưởng, ông được cử làm Hương Chủ trong làng.
Ông Lâm Tấn Đức có kết giao hữu với một số nhân sĩ ở Hà Tiên thời 1920, nhóm bạn nầy thường hay cầu Tiên ở nhà ông tại bờ đầm Đông Hồ. Đó là quý ông Cao Văn Sự (Đốc Phủ Sự), Nguyễn Thành Diêu, Nguyễn Văn Ngàn (thơ toán, viên chức Ngân Khố, gọi là ông Phán Ngàn). Chính ông Ngô Văn Chiêu lúc đó từ Tân An chuyển xuống Hà Tiên làm việc ở tòa Hành Chánh vào năm 1920 và đã gặp quý nhân sĩ nhà Nho nầy nhân đó quý ông thường lên Thạch Động để cầu Tiên. Trong một cuộc cầu Tiên ngay tại nhà ông Lâm Tấn Đức, ông Ngô Văn Chiêu đã được thừa tiếp hồng danh hai chữ Cao Đài qua một bài thơ do ơn trên giáng cơ có nêu tên họ đầy đủ của ông và tên của quý thân hữu có mặt (Quan, Diệu, Sự, Đức). Ông Lâm Tấn Đức mất năm 1934.
3/ Thầy giáo Lâm Tấn Phác : Thầy Lâm Tấn Phác là con của ông Lâm Tấn Thoại và ông Thoại là em của ông Lâm Tấn Đức. Thầy Lâm Tấn Phác, hiệu Trác Chi tức nhà giáo, nhà báo, nhà thơ Đông Hồ sinh năm 1906 tại làng Mỹ Đức, Hà Tiên. Vì cha mẹ mất sớm nên ông và hai người chị được người bác Lâm Tấn Đức đem về nuôi từ nhỏ. Dưới sự giáo dục nghiêm khắc và đúng đắn của một nhà Nho như người bác, ông Đông Hồ hấp thụ được một nền văn hóa cổ truyền, trang nghiêm, học chữ Hán, biết đọc sách xưa và học cách viết chữ bằng bút lông tài hoa của người bác, từ đó đã tạo cho ông Đông Hồ một phong cách sống và viết văn thơ rất thanh tao, trang nhã. Ông cũng chính là giáo viên ở ngôi trường sơ cấp thuộc xã Mỹ Đức và đã cộng tác nhiều năm với tạp chi Nam Phong, được xem như là nhà văn, nhà thơ đầu tiên trong Nam bắt cầu Nam Bắc trên phương diện văn học, mở đường cho sự “thống nhất văn học dân tộc” như ông nói. Ông có công to lớn trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ bằng cách mở ngôi trường tư thục dạy học chữ Quốc Ngữ miển phí cho con em trong làng xã và cả các nơi khác đến học.
Thầy giáo Lâm Tấn Phác tức thi sĩ Đông Hồ mất năm 1969 trong lúc đang giảng dạy thơ văn tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn.
4/ Nữ sĩ Mộng Tuyết : Bà Mộng Tuyết sinh năm 1914 tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên, bà có nhiều bút danh : Hà Tiên Cô, Thất Tiểu Muội, Nàng Út, Bách Thảo Sương, Mộng Tuyết …Năm 12 tuổi bà bắt đầu học làm văn ở ngôi trường Trí Đức Học Xá do thầy Đông Hồ thành lập và bà đã tỏ ra một người học trò có tài năng trong việc viết văn, làm thơ. Nữ sĩ Mộng Tuyết cộng tác với nhiều tờ báo và viết rất nhiều thơ, văn, truyện ngắn, tiểu thuyết dã sử…
Trong những năm 50, bà cùng với chồng là thầy Đông Hồ lên Sài Gòn mở nhà sách, nhà xuất bản…Nhiều năm sau khi ông mất (1969), bà lui về sống ẩn dật tại quận Tân Bình và đến năm 1995 bà trở về quê Hà Tiên sống và mở ra Nhà lưu niệm Đông Hồ ở ngay vị trí của ngôi trường Trí Đức Học Xá ngày xưa.
Bà Mộng Tuyết mất năm 2007 và được chôn cất cùng với gia tộc thầy Đông Hồ ở bên sườn núi Tô Châu, Hà Tiên.
5/ Trúc Hà : Nhà giáo, nhà báo Trúc Hà tên thật là Trần Thiêm Thới, sinh năm 1909, quê quán tại xã Mỹ Đức, Hà Tiên. Ông là cháu gọi ông Đông Hồ Lâm Tấn Phác bằng cậu, Trúc Hà đặc biệt gắn bó với họ Lâm. Thuở nhỏ, ông được đưa về ở chung nhà với ông Lâm Tấn Phác, và cả hai đều được ông Lâm Tấn Đức, một người nổi tiếng văn hay chữ tốt của dòng họ, cưu mang nuôi dưỡng.
