Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Vua Quang Toản (Bài 5)

Hồ Bạch Thảo

Vào hạ bán niên Càn Long thứ 60 [1795] sứ bộ An Nam do Nguyễn Quang Dụ cầm đầu, sang nhà Thanh cống tạ ơn. Bấy giờ dân tộc Miêu nỗi dậy tại tỉnh Hồ Nam, đường sứ bộ thường sử dụng không yên; nên Tuần phủ Quảng Tây Thành Lâm muốn dùng đường thủy từ phía bắc tỉnh thành Quế Lâm đến Hán Khẩu, Hồ Bắc. Nhưng Vua Càn Long muốn an toàn hơn, bèn theo lời xin của viên quyền Tổng đốc Lưỡng Quảng Chu Khuê; cho đi vòng từ tỉnh Quảng Đông, qua Giang Tây, lên Hồ Bắc, rồi đi tiếp:

Ngày 27 tháng 9 năm Càn Long thứ 60 [8/11/1795]. Dụ Quân cơ đại thần;Thành Lâm tâu:

 ‘Cống sứ An Nam đến kinh đô tạ ơn, hiện nay tại đất Hồ Nam có việc đánh bắt giặc Miêu, nhưng dùng đường thủy, cách nơi này rất xa; nên  ra lệnh vẫn theo đường từ châu Toàn [Quanzhou, bắc Quế Lâm], Quảng Tây, dùng thuyền theo đường thủy đến Hán Khẩu, Hồ Bắc, rồi lên đường bộ.’

Hôm qua theo lời tâu của Chu Khuê, Hồ Nam hiện có việc quân, lệnh viên Cống sứ dùng đường thủy từ Quảng Tây, theo dòng sông qua các phủ Triệu, Khánh, Nam, Thiều thuộc tỉnh Quảng Ðông đến Sa Tĩnh, tỉnh Giang Tây thì lên đường bộ; lo liệu như vậy rất thỏa hợp.

Nay tái truyền dụ cho Chu Khuê và Thành Lâm khi nhận được chiếu chỉ này. Thì theo lời tâu trước, ra lệnh cho phái viên bạn tống các Cống sứ. Căn cứ theo lời tâu trước của Chu Khuê, theo con đường Quảng Ðông, Giang Tây mà đi, đến trước ngày lễ phong ấn (1) thì đến kinh đô. Sợ Thành Lâm bảo thủ theo lời tâu của y, trước sau cố chấp, cho đi theo đường Hồ Nam. Nếu chiếu chỉ này đến nơi, viên Cống sứ vẫn chưa ra khỏi tỉnh Quảng Tây, viên Tuần phủ hãy phi báo hành trình để đổi đường sang hướng Quảng Ðông, Giang Tây mà đến kinh đô, không thể đi sai đường, sẽ bị tội. Ðưa dụ này truyền theo độ gia khẩn 600 lý [300 km 1 ngày], để hay biết.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1487, trang 25-26]

Phái bộ Nguyễn Quang Dụ đến kinh đô trước dịp lễ phong ấn; ngày 21tháng 12 năm Càn Long thứ 60 [30/1/1796] chiêm bái Vua Càn Long tại Doanh Đài; ngày 23 tháng 12 [1/2/1796] được ban yến điện Phủ Thần; ngày 30 tháng 12 [8/2/1796] yến tiệc tại điện Bảo Hòa.

Bấy giờ Tổng đốc Phúc Kiến, Khôi Luân tâu về triều có khoảng 10 thuyền An Nam cấu kết với người Hoa cướp phá tại vùng biển Phúc Kiến. Nhưng Vua Càn Long trước đây vì tham vọng chính trị, muốn biến thua thành thắng trong cuộc xâm lăng An Nam vào năm Kỷ Dậu [1789] để có được hư danh “Thập toàn võ công”, nên cho Vua Quang Trung giả sang chiêm bái. Từ giả dối trước, đành phải chấp nhận mọi sự giả dối sau; cho An Nam là cung thuận, ngậm miệng không phản đối thuyền An Nam cướp phá vùng biển Trung Quốc:

Ngày 6 Quí Mùi tháng 12 năm Càn Long thứ 60 [15/1/1796]. Dụ Quân cơ đại thần:

Khôi Luân tâu vào tháng 10, huyện Chiếu An (2) [詔安] bm báo rng tại vùng biển xứ này có thuyền cướp từ phía Quảng Ðông chèo đến, trong đó có vài chiếc là thuyền nước Phiên [chỉ An Nam]; bọn này đầu chít khăn hồng. Lại theo người họ Lâm làm việc dưới trướng Khôi Luân cho biết y gặp 3 sinh viên, từng thoát khỏi bọn cướp cho biết ‘Ðứng đầu bọn cướp là Lý Phát Chi, bọn chúng có 12 chiếc thuyền, trong đó có 1 chiếc người An Nam, số còn lại là người Quảng Ðông, Phúc Kiến, Chiết Giang. Bọn chúng trên đầu quấn khăn vải màu hồng, trang phục giống như người Phiên; nghe thuyền cướp An Nam, có khoảng 10 chiếc.’

