Sử ta, chép hoài chưa trúng- Bài 5

Đỗ Ngọc Giao

17-Apr-2026

5.     Văn Lang

Thế kỷ 15, sử ta chép:

Hùng Vương lên ngôi, dựng nước gọi là Văn Lang … chia nước làm mười lăm bộ … cho các bề tôi cai trị… đặt ra tướng văn … tướng võ … đời đời cha truyền cho con …[1]

Người dịch sử, ‘Nhượng Tống’ Hoàng Phạm Trân (1906–1949), nhận xét:

Hai chuyện đó [Hùng, Thục] là tự Ngô Sĩ Liên chắp nối ‘đầu cua, tai ếch’ mà chế tạo nên…

Nói của tiên tội, đầu têu ra việc này phải kể ông Vũ Quỳnh. Trong sách Lĩnh Nam trích quái, ta đã thấy ông nói đến vua Hùng, vua Thục cùng mười lăm bộ của nước Văn Lang rồi…

Ông Liên chỉ mất công nặn có hai pho Kinh-dương-vương cùng Lạc-long-quân. Và có cái can đảm lớn là phụng nghinh hơn hai chục ông vua cổ ấy từ lều dã sử vào trong đền chính sử!

… Trong Khâm định Việt sử, người ta đã hạ hai cụ Kinh Dương và Lạc Long xuống! Còn tôi, tôi muốn mời cả vua Hùng, vua Thục trở về những am cỏ, lều tranh thuở trước. Vì tôi chẳng có một chút lòng tin tưởng gì về các ngài hết!1

Ý của Nhượng Tống là thực ra chẳng có nước Văn Lang nào hết trọi. Song le, thời nay, học giả ta, kể luôn sử gia, đồng lòng tin rằng ‘nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang,’ và ‘nghiên cứu khoa học’ với họ chẳng qua là rán sức đi tìm dữ liệu để ép làm bằng chứng cho niềm tin đó mà thôi.[2],[3] Chẳng vị nào dám không tin—ít nhứt là chẳng vị nào dám nhận rằng mình không tin.

Nói nôm na thì các vị đều là những ‘ông Ba Phải’ (yes-man) làm nghiên cứu khoa học.

Còn nói cho trúng thì các vị đều mắc một loại bias (thiên kiến) kêu bằng confirmation bias—một ‘lỗi hệ thống’ (systematic error) làm cho nghiên cứu khoa học mất hết ý nghĩa.

Bài này tìm hiểu thực hư chuyện ‘nước Văn Lang’ theo dữ liệu của học giả phương tây trong khoa nhơn-chủng-học (cultural anthropology).

Nhơn đây, xin nhắc lại rằng nước trong tiếng Việt, với cái nghĩa ‘state’ hoặc ‘kingdom’ trong tiếng Anh, thì có lẽ là mượn của nagar trong tiếng Chàm:

nagar > nag > nước.[4]

5.1         Khái niệm

5.1.1        Các đặc điểm của ‘nước sơ-khai’ (the early state)

Henri Claessen (1930–2022), nhà nhơn-chủng-học người Hà Lan, khảo sát 21 nước sơ-khai trong khoảng 3000 BC – 2000 AD (hình 1).

Hình 1.[5]

Theo đó, ông nhận ra 51 ‘đặc điểm cấu trúc’ (structural characteristic) của những nước sơ-khai như sau.

