
Hồ Bạch Thảo
Vào cuối năm Càn Long thứ 59 [1/1795], bấy giờ viên Tri đạo Thành Lâm đã được thăng chức Tuần phủ Quảng Tây; y được lệnh Vua nhà Thanh mang sắc thư và áo mãng bào đến trấn Nam Quan ban cho Quốc vương Nguyễn Quang Toản. Viên Quốc vương hay tin trước, bèn gửi tờ trình cáo lỗi vì bệnh đậu không đích thân đến quan ải nhận lãnh đươc, sai các Bồi thần Nguyễn Văn Dụng, Ngô Thì Nhậm thay mặt cảm tạ:
“Ngày 24 tháng 12 năm Càn Long thứ 59 [14/1/1795]. Lại dụ Quân cơ đại thần:
Thành Lâm tâu rằng cung kính mang sắc thư và những vật kiện như áo mãng bào, đến trấn Nam Quan ban thưởng cho Nguyễn Quang Toản. Trên đường qua phủ Thái Bình [Quảng Tây], nhận được thư trình của Nguyễn Quang Toản rằng:
‘Tiếp nhận thư báo tin, biết được Thiên tử sủng hạnh, thực đáng đích thân đến quan ải nhận lãnh. Nhưng chẳng may bị bệnh thủy đậu, kỵ ra ngoài trời gió, nên không thể đích thân đến được. Bèn kính cẩn sai Bồi thần Nguyễn Văn Dụng, Ngô Thì Nhậm đến quan ải để thay mặt cảm tạ ơn Thiên tử, cung kính lãnh những đồ ngự thưởng (1).’
Nguyễn Quang Toản nhân bị bệnh thủy đậu, không thể đến quan ải lãnh thưởng; đặc cách ra lệnh bọn Bồi thần Nguyễn Văn Dụng đến lãnh thế. Qua sự tuyên thị rõ ràng của Thành Lâm, cùng gửi thư thông báo, giao bọn y mang trở về nước. Sự liệu biện rất tốt, nay truyền dụ cho Diêu Phần, Thành Lâm một lần nữa báo tin cho Nguyễn Quang Toản rằng:
“Cha ngươi Nguyễn Quang Bình thần phục Thiên triều, kính cẩn giữ chức Phiên phong, được đại Hoàng đế ban ân quyến, hết sức ưu ái. Ngươi tuổi nhỏ được thế tập chức, kế thừa nghiệp nhà, đại Hoàng đế đã khen thưởng nhiều, nay lại chọn ban ân thưởng. Nay ngươi bị bệnh thủy đậu không thể đích thân đến quan ải, đặc cách sai Nguyễn Văn Dụng đến kính cẩn nhận lãnh, cung thuận nhiều, nên đã được Bản bộ viện tâu lên. Ðại Hoàng đế cho rằng ngươi tuổi nhỏ bị đau, nên lưu tâm. Quốc vương, ngươi, nên lưu ý điều trị, để thuyên giảm mau, được hưởng ân sủng lâu dài của Thiên tử. Khi bệnh thủy đậu của người bớt, hãy phúc trình ngay. Bản bộ viện thay mặt tâu lên, để Hoàng đế được an ủi.’
