
Đặng Bá Quân
Bạn đã từng nghe hoặc đọc qua truyền thuyết “Mỵ Châu Trọng Thuỷ” rồi chứ. Câu chuyện về An Dương Vương là vua nước Âu Lạc – nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang. Ông đã khởi công xây thành nhưng nhiều lần thất bại. Nhờ sự giúp đỡ của thần Kim Quy, thành Cổ Loa cuối cùng cũng đã hoàn thành. Thần Kim Quy còn tặng ông một chiếc móng và ông đã chế nó thành nỏ giữ nước. Triệu Đà lúc bấy giờ đem quân sang xâm lược Âu Lạc nhiều lần nhưng đều thất bại bởi An Dương Vương có chiếc nỏ thần. Sau đó, Đà đã dùng mưu kế, để con trai mình là Trọng Thủy cầu hôn Mị Châu – con gái An Dương Vương, rồi ở rể tại Âu Lạc để thực hiện âm mưu tráo nỏ thần. Chung sống được một thời gian, Mị Châu tin tưởng Trọng Thủy hết mực. Trọng Thủy gặng hỏi Mị Châu về chiếc nỏ thần rồi đánh cắp đem về cho cha. Triệu Đà liền nhân cơ hội đó cất binh sang xâm lược. Cậy có nỏ thần, An Dương Vương đã chủ quan, quân đội Triệu Đà đã sát thành nhưng vẫn thản nhiên. Cuối cùng, An Dương Vương thua trận và cùng con gái Mị Châu lên ngựa chạy về phía biển Đông, cầu cứu rùa vàng. Rùa vàng hiện lên và cho biết kẻ thù ngay ở bên cạnh, An Dương Vương nghe theo lời rùa vàng, rút gươm chém đầu Mị Châu rồi theo rùa vàng rẽ nước xuống biển. Mị Châu chết, máu nàng chảy xuống biển, trai sò ăn phải rồi biến thành hạt châu. Xác nàng được Trọng Thuỷ đem về mai táng ở Loa Thành. Vì quá thương nhớ Mị Châu, Trọng Thuỷ về sau lao đầu xuống giếng chết.( https://vndoc.com )
Câu chuyện không còn xa lạ với ai trong mỗi chúng ta khi đã là người con Việt Nam. Ngoài những bài học nhân sinh và tấm gương cho đời sau noi theo trong công cuộc dựng nước giữ của dân tộc, “truyền thuyết Mỵ Châu Trọng Thuỷ” cũng là câu chuyện Lịch sử đưa đến sự chấm hết của nhà Nước Âu Lạc do Thục Phán An Dương Vương đứng đầu sau 30 năm ( theo nhiều bộ Sử nước ta cho rằng Âu Lạc của An Dương Vương kéo dài 50 năm từ 257-208tcn tuy nhiên con số được nhiều sách báo ngày nay thống nhất là 30 năm từ 208-179tcn theo bộ Sử Ký). Và việc Triệu Đà thâu tóm nước ta vào nước Nam Việt(thành lập 204tcn) cùng trị vì đã gây ra sự xung đột thế hệ giới sử học cũng như người yêu sử về quan điểm “Triệu Đà là vị hiền quân hay là quân xâm lược”, “nhà Triệu là “Nguỵ triều” hay một triều đại của nước Việt”. Khi mà sử cũ đều đồng nhất cho nhà Triệu là một quốc triều còn về sau ít nhất là từ thời Lê mạt mới có Ngô Thì Sĩ trong cuốn tiền biên bác bỏ cho rằng Đà là quân xâm lược (Ngoài ra sự xung đột quan điểm về vấn đề này còn gây ra tranh cãi về cả mốc bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc)
Vậy hãy xét về công tội của Triệu Đà và nhà Triệu qua 5 đời trị dân ta cũng như khắp miền Lưỡng Quảng, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Đông, Trung Quốc). Trước hết ta thống nhất chắc chắn rằng, Triệu Đà là võ tướng nhà Tần, theo lệnh Tần Thuỷ Hoàng đi chinh phạt vùng đất phía Nam cũng là nơi sinh sống của cộng đồng các tộc Bách Việt. Ông có công đánh được miền Quảng Đông, Quảng Tây và xin Tần Vương 50 vạn dân vào đất để đồng hoá tập tục của các bộ tộc thành người Trung Quốc. Tuy nhiên sau khi nhận thấy cái chết của Tần Thuỷ Hoàng làm suy yếu nặng nề nhà Tần, Tần Nhị Thế không thể chống đỡ trước các cuộc nổi dậy nông dân, nhà Tần sụp đổ; Triệu Đà đã quyết định tách cát cứ lập nước Nam Việt và mở đường xuống đánh chiếm nước Âu Lạc của Thục Phán và cai trị khoảng gần 1 thế kỷ mới mất, truyền ngôi về sau đến 4 đời (tính cả Đà là 5)
Về tội của Triệu Đà với nước ta.