  1. có lãnh thổ rõ ràng, chia ra từng ‘tỉnh’ với ranh giới đại khái, ai ở đó là dân nước đó.
  2. là một tổ chức độc lập.
  3. mỗi lúc có một thủ phủ (governmental center) mà thôi.
  4. có buôn bán (trade).
  5. có chợ búa (market).
  6. có buôn bán đường xa (long-distance trade).
  7. buôn bán và chợ búa là hai nguồn huê lợi (income) của nhóm cai trị (ruling hierarchy).
  8. có ‘chuyên viên’ rành việc (full-time specialists).
  9. sanh kế bình thường là làm nông.
  10. đặc điểm của nền kinh tế là làm ra ‘thặng dư’ (surplus).a
  11. có hai hạng người: vua và thân thuộc, quý tộc.b
  12. có tiểu nông.
  13. có tá điền.
  14. có ít nhứt 2 lớp người (stratum).c
  15. những hạng người lớp dưới làm ra thực phẩm.
  16. trừ người đi buôn, thì mọi hạng người khác đều phải làm ‘việc nước’ khi cần.
  17. ai cũng phải đóng thuế, kể cả quý tộc.
  18. những hạng người lớp dưới, trừ tiểu nông, thì không được có đất.
  19. cống (tribute) là nguồn huê lợi chánh của vua và quý tộc.
  20. nguồn huê lợi chánh của tiểu nông và tá điền là lúa gạo (sản phẩm sơ cấp).
  21. quan hệ giữa ‘nhóm cai trị’ với ‘nhóm bị trị’ thì dựa theo ‘huyền thoại dân gian’ (mythical charter).
  22. vua là đấng thiêng.
  23. vị trí của vua là nhờ có chung dòng máu với vua đời trước, vị trí của quý tộc là nhờ có bà con với vua.
  24. vua cử hành điển lễ.
  25. vua là người ban luật.
  26. vua là pháp quan (judge) cao nhứt.
  27. người ngoài có ảnh hưởng tới việc ban luật.
  28. vua là chỉ huy (commander) cao nhứt.
  29. vua có cận vệ (body guard).
  30. vua tặng quà.d
  31. vua trả phí thù lao.
  32. vua trả phí lễ vật.
  33. vua trả lương bổng cho các cấp thấp của chánh phủ.
  34. có hoàng cung (royal court).
  35. thân thuộc của vua là hàng quý tộc.
  36. có chức lớn thì xếp vô hàng quý tộc.
  37. một số ‘trưởng họ’ (head of clan) cũng là hàng quý tộc.
  38. bên trong hàng quý tộc thì xếp theo thứ tự anh em và chức trách lớn nhỏ.
  39. đạo sỹ truyền bá ‘huyền thoại dân gian’.
  40. thường dân phải nộp thuế, cống phẩm hoặc các khoản phí tương đương.
  41. thường dân phải làm việc quân.
  42. thường dân phải làm việc vặt cho nhà nước, quý tộc, viên chức (functionaries).
  43. giữa một bên là vua và thân thuộc, với một bên là thường dân, thì không có bà con.
  44. nguyên tắc tổ chức chánh trị là giao ‘việc’ (task) thì giao ‘quyền’ (power).
  45. có bộ máy quản trị ba cấp: nước (national), vùng (regional), làng (local).
  46. có viên chức tổng quát ở cấp ‘vùng’.
  47. có viên chức chuyên môn ở cấp ‘nước’.
  48. cận thần (courtiers) có ảnh hưởng tới sự vụ chánh trị.
  49. người nhà của vua có ảnh hưởng tới quyết định chánh trị.e
  50. đạo sỹ có ảnh hưởng tới quyết định chánh trị.
  51. vua đi khắp lãnh thổ, tìm kiếm lòng trung (allegiance) và cống phẩm [của dân].

Ghi chú:

  1. đây là ‘thặng dư’ trong sản phẩm nghề nông (20) mà sẽ trở thành thuế (17), cống (19), dùng để duy trì bộ máy quản trị (30, 31, 32, 33).
  2. có ít nhứt 12 hạng người (social categories): vua và thân thuộc (ruler and kin), quý tộc (aristocracy), đạo sỹ (priests), quân trưởng (military leaders), quan viên (ministeriales), thân sỹ (gentry), tiểu nông (smallholders), tá điền (tenants), người đi buôn (traders), thợ thủ công (artisans), tôi tớ (servants), nô lệ (slaves).
  3. lớp trên: vua, quý tộc, đạo sỹ, quân trưởng; lớp giữa: quan viên, thân sỹ; lớp dưới: từ tiểu nông tới nô lệ, gọi chung ‘thường dân’ (commoners).
  4. vua có 3 loại chi phí:
  • trực tiếp, ban cho người nhận (tôi tớ, viên chức, đạo sỹ): thù lao, lương bổng, quà tặng, đồ cúng.
  • gián tiếp, dùng cho việc công: (1) đắp mương, làm đường,… (2) thù lao, lương bổng,… cho các cấp trong hệ thống chánh phủ (government hierarchy).
  • phô trương (conspicuous consumption): xây cung điện, lăng tẩm,…

        5. người nhà của vua: thê thiếp, con cái, anh em.

