
Trần Quang Nghĩa dịch
9 Món Quà của Brian Hodgson

‘Đền thờ Ashoka – được gọi là Chillundeo – ở trung tâm Patun’. Ngôi đền trung tâm gồm năm ngôi tháp được cho là do Hoàng đế Ashoka xây dựng trong và xung quanh thị trấn Patan ở Thung lũng Kathmandu. Một bức tranh màu nước của Tiến sĩ Henry Oldfield, bác sĩ quân y tại Bệnh viện Anh tại Kathmandu, từ năm 1850 đến năm 1863. (AРАС, Thư viện Anh)
Một trong những địa điểm tốt nhất ở phía Đông dãy Himalaya để ngắm tuyết Kanchenjunga là từ Đồi Quan sát phía trên thị trấn Darjeeling. Khi chính quyền Anh ở Calcutta quyết định chọn Darjeeling làm nơi nghỉ dưỡng lý tưởng tránh nóng mùa hè, họ đã chọn sườn đồi Jalapahar của Đồi Quan Sát, được gọi là ‘Đồi Cháy’ vì hoa đỗ quyên nở đỏ rực vào mùa xuân. Những ngôi nhà tranh theo phong cách châu Âu đầu tiên được xây dựng tại đây, trong số đó có một ngôi nhà và khuôn viên đã được sử dụng làm trường công lập lâu đời nhất Ấn Độ, trường St. Paul, trong gần một thế kỷ rưỡi.
Trường chuyển đến đây từ Calcutta vào năm 1864 sau khi mua lại khoảng bảy mươi lăm mẫu Anh đất từ chủ sở hữu, ngôi nhà của ông này sau đó trở thành nhà của hiệu trưởng trường. Ngày nay, được gọi là “Nhà xứ”, đây có thể là tòa nhà cổ nhất còn sót lại ở Darjeeling. Ban đầu, nó được đặt tên là “Brianstone” và cho đến năm 1858 là nhà của Brian Houghton Hodgson.
Trong số ba nhà Ấn Độ học tiên phong người Anh sinh vào đầu thế kỷ là James Prinsep, George Turnour và Brian Hodgson, người sống thọ nhất là người có sức khỏe hình như rất bấp bênh. Houghton sống đến 94 tuổi, được mô tả vào cuối những năm 60 là ‘một người đàn ông quý tộc cao gầy, với vẻ ngoài lịch lãm ngay cả ở bộ ria mép, một thợ săn cừ khôi và do đó là người dậy sớm’ nhưng cũng là một con người buồn bã, với nỗi bất bình mạnh mẽ về cách thức tác phẩm của mình bị ‘đạo văn và bị phớt lờ’.
Sau cuộc phiêu lưu thảm khốc của Anh vào Afghanistan dưới hình thức Chiến tranh Afghanistan lần thứ nhất (1838-1841), Lord Auckland tầm thường đã bị Lord Ellenborough thay thế khỏi vị trí Toàn quyền Ấn Độ. Biết rõ Auckland đã để cho những chính trị gia cứng đầu chi phối phán đoán của mình, Ellenborough quyết tâm khuất phục họ. Vì mục đích này, ông ra lệnh cho Brian Houghton Hodgson, lúc đó vẫn là Đại sứ Anh tại Kathmandu, ngừng can thiệp vào công việc nội bộ của Nepal. Sau hơn hai thập kỷ cư trú tại Nepal, Hodgson có đủ lý do để tự coi mình là một người có ảnh hưởng lớn đến triều đình Nepal. Ông đã nhiều lần can thiệp hoặc âm mưu phá hoại một phe phái hiếu chiến ở Nepal đang âm mưu khơi mào cuộc chiến tranh thứ hai chống lại Công ty Đông Ấn. Giờ đây, ông đã thực hiện điều mà người viết tiểu sử của ông, Sir William Hunter, mô tả là “một sự phản kháng có phần cường điệu không cần thiết chống lại một sự bất công ở cấp cao”. Hình phạt dành cho ông là được bổ nhiệm vào một vị trí cấp thấp hơn, trợ lý ủy viên tại thị trấn đồi non trẻ Simla. Ông nhanh chóng từ chức và lên đường sang Anh mang theo tất cả giấy tờ – ghé qua Pháp một thời gian ngắn để gặp Eugène Burnouf và quyên góp thêm bản thảo cho Collège de France.
Nhưng mối tình dài lâu của Hodgson với châu Á vẫn chưa kết thúc. Không thể sống yên “ở nhà”, chưa đầy một năm sau, ông trở về Ấn Độ cùng người vợ trẻ để tiếp tục nghiên cứu. Bị cấm trở lại Nepal, ông tìm thấy nơi tốt đẹp nhất chỉ kém Kathmandu tại viện điều dưỡng Darjeeling. Tại đây, ông định cư tại khu điền trang mà ông đặt tên là “Brianstone”, giờ đây tập trung nỗ lực vào nghiên cứu dân tộc học, cho đến khi sức khỏe suy yếu của vợ cuối cùng đã thuyết phục ông rời khỏi Ấn Độ vĩnh viễn vào năm 1858. Mặc dù có những đóng góp to lớn cho nghiên cứu Ấn Độ, động vật học, thực vật học và các ngành khoa học khác, Hodgson chưa bao giờ nhận được sự công nhận chính thức từ chính phủ của mình, và mãi đến năm 1889, ông mới được Oxford trao tặng bằng tiến sĩ danh dự. Mặc dù đã tặng hàng trăm bản thảo tiếng Phạn và hàng ngàn bức vẽ cho Thư viện của Công ty Đông Ấn, Thư viện Bodleian, Hội Hoàng gia Châu Á, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, Hội Động vật học, Vườn Bách thảo Hoàng gia Kew và các tổ chức học thuật khác ở Anh, nhưng dường như đồng hương của ông vẫn không bao giờ tha thứ cho những đóng góp của Hodgson cho học thuật Pháp và việc ông được nhận Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh của họ.

