Bắc Triều Tiên và Triều Đại Kim (Bài 13)

BRADLEY K. MARTIN

Trần Quang Nghĩa dịch

MƯỜI BA : Dẫn đầu Thế Giới về Trò Ảo Thuật

Một quy luật bất di bất dịch là trong quá trình đấu tranh lịch sử này, chủ nghĩa tư bản sẽ thất bại và chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản sẽ giành thắng lợi.

-KIM JONG-IL, NÓI VỚI CÁC NHÀ LÀM PHIM NĂM 1968

Bằng tốt nghiệp của Kim Jong-il gần như chưa ráo mực thì ông đã lao vào các cuộc đấu tranh chính trị mà dưới sự lãnh đạo của ông sẽ trở thành đối trọng của đất nước ông với Cách mạng Văn hóa Trung Quốc.

Những điểm tương đồng thật đáng kinh ngạc. Ở Trung Quốc cũng như ở Bắc Triều Tiên, một người bà con của nhà lãnh đạo tối cao – người vợ thứ tư của Mao Trạch Đông, cựu nữ diễn viên điện ảnh Giang Thanh, đã đóng vai trò này ở Trung Quốc – đã nhổ tận gốc các hình thức văn học nghệ thuật “tư sản” và các quan chức chịu trách nhiệm, thay thế cả hai với những người “cách mạng”. Các tổ chức mới của những thanh niên cuồng nhiệt cực đoan – Hồng vệ binh trích dẫn Mao và các đội Tam Cách mạng trích dẫn Kim Il-sung, nhóm sau do Kim Jong-il lãnh đạo – đã tiến hành cuộc tấn công vào các nhân vật quyền lực trong các lĩnh vực phi nghệ thuật và cách làm việc lỗi thời của họ.

Tuy nhiên, sự tương đồng không đi xa nhiều nữa. Mao đã sử dụng nhưng không phải lúc nào cũng kiểm soát hoàn toàn cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản Vĩ đại của Trung Quốc, một phần trong đó là công việc từ dưới lên, tương đối tự phát và thực sự cách mạng nếu không muốn nói là lầm đường khủng khiếp, và mang tính hủy diệt. Trái lại, Kim Il-sung và con trai ông lại kiểm soát chặt chẽ phong trào mang tính cách mạng chủ yếu theo nghĩa nó tìm cách thay đổi vĩnh viễn suy nghĩ của người dân. Phục vụ mục tiêu rất bảo thủ là bảo vệ và duy trì chế độ hiện tại, việc kiểm soát tâm trí của Bắc Triều Tiên đã nhanh chóng vượt qua tất cả các phong trào chính trị toàn trị khác trong thế kỷ XX.

 

Trong khi người ta thường cho rằng Kim Il-sung chỉ bắt đầu thúc đẩy việc lựa chọn con trai mình làm người kế nhiệm ông vào những năm 1970, một cựu quan chức ưu tú của chế độ, người biết rõ về Kim Jong-il và thường xuyên liên lạc với ông, cho biết việc chuẩn bị có hệ thống thực sự đã bắt đầu từ một thập kỷ trước – ngay cả khi cậu bé Kim vừa hoàn thành chương trình học đại học. Chắc chắn  dường như có ai đó đã có kế hoạch lớn cho chàng trai trẻ – xét về nhiệm vụ cấp cao mà anh ta ngay lập tức được bổ nhiệm vào Ủy ban Trung ương Đảng Lao động, trung tâm đầu não của chế độ.

Theo lời kể của Bình Nhưỡng, “không phải ngẫu nhiên mà Kim Jong-il bắt đầu làm việc tại Ủy ban Trung ương.” Điều đó có vẻ là một cách phát biểu quá nhẹ, nhưng phiên bản chính thức không có ý ám chỉ gián tiếp đến quyền tập ấm của anh ta. Thay vào đó, khẳng định rằng người thanh niên này được chọn vào làm việc trong “bộ tổng tham mưu cách mạng” xuất chúng hoàn toàn dựa trên thành tích. Quả thực, phiên bản của Bình Nhưỡng kể rằng Kim Il-sung “kiềm chế không làm bất cứ điều gì có thể được coi là nỗ lực đánh bóng con trai mình trở thành người thừa kế tương lai hoặc áp đặt anh ta lên trên người dân.” Kim con chỉ được “rèn luyện để suy nghĩ và hành xử như một người đầy tớ tận tụy của nhân dân.”

Giai đoạn đầu trong sự nghiệp của ông chứng kiến ​​ông thăng tiến nhanh chóng trong công tác cán bộ Trung ương cho đến khi trở thành nhân vật số hai trong ban tuyên truyền của đảng. Cha của ông trong thời kỳ đó đã cho ông sự tự do mà bất kỳ quan chức mới vào nghề nào cũng không thể tưởng tượng được. Chuyển từ vấn đề này sang vấn đề khác, thường bỏ qua sự phân chia quyền lực và trách nhiệm đã được thiết lập sẵn, Kim Jong-il có được cái nhìn tổng quan về chế độ. Trong quá trình đó, ông đã gặp được nhiều người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội.

Trong giai đoạn tiếp theo, Kim con tập trung vào việc cải tổ nền điện ảnh và opera của đất nước. Đó là khoảng thời gian học tập và phát triển cá nhân hiệu quả. Quả thực, đó là thời điểm chiến thắng khi ông thu hút được những tràng pháo tay cho những tác phẩm như bộ phim năm 1969 và vở opera cách mạng Biển Máu năm 1971.