Âu lạc là quốc gia thứ 2 trong lịch sử nước ta(cho đến những gì hiện nay giới sử học chứng minh được), là thành quả của thời kỳ hậu Văn Lang kéo dài hàng nghìn năm trong lịch sử nhưng bị Triệu Đà ngang nhiên đem quân nhiều lần chinh phạt. Âu Lạc thành lập dựa trên sự tập hợp các bộ tộc trong đó lớn nhất là Văn Lang và Tây Âu sau một cuộc kháng chiến, về kỹ thuật quân sự như: đắp thành, chế tạo vũ khí ( nỏ liên châu), kỹ thuật chiến đấu, biết dựa vào địa hình để tác chiến (khá giống du kích),.. khá thành thạo, nên thời gian đầu đã đứng vững trước sức ép từ Nam Việt. Tuy nhiên vì quá ỉ lại vào sức mạnh dù là tự lực hay trời ban cho thì đều dẫn đến cái hoạ diệt vong.
Như vậy bản chất đầu tiên mà Triệu Đà đánh và sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt chính là “Xâm lược”, không thể chối cãi rằng một quốc gia có tính nhà nước và độc lập như Âu Lạc đã bị nhà Triệu của Triệu Đà xâm lược.
Còn theo nhiều quan điểm, nhà Triệu đã có hành vi đồng hoá nước ta trong suốt mấy chục năm là góc nhìn chưa hẳn đúng. Thứ nhất, đồng hóa thời Triệu Đà diễn ra tự nhiên và hỗn dung; bản thân Nam Việt là quốc gia đa tộc: có người Hoa di cư, người Việt bản địa (Lạc Việt, Âu Việt), người Thái cổ…. Thứ hai, Triệu Đà không buộc người Việt nói tiếng Hán, thờ thần Hán hay bỏ tín ngưỡng bản địa, tôi có thể khẳng định điểm này khả năng cao là đúng vì “Đại Việt sử ký toàn thư” đã chép năm mà Đà tiếp sứ nhà Hán là Lục Giả thì giữ ông này ở lại vài tháng, còn nói : “Trong đất Việt này không ai nói chuyện được, nay ông đến đây,hằng ngày tôi được nghe chuyện chưa từng nghe”; rõ ràng Đà chưa thi hành quá nhiều chính sách đồng hoá. Thứ ba, chính văn hóa Hán thời đó cũng chưa đủ mạnh để đồng hóa ngay lập tức, và ông còn cần chính cư dân bản địa để giữ đất, giữ dân, nói gì đến việc chính ông cũng ít nhiều bị ảnh hưởng ngược lại. “Đồng hóa” nếu có, là thứ diễn tiến dần, và chưa thể quy kết là tội nặng vào chính cá nhân Triệu Đà. Cái đáng trách nhất chỉ là hành vi xâm lược.
Vậy còn các thế hệ truyền ngôi đối với nước ta ra sao?