Brian Houghton Hodgson vài năm sau khi ông trở về Anh vào năm 1858. Một bức chân dung do Louis Starr-Canziani vẽ vào một ngày không xác định, có thể là hình ảnh Houghton trong bộ quân phục cũ của Cục Chính trị Ấn Độ nhưng không có huy chương Bắc đẩu bội tinh. (Phòng trưng bày chân dung quốc gia)
Cuốn sách Le Lotus de la Bonne Loi của Eugène Burnouf, xuất bản sau khi ông mất năm 1852, được dành tặng Hodgson với tư cách là “người sáng lập ngành nghiên cứu Phật giáo”, và điều này hoàn toàn có lý do. Burnouf đã chỉ ra rằng có hai truyền thống và niên đại trong thế giới Phật giáo: Bắc tông, hay “Đại thừa”, được ghi chép chủ yếu bằng tiếng Phạn, và Nam tông Theravada, hay ‘Thượng Tọa bộ’, được ghi lại bằng tiếng Pali. Trong truyền thống Bắc tông có những ngày tháng mâu thuẫn liên quan đến ngày tháng của ‘Sự Tịch Diệt Vĩ đại’ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, dao động từ năm 949 TCN (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) đến năm 881 TCN (Tây Tạng và Nepal), với việc Ashoka được tấn phong làm người cai trị một thế kỷ sau khi Ngài nhập diệt. Trong truyền thống Nam tông (chủ yếu là Tích Lan, Xiêm và Miến Điện) không có sự bất đồng nào như vậy, khi thống nhất rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni qua đời vào năm 544 TCN và Ashoka Maurya đã được tấn phong làm người cai trị 218 năm sau khi Ngài qua đời, tức là năm 326 TCN. Burnouf lập luận rằng ngay cả ngày tháng này cũng quá sớm và dần dần có sự đồng thuận giữa các nhà Ấn Độ học rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có lẽ đã qua đời
vào khoảng năm 486 TCN và rằng Ashoka đã bắt đầu cai trị không phải 218 năm sau đó mà là 118 năm, tức là khoảng năm 268 TCN.
Nhờ Hodgson, Burnouf cũng là người phương Tây đầu tiên có quyền truy cập vào một văn bản tiếng Phạn được gọi là Divyavadana, hay ‘Những câu chuyện thần thánh’, bao gồm ba mươi tám avadana, hay những câu chuyện đạo đức về cuộc đời của các vị bồ tát Phật giáo. Một trong số đó là Ashokavadana, hay ‘Truyền thuyết về Vua Ashoka’, là câu chuyện về cuộc đời và cái chết của Hoàng đế Ashoka được trình bày trong gần mười nghìn câu kệ.
Cho đến nay, hiểu biết sơ khai của thế giới phương Tây về Ashoka và thời đại của ngài đến từ hai nguồn chính: Chỉ dụ Đá và Cột Ashoka, và bản dịch Biên niên sử Triều đại Vĩ đại của George Turnour, bản dịch sau này trình bày lịch sử Phật giáo được diễn giải theo truyền thống Nam tông. Các nhà biên soạn của Biên niên sử Triều đại Vĩ đại ca ngợi Ashoka như một người bảo trợ và truyền bá Phật giáo, và là cha của hai nhân vật Tích Lan, Mahinda và Sanghamitta. Họ cũng nhấn mạnh vai trò chủ đạo của Đại sư Moggaliputta Tissa, một vị đại lão sư phái Theravadin, trong việc dẫn dắt Ashoka, cử các nhà truyền giáo đến Lanka và các nơi khác, và điều hành Đại hội Kết Tập Kinh điển Phật giáo lần thứ ba.
Truyền thuyết về vua Ashoka, được Burnouf tiết lộ, đi theo một lộ trình khác. Đây là một văn bản thuộc trường phái Đại thừa, bắt nguồn từ sự chia rẽ lên đến đỉnh điểm vào khoảng thời gian diễn ra Đại hội Kết Tập Phật giáo lần thứ ba. Ban đầu, cả hai trường phái đều truyền khẩu những lời dạy của Đức Phật được nói bằng tiếng Prakrit dưới dạng Tam Tạng Kinh (Tripitaka). Những kinh điển Phật giáo này lần đầu tiên được ghi chép vào khoảng thế kỷ thứ nhất CN, cả hai truyền thống đều sử dụng cùng một hệ thống chữ viết Brahmi. Tuy nhiên, trong khi Phật tử miền Nam vẫn trung thành với tiếng Pali, thì Phật tử miền Bắc lại từ bỏ nó để chuyển sang ngôn ngữ tôn giáo tinh tế hơn của Bà-la-môn, tiếng Phạn.
Do đó, Truyền thuyết về Vua Ashoka được ghi chép bằng tiếng Phạn, và cách miêu tả về Ashoka rất khác so với những gì được ghi chép trong Biên niên sử Triều đại Vĩ đại hay được tiết lộ trong các chỉ dụ của Ashoka. Truyền thuyết này không hề đề cập đến cuộc thảm sát lớn ở Kalinga hay sự ân hận và cải đạo sau đó của Ashoka. Truyền thuyết cũng không đề cập gì đến Đại Hội Kết tập Phật giáo lần thứ ba hay sự chia rẽ trong Giáo hội Phật giáo. Không có đề cập đến Đại sư Phật giáo Moggaliputta Tissa và nó hoàn toàn im lặng về chủ đề truyền bá Phật giáo ra nước ngoài.