Có rất nhiều báo cáo về các cuộc đụng độ với các quan chức khác. Trong suốt những giai đoạn đầu của sự nghiệp, theo một cựu quan chức quen biết ông, một quá trình thử nghiệm đang được tiến hành để cố gắng xác định những người mà Kim Jong-il có thể không thể kiểm soát được khi đến lượt mình nắm quyền.

Lưu ý rằng việc gắn thẻ những kẻ thù tiềm năng của Kim con như vậy xảy ra khi cha ông cảm thấy việc nắm giữ quyền lực chế độ bị đe dọa, ở mức độ chưa từng có kể từ Chiến tranh Triều Tiên. Ngoài các nhân vật nội bộ dám phê phán nào đó đã mạnh dạn ngẩng cao đầu, mối đe dọa còn đến từ kẻ thù bên ngoài. Chính sách được áp dụng là đánh bại mọi kẻ thù bằng cách tập trung lòng trung thành của quan chức và quần chúng, thậm chí nhiều hơn trước, vào chính con người của Kim Il-sung hơn là về đất nước hoặc về một số nguyên tắc trừu tượng.

Trong những gì có thể đại diện cho một cuộc đấu tranh quân sự-dân sự trong chế độ, Kim Il-sung vào năm 1966 đã sa thải các nhà lãnh đạo phụ trách chính sách kinh tế của mình và, vào năm tiếp theo, đã quay lưng lại và sa thải những quan chức đã chỉ trích chính sách đó. Kim phàn nàn rằng một số người đã táo bạo cho rằng, sau khi một quốc gia đạt được một mức độ phát triển kinh tế nhất định, quốc gia đó không còn có thể mong đợi duy trì tốc độ tăng trưởng cao như trước nữa. Các khái niệm “thụ động và bảo thủ” như vậy không thể được cho phép. Một cấp phó cấp cao cảnh báo rằng người dân Triều Tiên, bao gồm cả các lãnh đạo đảng, phải thể hiện “một đặc điểm cách mạng không chấp nhận ý tưởng nào khác ngoài các ý tưởng cách mạng của đồng chí Kim Il-sung, một đặc điểm khiến tư duy và hành động phù hợp với chính sách của đảng chúng ta và chấp nhận chính sách đó và thực hiện nó một cách vô điều kiện, không một chút dao động trong bất kỳ cơn sóng gió nào.”

Là người thực thi cái mà chế độ gọi là hệ thống “nguyên khối” hay “đơn nhất”, Kim Jong-il trong thập niên 60 và 70 đã chủ trì việc chuyển sang mô tả giáo điều nhà nước là “Chủ nghĩa Kimilsung”. Thuật ngữ này, với ý nghĩa cụ thể là sự cai trị của một người, được gán cho chính Kim.

Trong khi Kim cha, như chúng ta đã thấy ở chương 7, gia tăng căng thẳng với Hoa Kỳ, thì con trai ông bắt đầu tăng cường thói sùng bái cá nhân. Kim Jong-il, khi bắt đầu làm việc với đảng, đã được thuyết phục về sự cần thiết phải bảo vệ quyền lực tuyệt đối của Kim Il-sung và các tư tưởng cách mạng của ông “nhằm vượt qua tình thế khó khăn này”.

Chính trong khoảng thời gian đó Kim cha đã thực hiện quá trình chuyển đổi từ nhà độc tài đơn thuần thành một vị thần chính thức.

“Các nhà lãnh đạo Triều Tiên tuyên bố rằng họ phản đối Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc, nhưng trên thực tế, họ bắt chước Cách mạng Văn hóa ở quy mô nhỏ hơn”, cựu lãnh đạo hệ tư tưởng đảng Hwang Jang-yop nhận xét sau đó. “Họ đã tạo ra sự sùng bái cá nhân thậm chí còn mãnh liệt hơn đối với Kim Il-sung và phát động một chiến dịch cực tả nhằm loại bỏ xã hội khỏi mọi yếu tố tư bản.” Hwang nói, vì không có “lực lượng chính trị hữu hình nào chống lại Kim Il-sung,” nên “chiến dịch ở Bình Nhưỡng” là một việc đơn giản, đã hoàn thành mục tiêu của mình bằng việc thanh lọc một số trí thức. Nhưng sự việc đơn giản đó lại là bước ngoặt trong sự sùng bái cá nhân Kim Il-sung, ngày càng phát triển mạnh mẽ.”

Một yếu tố phức tạp là cuộc đấu tranh giữa Kim Jong-il và chú của ông, Kim Yong-ju, bắt đầu phát triển sau khi người thanh niên này tốt nghiệp đại học và bắt đầu làm việc trong đảng. Như chúng ta đã thấy ở chương 10, Yong-ju dường như đã được định vị để trở thành người kế vị Kim Il-sung. Ông có những người ủng hộ ở cấp cao, trong đó có Song-ae, vợ của Kim Il-sung. Nhiều người giữ vai trò lãnh đạo trong đảng cho rằng ông sẽ là người kế nhiệm. Nhưng Kim Jong-il đã theo đuổi công việc này. Hwang Jang-yop nhớ lại: “Sự cạnh tranh giưa hai chú cháu dựa trên việc ai có thể đưa Kim Il-sung lên bệ cao hơn”. “Nhờ cuộc thi này, việc sùng bái cá nhân Kim Il-sung đã vượt ra ngoài chế độ độc tài kiểu Xô Viết” và trở thành cái mà Hwang gọi là “chủ nghĩa chuyên chế của Lãnh tụ vĩ đại”.