Lúc nhỏ học trường Sơ cấp ở Hà Tiên cùng với ông Đông Hồ, sau đó Trúc Hà thi đậu vào học bậc Thành Chung trường Trung Học Cần Thơ, nhưng vì tham gia viết báo tường mang nội dung ái quốc nên bị nhà trường cho thôi học phải trở về Hà Tiên tự rèn luyện Quốc Văn với ông Đông Hồ, rồi sau đó trở thành nhà thơ, viết báo,…với tên hiệu Trúc Hà rất có tiếng. Lúc ở Hà Tiên Trúc Hà tham gia giúp trường Trí Đức Học Xá của ông Đông Hồ dạy tiếng Việt miễn phí cho học trò khắp nơi đến học. Khi trường đóng cửa, Trúc Hà tham gia viết báo cộng tác với tạp chí Nam Phong, rồi lên Sài Gòn dạy Quốc Văn các trường Tư Thục. Ngoài ra ông cùng với nhóm Trí Đức Học Xá ra tờ tuần báo « Sống » và giữ vai trò chủ nhiệm. Về ngày sinh của Trúc Hà, người ta không có tư liệu chính xác, chỉ biết ông sinh khoảng năm 1909 và mất vì một cơn bệnh hiểm nghèo khoảng năm 1943 hoặc 1944. Mặc dù Trúc Hà có một cuộc đời ngắn ngủi nhưng Trúc Hà đã để lại một sự nghiệp không nhỏ. Ông là một nhà văn, đồng thời cũng là một nhà báo có ít nhiều đóng góp cho nền báo chí Quốc Ngữ đầu thế kỷ 20.
Những nhân vật có tên tuổi đáng ghi nhớ thuộc xã Mỹ Đức Hà Tiên còn rất nhiều người, tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết nầy, xin tạm dừng lại ở đây, độc giả có thể tham khảo thêm trong các tài liệu khác.
L/ Xã Mỹ Đức, Hà Tiên trong hiện tại :
Ngày nay xã Mỹ Đức ở vùng đất thuộc trung tâm Hà Tiên không còn nữa, kể từ năm 1975, sau nhiều thay đổi về mặt địa thế và hành chánh của quận Hà Tiên, vào năm 1998, huyện Hà Tiên trở thành Thị xã Hà Tiên với 4 phường: Bình San, Đông Hồ, Pháo Đài, Tô Châu và 3 xã: Mỹ Đức, Thuận Yên và Tiên Hải (xã đảo). Diện tích của xã Mỹ Đức chỉ còn khoảng 17 km vuông và vị trí của xã ở ngay địa giới ấp Thạch Động của quận Hà Tiên trước đó. Đến năm 2018, thị xã Hà Tiên trở thành thành phố Hà Tiên, xã Mỹ Đức trở thành phường Mỹ Đức, diện tích khoảng 17 km vuông và có dân số gần 8000 người, vị trí vẫn ở sát biên giới nước Campuchia (ngay địa giới của ấp Thành Động quận Hà Tiên trước năm 1975).
Hiện tại, từ tháng 6 năm 2025, các phường : Pháo Đài, Bình San, Mỹ Đức và Đông Hồ họp lại thành một phường mới có tên gọi là phường Hà Tiên và phường Hà Tiên nầy thuộc tỉnh An Giang.
Như vậy nếu tính từ lúc có tên của xã Mỹ Đức (năm 1836) thuộc tổng Hà Thanh, tỉnh Hà Tiên đến lúc đổi đơn vị xã để trở thành phường Mỹ Đức (2018) thuộc thành phố Hà Tiên, xã Mỹ Đức tồn tại được 182 năm.
Trong lúc đó thì trấn Hà Tiên rộng lớn từ xưa hiện tại trở thành một phường Hà Tiên với diện tích khoảng 62 km vuông.
Chú thích (TVM):