An Nam từ khi Nguyễn Quang Bình nội phụ đến nay, hết sức cung thuận; nếu vì bọn cướp trên biển này, đem trách hỏi thêm, thì sai với đạo vỗ về người qui phục. Nay truyền dụ bọn Khôi Luân rằng từ nay trở về sau trên mặt biển thuộc các tỉnh Quí Châu, Chiết Giang, Quảng Ðông, đáng đốc sức các binh tướng cùng ra sức truy bắt. Gặp thuyền cướp này, thì vô luận đó là thuyền An Nam hay các ngoại Di khác, hoặc là thuyền cướp nội địa giả trang phục như bọn chúng, đều đánh bắt và lập tực xử tử, không cần phải viết văn thư tra hỏi. Còn Khôi Luân tâu rằng:

 ‘Hiện nay cho tìm những thuyền đánh cá, mang cả những hộ đánh cá, để cùng bắt giặc cướp; tương lai chọn người khỏe mạnh nỗ lực, bổ làm Thủy sư binh đinh.’

 Ðó cũng là một cách để ngăn chặn những hộ đánh cá mang nước và tiếp tế lương thực cho giặc; cùng có thể làm tại mắt cho ta; nhưng chọn Thủy sư, phải chọn lựa người đắc lực. Nhưng cần phải tu sửa hợp với thực tế, mới có thể dùng để đánh bắt giặc. Còn bọn tội phạm quan trọng như Lý Phát Chi, thì ra lệnh cho bọn Khôi Luân đốc sức tướng biền, vạch kế hoạch tra bắt, để làm yên tuyệt gốc rễ. Ðem văn bản này mật dụ các nơi hay biết.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1492, trang 7)

Tại miền Nam vào tháng bảy năm Ất Mão [15/8-12/9/1795] quân Tây Sơn giữ đồn Khố Sơn tại phía nam tỉnh thành Diên Khánh; đồn này rất kiên cố, quân Nguyễn đánh mãi không phá được. Bấy giờ có một người lính Tây Sơn là Nguyễn Danh Nho đầu hàng, Nguyễn vương Phúc Ánh sai mật hỏi lối đi tắt để ngầm đánh úp, Nho xin dẫn đường. Bèn kén hơn 300 quân cảm tử ban đêm cởi y phục sang sông Ngư Trường, bò lên Khố Sơn, phóng lửa đốt đồn. Vương tự đem đại binh tiếp viện, tiếng hét vang trời, gió mạnh lửa bốc, địch tan vỡ; quân Nguyễn phá tiếp 12 đồn.

Tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu bỏ vây rút lui, để lại voi, đại bác và khí giới không xiết kể. Vương sai chỉ huy dinh Tiên phong  Nguyễn Văn Thành kiêm lĩnh các vệ Ban trực hậu, Túc Võ, Tiền chi và chi Hiệu trung đuổi theo.

Thưởng 1 vạn quan tiền cho tướng sĩ dinh Hậu quân tại Diên Khánh; Vương dụ Võ Tánh rằng :

Từ khi ta ủy cho khanh một dinh tướng sĩ để ở giữ đất này, đã 9 tháng nay, đói không được ăn, nhọc không được nghỉ, lại thêm dầu dãi sương gió lâu ngày, sinh nhiều tật bệnh, mà vẫn gắng sức cùng lòng, trong giữ được toàn thành, ngoài chống được giặc dữ, có thể bảo là cỏ cứng trước gió mạnh, thông già gặp năm rét, gian nan trung trinh như thế, nghĩ thật là thương. Nay giặc đã trốn lui, cho khanh cùng tướng sĩ yên dưỡng nghỉ ngơi ở trong thành”.