Thay vào đó, trọng tâm của nó là vai trò dẫn đầu do những nhà sư lớn tuổi của trường phái đó đảm nhiệm
trong việc kiểm soát tính bạo lực bùng phát của Ashoka và chuyển hướng ngài đến với Giáo hội Phật giáo, việc Hoàng đế cải đạo giờ không được quy cho lời giảng đạo của cháu trai Nigrodha của ngài mà do ngài chứng kiến một cao tăng tên là Samudra có tư thế thanh thản dù đang hứng chịu trận tra tấn khốc liệt. Thay vì Moggaliputta Tissa, trung tâm sân khấu hiện đang được chiếm giữ bởi Đại sư Upagupta. Chính Upagupta là người tư vấn cho Ashoka về mọi vấn đề tâm linh với tư cách là người hướng dẫn và cố vấn, và là người tổ chức cuộc hành hương của Ashoka. Đối với bản thân Ashoka, Truyền thuyết về Vua Ashoka miêu tả ngài như một cá nhân có khiếm khuyết nghiêm trọng, kẻ áp bức nóng tính và tàn nhẫn, cho đến khi ngài cải sang đạo Phật. Việc Nhà vua chuyển hóa theo dẫn dắt của đạo Phật được trình bày như một câu chuyện giáo lý đạo Phật, nhưng là một câu chuyện cung cấp một số chi tiết hấp dẫn – mặc dù không đáng tin cậy – những hiểu biết sâu sắc về cuộc sống riêng tư của Ashoka và cơn ác mộng về tuổi già và cái chết của ngài.
Truyền thuyết về Vua Ashoka mở đầu bằng một câu chuyện dài về sự thánh thiện của Upagupta trong một kiếp trước, trước khi mô tả việc Upagupta tái sinh làm con trai của một người bán nước hoa ở Mathura và được xuất gia làm tu sĩ Phật giáo. Chỉ sau đó, Ashoka mới xuất hiện, bắt đầu từ kiếp trước khi còn là một cậu bé, một lần gặp Đức Phật, cũng trong kiếp trước đó, đang khất thực trên đường và chạy đến dâng lên Ngài một chiếc bánh bằng đất – một hành động mang lại hậu quả nghiệp chướng sâu sắc. Đức Phật chấp nhận lễ vật và tiên tri rằng cậu bé sẽ tái sinh thành Ashoka một trăm năm sau khi ngài nhập diệt.
Truyền thuyết về vua Ashoka sau đó liệt kê các vị vua xứ Magadha nhưng hoàn toàn bỏ qua Chandragupta, chỉ mô tả Bindusara là con trai của Nanda. Mẹ của Ashoka ở đây được gọi là Subhadrangi, con gái của một Bà-la-môn xứ Champaran (Bắc Bihar). Sự ghen tuông của những bà phi trong hoàng gia khiến Subhadrangi xa cách Vua Bindusara, nên nàng đi học nghề cắt tóc. Khi cuối cùng có cơ hội được cạo râu cho nhà vua, nàng giải thích rằng mình là một Bà La Môn và kể lại câu chuyện của mình, và Bindusara phong nàng làm hoàng hậu. Quả ngọt đầu tiên trong cuộc hôn nhân của họ được đặt tên là Ashoka, ‘không phiền não’, bởi vì khi sinh ra cậu, mẹ cậu đã tự giải thoát mình khỏi đau khổ. Tuy nhiên, Bindusara từ chối cậu bé vì làn da của cậu “thô ráp và khó chịu khi chạm vào”, hậu quả trực tiếp của việc kiếp trước cậu dâng bánh đất cho Phật. Ashoka lớn lên thành một chàng trai hư hỏng và bị giao phó cho một nhà chiêm tinh dạy dỗ, vị này đã tiên đoán rằng chàng sẽ kế vị cha mình lên ngôi báu. Điều này khiến Vua Bindusara không hài lòng, vì ông ủng hộ con trai cả Sushima. Thành Taxila sau đó nổi loạn chống lại Vua Bindusara, ông nhìn thấy cơ hội để loại bỏ Ashoka bèn cử chàng đến giải quyết, cho phép chàng dẫn theo một đội quân nhưng không có vũ khí. Tuy nhiên, Ashoka được người Taxila chào đón và cuộc nổi loạn đã được giải quyết. Sau đó, hoàng tử tiếp tục giải quyết những bất ổn trong xứ
Kashmir, nơi chàng giành được sự ủng hộ của hai bộ tộc chiến binh miền núi hùng mạnh – có thể là đội quân Hy Lạp cai trị tại địa phương hoặc bọn lính đánh thuê.
Trong khi đó, tại kinh thành Pataliputra, người thừa kế Sushima chọc giận vị tể tướng (giấu tên) của cha mình khi vỗ vào cái đầu hói của ông ta một cách đùa cợt, khiến vị tể tướng nghĩ rằng khi Sushima lên ngôi, hắn ta có thể sẽ sử dụng kiếm của mình một cách bừa bãi. Vị tể tướng này đã lôi kéo tất cả các quan đại thần khác, bao gồm cả con trai của mình là Radhagupta, chống lại Sushima và ủng hộ Ashoka. Người Taxilan nổi loạn lần thứ hai và theo lời khuyên của vị tể tướng, vua Bindusara đã phái Sushima đi giải quyết. Nhưng sau đó, Bindusara lâm bệnh nặng và ra lệnh triệu hồi Sushima, chỉ thị cho Ashoka đi thay Súhima. Tuy nhiên, vị tể tướng của nhà vua đã trì hoãn đưa lệnh triệu hồi của nhà vua cho Sushima và bôi nghệ đỏ lên thân thể của Ashoka để khiến ông ta trông có vẻ quá ốm yếu để có thể đi thay. Khi rõ ràng là Bindusara sắp chết, Ashoka xuất hiện trước mặt ông ta trong bộ lễ phục hoàng gia đầy đủ và yêu cầu vua cha lập mình làm nhà cai trị tạm thời. Điều này khiến Bindusara vô cùng tức giận đến mức nôn ra máu và chết.
Ngay khi nghe tin cha mất, Sushima đã hành quân đến Pataliputra. Ashoka triển khai hai lực lượng chiến binh miền núi đồng minh của mình bảo vệ hai cổng thành, người hỗ trợ của ngài là Radhagupta phụ trách cổng thứ ba và chính ngài đảm nhiệm việc phòng thủ cổng thứ tư và cổng phía đông, nơi Sushima bị dụ vào một cái bẫy (được ghi lại ở đây và bên dưới theo bản dịch hiện đại của John Strong):
Radhagupta dựng một con voi giả, trên đó đặt một bức tượng Ashoka do chính tay ông tạc. Ông đào một cái mương xung quanh, đổ đầy than hồng bằng gỗ keo, phủ lên bằng lau sậy và dùng đất che phủ toàn bộ. Sau đó, ông tiến đến trước và chế nhạo Susima: “Nếu ngươi giết được Ashoka, ngươi sẽ lên ngôi vua.” Susima lập tức xông đến cổng phía đông, định giao chiến với người em cùng cha khác mẹ, nhưng y đã ngã xuống mương đầy than hồng và đi đến một kết cục đau đớn và không đúng lúc.