Hãy dụ cho viên Quốc vương như vậy, thì y càng thêm cảm ơn và cung thuận.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1467, trang 11-12)
Tổng đốc Lưỡng Quảng Trường Lân tâu rằng thương nhân Quảng Đông gặp nạn trên biển, được An Nam cứu giúp, đưa đến quan ải. Vua Càn Long sai viên Tổng đốc soạn thư kèm theo quà thưởng gửi cho Quốc vương An Nam:
“Ngày 9 tháng 4 năm Càn Long thứ thứ 60 [26/5/1795]. Lại dụ, Trường Lân tâu: ‘Bọn thương nhân Quảng Ðông Trần Dụ Lai ra biển gặp gió, phiêu dạt đến An Nam. Ðược viên Quốc vương lo liệu, đưa đến quan ải tại Lạng Sơn.’ Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Toản từ khi được thế tập phong tước đến nay, hết sức cung thuận. Nay nhân thương nhân nội địa gặp phong ba bị nạn, bèn thông sức lo liệu đưa đến quan ải, chứng tỏ càng kính cẩn thận trọng, thực đáng khen. Nay thưởng cấp 4 tấm gấm đoạn, để biểu thị đặc biệt ân quyến; thư thông báo của viên Tổng đốc soạn ra, lệnh Quân cơ đại thần sửa chữa lại rồi cho gửi đi để Quốc vương kính cẩn nhận lãnh. Ðem dụ này truyền đi để hay biết.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1476, trang 9)
Tại miền Nam, vào tháng giêng năm Ất Mão [19/2-20/3/1795] Nguyễn Vương Phúc Ánh ban ấn thông hành cho nước Chân Lạp, trên khắc bốn chữ triện Ngự tứ thông hành. Do ấn của Chân Lạp chạm khắc hình người, thật hay giả khó phân biệt, sợ kẻ buôn làm giả mạo nên dùng ấn này. Những thuyền sai của nước Chân Lạp chở muối gạo từ Ba Xắc [Sóc Trăng] tới Nam Vang, hoặc thuyền nước ngoài đi qua các đạo Trấn Di [huyện Long Phú, Sóc Trăng] và Châu Đốc [An Giang], khám thực ấn này mới cho đi.
Lấy Hữu tham tri Lại bộ là Đặng Trần Thường làm Khâm sai tán ký binh vụ, đến Bà Rịa, theo chưởng Tiền quân Tôn Thất Hội để trù hoạch mưu lược trong quân. Vương dụ Tôn Thất Hội rằng :
“Ta nghe quân giặc vào cướp Phan Rí chẳng qua chỉ hai nghìn, khí thế xem cũng hơi chùn. Khanh nên đem trước hơn nghìn quân chở súng đạn đến Phố Hài [thị xã Phan Thiết, Bình Thuận] và Phan Thiết, hiệp cùng các đạo tiên phong đóng giữ địa đầu, chớ để quân giặc vào sâu. Đợi có lệnh tức thì đem quân thẳng tiến để thu phục Bình Thuận. Ta đương sửa soạn ghe thuyền, cũng định ngày thuận gió thì đi”.
Bấy giờ Tư lệ Tây Sơn là Lê Trung chiếm Phố Hài; quân nhà Nguyễn đánh thua, phải lui về Bà Rịa; Vương nghe tin, tức giận nói:
“Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Văn Thành vâng mệnh đánh giặc, rút rát phải lui, chẳng được công gì, không biết chống giặc giữ biên, lại để cho vua phải lo giặc cướp, tội nói sao xiết !”.
Lập tức sai Giám thành sứ Tô Văn Đoài đem hai đội Nội hầu, Nội trực bắt Huỳnh Đức và Văn Thành về Gia Định; lấy hết quân giao cho Tôn Thất Hội thống quản.
Cai đội quản Xiêm binh là Nguyễn Văn Tồn (2) xin lập đội quân người Chân Lạp thuộc phủ Trà Vinh làm một chi 5 hiệu, xứ Mân Thít [Vĩnh Long] làm đạo Tiền du; đặt các chức Chánh phó trưởng chi, Trưởng hiệu, Cai đội, Đội trưởng để cai quản; Vương y cho. Bèn lấy Ốc Nha Diệp và Ốc Nha Oa, làm chánh phó trưởng chi quản các hiệu đội 1.500 người, theo Nguyễn Văn Tồn đến Bà Rịa để theo việc quân.
Sai quản Tiểu sai đội tri Tượng chính là Trương Phước Luật kiêm quản ba vệ, dùng binh thuyền tiến trước ra Bình Thuận. Hiệu úy Tiền chi Trung quân là Nguyễn Văn Đắc kiêm quản năm vệ theo lệnh điều bát. Vương sai mật dụ Võ Tánh rằng :
“Năm ngoái ta đem quân trở về Diên Khánh, sửa đồn lũy, chứa lương thực, khanh đã liệu trước mùa gió bấc đến thì giặc hẳn trở lại, tự xin một mình chống giữ mặt ấy, cho nên ta đem thành ấy phó thác cho khanh. Rồi việc quả nhiên như thế. Nay quân thủy quân bộ đã định ngày tiến phát, khanh nên khuyến khích tướng sĩ một lòng dốc sức, chờ khi thủy sư tiến đến Cù Huân thì sẽ úp đánh, một trận có thể thành công”.