Rồi sai xét thuộc hạ trong thành, từ chánh phó trưởng chi, trưởng hiệu, cho đến cai đội, đội trưởng, ai là người dũng cảm mở thành ra đánh thắng, cùng người tuy không ra đánh mà hết sức giữ vững bền, cùng những văn quan, thư lại, tham luận, thư ký, ai có học hơi thông, nói năng lanh lẹ có nết đáng khen, có tài đáng lấy, thì đều làm thành danh sách;  chờ chỉ thị ban khen thưởng.

Vương thân đem thủy quân tiến đến Chử Châu [thuộc tỉnh Phú Yên], sai Hùng võ vệ Nguyễn Đức Xuyên, Long võ vệ Nguyễn Hiên, Tuyển phong tả vệ Lê Thành Lý đều đem vệ binh đi gấp tới đèo Gian Nan [ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa], đặt ba đồn ở chân núi để ngăn chặn. Quân Tây Sơn chạy đến Tu Hà, đem hết quân vây đánh đồn, quân Nguyễn lấy đại bác bắn, quân và voi Tây Sơn chết và bị thương nhiều. Quân Nguyễn Văn Thành lại đuổi tới; quân Tây Sơn vỡ chạy; Chưởng cơ Tiền chi Nguyễn Văn Đắc chặn đánh, bị trúng đạn chết tại trận. Võ Văn Lượng và Nguyễn Đức Xuyên đem quân theo sau, đánh bắt được tướng binh và voi ngựa của địch rất nhiều; tướng Trần Quang Diệu bèn theo đường núi Nhà Gắp [huyện Tuy Hòa, Phú Yên] chạy về Quy Nhơn.

Thuyền Vương trở về cửa biển Cù Huân [Nha Trang, Khánh Hòa], để Nguyễn Văn Trương và Trương Phước Luật giữ Chử Châu [thuộc tỉnh Phú Yên]. Tướng quân thượng đạo Nguyễn Long giữ Đèo Cả [ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa] và đèo Gian Nan [ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa].

Vương đến thành Diên Khánh, triệu Nguyễn Văn Thành và Võ Văn Lượng rút quân về. Khi Tây Sơn sắp lui đem nhiều súng đạn chôn giấu đi; bèn ra lệnh cho quan dinh Bình Khang truyền khắp cho quân dân trong hạt, có ai đào được đem nộp thì sẽ tùy theo hạng lớn hạng nhỏ mà thưởng tiền cho.

Tướng Trần Quang Diệu về Quy Nhơn, Nguyễn Văn Huấn về Thuận Hóa trước, Diệu cũng dẫn quân đi theo. Sau khi đến nơi, Nguyễn Quang Toản đem lời giảng hòa, bèn lấy Diệu làm Thiếu phó, Huấn làm Thiếu bảo, Vũ Văn Dũng làm Tư đồ, Nguyễn Văn Danh làm Tư mã, gọi là tứ trụ.

Cai bạ Bình Khang là Ngũ Khắc Bạn và Ký lục là Hoàng Tú Chung đều bị bệnh chết; bèn lấy Nguyễn Y Mân làm Cai bạ Bình Khang, Đặng Hữu Đào làm Ký lục.

Tháng tám [13/9-12/10/1795] sửa lại thành Diên Khánh, làm thêm kho tàng. Tha tô thuế cho Diên Khánh và Bình Khang. Vương thấy mới đây Tây Sơn vào đánh, Diên Khánh bị hại nhiều nhất, thứ đến Bình Khang, bèn ban dụ  năm nay Diên Khánh đều miễn cả tô thuế, Bình Khang thì được miễn tô; những nhà dân ở ngoài thành bị đốt cháy thì sưu dịch đều được miễn.

Vương ra lệnh cho các tướng đem quân trở về, để Chưởng Tiền quân Tôn Thất Hội ở lại trấn thành Diên Khánh. Sai Chưởng Hậu quân Võ Tánh kiêm quản binh thuyền Trung dinh, quân Thần sách, cùng các chi vệ hiệu đội Tiên phong và Hữu quân về Gia Định trước.

Sai Cai cơ dinh Trung quân Nguyễn Đức Thành tạm quản tướng sĩ Tiền chi theo  Vương  khải hoàn. Lấy một phần Tiền du dinh Tiên phong làm chi Tiền du dinh Hậu quân, cùng hai vệ Trung kích, Tiền kích ở lại Diên Khánh theo Tôn Thất Hội sai khiến.