Sau khi được tấn phong làm vua xứ Magadha, Ashoka đã bộc lộ bản chất thật sự của mình. Khi các cận thần phản đối lệnh chặt hạ tất cả cây ăn quả và cây có hoa của ngài, ngài đã chém đầu 500 người trong số họ, và khi biết rằng các phi tần không thích vuốt ve làn da thô ráp của mình, ngài ra lệnh thiêu sống họ. Ngài cũng bổ nhiệm một người tên là Chandagirika, ‘kẻ miền núi hung dữ’, làm đao phủ, và xây dựng một nhà tù bên ngoài trông rất đẹp mắt nhưng bên trong chứa đựng tất cả những cực hình của địa ngục. Chandagirika bắt đầu giáng xuống ‘năm hình phạt cực kỳ thống khổ’ cho tất cả những ai bước vào cổng nhà ngục. Nhưng rồi một sa di tên là Samudra vô tình bước vào cửa ‘địa ngục’ của Ashoka trong khi đang đi khất thực. Thấy vị sư trẻ không hề hấn gì trước các trò tra tấn tàn ác của mình, Chandagirika đã báo cáo sự việc với nhà vua. Nhà vua đến tận mắt chứng kiến và vô cùng kinh ngạc trước tính kiên cường của Samudra. Samudra sau đó giải thích rằng mình đã giải thoát ‘khỏi nỗi kinh hoàng của vòng luân hồi’ – những đau khổ liên quan đến tái sinh – nhờ vào lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và tiếp tục kể với Ashoka rằng Đức Phật đã tiên tri rằng một trăm năm sau khi Ngài diệt độ, một vị vua hùng mạnh tên là Ashoka sẽ cai trị kinh thành Pataliputra. Vị vua sẽ là một Chakravartin hay ‘Chuyển Luân Pháp Vương’, người sẽ noi gương Đức Phật chuyển bánh xe Pháp. Ngài cũng sẽ là một Dharmaraja hay ‘Bậc Pháp Vương’, người sẽ phân phát xá lợi của Đức Phật ra khắp nơi, xây dựng 84.000 Dharmarajikas hay ‘Bảo tháp’ để cất giữ chúng. Đó là điều Đức Phật đã tiên tri, Samudra nói, ‘Nhưng thay vào đó, bệ hạ đã xây dựng nơi này giống như địa ngục, nơi hàng ngàn chúng sinh đã bị tàn sát.’
Ashoka chấn động tâm can trước những lời này đến nỗi ngày hứa sẽ thực hiện lời tiên tri của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài quy y Phật giáo, phá hủy tòa nhà địa ngục cùng với Chandagirika, và thỉnh cầu Upagupta làm bậc thầy tâm linh của mình, sau đó ban hành sắc lệnh tuyên bố Phật giáo là quốc giáo chính thức của đất nước.
Sau đó, vị vua cải đạo bắt đầu thực hiện các hành động công đức, bao gồm việc xây dựng 84.000 bảo tháp cất giữ các phần xá lợi của Đức Phật, trên khắp đế chế của mình. Ngài thực hiện điều này với sự giúp đỡ của một Hòa thượng tên là Yashah, trụ trì tu viện Kukkutarama bên ngoài Pataliputra Theo yêu cầu của người dân Taxila, ngài cho xây dựng ba tỷ rưỡi bảo tháp trong nước của họ, và theo lệnh của ngài, các yaksha, hoặc thiên tướng, xây dựng mười triệu bảo tháp dọc theo bờ biển của tiểu lục địa. Sau đó, Upagupta đưa Ashoka đi hành hương đến các thánh địa của Phật giáo, bắt đầu với Lumbini (Lâm Tỳ Ni), nơi Đức Phật đản sinh, Ashoka cúng dường một trăm nghìn đồng vàng và xây dựng một bảo tháp. Ngài lặp lại tiến trình này ở Kapilavastu (Ka Tỳ La Vệ, quê hương của Đức Phật), Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật giác ngộ), Sarnath (Lộc Uyển, nơi Đức Phật giảng giáo pháp lần đầu tiên) và Kushinagara (Câu Thi Na, nơi Đức Phật nhập niết bàn), tại đây nhà vua bị choáng ngợp bởi cơn xúc động đến nỗi ngài ngất xỉu và phải được các người hầu của mình hồi sức.
Sau chuyến hành hương đầu tiên đến các thánh địa Phật giáo, Ashoka được Upagupta đưa đi viếng các bảo tháp của các bậc đệ tử vĩ đại của Phật giáo, những người đã theo chân Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tuy nhiên, điều đặc biệt khơi dậy niềm tin của nhà vua chính là cây Bồ Đề. Khi trở về Bodhgaya và thấy cây Bồ Đề đang héo úa, nhà vua lại ngất xỉu. Ngài biết rằng cây Bồ Đề đã bị nguyền rủa bởi một hành động phù thủy do hoàng hậu Tishyarakshita xúi giục. Bà vốn căm tức vì nhà vua đã từ bỏ tôn giáo gia đình cũ, và quá chăm chút cây bồ đề thay vì ở bên bà . Hoàng hậu nhận ra sai lầm của mình, xin hóa giải lời nguyền và tưới nước cho rễ cây Bồ Đề bằng một nghìn bình sữa mỗi ngày cho đến khi cây hồi sinh. Lúc này, Ashoka tuyên bố:
Ta sẽ hai lần thực hiện những nghi lễ cao quý nhất; ta sẽ tắm cây Bồ đề bằng những chiếc bình đầy nước thơm, và ta sẽ đảm nhiệm việc tôn vinh tăng đoàn bằng một lễ hội lớn năm năm một lần.