Năm ngoái có ý định vào tháng 2 năm nay duyệt tuyển, tháng 3 mở khoa thi tại 4 dinh, nhưng vì việc quân nên cho tạm hoãn,
Tháng hai [21/3-18/4/1795] Sai Vệ úy vệ Ban trực tuyển phong hậu quân Thần sách là Ôlivi [Olivier de Puymanel, ông Tín] sang Hồng Mao [Âu Tây] mua binh khí.
Vương thân đem thủy quân cứu viện Diên Khánh, để Đông cung Cảnh ở lại trấn Gia Định. Lấy Phó tướng Tả quân Phạm Văn Nhân, Giám thành sứ Tô Văn Đoài, Lễ bộ Nguyễn Đô, Tham mưu Nguyễn Thái Nguyên, Hộ bộ Phan Thiên Phước, Hình bộ Nguyễn Văn Nghị giúp Đông cung.
Sai Chưởng cơ Nguyễn Văn Trương quản dinh Trung thủy, kiêm quản hai dinh Tiền thủy và Hậu thủy, theo Trung quân điều bát đánh giặc. Thuyền Vương đậu ở Vũng Tàu, chờ thuận gió thì đi.
Tôn Thất Hội điều bát bộ binh các đạo tiến đến Phan Thiết; được tin Tư lệ Lê Trung còn giữ Phan Rí [bắc Bình Thuận], bèn đóng đồn ở Xuy Mít để phòng bị.
Trương Phước Luật điều bát thủy binh các vệ tiến đóng ở Ỷ Na [Ninh Thuận], đánh kho Phan Rang, cướp được mấy nghìn phương gạo. Chợt binh thuyền của địch từ Vũng Diên [Khánh Hòa] đến, Quản vệ Tuyển phong tiền Tống Viết Phước đánh phá được, chém Đô đốc Nguyễn Văn Sĩ, đánh đắm một chiếc thuyền, bắt được 7 chiếc, còn thì lui chạy cả. Tin thắng trận báo lên; Vương dụ rằng :
“Đạo dùng binh quý ở vạn toàn, trận thắng nhỏ ấy chưa đủ mừng. Vả nghe số chiến thuyền của giặc khá nhiều, mà đại binh ta thì còn bị gió cản, chưa thể vượt biển được, nếu giặc đem hết quân đến thì có thể thua, chưa chắc gì. Vậy tạm trở về Vị Nê [Mũi Né, thị xã Phan Thiết, Bình Thuận], giả cách sợ lùi để cho chí giặc sinh kiêu. Đợi đại binh thuận gió thẳng tiến, bây giờ cùng ra sức đánh, chưa muộn vậy”. Rồi Viết Phước được trao chức Chưởng cơ.
Vua nước Chà Và [Java] sai Chế Phú đưa trả những quân bị nạn tại biển; Vương khen lòng mộ nghĩa, tặng cho lọng, cáng cùng một chiếc chiến thuyền; lại cấp nhiều lương thực cho Chế Phú rồi bảo về.
Tháng ba [19/4-18/5/1795] triệu Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Văn Thành đến hành tại, tha tội cho, lại sai lãnh quân dưới quyền; Huỳnh Đức theo Tôn Thất Hội điều khiển. Văn Thành thì theo ngự giá đi đánh giặc; Vương nghĩ hai người có công, không nỡ vì lỗi nhỏ mà bỏ.
Thuyền Vương ra cửa biển Cần Giờ, sai Vệ úy vệ Ban trực hậu Tôn Thất Chương quản 40 binh thuyền theo Trương Phước Luật làm tiền đạo. Khi đến Cam Ranh thì thủy binh địch đã trốn từ trước.