Cứ chiếu theo “Đại việt sử ký toàn thư” các vị vua nhà Triệu theo thứ tự kế tiếp; cháu Triệu Đà là Hồ con trai Trọng Thuỷ lên ngôi (Văn Vương) “Vua lấy nghĩa để cảm hoài nước láng giềng, đánh lui địch, yên biên cảnh, cũng gọi là bậc vua có ý muốn thịnh trị vậy”; con Hồ là Anh Tề (Minh Vương) “Vua không cẩn thận đạo vợ chồng, không có gì đáng khen”, Con Tề là Hưng “Mẫu hậu có tiếng dâm, quyền thần chuyên chính, vua hèn tuổi trẻ, giữ nổi ngôi thế nào được”, Con trưởng Anh Tề là Kiến Đức “Cơ nghiệp họ Triệu, Cù Hậu làm nghiêng, gốc nhổ rồi, ngọn cũng theo mà đổ”. Như vậy càng về đời sau con cháu Triệu Đà càng làm cho nước Nam Việt suy vi thêm nhiều mà vào tay nhà Hán của Hán Vũ Đế cũng là điều thường tình. Cũng tự phận đàn bà như họ Thục mà mất nước vì cái muốn dâm loàn của Cù Thị.
Như vậy về tội, nhân vật chính của chúng ta là Triệu Đà được ghi lại với tội ác lớn nhất chính là tội cướp nước của An Dương Vương. Cùng với nhiều tranh luận về nguồn gốc của Thục Phán, vậy nếu “giả thuyết” đúng trong trường hợp này thì phải chăng từ Âu Lạc sang Nam Việt cũng chỉ là một cuộc chuyển giao mà thời thế lịch sử sắp đặt. Tất nhiên tôi chỉ muốn nêu lên một giả thuyết thú vị về một phần khía cạnh Lịch Sử rằng trong nhiều thuyết, tội của Triệu Đà có thể bị giảm nhẹ hoặc tăng lên, và cũng dựa theo cách nhìn nhận từng người.
Phải nói thêm một số người nhận xét Đà thiếu sự Trung nghĩa, hay tiểu nhân qua việc tách cát cứ ngay khi Tần sụp đổ. Nhưng Trung Quốc thời kỳ này làm gì tồn tại khái niệm như thế, khi đứng trước cơ hội lập một đế chế riêng thì người ta sẽ nắm bắt. Nên việc Đà theo lời Nhâm Ngao mà tách cát cứ riêng là lẽ thường tình khi nhà Tần đã suy yếu, đó là điều không phải bàn cãi, không đáng trách.
Về công của Triệu Đà
“Đại Việt sử ký toàn thư” có chép về đoạn giới thiệu về Triệu Đà như sau: “Họ Triệu nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại nhà Tần, giữ lấy đất Lĩnh Nam, xưng đế, đối địch với nhà Hán, hưởng nước giữ ngôi 100 năm mới mất, cũng gọi là bậc vua anh hùng”. Lưu ý ở đây, năm trị vị của Triệu Đà có thể khác nhau từ nhiều nguồn tư liệu.