Sau đó, vua Ashoka ra lệnh tổ chức một lễ hội lớn năm năm một lần bên ngoài Pataliputra, với sự tham dự của các nhà sư từ khắp mọi miền đất nước và cả từ bên kia dãy Himalaya. Ngài vinh danh các nhà sư tụ họp tại đây và cử một vị đại sư đi truyền bá đạo Phật khắp đế quốc.
Phần cuối của Truyền thuyết về Vua Ashoka kể về sự suy tàn và việc băng hà của hoàng đế. Câu chuyện bắt đầu bằng sự ra đời của con trai Ashoka, Dharmavivardhana, bởi hoàng hậu Padmavati. Ashoka say mê vẻ đẹp đôi mắt của cậu bé, và khi nghe thấy chúng được so sánh với mắt của loài chim Himalaya gọi là kunala, ông đã đổi tên cậu bé thành Kunala. Một vị sư trưởng lão Phật giáo tiên đoán rằng Kunala sẽ bị mất thị lực và dạy cậu về sự vô thường của vạn vật. Hoàng hậu chánh thất Tishyarakshita của Ashoka sau đó phải lòng đôi mắt của Kunala. Khi chàng từ chối sự tiến tới của bà và gọi bà là “mẹ”, Tishyarakshita đã âm mưu hủy diệt chàng.
Lịch sử dường như đang lặp lại khi Taxila một lần nữa nổi dậy chống lại nhà vua. Hoàng tử Kunala được gửi đi để đối phó với cuộc nổi loạn, và được người dân Taxila đón nhận nồng nhiệt, họ phân bua rằng cuộc chống đối của họ
là nhắm vào nhà vua và thói kiêu ngạo của các quan lại của ngài. Ashoka sau đó bị bệnh nặng ở Pataliputra, với ‘tình trạng lỗ chân lông khắp cơ thể ngài rỉ ra một chất xú uế.’ Ngài lệnh cho Kunala quay trở lại Pataliputra để tiếp quản vương quốc, nhưng Hoàng hậu Tishyarakshita lo sợ rằng sau hành động vô luân của mình nếu Kunala chiếm được ngôi báu sẽ lập tức ra lệnh giết bà. Vì vậy, bà bắt đầu tìm cách chữa bệnh cho Ashoka, bằng cách cho người hỏi thăm xem có ai đang chịu đau cùng một thứ bệnh như nhà vua không. Một bệnh nhân được tìm thấy và đưa đến cho hoàng hậu. Bà ra lệnh giết y, cắt mở ổ bụng và phát hiện ra một con sâu lớn. Bà thử nghiệm lần lượt nhiều phương thuốc khắc chế nhằm giết được loại sâu đó, nhưng đều thất bại đến khi sử dụng đến củ hành – một loại củ được coi là ô uế nên đẳng cấp Bà la môn và Kshatriya tránh xa.. Bà liền cho nhà vua uống
hành tây và chữa khỏi bệnh ngài, và như một phần thưởng, bà xin được phép cai trị đất nước trong một tuần. Thế là, bà liền trả thù
Kunala vì dám cự tuyệt mình, bằng cách ra lệnh cho Taxila nhân danh nhà vua chọc mù mắt chàng trai trẻ..
Biết rằng số phận mình đã được định sẵn, Kunala đành khuất phục và bị đâm mù mắt. Sau đó, chàng cùng vợ lang thang lên đường làm người hát rong. Họ trở về Pataliputra, nơi Ashoka nghe thấy Kunala hát bên ngoài tường thành cung điện và cho gọi chàng vào. Ngài nhận ra con trai mình và ngã quỵ khóc nức nở. Nghe được câu chuyện của Kunala, “lòng bùng cháy ngọn lửa phẫn nộ”, ngài ra lệnh tra tấn Tishyarakshita đến chết. Tuy nhiên, Kunala cầu xin vua cha tha thứ cho hoàng hậu và chỉ vì lòng trắc ẩn đối với người mẹ kế độc mà thị lực của chàng bỗng nhiên được phục hồi. Dù ghi nhận lời cầu xin tha thứ của con trai nhưng Vua Ashoka vẫn cương quyết ra lệnh thiêu sống Tishyarakshita.
Sau những sự kiện này, Ashoka dạy cho em trai Vitashoka về bản chất của khổ đau, và với sự giúp đỡ của Đại sư Yashah, Vitashoka đã xuất gia làm tu sĩ Phật giáo. Ban đầu, Vitashoka vào tu viện Cock bên ngoài Pataliputra, nhưng sau khi thấy nơi này quá ồn ào, ông đã rút lui.
đến dãy Himalaya. Cùng lúc đó, một kẻ thù của Phật giáo đã phát tán một bức tranh vẽ Đức Phật nằm dưới chân hắn, điều này khiến Ashoka tức giận đến mức ra giá cho cái đầu của tên báng bổ. Một người chăn bò tình cờ nhìn thấy Vitashoka, giờ để râu tóc mọc dài, nên y nhầm lẫn ông với kẻ báng bổ. Người chăn bò bèn giết chết Vitashoka và mang đầu ông đến cho nhà vua để nhận thưởng. Lúc này, Ashoka nhận ra em trai mình và vô cùng đau buồn. Upagupta giải thích rằng cái chết của em trai ngài là hậu quả của hành động tàn ác của Ashoka.
Theo Truyền thuyết về Vua Ashoka, những ngày cuối đời của vị hoàng đế vĩ đại này không mấy hạnh phúc. Khi bệnh tật ngày càng nặng, Ashoka bị ám ảnh bởi việc cúng dường cho Giáo hội Phật giáo, đến mức ngân khố quốc gia có nguy cơ cạn kiệt. Con trai của Hoàng tử Kunala, Sampadi, được chỉ định làm người kế vị, và theo lời khuyên của các cận thần, ông cấm viên thủ quỹ quốc gia giải ngân thêm bất kỳ khoản ngân quỹ nào. Hoàng đế Ashoka sau đó bắt đầu dâng tặng bộ đồ ăn cá nhân của mình: đầu tiên là đĩa vàng, rồi đến đĩa bạc, và cuối cùng là đĩa đồng, cho đến khi thức ăn của ngài được dọn lên đựng trong những chiếc đĩa đất nung của nông dân. Cuối cùng, ngài chẳng còn lại gì ngoài nửa quả myrobalan, hay còn gọi là quả mận anh đào. Ngài cũng tặng món ăn này cho tu viện Cock như món quà cuối cùng của mình, kèm theo lời nhắn:
Người trước đây cai trị mặt đất.