 

Các tường thuật không chính thức đồng tình với phiên bản chính thức là Kim con ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp đã tập trung nỗ lực vào việc xiển dương lòng trung thành với cách mạng và, đặc biệt, với Lãnh tụ của nó. Triều Tiên có truyền thống coi trọng sự “thuần khiết”. Cả ở Bình Nhưỡng và Seoul, chế độ cầm quyền đều bôi nhọ các điệp viên của phía bên kia là “những phần tử ô uế”. Theo kiểu hành xử Nho giáo điển hình Triều Tiên mà Karl Marx chắc chắn chưa bao giờ hình dung lại là một thành tố của đường lối cai trị cộng sản, Kim Jong-il thích tự gán  cho mình phẩm chất vì xuất thân từ dòng dõi cách mạng thuần khiết. Và ông nhấn mạnh rằng những người khác phải thừa nhận sự vượt trội của mình về mặt đó. Suy cho cùng, Kim Il-sung đã chứng tỏ được tính thuần khiết của mình bằng cách không hề đi chệch hướng dù chỉ một chút khỏi cuộc đối kháng với thực dân Nhật Bản.

Theo một lời kể, chàng trai trẻ đó tỏ ra khinh thường bất kỳ người Triều Tiên nào thuộc thế hệ của bố, những người tỏ ra yếu đuối trước kẻ thù và do đó không đáp ứng được tiêu chuẩn cao của Kim Il-sung. “Đồng chí, đồng chí đã cống hiến bao nhiều cho cách mạng thời Nhật đô hộ?” ông ấy sẽ hỏi một người lớn tuổi. “Đồng chí có khi nào thực hiện một hành vi phản cách mạng nào chưa?” (tôi cũng bắt gặp một thái độ tương tự của rất nhiều bạn trẻ Hàn Quốc, thuộc thế hệ của ông và các thế hệ tiếp theo, những người có ít hiểu biết trực tiếp về những áp lực và phức tạp của cuộc sống dưới ách cai trị của Nhật Bản. Họ hăm hở bác bỏ và coi thường bất kỳ nhân vật có quyền hành nào – từ cha mẹ cho đến cố Tổng thống Hàn Quốc Park Chung-hee, một cựu quân nhân Nhật Bản – trên cơ sở không đủ lòng yêu nước.)

Một trong những đối tượng mà Kim Jong-il coi thường là chú của ông, Kim Yong-ju. Với tư cách là Giám đốc Ban Tổ chức và Chỉ đạo Trung ương, người chú chính thức là ông chủ đầu tiên của chàng sinh viên trẻ mới tốt nghiệp. Nhưng theo một lời kể phía Hàn Quốc, ông sớm biết rằng chàng hoàng tử bé không dễ bị điều khiển.

Trong nhiều năm, nhiều báo cáo khác nhau xuất hiện ở Hàn Quốc cho rằng Kim Yong-ju đã bị người Nhật bắt vào cuối những năm 1930 và đã trở thành cộng tác viên. Không rõ liệu Kim Jong-il khi còn làm việc cho chú mình có biết được những câu chuyện như vậy là đúng hay sai hay không. Tuy nhiên, ngay cả khi ông ta không biết, không có gì phức tạp để xuyên tạc các câu chuyện chiến đấu của Kim Yong-ju và vạch mặt ông ta là tên hèn nhát khi những trải nghiệm trước  giải phóng thường không bị xoi mói nhiều. Chẳng hạn, Yong-ju đã đưa ra tuyên bố phi lý rằng ông ta từng là thành viên ủy ban chính trị của Quân đoàn thứ tư mới của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Các thành viên thực tế của ủy ban đó là những nhân vật nổi tiếng của Đảng Cộng sản Trung Quốc như Lưu Thiếu Kỳ và Trần Nghị.

Tường thuật Hàn Quốc cho rằng mâu thuẫn với chú đã khiến Kim Il-sung phải điều động chàng trai trẻ từ Trung ương đảng về chi bộ đảng ở miền Bắc Tỉnh Hamgyong. Trong chi bộ đảng cấp tỉnh, chàng trai trẻ Kim được cho là đã làm việc dưới quyền Kim Guk-tae, lãnh đạo Ban Tổ chức đảng địa phương. Mặc dù Kim Guk-tae lớn hơn vài tuổi và là một cựu quân nhân, nhưng đây là một cuộc đọ sức hấp dẫn hơn vì cả hai người đều là quý tộc cộng sản thế hệ thứ hai. Cả hai đều có thể tự hào về dòng dõi “cách mạng thuần khiết””của mình. Tốt nghiệp trường Mangyongdae, Kim Guk-tae là con trai của Kim Chaek, một vị tướng du kích chống Nhật ngang hàng với Kim Il-sung ở Mãn Châu, Kim Chaek đã chết trong Chiến tranh Triều Tiên khi chỉ huy lực lượng tiền tuyến của Quân đội Nhân dân. Hai chàng trai trẻ đã biết nhau khi còn bé.

 

Khoảng năm 1966, Kim được cho là đã trở lại Bình Nhưỡng để tổ chức đội vệ sĩ của bố. Một lời kể cho biết ông mang cấp bậc thiếu tá và thường xuyên xung đột với Cục trưởng Cục Vệ sĩ, Ο Baek-ryong, một cựu đồng đội du kích chống Nhật của Kim Il-sung. Có báo cáo rằng O cuối cùng đã trở nên khó chịu với tính tự phụ của Kim Jong-il đến mức ông hỏi chàng trai trẻ: “Tôi có phải là phụ tá của anh không?”