Qua các tài liệu thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam chúng ta được biết Triệu Đà và chính quyền nhà Triệu đã hòa nhập tương đối nhanh với đời sống của người Việt, thực thi nhiều chính sách và biện pháp khôn khéo nhằm tranh thủ các thủ lĩnh người Việt , tìm hậu thuẫn trong đông đảo nhân dân. Bên cạnh đó, Triệu Đà tự xưng là “ Man Di đại trưởng lão phu”, lấy vợ Việt, theo phong tục tập quán Việt (búi tó, ngồi xổm), chứng tỏ như một thủ lĩnh, một tù trưởng của người Việt. Mặt khác, chính quyền nhà Triệu còn có tư tưởng chống nhà Hán tương đối mạnh mẽ. Điều đó, được thể hiện rõ nét nhất khi đặt tên quốc gia của mình là Nam Việt (chứ không phải là Nam Hán như tập đoàn Lưu Cung thế kỷ X khi vùng Lưỡng Quãng đã bị Hán hóa hoàn toàn) cũng như thái độ tự chủ, không chịu thần phục triều đình nhà Hán. Tư tưởng chống Hán và hòa nhập cộng đồng người Việt của Triệu Đà trước hết được xuất phát từ quyền lợi của bản thân chính quyền nhà Triệu nhưng nhân tố ấy lại góp phần giúp Triệu Đà giành được thiện cảm trong tình cảm, tư tưởng người dân Âu Lạc.(theo một bài viết về Triệu Đà của nguồn hoangthanhthanglong.vn)
Năm 196tcn, sau khi Hán Cao Tổ Lưu Bang định xong thiên hạ nghe tin Đà cũng là vua của Nam Việt mới sai Lục Giả sang phong vua là Nam Việt Vương, trao cho ấn, dây thao…tuy nhiên Đà trong mắt Lục Giả đã có ý trái đổi phong tục người Hán thành người Việt mà chỉ đáp “Tôi ở đất này lâu ngày, quên mất cả lễ nghĩa?”. Ngoài ra Đà còn so sánh mình với Hán Cao Đế, chỉ tiếc không được nổi dậy ở vùng đất như Bang nên không thành nghiệp lớn, điều này tỏ rõ Đà có ý muốn độc lập xưng quyền ngang hàng với nhà Hán.
Năm 184tcn, sau khi Hán Cao Hậu nhà Hán lên ngôi năm thứ 4, nhà Hán cấm nước Nam Việt mua đồ bằng sắt ở các cửa quan giao thương, vì ngờ mưu kế của Ngô Nhuệ(Trường Sa Vương) muốn lấy uy đức của Đà mà toan cướp nước nên 2 năm sau đó đem quân đi đánh mấy trận ở Trường Sa(tỉnh Hồ Nam) để thị uy tuy sau đó bị Chu Táo theo mệnh đánh trả thù nhưng với sức mạnh và lợi thế “sân nhà” quân Hán buộc phải bãi binh. Đại Việt sử ký toàn thư có chép “ Vua nhân thế dùng binh uy và của cải để chiêu vỗ Mân Việt và Âu Lạc( vùng Tây Vu từ thời hậu An Dương Vương về sau nhà Triệu sụp đổ, vùng đất này vẫn nổi dậy chống lại nhà Hán-ĐBQ), họ đều theo về, từ Đông sang Tây hơn vạn dặm. Ngồi xe mui vàng, dùng cờ tả đạo, cho là nghi vệ ngang với nhà Hán.” Như vậy để bảo vệ lợi ích quốc gia Nam Việt thì Triệu Đà đã không ngại cất quân “hỏi tội” nhà Hán, đánh vào Trường Sa (đây là đơn vị hành chính nay thuộc Hồ Nam, Trung Quốc) để gây tiếng vang, cho thấy việc thể hiện uy quyền của mình không hề kém cạnh nhà Hán. Ngoài ra việc dùng xe mui vàng( không có thông tin nhưng theo mình là dạng kiệu dành cho vua chúa phong kiến Trung Quốc), cờ tả đạo cho thấy Triều đình của Đà không hề kiêng dè nhà Hán mà còn cho vậy là ngang hàng với họ. Đáng khen cho ý muốn tự cường, hùng mạnh một phương của Đà.
Về việc Triệu Đà bỏ xưng đế.