Vương đi qua Bình Thuận, dụ nhân dân sở tại rằng :

Bổ quan đặt lại, chỉ là vì dân. Người chăn dân thì phải vâng mệnh mà tuyên truyền giáo hóa khiến dân yên nghiệp. Duy kẻ công bằng thì ít mà kẻ nhũng tệ thì nhiều, cho nên dân thường có điều ta thán, triều đình đã từng nghe. Nay loan giá đi qua, cũng muốn trú lại vài ngày để ai có oan khuất thì được tâu lên. Nhưng vì quân nhà vua nhọc mệt đã lâu, không tiện dừng lại. Đã sai Binh bộ Nguyễn Tử Châu ở lại, như quan công đường nhũng lạm hối lộ cùng quan quân các đạo đi lại có những tình tệ lấn cướp sách nhiễu, thì cho làm thư kín cho Binh bộ đệ lên đợi xét để trừ mối tệ cho dân khỏi khổ.”

Lấy Phó trấn Thuận Thành là Nguyễn Văn Chấn làm Chánh trấn, Khâm sai cai cơ Nguyễn Văn Điển làm Phó trấn.

Tháng chín [13/10-10/11/1795] Vương về đến Gia Định, đặt yến tiệc ủy lạo tướng sĩ, luận công ban thưởng theo thứ bậc. Nước Chân Lạp dâng 2 thớt voi đực.

Cấm thuyền buôn nước ngoài thu mua vải lụa; Vương bảo Phó tướng Tả quân tri Tàu vụ là Phạm Văn Nhân rằng :

Vải lụa là vật thổ sản của ta, rất cần thiết cho nhân dân, nên để trao đổi nhau ở trong nước mà dùng cho đủ, nếu tham lợi mà bán ra nước khác thì giá ngày một đắt, khiến rét không có áo, chẳng hóa ra lợi ít mà hại nhiều sao ? Từ nay thuyền buôn của người Thanh xuất cảng hễ chở tơ sống từ 5 cân, vải lụa từ 5 tấm trở lên đều cấm. Làm trái thì Tấn thủ (3) bắt giải trị tội.”

Tháng mười [11/11-10/12/1795] sai Phó tướng Tả quân Phạm Văn Nhân giúp chỉ bảo Đông cung; Vương bảo rằng :

Đông cung là ngôi trừ nhị (4), tuổi còn non trẻ, tuy công phu học vấn vốn nhờ giảng viện, nhưng nhiệm vụ giúp bảo  là ở đại thần. Chức vụ tướng sĩ giáp binh dinh Tả quân  khanh vẫn quản lãnh như trước, còn việc trong môn đình của Đông cung, như quan lại, liêu thuộc, thị vệ, tôi tớ, hết thảy mọi việc đều ủy cho khanh. Cốt sao giúp đỡ Thái tử, hun đúc đức tốt, chẳng những trong khi nói năng nghĩ ngợi sao cho ít lỗi, lại mong mọi việc quốc gia thảy đều biết cả, đừng để cho chỉ Y Doãn nhà Thương và Thiệu công nhà Chu riêng được tiếng tốt về trước”.

Cho Khâm sai tổng nhung cai cơ chưởng Hậu quân dinh Võ Tánh làm Khâm sai chưởng Hậu quân dinh bình Tây tham thặng đại tướng quân quận công; Khâm sai tổng nhung cai cơ hiệu úy Tả chi Trung quân dinh Võ Văn Lượng làm Khâm sai chưởng cơ. Lấy Khâm sai đô đốc chi Hiệu trung dinh Trung quân là Nguyễn Công Thái làm Hiệu úy Tiền chi; Khâm sai tổng nhung cai cơ chi Kiên uy là Nguyễn Đức Thành làm Phó trưởng chi Hậu chi; Phó vệ úy vệ Ban trực hậu quân Thần sách là Lê Công Cúc làm Vệ úy vệ Ban Trực tuyển phong tả; Khâm sai cai cơ Phạm Phước Ư làm Phó vệ úy vệ Ban trực hậu; Cai đội Hồ Văn Huệ làm Phó vệ úy vệ Phấn uy.

Lấy Binh bộ Nguyễn Tử Châu làm Hình bộ, cựu Lưu thủ Nguyễn Đức Thiện làm Binh bộ, Tham mưu Trung dinh Nguyễn Thái Nguyên làm Lễ bộ kiêm việc đốc học, Tham luận vệ Hổ uy Nguyễn Hoài Quỳnh làm Hữu tham tri Hình bộ, Khâm sai tham mưu đạo Long Xuyên Bùi Chí Thành làm Tả tham tri Hình bộ, Hàn lâm viện trưởng Lê Công Xuân làm Tả tham tri Lễ bộ, Viện trưởng Thị thư viện Hoàng Kim Cơ làm Viện trưởng Hàn lâm viện, Thị thư viện Trần Quang Tĩnh, Nguyễn Khắc Thiệu, Đinh Công Khiêm sung Hàn lâm viện. Lấy người học trò ở Quy Nhơn là Hoàng Tử Cao làm Hàn lâm viện thị học, do Lễ bộ Nguyễn Thái Nguyên tiến cử.