Kim con với tư cách là một sĩ quan vệ sĩ tiếp tục đi cùng cha mình trong các chuyến đi chỉ đạo và đưa ra một số hướng dẫn của riêng mình. Đôi khi ông ta dường như đưa ra lời khuyên chỉ để nghe chính mình ra lệnh. Ví dụ, tại ký túc xá công nhân của một nhà máy thép, ông đường đột xông vào một căn phòng – trước sự ngạc nhiên của người đang ở trong đó, những thợ vừa mới tan ca và đang chuẩn bị nghỉ ngơi. Mặc dù các phòng đã được trang bị tốt đến mức các bà mẹ công nhân đến thăm đã hết lời khen ngợi sự tiện nghi của chúng, ông yêu cầu thay những chiếc gối dẹp bằng những chiếc gối ống, thêu theo phong cách truyền thống Triều Tiên và những chậu nước lạnh với nước mới đun sôi. Câu chuyện không đề cập đến việc ông có hỏi công nhân xem đó có phải là điều họ muốn hay không, nhưng nó ca ngợi ông vì đã “xem xét những điểm mà ngay cả các bà mẹ quá chu đáo của họ cũng không nhận thấy.”

Thăm lò đốt tại nhà máy luyện thép, thấy nhiều bụi, ông cư xử như một thanh tra sốt sắng của cơ quan Quản lý An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp (OSHA) của Mỹ . Khi được thông báo rằng một máy hút bụi đang được chế tạo, ông nhấn mạnh “với giọng trầm nhưng nghiêm túc, thể hiện quyết tâm của mình”, rằng các quan chức nhà máy phải tắt lò ngay lập tức cho đến khi thiết bị chống ô nhiễm mới sẵn sàng được lắp đặt. Họ có thể đã phớt lờ nếu một vệ sĩ 24 tuổi khác đã ra lệnh như vậy, nhưng đây là con trai của Kim Il-sung. Họ nghiêm túc tắt lò. Những câu chuyện được phổ biến chính thức vẫn tiếp tục được kể về việc ông ta đi bộ qua rừng, cánh đồng và băng qua các tầng nhà máy thép nguy hiểm, xắn tay áo và không ngại bị vây bẩn, đôi khi thực sự trực tiếp xắn tay tham gia công việc – và do đó gây ấn tượng sâu sắc với chủ nhà của mình. “Kim Jong-il đang đích thân làm việc!” một quan chức viết tiểu sử ông đã thốt lên, kể lại một trường hợp trong đó Kim con đã lột vỏ ngô. Một quan chức có mặt tại hiện trường đã “bất ngờ cúi đầu trước tấm lòng cao cả và trung thành của Kim Jong-il.” Có vẻ như những người Triều Tiên theo chủ nghĩa bình quân vẫn vững lòng trong niềm tin rằng những yêu cầu thông thường không nên áp dụng cho con trai của người cai trị đất nước. Quan điểm đó không bắt nguồn từ học thuyết cộng sản mà từ Nho giáo kiên quyết chống chủ nghĩa bình quân  được đại diện bởi hoàng gia nhà Yi và giới quý tộc yangban. Đối với họ lao động chân tay là điều không thể tưởng tượng được; làm thơ đọc thơ trong lúc nhàn rỗi mới là sự theo đuổi đáng ngưỡng mộ nhất.

Nhiệm vụ vệ sĩ là nhiệm vụ gần nhất với quân đội mà Kim con từng phục vụ. Khi đó ông ấy mặc quân phục, nhưng các bức ảnh thường cho thấy ông vận trang phục dân sự. Chế độ đã phải lục lọi tìm kiếm một giai thoại khá cảm động từ thời kỳ đó cho thấy sự quan tâm của ông đến các vấn đề quân sự. Vào tháng 7 năm 1967, gần đỉnh điểm căng thẳng quân sự với Hàn Quốc và Hoa Kỳ, ông đã đến thăm một căn cứ phòng thủ ven biển trên Biển Nhật Bản. Đầu năm đó, một khẩu đội ven biển của Triều Tiên đã bắn chìm một tàu hộ tống tuần tra của Hàn Quốc ở vùng biển đó. Tháng giêng tiếp sau sẽ chứng kiến ​​việc bắt giữ tàu Pueblo.

Đơn vị phòng thủ bờ biển tất nhiên chuyên về súng lớn. Nhưng bản thân Kim Jong-il được biết đến như một xạ thủ súng trường cừ khôi – có lẽ là kết quả của nhiều chuyến đi săn cùng bố. Thảo luận về chương trình huấn luyện binh lính, ông phàn nàn rằng họ đã tập trung vào pháo binh mà bỏ qua việc luyện tập súng trường. Suy cho cùng, họ có khi phải bảo vệ vị trí của mình bằng súng trường nếu súng lớn thất bại. Ông ta yêu cầu các pháo binh trình diễn khả năng bắn súng trường của mình, nhưng họ thể hiện không giỏi lắm. Thấy vậy ông ta liền “bước đến một vị trí và thị phạm về tư thế bắn đúng, ông dạy họ cách đạt được tài thiện xạ hạng nhất. Nhìn vào Kim Jong-il, người ướt đẫm mồ hôi, các chỉ huy cảm thấy vô cùng ân hận vì đã lơ là việc huấn luyện vũ khí nhẹ.” Hoặc có lẽ một hai người trong số họ đã âm thầm nuôi dưỡng những suy nghĩ đen tối về một tên được quyền trốn quân dịch 25 tuổi đã chọn đúng chủ đề để thảo luận và trình diễn kỹ năng duy nhất mà y có thể thể hiện cho binh sĩ của mình?