Từ năm 180tcn Hán Văn Đế Hằng được đưa lên làm vua nhà Hán, đây được xem là một ông vua có nhiều ân đức, biết tiết kiệm và là người mở đầu thời kỳ “Văn Cảnh chi trị” (thời kỳ ông và con ông trị vì). Bởi thế trong giao thiệp với Nam Việt của Triệu Đà lúc ấy tỏ ra rất hoà hảo, tốt đẹp không thể hiện bề trên bề dưới, vua lớn vua nhỏ hay thiên triều chư hầu. Văn Đế vì biết mồ mả tổ tiên của Đà ở Chân Định mà đặt ấp để trông coi, tuế thời cũng tế, gọi các anh em của vua cho làm quan to và ban thưởng. Ngoài ra Hằng còn cử Lục Giả đi sứ nước ta để truyền thư vua cho Đà. Mở đầu thư Văn Đế gọi Đà là vua Nam Việt thể hiện sự công nhận của người với Triệu Đà. Văn Đế đã dùng lời lẽ hết sức bình đẳng, không thể hiện cái tôi của Thiên triều, Văn Đế vì muốn toại lòng Đà mà nghe theo lời bãi chức các tướng ở Trường Sa mà dùng lý lẽ chứng đáng khuyên Đà biết sai vì đã đem quân chém giết cướp bóc quận Trường Sa.
Điểm đặc biệt trong bức thư Văn Đế gửi Triệu Đà năm ấy có một chi tiết hết sức quan trọng mà theo tôi nó góp phần rất lớn thay đổi nhận thức của Nam Việt Vương khi từ bỏ việc xưng đế. Văn Đế viết như này: “Vương xưng là đế, hai vị đế đối lập nhau mà không có xe sứ thông hiếu, thế là tranh nhau. Chỉ tranh mà không biết nhường, thì người nhân giả không làm thế. Trẫm nguyện cùng vương đều bỏ hiềm trước, từ nay trở đi thông hiếu với nhau như cũ.” Như vậy Văn Đế không hề nặng khó về việc nước lớn nước nhỏ qua câu từ thể hiện ý muốn hoà bình với Nam Việt. Nhưng một số chi tiết như gọi Đà là Vương nhưng lại nhắc đến Đế như hai khái niệm khác nhau và xưng Trẫm-Vương cho thấy ngầm ý của Văn Đế vẫn mong Đà trở về lễ nghi của một phiên vương, Nam Việt trở thành một nước chư hầu như bao quốc gia khác nhưng không sử dụng gượng ép, thể hiện uy quyền mà muốn dùng ân đức để vỗ về, rất sáng suốt. Sau Giả đến thì họ Triệu gọi thư như tờ chiếu mà xin làm phiên vương để giữ triều cống đời đời. Triệu Đà có ban chiếu như sau “Trẫm nghe hai người hùng không đứng cùng nhau, hai người hiền không ở cùng đời. Nay hoàng đế nhà Hán là hiền thiên tử, từ nay ta triệt bỏ xe mui vàng, cờ tả đạo là nghi chế của hoàng đế.”. Từ đây Triệu Đà bỏ xưng đế sau vài chục năm.
Trong thư đáp lại Văn Đế, Đà có gọi mình là “Man di đại trưởng lão phu thần Đà” nôm na hiểu rằng ông gọi mình là trưởng lão của bộ tộc Man Di. Điều này khác hẳn với cách giao thiệp với các vua nhà Hán về trước thể hiện sự kính nể với Văn Đế khi về sau chỉ dám nhận mình là quan ở đất Nam Việt rồi mới được ban Vương. Nhiều người đem cách gọi lão phu man di của Đà ra để đánh giá thái độ của ông với nước ta, nhưng quan điểm này khá sai lệch vì thực tế lúc này Triệu Đà đại diện cho Nam Việt mà lãnh thổ phần lớn nằm ở Trung Quốc ngày nay, không thể xem cách xưng của Đà là đang khinh miệt nước Việt ta vì có thể ông đang phải hạ mình trước ân đức Văn Đế dành cho mình, níu lấy một quan hệ không dễ có của nước Nam Việt kể từ khi thành lập đối với nhà Hán.