Thuyền Vương tiến đến cửa biển Cù Huân [Nha Trang, Khánh Hòa]; phía Tây Sơn Tổng quản Trần Quang Diệu cùng Nội hầu Lê Văn Lợi, Tiết độ Nguyễn Văn Giáp, Đổng lý Nguyễn Văn Thận, Điểm kiểm Trấn Viết Kết còn vây thành Diên Khánh, chưa chịu lui binh.
Vương bèn sai Tiên phong dinh Nguyễn Văn Thành và Vệ úy Lê Văn Duyệt lên bờ đóng đồn giữ, bắn liền đại bác để cho trong thành biết. Đại binh thẳng tiến đến Chử Châu [thuộc tỉnh Phú Yên], xem khắp hình thế. Sai Tả chi Võ Văn Lượng đóng đồn ở đèo Gian Nan [ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa], chặn đường quân địch về, Đốc chiến Mai Tiến Vạn và Cai cơ Nguyễn Văn Nguyện giữ Thạch Thành [huyện Tuy Hòa, Phú Yên], chặn đường núi. Lại từ núi Cổ Ngựa [phía nam đèo Cả] đến đèo Cả [ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa] chia đặt đồn trại, ủy cho Trương Phước Luật quản binh thuyền các vệ ở lại Chử Châu để giữ, rồi kéo quân về.
Hành quân qua vụng Hòn Khói [vịnh Văn Phong, Khánh Hòa], Nguyễn Văn Đắc đem ba vệ đánh bảo Lạp Trường, quân địch vỡ chạy, chém Đô đốc Gia, Binh bộ Tiến tại trận, thu được khí giới, đốt cả kho vựa, Tây Sơn do đó không dám giữ Bình Khang nữa;Văn Đắc được trao chức Chưởng cơ.
Thuyền Vương trở về đóng ở Cù Huân [Nha Trang, Khánh Hòa]. Trần Quang Diệu đặt nhiều đồn trại ở Khố Sơn [phía nam tỉnh thành Nha Trang];Vương bèn sai các tướng đóng đồn ở núi Ngư Cốt [Xương Cá] cho đến Trà Phụ [Gò Chè], đối lũy với địch. Răn bảo các quân đi kiếm củi không đi quá núi; nếu cấp chỉ huy không nghiêm cấm, để giặc bắt được một người trở lên thì quản quan bị xử theo quân pháp.
Bọn Nguyễn Văn Đắc đánh bảo Lò Rèn [Dã Lô] chưa hạ được; Lê Văn Duyệt mật bảo Nguyễn Đức Xuyên rằng :
“Bảo này nhỏ nhưng mà vững, đánh rất khó. Nay nếu lấy hai vệ quân của ta, một vệ đánh sau bảo khiến cho giặc phải chống giữ, một vệ đào trước bảo cho lũy đổ, lũy đổ thì ta thúc trống reo hò mà tiến, thế nào cũng phá được”.
Xuyên nói :
“Việc binh nguy lắm, vả chưa có mệnh thì làm thế nào ?”
Duyệt nói :
“Đã có mệnh rồi, nếu có tội Duyệt xin chịu cả”.
Duyệt bèn đem quân sang sông, đánh gấp sau bảo; địch quả nhiên đem hết quân ra chống. Xuyên tức thì đem vệ Hùng Võ tới gấp trước bảo để đào lũy, một lát lũy đổ, liền thúc quân vào; Tây Sơn vỡ chạy, bị bắt rất nhiều.
Tư lệ Tây Sơn là Lê Trung từ Phan Rí [bắc Bình Thuận] đem quân xâm phạm bảo Xuy Mít; Tôn Thất Hội đánh thắng, quân địch bỏ chạy. Việc báo lên; Vương sai Khâm sai đô đốc chi Hiệu trung Nguyễn Công Thái, Hiệu úy Hữu chi Nguyễn Văn Nhân đem binh thuyền đóng ở Ba Ngòi [Cam Ranh] để cắt đứt đường về của địch.