Khắp mặt đất người ấy đã che phủ bằng chiếc ô chủ quyền của mình.
Và sưởi ấm thế giới như mặt trời giữa trưa ở thiên đỉnh –
Ngày nay, vị vua đó đã chứng kiến vận mệnh của mình bị cắt đứt.
Bị lừa dối bởi nghiệp báo chướng của chính mình, người ấy thấy vinh quang của mình biến mất như mặt trời lặn lúc hoàng hôn.
Vua Ashoka hấp hối cho nghiền nát quả mận anh đào và cho vào súp để phân phát cho cộng đồng tu sĩ tại tu viện Cock. Ngài hỏi vị quan đại thần Radhagupta xem ai là chúa tể của trái đất và được quả quyết người đó chính là ngài. Sau đó, ngài gượng đứng dậy, quay về mỗi hướng của la bàn và với một cử chỉ cúng dường, tuyên bố rằng ngài đang dâng hiến toàn bộ trái đất “cho cộng đồng đệ tử của Đức Thế Tôn”. Ngài viết những lời này vào một văn bản mà ngài dùng răng niêm phong lại, rồi qua đời. Với số tiền còn lại trong ngân khố, các quan đại thần mua lại lãnh địa của vị vua quá cố từ Tăng đoàn Phật giáo, và cháu trai của Ashoka là Sampadi được tấn phong làm vua.
Nhưng đây chưa hẳn là kết thúc câu chuyện về Ashoka như được kể trong Ashokavadana, vì có một lời bạt ngắn gọn kèm theo. Câu chuyện bắt đầu: “Con trai của Sampadi là Brhaspati, người sau này có một con trai tên là Vrsasena, và Vrsasena có một con trai tên là Pushyadharman, và Pushyadharman sinh ra Pushyamitra.” Câu chuyện tiếp tục kể về việc vua Pushyamitra, mong muốn tên tuổi của mình được lừng lẫy như Ashoka, đã hỏi vị tu sĩ Bà-la-môn của mình làm thế nào để thực hiện được điều đó. Ông được cho biết có hai cách: một là làm theo những gì vua Ashoka đã làm và xây dựng 84.000 bảo tháp; và cách thứ hai là phá hủy tất cả những bảo tháp đã có. Pushyamitra quyết định đi theo con đường thứ hai và dẫn quân tiến về tu viện Cock do Ashoka thành lập bên ngoài Pataliputra. Tại đó ông yêu cầu các nhà sư lựa chọn giữa việc tự cứu mình hoặc cứu tu viện. Các nhà sư đề nghị hy sinh thân mình nhưng Pushyamitra ra lệnh hủy diệt cả các nhà sư lẫn tu viện. Sau đó, ông bắt đầu một chiến dịch chống lại tất cả các cơ sở Phật giáo, treo thưởng cho đầu của bất kỳ nhà sư nào mang nộp cho ông, cho đến khi cuối cùng đối mặt với một vị hộ pháp yaksha, đè bẹp ông ta dưới một ngọn núi. ‘Với cái chết của Pushyamitra,’ dòng cuối cùng của Truyền thuyết về Vua Ashoka tuyên bố, ‘dòng dõi Maurya đã cáo chung.’
Truyền thuyết về Vua Ashoka có một số sai sót rõ ràng, chẳng hạn như việc mô tả Bindusara là con trai của Nanda và người Bà-la-môn giết vua Pushyamitra là vị vua cuối cùng của triều đại Maurya. Danh sách tên các vị vua Maurya trong truyền thuyết này cũng mâu thuẫn nghiêm trọng với tên của các vị vua trong Vishnu, Matsya, Vayu và Brahmananda, Puranas. Tuy nhiên, khi danh sách các vị vua Maurya được cung cấp bởi Truyền thuyết về Vua Ashoka được đặt cạnh các danh sách khác trong Puranas, rõ ràng có sự lẫn lộn tên của các vị vua Maurya sau khi Ashoka băng hà. Điều này cho thấy một đế chế đã sụp đổ trong những năm cuối đời của vị vua vĩ đại, và sau đó khi ngài băng hà, đế chế bị chia cắt thành hai hoặc nhiều vùng đất xung đột khi các bên tranh giành quyền lực, rất giống với tình trạng sau khi Alexander Đại Đế băng hà.
Ngay cả khi Burnouf đang hoàn thành công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo, tin đồn từ Nga về nhiều tài liệu chưa được biết đến trước đó về Phật giáo Ấn Độ thời kỳ đầu đã lan truyền. Chúng xuất phát từ Khoa Ngôn ngữ Mông Cổ tại Đại học Kazan bên bờ sông Volga, nơi các sinh viên đang sử dụng một bản văn viết tay được dịch từ nguyên bản tiếng Tây Tạng. Năm 1840, một trong những sinh viên đó, Vasili Vasiliev, đã gia nhập Hội Truyền giáo Chính thống giáo Nga tại Bắc Kinh, và đã có được một bản sao của cùng một văn bản trong bản gốc, được in bằng bản khắc gỗ và có tựa đề là Gya-gar Chos-byung, hay Lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ, tác phẩm của một Lạt ma Tây Tạng tên là Taranatha.