Thu vải trắng của dân trại đồn điền nộp thay thuế, để may áo chiến cho quân sĩ. Mỗi người nộp 1 tấm vải trắng, trị giá 2 quan 5 tiền, khấu trừ tiền thuế năm Bính Thìn [1796].

Lập danh sách những tướng sĩ bị bệnh, bị thương ở các dinh quân. Vương cho rằng liền năm chinh chiến, các tướng sĩ bị bệnh bị thương về quê quán nhiều, mà tên vẫn còn ở cuối sổ, hư thực chưa rõ ràng, sắc cho các quan cai quản đều căn cứ vào sổ binh, từ năm Giáp Dần [1794] tới nay, phàm những viên quân ngạch tinh binh kén lựa hay lạc tòng (5), người nào bị bệnh bị thương, cùng với những người bị bệnh thải năm trước cho về quê quán, thì làm một sổ riêng, hạn đến thượng tuần tháng sau đều đến đợi tuyển để chia suất, nếu có người tư tình hối lộ tha cho không đến tuyển, việc phát giác thì xử theo quân pháp.

Làm duyệt tuyển; bốn dinh hai đạo ở Gia Định thì tuyển kỳ vào tháng 2 sang năm; Bình Khang, Bình Thuận thì vào tháng 12 năm nay. Làm sổ tuyển bìa xanh gồm ba bản Giáp, Ât, Bính, tới kỳ nộp cho quan tuyển trường.

Sai Bảo hộ quản Hậu thủy dinh là Nguyễn Văn Nhàn vâng mệnh sang sứ Xiêm báo tin thắng trận. Tặng Phật vương 2 cành hoa vàng hoa bạc, 10 lạng kỳ nam, sáp ong, đường cát đều 500 cân ; tặng vua thứ hai 2 cành hoa vàng hoa bạc, sáp ong, đường cát đều 500 cân.

Bọn Cai cơ thuộc dinh Tiền quân là Nguyễn Văn Triệu, Ngô Văn Bình, Nguyễn Văn Đại có tội bị giết. Trước kia khi đại binh xuất chinh, bọn Triệu giả bệnh không theo, lại họp đảng đi ăn cướp, bị các dinh Trấn Định và Vĩnh Trấn bắt được giải nộp; ra lệnh chém bêu đầu cho dân chúng biết.

Sai Giám thành sứ là Tô Văn Đoài kiêm quản các đội Hùng Diệm và An Công trông nom các việc nấu luyện và thu phát thuốc súng, diêm tiêu, lưu hoàng, hỏa khí; lại sai trông nom các đội nậu đồn điền chăn nuôi trâu dê bò để cung cấp cho việc tế tự yến tiệc.

Sai Cai cơ phó chi Kiến vũ là Tôn Thọ Vinh quản đạo Phố Hài [thị xã Phan Thiết, Bình Thuận], kiêm hai đạo Phan Thiết và Vị Nê [Mũi Né, thị xã Phan Thiết, Bình Thuận]. Sai Binh bộ Nguyễn Đức Thiện quản việc thuế thủy lợi.

Chuẩn định rằng từ nay thuyền buôn đi các xứ Nam Vang, Long Xuyên, Kiên Giang [Rạch Giá], Hà Tiên, Chân Bôn để buôn bán thì do Lại bộ Nguyễn Bảo Trí phê và đóng dấu triện Thông hành thủ tín [Thông hành giữ làm tin] để phòng sự giả mạo, quan địa phương không được cho riêng.

Tháng mười một [11/12/1795-9/1/1796], định rõ điều lệ nấu rượu. Phàm lò nấu rượu không cứ số lò bao nhiêu, mỗi lò mỗi năm nộp 200 quan tiền thuế. Võ từ Cai đội, Đội trưởng, văn từ Câu kê, Cai hợp, cho đến quân dân đều được lĩnh nấu, nộp tiền thuế trước rồi mới được phê bằng đóng dấu triện Dữ dân đồng lợi [Cùng hưởng lợi với dân]. Có người nào nấu trộm nấu lạm thì cho người lãnh nấu được bắt giải ; quan thu lấy đồ nấu rượu ấy để thưởng cho người bắt ; lại cứ số lò nấu trộm lạm ấy mà thu thuế, một nửa sung công, một nửa thưởng cho người bắt ; lại đánh người phạm tội 100 roi.