Kradin (1962–) cho rằng xã hội nhà nước (state society) có một cái chuẩn (criterion) mà thôi, đó là các ‘viên chức chuyên môn’ làm việc trong những ngành chẳng phải sản xuất.[6]

Bindarenko (1968–) cũng cho rằng hễ gọi là ‘nước’ [kể luôn nước sơ-khai] thì phải có một đặc điểm chánh là ‘hệ thống quan lại’ (institutional bureaucracies) gồm các chuyên viên quản trị những ngành khác nhau.[7]

5.1.2        Các điều kiện thành lập nước sơ-khai

Claessen[8] nêu 5 điều kiện cần có để lập nước sơ-khai:

  1. phải có đủ người (hàng ngàn trở lên),
  2. phải có lãnh thổ rõ ràng,
  3. phải có thặng dư sản xuất để nuôi viên chức chuyên môn và các hạng người được ưu đãi,
  4. phải có một cái ‘huyền thoại dân gian’ đặng cho dân tin rằng vua có quyền cai trị,
  5. phải có một duyên cớ từ bên ngoài thúc đẩy, thí dụ mối nguy bị một nước kế bên xâm lược.

Khazanov (1937–) cho rằng năng suất kinh tế (economic productivity) là điều kiện tiên quyết (precondition) để lập nước, nhưng nếu bỏ qua thời săn-bắt-hái-lượm [chẳng bao giờ lập nước] thì cái điều kiện đó chẳng có hạn chế nào:

  • nước sơ-khai có thể lập nên ở các thời đại khác nhau: đá (stone age), đồng (chalcolithic), đồng thau (bronze age), sắt (iron age);
  • nước sơ-khai có thể sản xuất theo các hệ thống khác nhau, từ làm rẫy (swidden agriculture) cho tới chăn nuôi (pastoral nomadism);
  • ngay cả ‘thủy lợi’ mà người ta cho là ‘điều kiện sơ cấp’ để lập những nước sơ-khai đầu tiên (pristine early states), thí dụ Mesoamerica (số 4 ở hình 1), thì cũng chẳng trúng.

Nói tóm lại, nước sơ-khai tạo ra thặng dư tối thiểu bằng những hệ thống sản xuất và trình độ công nghệ (technological level) khác nhau, tùy theo điều kiện mỗi nơi.[9]

5.1.3        Các đặc điểm của chiefdom

Claessen[10] giải thích như sau.

Chief là chức vụ ‘thủ lãnh’ (socio-political leader) của một cộng đồng hàng ngàn người: đó có thể là một cái làng, hoặc nhiều làng gom lại. Làm chief là đặc quyền của một dòng họ, khi chết thì con cái anh em kế tục. Chief khác với ‘chủ làng’ (headman), người được dân làng bầu ra nhờ có công trạng; dù vậy, chief cũng phải có công trạng nào đó và biết cai trị sao cho dân làng được nhờ. Chief với vua đều là thủ lãnh thừa kế, nhưng vua là người cai trị một nước, còn chief thì không phải.

Người ta tin chief là dòng dõi của thần linh trong truyền thuyết, kế thừa cái năng lực làm cho đàn bà, trâu bò, đất đai, sanh sôi nảy nở, vậy nên chief được quyền cai trị. Song le, nếu người ta nhận thấy chief chẳng có năng lực đó, hoặc chẳng còn năng lực đó nữa (già), thì người ta sẽ loại bỏ họ, tệ nhứt là cho họ chết bằng cách nào đó, rồi con họ chọn kẻ khác lên thay.