Sau khi làm nhiệm vụ cận vệ Kim Jong-il trở lại Ban chấp hành Trung ương đảng, đảm nhận các chức vụ trong ban tuyên truyền, vận động. Ở đó, ông trở thành một con chó săn máu trong việc nhổ tận gốc những phần tử không trung thành đến nỗi một phiên bản chính thức đọc nghe như lịch sử của Tòa án Dị giáo Tây Ban Nha: “Kim đã tJong-il trong một thời gian nhắn đã có thông tin cụ thể về các điều kiện nội bộ của đảng, đã phát hiện ra ở đó tồn tại một vấn đề nghiêm trọng.”

[Kim] phát hiện ra dấu hiệu một âm mưu nguy hiểm của một số phần tử ô uế. Ông phát hiện ra một số quan chức đảng đang theo một lối sống đảng viên không lành mạnh. Họ không chân thành trong công tác đảng, phớt lờ các quy định của đảng nhằm che giấu những sai phạm của nhau. Kim Jong-il … thấy rằng có điều gì đó mờ ám trong lối sống của họ và vì thế ông đã nghiên cứu kỹ lưỡng những khuyết điểm, và sai phạm trên mọi lĩnh vực hoạt động của họ. Kết quả là phát hiện ra một quan chức giữ chức vụ cao trong đảng đứng đằng sau những vi phạm này. Ông phát hiện ra điều này khi đọc một cuốn sách nào đó và nhận thấy trong đó có một đoạn phủ nhận truyền thống cách mạng thuần khiết của Đảng. Nhiều người đã đọc cuốn sách, nhưng không có ai chỉ ra được sự thật này. Chỉ có ông ấy mới nhìn thấy trong đó một.âm mưu vu khống chính sách của đảng và phủ nhận sự trong sạch của truyền thống cách mạng. Ông ấy không mất thời gian trong việc kiểm tra các ấn phẩm liên quan đến cuốn sách đó. Mối quan tâm của ông đã được chứng minh là đúng, vì ông thấy không ít sách ủng hộ một số ý tưởng và lối sống tư sản, Nho giáo, xét lại … Một số ít người, vây quanh vào một viên chức đảng cao cấp, truyền bá tư tưởng bất thiện một cách có hệ thống và có tổ chức ở hậu trường, đồng thời bề ngoài giả vờ ủng hộ tư tưởng của đảng.

Không có tên nào được nêu trong phiên bản Triều Tiên độc ác này của Đặng Tiểu Bình Trung Quốc, nhưng quan chức cấp cao mà chàng trai trẻ trung thành nhiệt huyết đang theo đuổi dường như là Kim To-man. Được chọn vào năm 1966 làm bí thư đảng phụ trách tuyên truyền và vận động, Kim To-man là người duy nhất trong số mười người được giữ chức vụ bí thư vào thời điểm đó không thể tự hào về kinh nghiệm làm tướng quân du kích hoặc có quan hệ huyết thống với các thủ lĩnh du kích.  Kim Jong-il đã theo đuổi ông ta và những người theo ông ta, những nhân vật có ảnh hưởng trong “giới văn học và nghệ thuật” – tức là tuyên truyền của đảng. Điều tra viên trẻ tuổi đặc biệt hứng thú với vở kịch mang tên Một Hành động Chân thành. Ông lập luận rằng vở kịch nhằm mục đích che đậy các khuyết điểm của những người mà ông tin hoặc nghĩ ngờ đã không chiến đấu trong cuộc chiến chống Nhật. Vở kịch, theo lời người viết tiểu sử về Kim Jong-il,

được viết khiến cho bọn âm mưu và những kẻ có tham vọng lợi dụng “tự truyện” để ra vẻ mình là “nhà cách mạng”. . . Tuy nhiên, khi cách mạng bước vào giai đoạn khó khăn, những kẻ không thể chịu đựng được thì ngóc đầu lên như những phần tử ô uế và dao động. Nhiều người trong số họ có nghề nghiệp không rõ ràng. Tuy nhiên, Đảng và Chủ tịch Kim Il-sung đã có thái độ thận trọng và sự hào phóng đối với họ để họ được giữ những chức vụ có trách nhiệm trong đảng và nhà nước, mong rằng khi được tin tưởng và giao trọng trách nặng nề, họ sẽ đền đáp sự đối xử hào phóng với những nỗ lực chân thành. Tuy nhiên, họ đã phản bội lòng tin dành cho họ, và khi được giao các vị trí lãnh đạo và khi chức vụ của họ cao hơn, họ trở nên kiêu ngạo và sau đó có thái độ hống hách, nhất quyết đạt được mục đích cá nhân của mình trong đảng.

Đây là một trường hợp mà Kim Il-sung đã nhổ tận gốc các đối thủ từ bên trong nhóm đảng phái và quân đội – có lẽ vì họ chỉ trích các chính sách mới, cực đoan của ông hơn là quan điểm của họ về văn học – và con trai ông đã nhiệt tình thổi phồng lên. Một phần, Kim con đang tìm cách chứng minh lòng trung thành của mình đối với bố. Nhưng theo Hwang Jang-yop, Kim Jong-il cũng có cái rìu riêng của mình để mài giũa: ông hy vọng sẽ gạt bỏ những vây cánh cấp cao của chú mình trong các nhóm quyền lực lúc bấy giờ.

“Đã biết động thái của họ”, Kim cha triệu tập cuộc họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương đảng vào tháng 5 năm 1967 “đập tan âm mưu của các phần tử tư sản và xét lại”. Trước khi cuộc họp đó được tổ chức, Lãnh tụ Vĩ đại đã bắt đầu một cuộc “đấu tranh về mặt tư tưởng”. Tuy nhiên,  lúc đầu “những người tham gia đấu tranh không hiểu được mức độ nghiêm trọng của tình hình”. Kim Jong-il, đến giải cứu, “đã vạch trần bản chất của những phần tử chống đảng, phản cách mạng, ngóc đầu lên mỗi khi đảng phải đối mặt với thử thách ”.