Tháng tư [19/5-16/6/1795], bọn Đô đốc Tây Sơn Nguyên giữ sông Đà Diễn [sông Đà Rằng, thị xã Tuy Hòa, Phú Yên]; bấy giờ Võ Văn Sở là người thượng đạo Phú Yên tụ họp quân dân người thiểu số, đi theo Võ Văn Lượng và Mai Tiến Vạn đánh phá. Khiến quân địch tán loạn, vứt bỏ khí giới lương thực mà chạy, bọn Nguyên phải lùi giữ chợ Hội An [Phú Yên]. Vương khen ngợi, cho Sở làm Khâm sai cai cơ, ban cho một cây súng cò đá lửa của Tây Dương, một thanh gươm đầu hổ, một tấm nhiễu đỏ, một chiếc áo chiến bằng trừu bách hoa và 100 quan tiền.
Vương thấy quân đi đánh lâu ngày, phí tổn rất nhiều; sắc cho Đông cung và các quan lưu trấn theo sổ đinh, điền bốn dinh mà thu số gạo thị nạp, chở đến quân thứ.
Tư lệ Lê Trung chống giữ với quân nhà Nguyễn đã lâu, lương thực thiếu hụt, mưu muốn lui giữ Phan Rang, sai người chạy thư cho Trần Quang Diệu, quân đi tuần ở Ba Ngòi [Cam Ranh] bắt được đem dâng.
Vương liền sai Nguyễn Văn Đắc đem binh thuyền ba vệ Ban trực hậu, Long Võ, Túc Võ đến họp với Nguyễn Công Thái, ngầm qua sông sang Phan Rang chiếm địa thế tốt để đặt đồn ngăn chặn. Bọn Đắc đến nơi, đánh cướp kho lương của địch ở Mai Nương [huyện Ninh Phước, Ninh Thuận], rồi đem tình trạng báo lên. Vương dụ rằng :
“Nơi ấy xa nước không nên đóng quân, nếu giặc nhòm biết thấy quân ta ít đổ đến vây đánh thì lấy gì ứng phó ? Nên chọn ngay nơi gần nước để đóng giữ, rồi mật báo cho Tôn Thất Hội tiến đánh đằng trước giặc, mà các khanh thì đánh úp ở sau, thế mới giữ được toàn thắng”.
Dụ chưa tới, thì quả nhiên Tây Sơn đem quân và voi đến, quân nhà Nguyễn lùi, bị phục binh đánh thua, phải rút về Ba Ngòi đóng giữ.
Sai Trương Phước Luật đem binh thuyền các vệ đánh Phú Yên, Võ Văn Lượng thay giữ Chử Châu [thuộc tỉnh Phú Yên] để làm sách ứng. Lượng dâng biểu xin đem thủy binh lấy Quy Nhơn trước, Vương dụ rằng :
“Quân nên tụ tập, không nên phân tán. Phú Yên còn có quân giặc đóng, nên đánh úp trước để cắt bớt vây cánh của giặc đi. Khi đã được, lại trở về họp ở một chỗ để cùng tiễu trừ giặc Diệu. Diệu mà thua thì xa gần nghe tin đều sợ, chẳng những đánh lấy Quy Nhơn, mà đô cũ cũng định ngày thu phục được, cần chi phải bỏ gần mà mưu xa”.
Rồi Phước Luật gặp thuyền đi tuần của địch, đuổi bắt được một chiếc dẫn về; lại hạ lệnh đóng giữ như cũ.
Tôn Thất Hội đóng quân ở sông Lũy [phía trên sông Phan Rí, Bình Thuận], đánh nhau với Tư lệ Lê Trung phá được, giết quân và voi của giặc, thây chết đầy đồng. Trung đem hết quân đóng giữ sông Cạn [Hạc Giang], Phan Rí không có phòng bị nên Hội bèn dâng biểu xin thêm quân đánh. Vương dụ rằng :
“Việc khanh tâu xin cũng là nên để thắng giặc. Nhưng nay gió nam đương mạnh, Vụng Diên [Khánh Hòa] khó đi, chờ thuận gió thì chưa biết ngày nào, mà tướng sĩ Hậu quân thì ở trong thành chịu khổ đã lâu. Chính ta sắp triệu bọn Nguyễn Văn Đắc họp quân bốn mặt xông đánh để giải vây cho Diên Khánh. Khanh tạm hãy chống giữ, đánh vỡ được Diệu thì Trung cũng tự tan vỡ thôi”.