Lịch sử Phật giáo tại Ấn Độ của Taranatha dành 3 trong số 44 chương cho Vua Ashoka, do đó thêm một bước ngoặt cho câu chuyện. Mặc dù được viết gần đây vào năm 1608, nhưng nó đã dựa trên các nguồn cũ hơn bao gồm cả Truyện Thần thánh nhưng cũng có hai tác phẩm hiện đã thất lạc. Những nguồn đã thất lạc này kể câu chuyện về Ashoka từ một góc nhìn được mô tả tốt nhất là đông bắc, trong đó nó liên minh với trường phái Bắc tông nhưng thúc đẩy vai trò của Giáo hội Phật giáo sơ khai ở phía bắc Magadha. Trong phiên bản này, người thầy Phật giáo vĩ đại dạy dỗ và cố vấn cho Vua Ashoka không phải là Upagupta, đệ tử hàng đầu của Mathura, như được nêu trong Truyền thuyết về Vua Ashoka, mà là Yashah, trụ trì tu viện Cock của Vua Ashoka bên ngoài Pataliputra – cũng xuất hiện trong Biên niên sử Triều đại Vĩ đại với tên gọi Ashokarama.
Sử ký của Taranatha đã bị các học giả bác bỏ vì quá lộn xộn không đáng tin cậy, nhưng nó chứa đựng những yếu tố đáng được xem xét khi tái hiện Ashoka và thời đại của ngài. Nó mô tả Ashoka là con trai của Nemita, vua Champaran ở phía bắc Magadha, với con gái của một thương gia. Không giống như những người anh trai của mình sống trong xa hoa, Hoàng tử Ashoka sống giản dị và ngồi ăn ung dung trên mặt đất. Khi người dân miền núi Kashmir và Nepal nổi loạn, ngài được cử đi giải quyết và được cha mình ban thưởng bằng cách phong làm thống đốc Pataliputra. Khi vua Nemita băng hà, các quan đại thần của ông đã đưa Ashoka lên làm người cai trị Pataliputra, nơi ngài thờ phụng nhiều nữ thần mẹ khác nhau, bao gồm cả Uma Devi, vợ của Thần Shiva, và nuôi 500 phi tần trong hậu cung của mình: ‘Thỏa mãn dục vọng trong nhiều năm, ngài được biết đến với cái tên Kama Ashoka [kama nghĩa là ‘dục vọng’ hoặc ‘ham muốn’].’
Ashoka ra trận chống lại những người anh em cùng cha khác mẹ và tiêu diệt tất cả bọn họ để trở thành người cai trị ‘toàn bộ lãnh thổ từ dãy Himalaya đến Vindhya’. Ngài ngày càng trở nên kiêu ngạo và tàn ác, chỉ tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn khi thực hiện những hành vi bạo lực, vì vậy cũng được gọi là ‘Ashoka Nộ khí’. Sau đó, một sa di, đệ tử của trụ trì Yashah, vô tình bước vào nhà ngục tra tấn của Ashoka và, đúng như được kể trong Truyền thuyết về Vua Ashoka, đã chịu đựng thử thách mà không hề hấn gì. Yashah sau đó đã cải đạo cho Ashoka, từ đó ngài ‘tràn đầy lòng tôn kính và bắt đầu dành cả ngày lẫn đêm cho những việc hành thiện’.
Yashah mời tất cả các nhà sư Phật giáo đến Pataliputra để dự lễ hội tôn giáo, và nhà vua đã cho xây dựng một đại điện bát ngát. Sáu mươi ngàn nhà sư tham dự lễ hội kéo dài ba tháng. Sau đó, ngài bắt đầu cuộc chinh phạt thứ hai để “thu phục tất cả các quốc gia mà không cần đổ máu, bao gồm cả những quốc gia ở phía nam Vindhya …. dãy Himalaya phía bắc, những dãy núi tuyết phủ bên kia Li-yul [Khotan, tức dãy núi Thiên Sơn], toàn bộ vùng đất Jambudvipa được bao bọc bởi biển cả ở phía đông, nam và tây, cùng năm mươi hòn đảo nhỏ.”
Ashoka sau đó làm theo lời khuyên của Yashah thu thập xá lợi của Đức Phật và cất giữ chúng trong 84.000 bảo tháp trên khắp đế chế của ngài, “cho đến tận Li-yul ở phía bắc”. Taranatha tiếp tục kể lại câu chuyện về việc Kunala, người con trai được vua Ashoka yêu quý, bị mù, nhưng có những điểm khác biệt đáng kể so với phiên bản được tìm thấy trong Truyền thuyết về Vua Ashoka, ở chỗ Kunala không đủ tư cách để cai trị vì bị mù và phải xuất gia tu hành. “Đó là lý do tại sao,” Taranatha nói thêm, “mặc dù đến lượt ông lên ngôi, con trai ông, Vigatashoka, được đưa lên kế vị thay.”
Trong sử ký của Taranatha, cái chết của Ashoka cũng diễn ra gần giống như trong Truyền thuyết về Vua Ashoka, mặc dù tác giả có thêm một chi tiết thú vị về những giây phút cuối đời của ngài. Một thị nữ đang quạt cho ngài ngủ thiếp đi giữa cái nóng giữa trưa và làm rơi cây quạt đuôi bò lên người ngài, khiến Ashoka đang hấp hối nổi giận: “Nhà vua nghĩ: ‘Trước đây, ngay cả các vị vua vĩ đại cũng từng rửa chân cho ta. Giờ đây, ngay cả những người hầu hèn mọn nhất cũng sỉ nhục ta theo cách này.’ Vì ngài chết trong khi thần thức đầy sân hận nên ngài phải tái sinh thành một Naga [xà vương] trong một hồ nước lớn ở Pataliputra.”
Không giống như Truyền thuyết về Vua Ashoka, Lịch Sử của Taranatha có một đoạn ngắn đề cập đến mối liên hệ với Lanka, mặc dù sự du nhập của Phật giáo vào Lanka không liên quan gì đến Ashoka mà hoàn toàn là nhờ một vị đại sư tên là Krishna, người đã đến hòn đảo này theo lời thỉnh cầu của vua Asana-Simha-Kosa: “Sư đã thuyết giảng Giáo lý trong ba tháng trên hòn đảo đó, xây dựng các tu viện và thành lập tăng đoàn, và dẫn dắt nhiều người đến ‘bốn giai đoạn giác ngộ’.” Theo Taranatha, vị Krishna này được kế vị bởi Sudarshana, người đã mất vài năm trước khi Ashoka lên ngôi, cho thấy rằng sự du nhập của Phật giáo vào Lanka bắt đầu từ triều đại Chandragupta chứ không phải triều đại Ashoka – một quan điểm được một số sử gia hiện đại chia sẻ.