Thế là quả bóng bắt đầu lăn, và ngay sau đó những người khác cũng tham gia, theo dõi và tố cáo các phần tử mục tiêu. Ví dụ,

Một quan chức nào đó đã phát hiện ra một “chỉ thị” không trong sạch do một phần tử chống đảng viết vào sổ tay của mình và với con mắt tỉnh táo, y thấy rằng nó có thể dùng làm bằng chứng vạch trần hành vi tội ác của phần tử chống đảng và đã tham gia không chút do dự trong cuộc đấu tranh chống phe phái. Sau đó nhiều đảng viên khác đã vạch trần hành vi phạm tội của các phần tử chống đảng bằng cách chỉ ra những tình tiết tương tự. Đấu tranh tư tưởng ngày càng gay gắt Sau phiên họp toàn thể, những kẻ muốn truyền bá tư tưởng phản đảng, phản cách mạng trong đảng đều bị tiêu diệt một cách có hệ thống.

Kim To-man và một số đồng chí bị thanh trừng tại cuộc họp đó. Nhiều cuộc thanh trừng tiếp theo sẽ đến.

Hwang Jang-yop đã giải thích bằng ngôn ngữ đơn giản về phần lớn cuộc thanh trừng về văn nghệ kéo theo. Trước đó, Kim Il-sung đã cho phép, thậm chí còn khuyến khích các đồng chí đảng phái cũ của mình xuất bản hồi ký của riêng họ. Những người viết thuê của chế độ đảm bảo những tập sách mình sẽ chấp bút đó phải bao gồm nhiều tài liệu tham khảo tâng bốc về Kim. Theo Hwang, “Nhưng khi Kim Jong-il vào trung ương đảng cuối những năm 1960, ông ấy đã thu hồi lại tất cả các cuốn hồi ký”. “Kim Jong-il lo ngại  những hồi ký làm xao nhãng sùng bái cá nhân Kim Il-sung và tạo ra những truyền thuyết về những đồng chí thời du kích khác của Kim Il-sung.”  Vào cuối những năm 1960, sách giáo khoa của Triều Tiên không còn đề cập đến “nhiều nhân vật anh hùng…”

Trên đường đi săn phù thủy, vào tháng 7 năm 1967, Kim Jong-il đã tới tỉnh Nam Hamgyong và tham gia vào một số hoạt động chính trị thô bạo ở địa phương.  Ông “đã làm việc chăm chỉ ở đó để xóa bỏ các khuynh hướng bè phái, địa phương và gia đình trị vẫn còn tồn tại trong một số tổ chức đảng.”  Ở tỉnh đó và tỉnh Nam Pyongan, các nhà viết tiểu sử chính thức viết, ông “đã làm việc hăng hái để thực hiện chính sách của đảng nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của những ý tưởng không lành mạnh, đồng thời thúc đẩy xây dựng kinh tế và quốc phòng.”  Xây dựng quốc phòng là một uyển ngữ cho chính sách quân sự hóa của Kim Il-sung. Theo một phát ngôn viên không chính thức của Triều Tiên ở Tokyo, Kim Jong-il “đã đấu tranh chống lại những đối thủ địa phương đang cố gắng làm suy yếu sự lãnh đạo của đảng” và sau đó “nổi lên như một nhà lý luận hàng đầu”.

Làm việc từ năm 1958 đến năm 1965 với tư cách là bí thư ý thức hệ của Kim, Hwang Jang-yop dường như đã nhận thấy mình bị lu mờ trong nhiệm vụ tư tưởng khi ngôi sao  Kim con đang lên. Trong khi tiếp tục được coi là một trong những trí thức hàng đầu của đất nước, Hwang đã bị chuyển sang một số công việc thường ít quan trọng hơn trước khi đào thoát sang Hàn Quốc vào năm 1997.

Hwang khá may mắn khi sống sót được. Sau khi đào tẩu, ông kể về Baek Nam-woon, người mặc dù “được kính trọng như cha đẻ của các học giả cánh tả nhưng đã bị Kim Jong-il thanh trừng vào cuối những năm 1960. Tôi nghe nói Kim Byeong-ha, lúc đó là Bộ trưởng Bộ An ninh Quốc gia, khoe rằng người của ông ta đã giải Baek đến trại tập trung … Là một học giả, Baek đã không tham gia tích cực vào chiến dịch chống lại Kim Il-sung. Có lẽ ông ta đã đưa ra một vài nhận xét và bị nghe lén, cho rằng đó là những lời phàn nàn. Baek chết trong trại tập trung.”

 

Hơn cả những câu chuyện nghe có vẻ huyền ảo về sự ra đời, thời thơ ấu và tuổi trẻ của ông, những câu chuyện chính thức tôi đọc kể về những thành tích của Kim Jong-il sau khi tốt nghiệp đại học, hình như cho ta cảm giác dựa trên các sự kiện thực tế. Có vẻ như những người viết tiểu sử thánh của ông đã đi thực tế vào cuối những năm 1970 hoặc đầu những năm 1980 và phỏng vấn những người mà ông đã tiếp xúc trước đó, yêu cầu họ kể lại các cuộc gặp mặt đó. Có lẽ những người kể chuyện ban đầu – và chắc chắn là những kẻ kể lại theo kiểu nịnh hót – đã uốn nắn thêm thắt để các câu chuyện phù hợp với công thức đã được thiết lập trước đó, trong đó chàng trai trẻ luôn khiến người nghe phải gãi đầu vì sự ngu ngốc và bất cẩn của chính mình nhưng lòng đầy khâm phục thiên tài và tình yêu thương nhân dân to lớn của ông ta.