Rồi sai Thượng đạo tướng quân Nguyễn Long quản suất bọn Mai Tiến Vạn, Nguyễn Văn Nguyện, Nguyễn Văn Quế, Trần Văn Luật, theo đường vắng thẳng xuống Lộ Khê và Thanh Tuyền để làm thế dựa cho Diên Khánh. Vương bảo rằng :
“Binh pháp lấy phép chính mà họp, lấy phép kỳ mà thắng. Bọn khanh đến đây nên khi ra khi vào, đêm thì đốt lửa thúc trống, ngày thì cờ xí cho nhiều, giả làm như sắp sửa tiến công, giặc đến thì giữ chỗ hiểm mà đặt quân phục, giặc đi thì ta đuổi đánh, khiến cho nó mệt mỏi, thì ta cũng dễ thành công”.
Tháng năm [17/6-15/7/1795] Võ Tánh thân đem tướng sĩ đang đêm mở cửa thành Diên Khánh, đánh Nội hầu Tây Sơn Lê Văn Lợi, đốt trại từ núi Sĩ Lâm đến cầu Hoa Bông tất cả bốn nơi. Quân địch vỡ chạy, chết và bị thương vô số, súng đạn và khí giới đều bị quân nhà Nguyễn bắt được, Tánh bèn chia quân đóng các nơi, đặt đồn để giữ.
Bấy giờ tin tức về nội bộ Tây Sơn chia rẽ loan truyền đến nơi. Tư khấu Võ Văn Dũng sau khi giết Thái sư Bùi Đắc Tuyên, bèn sai Nguyễn Văn Huấn dẫn quân vào thành Quy Nhơn, giả danh tiếp viện, nhưng lập mưu để cướp binh quyền của Lê Trung và Trần Quang Diệu. Nguyễn Vương nghe tin bảo các tướng rằng :
“Đảng giặc giết lẫn nhau, cơ hội có thể thừa thắng được; đó cũng là điều may cho ta vậy”.
Lấy Tôn Thất Nông làm Khâm sai cai đội; Nông từ Thuận Hóa đến bái kiến ở hành tại, Vương khen là có chí, nên có lệnh này.
Đại binh từ núi Lão Lãnh qua sông, đánh được đồn Tây Sơn ở bờ sông dưới núi Thị Nghi. Tổng quản Trần Quang Diệu cho nơi này là chỗ trọng yếu, đem hết binh voi đến tranh chiếm, quân Nguyễn đánh hai trận đều thắng. Từ đó quân Tây Sơn đem nhau ra hàng, mỗi ngày hàng trăm người; thế Diệu mỗi ngày một nguy, mật báo cho Lê Trung tìm mưu chạy thoát. Vương biết thế, bảo Tôn Thất Hội rằng trong lúc Trung lui thì thúc quân đuổi đánh, khiến không cho chúng thông với nhau. Lại sai Trương Phước Luật và Võ Văn Lượng phòng bị nghiêm nhặt ở các xứ Đèo Cả [huyện Tuy Hòa, Phú Yên] và đèo Gian Nan [ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa] để cắt đứt đường quân địch ra vào.
Tôn Thất Hội đóng quân ở Lương Giang. Tư lệ giặc Lê Trung đem binh và voi đánh hăng liền mấy ngày, đều bị Hội đánh bại, nhân đêm bỏ trốn, Hội đuổi đến bảo Mai Nương [huyện Ninh Phước, Ninh Thuận]; Trung lùi giữ Du Lâm [ huyện Cam Ranh, Khánh Hòa].
Tháng sáu [16/7-14/8/1795] đại binh đánh lũy đất của Tây Sơn từ Đào Lô [Lò Gốm] đến chân núi Thị Nghi, phía Tây Sơn thua, thu được súng đạn khí giới rất nhiều.