Chief thâu nhận thực phẩm hàng hóa trong cộng đồng rồi dùng phần lớn thứ đó vô việc cai trị và công ích, thí dụ xây thành lũy, đào hào mương, để phòng thủ.

Gắn với chief là một cái chiefdom gồm nhiều làng gom lại, mỗi làng có một chief nhỏ, hết thảy dưới quyền của một chief lớn. So với tổ chức ba cấp (làng, vùng, nước) ở một nước sơ-khai, thì chiefdom có hai cấp mà thôi (làng, vùng). Thí dụ mường của người Thái là một cái chiefdom.

Nói chung, chiefdom nảy ra ở những nơi sản xuất dồi dào thực phẩm, và khi nào còn như vậy thì còn chiefdom: chẳng ai muốn bỏ đi hay muốn lật đổ chief. Nhưng khi thực phẩm sản xuất chẳng còn đủ để nuôi mọi người, thì chiefdom sẽ rã ra từng mảnh và những mảnh này dễ dàng nhập vô một cái chiefdom khác. Chiefdom ít khi đánh nhau.

5.2         Khảo cứu

5.2.1        Có nước sơ-khai ở miền bắc Việt Nam trước công nguyên hay chăng?

Hình 2 là những nơi có di tích đồ đồng Đông Sơn, trong khoảng 300 BC – 100 AD.[11]

Hình 2.[12]

Học giả ta cho rằng nghề đồng Đông Sơn là ‘tiền đề’ của ‘nước sơ-khai Văn Lang’.3 Song le, như đã nêu ở 5.1.2, nghề đồng không phải là điều kiện tiên quyết để lập nước sơ-khai.

Trước công nguyên, đồng bằng sông Hồng mới đắp được một ít ‘bãi phù sa’ (floodplain) mà lại thường xuyên ngập lụt nên chưa có nhiều người tới đó trồng trọt sanh sống (màu cam trong hình 3).

Hình 3.[13] (vẽ lại)

Riêng ‘bãi phù sa’ B thì có dấu tích trồng trọt (sẽ nói rõ bên dưới) nhưng bấy nhiêu là chưa đủ để chứng thực hai đặc điểm quan trọng của một nước sơ-khai: ‘sanh kế bình thường là làm nông’ (9) và ‘tạo ra thặng dư nông sản’ (10).

Vậy ta cho rằng chẳng có nước sơ-khai nào hết ở miền bắc Việt Nam trước công nguyên.

5.2.2        Có chiefdom ở miền bắc Việt Nam trước công nguyên hay chăng?

Như đã nêu ở 5.1.3, chiefdom nảy ra ở những nơi sản xuất dồi dào thực phẩm.

Người ta có tìm ra di tích các giống cây Poaceae (hòa thảo) mà thổ dân đã trồng ở nơi xưa kia là ‘bãi phù sa’ B (hình 3).[14] Ta chưa rõ đó là các giống cây gì, nhưng nếu thổ dân đã trồng thì hẳn cũng có lúa.

So hình 3 với 2, ta thấy hai ‘bãi phù sa’ A và B đại khái cũng là nơi có cái ‘làng’ lớn nhứt làm nghề đồ đồng (vùng Hà Nội ngày nay).

Hình 4 là các di tích khác thí dụ thành Cổ Loa xây trong khoảng 300–100 BC.[15]

Hình 4.[16]

So hình 3 với 4, ta thấy ‘bãi phù sa’ A cũng là nơi có thành Cổ Loa.

Thành này xây hàng trăm năm, đào 1–2 triệu mét khối đất.15 Làm việc này ắt cần nhơn công, lương thực, thủ lãnh.

Vậy ta có:

  • một nơi sản xuất lương thực (hai ‘bãi phù sa’ A và B),
  • một cái làng lớn làm nghề đồng,
  • nhiều vị thủ lãnh trông coi việc xây đắp một cái thành lớn qua hàng trăm năm.