(1): Khi giai đoạn Trịnh Nguyễn thật sự đi vào chiến tranh (1627 – 1672), hai bên đánh nhau và kết cuộc đưa đến việc tạm đình chiến, lấy sông Gianh (Linh Giang) ở Quảng Bình làm ranh giới. Đến đây xuất hiện hai tên gọi Đàng Trong và Đàng Ngoài : Đàng Trong là lãnh thổ của Chúa Nguyễn, từ sông Gianh kéo dài qua các cuộc chinh phục đất đai Nam tiến, đỉnh cao là năm 1757, lãnh thổ mở rộng cho đến mũi Cà Mau. Đàng Ngoài từ sông Gianh trở lên phía Bắc thuộc vua Lê và Chúa Trịnh. Từ đây vì đã có nhiều sự tiếp xúc với người Tây phương, nhất là các giáo sĩ Công giáo nên dưới con mắt người nước ngoài, Đàng Trong được gọi tên là Cochinchine và Đàng Ngoài là Tonkin, họ cũng xem như là hai vương quốc khác nhau, mỗi bên đều có Chúa cai trị riêng mặc dù đều lấy danh hiệu phù Lê vì nhà Lê vẫn còn trên ngai vị ở ngoài Bắc.
(2) : Năm 1788, sau khi lấy lại được Hà Tiên, Nguyễn Ánh chuyển hai đạo Kiên Giang và Long Xuyên cho thuộc về trấn Vĩnh Thanh quản trị. Tuy nhiên đến năm 1808, sau khi lên ngôi, vua Gia Long (tức Nguyễn Ánh) đổi đạo ra thành huyện Kiên Giang và Long Xuyên vẫn thuộc về Trấn Vĩnh Thanh. Đến năm 1810 đưa hai huyện nầy về trấn Hà Tiên quản trị.
(3) : Khái niệm « Làng » là một từ ngữ Nôm, khác với khái niệm « Xã » là một từ Hán Việt. Thôn (từ Hán Việt) là từ ngữ xưa thường chỉ một xóm.
(4) : Phủ Quảng Biên là một phần đất Kampot miền duyên hải (Cần Vọt hay Cần Bột), phủ Khai Biên là một phần đất Kompong Som miền duyên hải (Hương Úc hay Vũng Thơm). Đến đời vua Thiệu Trị năm thứ nhất (1841), phủ Quảng Biên gồm cả huyện Khai Biên không còn thuộc về tỉnh Hà Tiên nữa, vùng đất nầy bỏ, trả lại cho nước Campuchia.
(5) : Nguyễn Thần Hiến sinh năm 1857 tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên, tên thật là Nguyễn Như Khuê, mất năm 1914 tại nhà giam ở Hà Nội. Ông là một nhà yêu nước, chí sĩ cách mạng chống Pháp, nhà văn hóa có ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử văn học của đất Hà Tiên.
(6) : La Thành Đầm tự là Mộ Tần, người gốc xã Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên. Giỏi tiếng Pháp, ông làm thông ngôn, thư ký sở Quan Thuế Hà Tiên. Ông có soạn quyển sách « Thần Chú Thỉnh Tiên, xuất bản năm 1907, trong đó ông có chép lại một số các bài thơ Nôm của ông Mạc Thiên Tích dước dạng chữ Quốc ngữ.
(7) : Toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định quy định về việc tổ chức Hội đồng làng xã ở Nam Kỳ. Xã là đơn vị hành chánh nền tảng của chính quyền bản xứ Nam Kỳ, đặt dưới sự quản lý của một Hội đồng, gồm có: Hương cả (Chủ tịch), Hương chủ (Phó Chủ tịch), và các hội viên là Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Thủ bộ, Hương thân, Xã trưởng, Hương hào.
Hương chủ là người thay thế Hương cả làm chủ tọa hội họp khi ông Hương cả vắng mặt. Hương chủ là chức việc Thủ Bổn của làng, coi về việc quản thủ các việc tài chánh trong làng (công nho), việc lương phạn cho chức việc tùng sự, trả công việc tạo tác trong làng.
Hương quản là người xem về an ninh, trật tự trong làng xã, có quyền hạn bắt bớ, giam cầm, điều tra và xử kiện các vụ án trong làng xã.
(8) : Tỉnh Rạch Giá được thành lập kể từ đầu năm 1900, vào lúc 1920 gồm có các quận như sau : Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, Long Mỹ và Phước Long.
(9) : Ấp Cừ Đứt : Chúng tôi vẫn chưa rõ ấp Cừ Đứt thuôc xã Mỹ Đức hay thuộc xã Phú Mỹ vì thiếu tài liệu đối chiếu.