Phản ứng ngay lập tức với những câu chuyện như vậy  là hầu hết những người liên quan ít nhất phải thông minh bình thường. Một số  họ có thể thông minh hơn ông ta. Nhưng có vẻ như lúc đó hoặc họ cảm thấy rằng mình phải giả ngu trong các cuộc họp, hoặc sau đó, họ tự miêu tả mình là những kẻ ngốc để tâng bốc con trai cả của nhà lãnh tụ.

Đối với một người lớn lên trong chủ nghĩa quân bình nghiêm túc và không màu mè của Hoa Kỳ, đúng là tê liệt  khi đọc hết tập này đến tập khác, chẳng hạn như tập mô tả việc Kim Jong-il triệu tập các quan chức phụ trách công tác khoa học và giáo dục. Khi họ đến cuộc họp, ông cho họ biết họ đến đó để giải quyết các câu hỏi lý thuyết, liên quan đến “các ý kiến ​​​​khác nhau trong thế giới học thuật vào thời điểm đó”. Tất nhiên là ông ấy là người phát ngôn. Khi chàng trai 25 tuổi tiếp tục khua môi múa mỏ, “các quan chức đã ghi lại từng lời của Kim Jong-il vào sổ tay của họ.” Họ “cảm thấy tầm nhìn trí tuệ của mình được mở rộng.” Khi ông ấy nói xong, họ cảm thấy tự tin những tranh cãi về học thuật mà ông đã đề cập “đã giải quyết xong.” Họ tin rằng “họ có thể mở mang tầm mắt cho bất cứ ai đang bối rối về chủ đề Jong-il. Khi Kim giải thích xong, tất cả các quan chức đều đứng dậy. ‘Ông ấy thực sự là một thiên tài về tư tưởng và thiên tài về lý thuyết!’- Đây  là điều mà mỗi người trong số họ đều cảm thấy vô cùng xúc động, họ vô cùng kính trọng Kim Jong-il.”

Quả thực, theo Hwang, Kim Jong-il “có xu hướng thống trị các cuộc họp và hội nghị và dẫn dắt mọi cuộc thảo luận đi đến kết luận phù hợp với ý ông ta.”Tôi đoán rằng những quan chức tội nghiệp mà người viết tiểu sử mô tả thực sự đã hạ mình xuống mức xu nịnh nô lệ đến mức cảm thấy họ không còn lựa chọn nào khác. Cuối cùng, những câu chuyện chính thức đã được lặp đi lặp lại thường xuyên trong nước đến nỗi nhiều người trẻ Bắc Triều Tiên – chưa bao giờ nghe ông nói nhiều hơn một cụm từ và không có nguồn thông tin nào về ông ngoại trừ những lời dạy của chế độ – đã thực sự tin rằng Kim Jong-il là một đấng thăng hoa, hoàn toàn khác với những người bình thường. Vì vậy ít cần phải cố tình giả vờ hoặc đóng kịch về phần mình. Nhưng một lần nữa câu hỏi đặt ra là tại sao, nếu có chút nhạy cảm, Kim không những cho phép mà gần như chắc chắn đã ra lệnh dịch những câu chuyện đó từ tiếng Triều Tiên cho độc giả nước ngoài – đối với nhiều người trong số họ chắc chắn tin rằng ông được nhào nặn thành một tên ngốc nghếch.

 

Trong vai trò mới là nhà tuyên truyền và “nhà lý luận”, Kim Jong-il đã tìm cách thúc đẩy tinh thần cống hiến không suy nghĩ đối với người cai trị độc tôn. Óng  đã chỉ đạo việc sản xuất các bức tượng bán thân bằng thạch cao của Kim Il-sung, được ông đặt trong các phòng học trên khắp đất nước – đổi tên từ Phòng học Lịch sử Đảng Lao động Triều Tiên thành Phòng học Lịch sử Cách mạng Đồng chí Kim Il-sung. Điều đó cho thấy rõ rằng người lãnh đạo giờ đây có quyền ưu tiên đối với cả đảng. Chàng trai trẻ Kim cũng ra lệnh đặt một bộ sưu tập mới các bức ảnh lịch sử để đặt trong các phòng nghiên cứu đó, “xét rằng các hồ sơ ảnh hiện có không được chỉnh sửa để làm nổi bật sự vĩ đại của Chủ tịch nước.”

Các nhà viết tiểu sử đã phóng đại và bịa đặt để thổi phồng những thành tựu vẻ vang của Kim Il-sung thành một kỳ tích vĩ đại. Vào những năm 1960, Baik Bong, người viết tiểu sử chính thức của Bình Nhưỡng, đã mô tả Kim là “một anh hùng huyền thoại… có khả năng chỉ huy trời đất, một vị chỉ huy xuất chúng không ai sánh bằng, người, như nó vốn có, có thể thu nhỏ một dãy núi dốc dài trong một cú đánh và đập tan bầy lũ thù địch đông đúc chỉ bằng một đòn.”

Nguồn gốc tinh thần của một nhân vật huyền diệu như vậy đương nhiên phải tương xứng với sự ra đời anh hùng, vì vậy những người viết tiểu sử của ông đã mô tả Kim Il-sung xuất thân từ một gia đình cách mạng thần thánh. Người viết tiểu sử Baik đã gán cho cha của Kim, Kim Hyong-jik, những thành tựu to lớn là thành lập, vào năm 1917, Hiệp hội Quốc gia Triều Tiên, một tổ chức hoạt động ngầm lớn nhất trong số các tổ chức chống Nhật Bản vào thời điểm đó.