Sai Chưởng cơ Thuận Thành Nguyễn Văn Hào và Chánh trấn Nguyễn Văn Chấn, cứ theo ngạch cũ mà lập cơ An tượng, bắt voi hiến nộp.

Dựng kho tạm ở bảo Mỹ Tho dinh Trấn Định, sai dinh thần lấy 15.000 phương [1 phương khoảng 30 lít] thóc thuế và 1.600 phương muối ở bảo Trấn Di [huyện Long Phú, Sóc Trăng] mà chứa vào.

Sai Chưởng Tiền quân dinh là Tôn Thất Hội làm duyệt tuyển ở hai phủ Bình Khang, Diên Khánh, quản Tiên phong dinh Nguyễn Văn Thành, Chưởng cơ Võ Văn Lượng, Hộ bộ Nguyễn Kỳ Kế làm duyệt tuyển ở phủ Bình Thuận. Tuyển xong lại kén những người tinh nhanh khỏe mạnh làm hương binh, biến thành đội ngũ. ở hai phủ Bình Khang và Diên Khánh thì đặt 36 đội; phủ Bình Thuận thì đặt 43 đội. Mỗi đội đặt 1 cai đội, 1 đội trưởng, lấy người thổ dân cho làm; binh lính thì đều miễn dao dịch.

Tháng chạp [10/1-8/2/1796] sai dinh Bình Thuận thu trước số tiền thuế sai dư năm Bính Thìn [1796] cùng số tiền thuế năm nay, chở đến chứa ở Diên Khánh.

Cho vua nước Chân Lạp là Nặc Chăn thuyền rồng và đồ ngựa, sai Chưởng cơ Hồ Văn Lân và Tham tri Hộ bộ Nguyễn Văn Mỹ đem chỉ dụ đến cấp cho.

Lấy Quốc tử giám thị học Hoàng Ngọc Uẩn, Hoàng Công Xuân, Nguyễn Công Hạc, Nguyễn Thừa Gia, Trần Văn Đàn, Nguyễn Chính Thị, Nguyễn Văn Yên làm Hàn lâm viện thị học.

Khi Vương thắng trận khải hoàn, định tháng 3 năm sau [8/4-6/5/1796] mở khoa thi Hội gồm ba kỳ, đều theo đúng điển lệ  triều trước. Đến đây, Lễ bộ Nguyễn Thái Nguyên, Lại bộ Nguyễn Bảo Trí, Hình bộ Nguyễn Tử Châu, Binh bộ Nguyễn Đức Thiện kiến nghị rằng điển lệ thi Hội khoa này có hơi khác với khoa Tân hợi [1791], e học trò có điều chưa rõ, không khỏi ngơ ngác; xin nghĩ định phép thi : Kỳ đệ nhất 2 bài kinh nghĩa, truyện nghĩa, 2 bài thơ vịnh sử, vịnh cảnh ; kỳ đệ nhị văn sử và văn tả cảnh mỗi thứ đều 3 bài ; kỳ đệ tam thơ và phú, vịnh sử, vịnh cảnh đều một bài. Người đỗ chia làm ba hạng Giáp, Ất, Bính, lượng bổ quan chức và cho được miễn binh dịch dao dịch theo thứ bực. Kiến nghị dâng lên, được Vương nghe theo.

Vương nghe dân trại đồn điền trốn nhiều, sắc cho Hộ bộ báo cho Cai trại các trại phải mộ thêm mà bổ sung, mỗi trại lấy 15 người làm hạn; nếu trong một tháng mà không đủ thì cai trại phải sung làm lính.

 

Chú thích:

1.Phong ấn: tức cuối năm gói ấn lại. Tại Trung Quốc từ thời Minh, vào chiều 30 tết gói ấn lại không dùng, đến ngày mồng 3 tháng giêng mở ấn lại dùng cho năm mới.

  1. Huyện Chiếu An: thuộc phía nam tỉnh Phúc Kiến, giáp tỉnh Quảng Ðông.

3.Tấn thủ: Quan giữ đồn tấn tại cửa biển.

4.Trừ nhị: ngôi vị chuẩn bị làm Vua.

5.Lạc tòng: quân tình nguyện theo.

 

 

 

Bình luận về bài viết này