(10) : Miếu Hội Đồng : Thực ra trước năm 1820, nhân dân ở trung tâm (Hà Tiên) đã dựng lên ngôi Miếu Hội Đồng nầy để thờ ba vị nhân thần họ Mạc khai cơ đất Hà Tiên là Mạc Cửu (1655-1735), Mạc Thiên Tích (1718-1780), Mạc Tử Sanh (1769-1788), ba vị nầy đều có sắc phong nhân thần của các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức và đều đạt đến ngôi thứ Thượng Đẳng và Trung Đẳng Thần. Vào đời vua Tự Đức thứ năm (1852), nhà vua đã ban sắc phong tên đình là Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh xã Mỹ Đức nên từ đó về sau ngôi Miếu Hội Đồng nầy đã trở thành ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức, thờ phượng ba vị nhân thần họ Mạc như đã nói trên.
(11) : Ngôi chợ xưa của xã Mỹ Đức, Hà Tiên nầy hoạt động trong những năm 50, 60, 70. Hiện nay người ta đã phá bỏ ngôi chợ nầy và cất lên Quảng Trường Chiêu Anh Các tại chỗ đó.
Tài liệu tham khảo :
* Trương Minh Đạt : Nghiên cứu Hà Tiên – Họ Mạc vói Hà Tiên (NXB TH-TPHCM – 2017)
* Trương Minh Đạt : Nghiên cứu Hà Tiên (Tạp chí Xưa&Nay – NXB Trẻ – 2008)
* Nguyễn Văn Hải : bản chuyên khảo về tỉnh Hà Tiên 1951 (bản dịch tiếng Việt : Trương Quốc Minh)
* Publications de la Société des Etudes Indo-Chinoises : Monographie de la province d’Hà Tiên (Saigon, L. Ménard – 1901)
* Annuaire de la Cochinchine française, Annuaire général de l’Indo-Chine française : Années 1870 – 1925 (Source gallica.bnf.fr / Bibliothèque nationale de France)
* Thời sự cẩm nang : Tuế thứ canh ngũ niên, (SaiGon, 1930)
* Nguyễn Đình Đầu : Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – Hà Tiên, Kiên Giang, Minh Hải (NXB TPHCM – 1994)
* Trần Thiêm Trung : Hà Tiên địa phương chí (bản đánh máy quay Ronéo – 1952, do bà Trần Thị Ba sưu tầm)
* Nguyễn Đình Tư : Địa chí hành chánh các tỉnh Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1859 – 1954). (NXB TH-TPHCM – 2017)
* Nguyễn Thị Phương Thúy – Võ Văn Nhơn : Trúc Hà – một trong « Hà Tiên tứ tuyệt ». 2010. Site web http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/
* Báo « Avenir du Tonkin » số 3201, ngày 08/11/1905, trang 3, xuất bản tại Hà Nội. Tiết mục Indochine.
* Công Luận Báo : các số ra ngày 9/3/1937 và 28/4/1937.
Cám ơn quý thầy cô, quý bạn đã giúp đở, góp ý, thông tin:
Bài viết nầy không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đở, góp ý, thông tin rất nhiệt tình của thầy cô Trương Minh Đạt, Nguyễn Phước Thị Liên, và của các bạn: Huỳnh Thị Sáu, Trần Tố Chinh, anh Trần Văn Dõng, chị Nguyễn Thị Hoa, Hồ Thị Kim Nga, Trương Thanh Hùng, Phan Văn Hữu, xin thành thật cám ơn quý vị. Đặc biệt xin kính lời cám ơn bác sĩ Nguyễn Như Sơn và con trai là bác sĩ Nguyễn Như Thạch, hậu duệ của chí sĩ Nguyễn Thần Hiến, hai ông đã góp thêm nhiều ý kiến chính xác trong gia tộc để bài được nhiều thông tin đáng tin cậy. Đặc biệt cám ơn cháu Hà Tấn Tài là người đã chia sẻ những hình ảnh hiếm và quý về quý vị nhân sĩ xã Mỹ Đức, tổng Hà Thanh, tỉnh Hà Tiên ngày xưa.
Trần Văn Mãnh, Paris, khởi công với ý định viết bài về xã Mỹ Đức quận Hà Tiên tháng 12/2024, hoàn thành bài viết ngày 15/08/2025.
Bổ túc bài viết:
Trong bài viết có nhắc đến một số quý vị tiền nhân ở xã Mỹ Đức ngày xưa, sau đây là một số chân dung quý vị tiền nhân:

Ông Lâm Tấn Đức tự Hữu Lân (1866 – 1934), hội đồng tỉnh Hà Tiên, hương chủ xã Mỹ Đức khoảng năm 1915. Nguồn hình: Huệ Nhẫn. Nguyễn Thị Thanh Hoa, Hà Mỹ Oanh.

Ông Huỳnh Chí Hiếu, chánh tổng Hà Thanh, xã Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên khoảng những năm 1917 – 1918. Nguồn hình: Hà Tấn Tài.

Ông Vương Thái Tử, nghị viên hội đồng và thương nhân ở xã Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên, ông mất năm Canh Dần 1950, thọ 90 tuổi. (Ông chính là ông cố ngoại của bạn Hà Mỹ Oanh, Hà Tiên). Nguồn Hà Tấn Tài.
Ông Vương Châu Nha, còn gọi là ông Quản Trạm: (1888 – 1964), con của ông Vương Thái Tử va chính là ông ngoại của bạn Hà Mỹ Oanh, Hà Tiên. Nguồn Hà Tân Tài – Hà Mỹ Oanh.

Hình 1: Năm trấn thuộc Gia Định Thành trước năm 1832

Hình 2: Nam kỳ lục tỉnh trước năm 1841
Hình 3: Tỉnh Hà Tiên năm 1836

Hình 4: Tỉnh Hà Tiên năm 1850 với 3 huyện Hà Châu, Kiên Giang và Long Xuyên. 5 tổng: Hà Thanh, Thanh Di, Phú Quốc, Hà Nhuận và Nhuận Đức

Hình 5: Tỉnh Hà Tiên năm 1909

Hình 6: Tỉnh Hà Tiên với các tổng năm 1909.

Hình 7: Tỉnh Hà Tiên với một vài vị trí các xã thuộc tổng Thanh Di và Bình An năm 1909

Hình 8: Tổng Hà Thanh, tỉnh Hà Tiên năm 1909 với vị trí các xã. (Hai xã Trà Câu và Trà Tiên thuộc tổng Thanh Di)

Hình 9: Ba tỉnh Hà Tiên, Rạch Giá, Bạc Liêu năm 1909.
Hình 10: Ngôi trường sơ cấp do người Pháp lập ra ở xã Mỹ Đức, trung tâm sở lỵ của tỉnh Hà Tiên. Hình chụp trong khoảng thời gia 1921 – 1929. Nguồn hình: Cao Ủy Pháp tại Đông Dương, face book « Thú Chơi » Sách sưu tầm.

Hình 12: Con đường Tuần Phủ Đạt, xã Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên do người Pháp đăng xây dựng. Hình chụp năm 1936. Nguồn: Site ECPAD Images défense, 1936.

Hình 13: Công sở xã Mỹ Đức tại mặt Nam của nhà lồng chợ cũ của xã Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên. Trong hình có các hàng chữ « Quốc Gia Việt Nam » và phía dưới là « Công Sở Mỹ Đức », dưới chữ Mỹ Đức ta còn thấy có ghi năm 1950. Nguồn hình: Tập hình xưa của gia đình Liên Hưng Chánh (1950-1960).

Hình 14: Bản đồ đường sá trong xã Mỹ Đức, trung tâm sở lỵ của tỉnh Hà Tiên năm 1951, các con đường còn mang tên chữ Pháp. Nguồn hình: Thầy Trương Minh Đạt, sách Nghiên Cứu Hà Tiên – Họ Mạc vói hà Tiên, 2017.

Hình 15: Sau năm 1956, tỉnh Hà Tiên trở thành một quận của tỉnh Kiên Giang. Năm 1973, tỉnh Kiên Giang có 8 quận: Hà Tiên, Kiên Lương, Phú Quốc, Kiên Thành, Kiên Tân, Kiên An, Kiên Bình, Hiếu Lễ.

Hình 16: Sau khi thành lập quận Kiên Lương năm 1961, quận Hà Tiên chỉ gồm 3 xã: Mỹ Đức, Phú Mỹ và Thuận Yên.

Hình 17: Công sở xã Mỹ Đức, đường Bến Trần Hầu về phía Đông Hồ, quận Hà Tiên. Hình chụp thầy Nguyễn Hồng Ẩn giáo sư Trung Học Hà Tiên trong những năm 1965-1966 và 1969-1970. Nguồn: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.