Hộ giá giặc Nguyễn Văn Huấn đem quân thủy bộ vào Đa Diễn [sông Đà Rằng, thị xã Tuy Hòa, Phú Yên]. Vương sai Trương Phước Luật đóng tại Chử Châu [thuộc tỉnh Phú Yên] chia phái quân vệ Dương Võ theo Võ Văn Lượng giữ đèo Gian Nan [ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa], quân vệ Thần Võ theo Tống Viết Phước giữ đèo Cả [ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa]. Lại sai Võ Di Nguy đem 10 chiếc thuyền biển tiến đỗ ở Sầm Dữ [Hòn Gầm] hiệp với Trương Phước Luật tùy cơ đánh giữ,
Có thám tử tự trong thành Diên Khánh lẩn đến hành tại nói rằng Võ Tánh bị ốm nhẹ, tướng sĩ cũng nhiều người ốm. Vương lấy làm lo, tức thì lấy thuốc thang mật gửi cho Tánh và dụ rằng:
“Trong 8 tháng nay khanh cùng tướng sĩ giữ cô thành vất vả lắm vậy. Ta cũng muốn gấp giải vây để cho tướng sĩ được nghỉ ngơi. Duy quân giặc cùng đường, liều chết cố đánh, cho nên ta dùng trí để thắng, nhân lúc nguy của nó mà đánh chỗ yếu của nó. Không bao lâu nó tất tự vỡ thôi. Nay chợt nghe thám tử nói, lòng ta thương xót. Khanh nên khéo tự điều trị cho sớm lành để cùng ta trả thù cho tổ tông Xã Tắc, cho thần dân hả giận, chứ lại chỉ khư khư giữ lấy một cái thành nhỏ hay sao ? Ta nghĩ một mình khanh còn hơn trăm thành Diên Khánh; chỉ trong tuần nhật ta phải đánh tan giặc ấy để cùng khanh gặp mặt”.
Lại dụ Tôn Thất Hội rằng :
“Bầy tôi quan hệ của Xã Tắc, duy có khanh với Tánh ! Nay Diên Khánh bị vây đã lâu, mà Tánh lại ốm, nếu muôn một thế nào thì vua tôi ta chẳng thẹn với tướng sĩ lắm sao ? Nên gấp tiến binh, trước sau giáp đánh, để giải ngay nguy khổ cho tướng sĩ trong thành”.
Sai Vệ úy vệ Hùng uy Nguyễn Đình Đắc kiêm quản viên quân các chi vệ Tiền chi, Ban trực tiền, Tuyển phong tả, Hổ oai, Kiên oai đi ra dinh Bình Khang xem xét địa thế để đóng đồn.
Lại sai Chưởng cơ Tiền chi Trung quân là Nguyễn Văn Tứ, Phó Tiền chi Hậu thủy là Lê Văn Quế, Tham tri Binh bộ là Trần Phước Tri, Cựu ký lục Đăng Hữu Đào đi ra xứ Phần Tân dinh Bình Khang, chia đi vét mua thóc gạo trong dân và thu chứa mắm muối ở đạo thủ Hòn Khói [vịnh Văn Phong, Khánh Hòa] để làm kế thanh dã (3), đợi sau khi giặc yên thì sẽ trả lại.
Quân của Tôn Thất Hội đến Du Lâm [huyện Cam Ranh, Khánh Hòa], đánh thắng Tư lệ Lê Trung, rồi thừa thắng lại đánh tan quân địch ở Bồng Bong, Trung chạy về Diên Khánh để họp quân với Trần Quang Diệu. Vương giục Hội tiến mau đến Lạp Quán, định kỳ hội đánh vào thành Diên Khánh.
Quân Tây Sơn xâm phạm đèo Gian Nan [ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa], Võ Văn Lượng đốc quân giao chiến mấy lần, giết và đẩy lùi, nhưng địch còn đóng đối lũy. Lượng xin thêm quân. Vương liền phái thêm quân vệ Kiên uy Hữu chi đến ứng viện.
Chú thích:
1.Ngự thưởng: Vua ban thưởng.
2.Nguyễn Văn Tồn: Gốc người Chân Lạp, phò Gia Long thuở nhỏ, không có họ; được ban họ Nguyễn.
3.Thanh dã: tức chủ trương vườn không nhà trống; khiến không còn gì để lại cho quân địch vơ vét.