Gần 50 năm thường xuyên với việc xưng đế hay không kiêng nể gì nhà Hán mặc dù khiến uy danh Nam Việt cũng như Triệu Đà tương đối lớn mạnh nhưng sức khoẻ lại là 1 khía cạnh khiến tôi tin rằng vì sao ông chọn bỏ việc xưng đế. Tính đến khi ông bỏ lễ nghi của bậc Đế vương thì theo những gì biết được tôi cũng tính ra số tuổi của Triệu Đà đã gần 80 tuổi(theo cách tính tuổi mụ của sử cổ phương Đông thì còn hơn con số này), tuy số tuổi thọ của ông lớn hơn vậy rất nhiều(121t) nhưng đây cũng là một tuổi gần đất xa trời, đối với những người biết nghĩ thì dĩ nhiên không còn mong đợi quyền uy, danh tiếng chỉ mong sao giữ được đất Nam Việt mà đời đời nối ngôi thôi.
Mà từ khi bỏ xưng đế, Văn Đế lại rất vui, từ ấy Nam Bắc giao hiếu với nhau, thôi không đánh nhau, dân được yên nghỉ. Vốn là điều tốt cho dân ta khi còn là đất của Nam Việt rồi.
Giả thuyết: Triệu Đà được công nhận là vị vua của nước Việt ta
Đây vẫn còn là vấn đề tranh cãi nhưng với góc nhìn của các sử gia hiện đại Triệu Đà vẫn bị coi là một kẻ xâm lược tuy ông vẫn có nhiều công lao. Trong quá khứ hầu như các sử gia theo thuyết “Thiên mệnh” (đại khái cho rằng vua đã được Trời chọn và theo mệnh của Trời để trị dân) đều công nhận Triệu Đà là một ông vua nước Việt. Vậy nếu quan điểm này vẫn được sử dụng và cộng nhận trong suốt chiều dài quá khứ cho đến nay, nó gây ra vướng mắc gì?
-Không giáo dục được tinh thần dân tộc cho các thế hệ người Việt. Khi một viên tướng ngoại quốc không có gốc gác với đất nước ta nghiễm nhiên được công nhận là vua của dân ta sau một cuộc xâm lấn chủ quyền.
-Không thể hiện được hết tính khách quan của lịch sử, ví dụ như việc phần đất nước ta chỉ là một phần ít của vùng đất Nam Việt cũng như kinh đô được đặt ở Phiên Ngung(Trung Quốc), nên không thể coi nhà Triệu của Triệu Đà cũng là một triều đại trong lịch sử nước ta. Từ đó sẽ có thể biến thành một quan điểm nhận “vơ” và không hợp lý với lịch sử.
-Sẽ trở nên có khả năng mâu thuẫn với Sử Trung, vì người Trung trong lịch sử luôn muốn Hán hoá, hay biến mọi thứ thành của người Hán ví như công nhận nhà Nguyên, nhà Thanh là một triều đại của mình để hợp thức hoá rằng các xứ Mông Cổ…cũng có nguồn gốc với Trung Quốc. Đối với Nam Việt cũng vậy, với ý kiến cá nhân của tôi cho rằng sự kiện nhà Thanh không chấp nhận tên Nam Việt để cầu phong tên nước của Vua Gia Long triều Nguyễn năm 1804 có liên quan đến Nam Việt của Triệu Đà vì muốn hợp thức hoá quốc gia này nên mới cho đổi thành Việt Nam.
Nhận định ngắn cuối cùng.
Có nên gọi Triệu Đà ông vua mở nghiệp quốc thống cho dân tộc ta?
Không nên, tư tưởng hiện đại đề cao quan điểm dân tộc, phải là người chung nguồn gốc thì mới thể xưng vua một nước huống chi bộ máy nhà nước của họ Triệu dùng phần đa vẫn là người Hán. Thực tế vẫn là việc Triệu Đà là quân xâm lược đã cướp nước của An Dương Vương mà cai trị, không phải xuất phát từ lòng dân mà có được, việc Âu Lạc vẫn chỉ là phần nhỏ của Nam Việt và kinh đô đặt ở Phiên Ngung cũng là một nguyên nhân nữa.