Dữ liệu đó cho thấy dường như có một cái chiefdom ở miền bắc Việt Nam trước công nguyên, đại khái là vùng Hà Nội ngày nay.

5.3         Kết luận

Loại bỏ thiên kiến, sau khi phân tách những mẩu dữ liệu mới nhứt, ta rút ra được hai ý:

  1. Miền bắc Việt Nam trước công nguyên chưa có điều kiện để lập nước sơ-khai, bởi vậy chuyện lập một nước ‘Văn Lang’ chắc chắn là không có thực.
  2. Ở quy mô nhỏ hơn, dường như đã có một cái chiefdom trong khoảng 300 năm trước công nguyên quanh vùng Hà Nội ngày nay.

Cái chiefdom đó có phải là ‘nước Văn Lang’ trong truyền thuyết hay chăng, thì ta chưa rõ.

Nói thêm, Kim, học giả người Mỹ mang hai dòng máu Việt-Hàn,[17] có gọi Cổ Loa là một tổ chức ở cấp ‘nước’ (state-level political structure), và tôi cũng lặp lại ý đó ở một bài khác.4

Dù vậy, nếu gọi tổ chức đó là một cái chiefdom thì trúng hơn.

 


[1] Đại Việt sử ký toàn thơ. Mạc Bảo Thần dịch (1945).

[2] Lê Văn Hảo (2013) Hành trình về thời đại Hùng Vương dựng nước.

[3] Trịnh Sinh (2011) Sự hình thành nhà nước sơ khai ở miền bắc Việt Nam (qua tài liệu khảo cổ học).

[4] https://nghiencuulichsu.com/2023/09/27/nguon-goc-nguoi-viet-bai-13/

[5] Henri Claessen. The early state: a structural approach. In The Early State, ed Henri Claessen & Peter Skalnik (1978).

[6] Nikolay N. Kradin. State origins in anthropological thought. Social Evolution & History, vol 8 no 1, March 2009.

[7] Dmitri M. Bondarenko. What the (early) state is. International Academic Conference ‘Political Systems of Early States’ June 19-22, 2013.

[8] Henri Claessen. Was the state inevitable? In The Early State, Its Alternatives and Analogues, ed L. Grinin, R. Carneiro, D. Bondarenko, N. Kradin, and A. Korotayev (2004).

[9] Anatolii Khazanov. Some theoretical problems of the study of the early state. In The Early State, ed Henri Claessen & Peter Skalnik (1978).

[10] Henri Claessen. From incidental leaders to paramount chiefs: the evolution of socio-political organization. Social Evolution & History, vol 13 no 1, March 2014.

[11] Nishimura Masanari (2005) Settlement patterns on the Red River plain from the Late Prehistoric period to the 10th century AD. Bulletin of Indo-Pacific Prehistory Association 25.

[12] Bùi Văn Liêm. 100 năm phát hiện, nghiên cứu văn hóa Đông Sơn: Những thành tựu cơ bản và triển vọng. Thông báo khoa học Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, số 2, năm 2024.

[13] Hoàng Phan Hải Yến et al. Late Pleistocene-Holocene sedimentary evolution in the coastal zone of the Red River Delta. Heliyon 7 (2021).

[14] Nguyễn Thùy Dương, Nguyễn Mạnh Linh. Kết quả phân tích bào tử, phấn hoa trong hai lỗ khoan vùng Hà Nội và mối liên hệ với biến đổi khí hậu và hệ thực vật trong Holocene. Các khoa học về Trái đất, 33(2011).

[15] Nam C. Kim, Trịnh Hoàng Hiệp, Russel Quick, Võ thị Phương Thúy. Co Loa: Biography of an anomalous place. Journal of Urban Archaeology, 7 (2023).

[16] Nishino Noriko. An introduction to Dr Nishimura Masanari’s research on the Lung Khe Citadel. Asian Review of World Histories 5 (2017).

[17] Nam C. Kim (2015) The origins of ancient Vietnam.

Bình luận về bài viết này