Taranatha liệt kê những người kế vị Ashoka là cháu trai Vigatashoka và chắt trai Virasena. Ông kể rằng Virasena đã tích lũy được một khối lượng kho báu khổng lồ bằng cách cầu xin nữ thần của cải của Ấn Độ giáo, Lakshmi, cho biết mình đã rời bỏ đạo Phật. Nhưng sau đó ông nói thêm rằng Virasena “đã chiêu đãi các nhà sư khắp nơi trong ba năm và cúng dường tại tất cả các thánh địa trên thế giới với một trăm lễ vật cho mỗi thánh địa”. Có lẽ Virasena chỉ thực hành theo lời dạy của Ashoka về việc tôn trọng tất cả các tôn giáo.
Để làm mọi chuyện thêm rối ren, Taranatha lại giới thiệu một dòng vua thứ hai mà ông gọi là Candras, được đặt theo tên người sáng lập, Candragupta: rõ ràng là Chandragupta Maurya. Chandragupta được kế vị bởi Bindusara, tiếp theo là Shricandra – có lẽ là con trai cả của Bindusara, Sushima – người tiếp theo là Dharmacandra, có lẽ là Ashoka, tức Dharma Ashoka. Tiếp theo là mười một tên, tất cả đều kết thúc bằng ‘candra’, không tìm thấy trong bất kỳ bảng phả hệ nào khác, ba tên cuối cùng được Taranatha nói là ‘rất quyền lực và tôn kính Tam Bảo [Phật giáo]’. Taranatha sau đó kết luận: ‘Ngay sau khi Nemacandra lên ngôi cai trị vương quốc
Brahmana Pusyamitra, một vị tư tế hoàng gia, đã nổi dậy chống lại nhà vua và nắm lấy quyền lực. Tất nhiên, đây chính là Brahman Pushyamitra được nhắc đến trong kinh Puranas và trong Truyền thuyết về Vua Ashoka với tư cách là vị chỉ huy quân đội đã lật đổ vị vua Maurya cuối cùng để thành lập triều đại Shunga.
Bất chấp những nỗ lực của Vasiliev, phần lớn chi tiết trong cuốn Lịch sử Phật giáo Ấn Độ của Taranatha vẫn chưa được biết đến bên ngoài nước Nga và Đức cho đến tận thế kỷ 20. Và bất chấp sự nghiên cứu của Eugène Burnouf và Stanislas Julien ở Pháp, Truyền thuyết về Vua Ashoka cũng bị lãng quên tương tự. Thật vậy, bản dịch tiếng Anh đầu tiên của cuốn này – do Giáo sư John Strong (bản dịch của ông đã được trích dẫn ở trên) – chỉ xuất hiện dưới dạng in ấn vào năm 1983.
Nhưng đối với những người mà giờ đây chúng ta phải gọi là những nhà Đông phương học cuối cùng và những nhà Ấn Độ học, khảo cổ học, ngữ văn học và nghiên cứu văn tự đầu tiên hoạt động ở Ấn Độ, những thiếu sót này hầu như không quan trọng. Họ bận tâm đến hai văn bản hoàn toàn khác nhau.
Tác phẩm đầu tiên xuất hiện là Phật Quốc Ký của Jean-Pierre Abel-Rémusat, bản dịch tiếng Pháp về câu chuyện hành hương của nhà sư Phật giáo Trung Quốc Pháp Hiển về chuyến hành hương của ông qua Ấn Độ vào đầu thế kỷ thứ năm sau Công nguyên, được xuất bản năm 1836. Tác phẩm thứ hai là Histoire de la vie de Hiouen-tsang et de ses voyages dans I’lnde depuis l’an 629 jusqu’en 645 (‘Tiểu sử của Huyền Trang và những chuyến du hành của ông ở Ấn Độ từ năm 629 đến 645’), được xuất bản năm 1853, tác phẩm thứ hai này là bản dịch tiếng Pháp của Stanislas Julien về chuyến du hành của Huyền Trang, người đồng hương nổi tiếng hơn của Pháp Hiển.
Việc xuất bản tại Pháp hai ký sự của nhân chứng về Ấn Độ vào thế kỷ thứ năm và thứ bảy không gây ra xôn xao ở bên kia eo biển Manche, ngoại trừ một số ít nhà Ấn Độ học, nhận thức được rằng chúng sẽ cung cấp thêm phương tiện để tái khám phá bối cảnh Phật giáo đã mất của Ấn Độ. Tại Ấn Độ, James Prinsep hoan nghênh tin tức về việc cuối cùng bản dịch những chuyến du hành của Pháp Hiển cũng được xuất bản ở Paris sau nhiều năm trì hoãn, nhưng ông tự hỏi liệu mình có bao giờ được thấy nó không. ‘Than ôi!’ ông than thở, ‘Bao giờ chúng ta ở Ấn Độ mới có cơ hội được xem những tác phẩm này vào bất kỳ thời điểm nào thuận lợi sau khi chúng được xuất bản?’
Ngay cả trước khi tuyên bố đó được in ra, Prinsep đã lâm vào tình trạng bất toại cận kề cái chết. Sau khi trở về Anh và qua đời, các học trò tận tụy nhất của ông đã phải gánh vác thử thách. Một là Đại úy Markham Kittoe, người phát hiện ra các Chỉ dụ Đá Dhauli – một người đàn ông có vóc dáng cao ráo, thẳng thắn nhưng có xu hướng gây rối với giới thẩm quyền. Người còn lại là kỹ sư quân sự đã hỗ trợ Prinsep trong quá trình nghiên cứu tiền đúc của người Ấn Độ: Đại úy Alexander Cunningham thấp bé, hói đầu và có khuynh hướng béo tốt, nhưng rắn chắc như đá.