Triệu Đà là vị hiền quân hay một kẻ ham mê quyền lực
Theo góc nhìn của tôi, Triệu Đà tách cát cứ khi nhà Tần sụp đổ là vừa thời, không sai vì sau đó đã có nhiều cuộc nổi dậy như của Lưu Bang và Hạng Vũ. Triệu Đà có mong muốn xưng đế tỏ rõ muốn đưa Nam Việt sánh với nhà Hán về sau lại bỏ xưng vương theo tôi là do gặp phải ân đức sâu rộng của Văn Đế hoặc vì tuổi tác phần nhiều ảnh hưởng và muốn giữ lấy cơ ngơi nhà Triệu là hơn, không sai mà lại tốt cho dân ta khi ông đã có nhiều tác động đến đất nước ta hướng về mặt tốt, vỗ yên bờ cõi, giáo hoá nhân dân, mặc dù có một số giai đoạn ông đem văn hoá Trung Quốc du nhập nước ta cũng như gây sự can qua cho đất nước (vụ đánh Trường Sa).
Nên đặt Triệu Đà vào vị trí nào để xứng đáng?
Chúng ta khẳng định Triệu Đà là quân xâm lược đối với dân tộc nhưng không phủ nhận nhiều công lao của ông đối với dân tộc ta thời buổi bấy giờ. Nhưng kiên quyết không cho ông một danh xưng đế lập quốc trong chính sử dân tộc như nhiều sử gia theo thuyết Thiên mệnh đã làm. Xét một cách công bằng, Triệu Đà không thể xem là người anh hùng dân tộc, nhưng cũng khó thể coi là kẻ thù không đội trời chung; ông là một nhân vật lịch sử phức tạp, tiêu biểu cho thời đại giao thoa giữa Nam và Bắc, giữa xâm lăng và xây dựng.
Và đó là quan điểm của tôi về nhân vật gây tranh cãi bậc nhất lịch sử: Triệu Đà.
Hãy cho ông một chỗ đứng xứng đáng với những gì ông mang đến đối với nước Việt ta thuở ấy, nhưng cũng thẳng thừng, kiên quyết không cho ông một danh xưng vị đế vương nước Nam vì chúng ta hãy đứng ở góc nhìn: đừng vì tình riêng mà phạm lẽ công bằng.
Có người coi ông là kẻ xâm lược, có người lại nhìn nhận ông như người mở đầu cho một triều đại độc lập ở phương Nam. Với tôi dù ở góc độ nào, Triệu Đà vừa mang dấu ấn của một nhà chính trị thực dụng, vừa là minh chứng cho sự giao thoa văn hóa giữa Hoa Hạ và Bách Việt. Dù tôi đã đánh giá ông ở nhiều khía cạnh, ta cũng không thể phủ nhận vai trò của ông trong tiến trình lịch sử. Nhìn lại Triệu Đà, tôi nhận ra rằng lịch sử không chỉ là câu chuyện về đúng – sai, mà là bức tranh đa chiều cần được nhìn nhận trong bối cảnh. Và chính sự đa chiều ấy khiến tôi càng muốn tìm hiểu sâu hơn, để hiểu không chỉ về một con người, mà còn về thời đại mà ông đã sống.
Tài liệu tham khảo và ghi chú
- Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Cao Huy Giu và Đào Duy Anh, nxb Khoa học xã hội(1967)
- Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Văn học, 2005 (tái bản).
- Một số bài viết trên báo mạng và trang tin phổ biến về lịch sử Việt Nam giai đoạn 2010–2025 (Báo Nhân Dân, Dân trí, v.v…).
- Các mục từ trên Wikipedia tiếng Việt và tiếng Anh, như “Triệu Đà”, “Nam Việt”, “Việt Nam thời cổ đại”.