Khi các nhà tuyên truyền cạn kiệt những lời cường điệu và dựng chuyện, họ đã ăn trộm. Trong nhà người dân được bày những bản sao khẩu hiệu được cho là của Kim: “Cá không thể sống thiếu nước. Dân không thể sống nếu không có Quân đội Nhân dân. Kim Il-sung.” Tác giả thực sự của cụm từ tất nhiên là Mao Trạch Đông.

Xuất bản ấn bản thứ ba của Tuyển tập Kim Il-sung cùng với nhiều bài bình luận và tiểu sử, hỗ trợ chúng bằng các tài liệu nghe nhìn và phát triển các di tích lịch sử cách mạng cho các chuyến tham quan đại chúng, Kim Jong-il đã thực thi nghiên cứu hàng ngày một cách có hệ thống. Mục tiêu là “làm cho toàn thể đảng viên đồng lòng suy nghĩ, hành động theo nhận xét, lời dạy của bậc lãnh đạo”, làm cho người dân “có niềm tin tuyệt đối vào Chủ tịch nước là chỗ dựa tinh thần cho mình”.

Kim Jong-il không mệt mỏi trong những nỗ lực của ông “nhằm dẫn dắt mọi người đến con đường trung thành.” Chẳng hạn, một người quen ông ta có một anh trai đang gặp rắc rối với chính quyền. Kim Jong-il yêu cầu xem xét lại trường hợp của anh trai y. Hóa ra có một số “phần tử xấu xa” vi phạm và đổ lỗi cho anh trai y . Sau đó, chàng trai trẻ Kim khuyên người quen đầy biết ơn rằng cả gia đình anh nên an tâm và đừng phạm tội nữa: “Nếu một người bị tước đoạt sự nghiệp chính trị hoặc sự tin tưởng của đảng, y chẳng là gì cả. Vì vậy cần  phải làm mọi thứ trong khả năng của mình để giữ vững cuộc sống chính trị do nhà lãnh tụ vĩ đại ban tặng và làm việc chăm chỉ để chứng tỏ mình xứng đáng với lòng tin của ông ấy. Không chỉ bản thân bạn mà tất cả người nhà, người thân của bạn đều phải được trang bị tư tưởng đoàn kết của đảng và được giáo dục để trung thành với người lãnh đạo. Bạn phải sống theo lời dạy của người lãnh đạo mọi lúc, mọi nơi, làm bất cứ việc gì, lấy lời dạy của người lãnh đạo làm thước đo và đấu tranh không ngần ngại chống lại bất cứ điều gì đi chệch khỏi lời dạy của lãnh tụ.”

Khi một dự thảo văn kiện đại hội đảng liệt kê danh sách các quan chức cấp cao của đảng, với tên của Kim Il-sung ở trên cùng, con trai ông đã ra lệnh đánh máy lại để chừa một khoảng trống giữa tên của Lãnh tụ Vĩ đại và phần còn lại của danh sách. Cấp dưới của ông làm theo, nhưng vài ngày sau, ông gọi một quan chức đến và yêu cầu phải in tên Kim Il-sung bằng loại chữ lớn hơn. “Hãy suy nghĩ xem. Có phải vì mặt trời chiếu sáng nên các hành tinh mới tỏa sáng, đúng không?” ông giải thích cho viên chức đang bối rối. “Vì chúng ta không thể vẽ mặt trời và các hành tinh theo cùng một kích thước, nên chúng ta sẽ không bao giờ viết tên của vị lãnh đạo và tên những người theo ông ấy theo cùng một kích cỡ.” Viên chức bây giờ mới hiểu Kim Jong-il đang nghĩ gì và “cúi đầu trước lòng trung thành cao cả của ông”. (Ý tưởng này thực ra được rút ra từ nạn sùng bái cá nhân của Stalin.) Chính tại đại hội đảng đó, năm 1970, Kim Jong-il đã đích thân thiết kế những huy hiệu trên ve áo đầu tiên có chân dung của cha mình và chuyển cho các đại biểu.

 

Kim Jong-il say mê phim ảnh từ thời thơ ấu, ông đã dự những buổi chiếu phim trong dinh thự của cha mình và chủ yếu xem phim Nga. Khi sự mê hoặc đó hội tụ với niềm đam mê phụ nữ, anh chàng mê phim này bắt đầu quanh quẩn ở các xưởng phim ở Bình Nhưỡng và hẹn hò với các nữ diễn viên.

Theo một nguồn tin chính thức, ông đã nói với bố ngay từ năm 1964 – năm ông tốt nghiệp đại học – rằng mọi chuyện không ổn ở các xưởng phim Triều Tiên. Sau đó, Kim Il-sung đã triệu tập một cuộc họp bộ chính trị đảng tại Hãng phim Triều Tiên với sự tham dự của các nhân viên hãng phim. Ở đó, Kim đã có bài phát biểu phàn nàn rằng những kẻ cơ hội trong phong trào cộng sản đang khuất phục trước một cuộc tấn công văn hóa mà bọn đế quốc phát động. Ông ta muốn có một sự thay đổi căn bản. Ngành này phải sản xuất nhiều phim chất lượng cao, có tính nghệ thuật nhưng hấp dẫn về mặt tư tưởng. Các nhà làm phim phải vạch ra một con đường thẳng, bác bỏ hai thái cực: “học thuyết nghệ thuật vì nghệ thuật của những người theo chủ nghĩa xét lại và xu hướng cánh tả chỉ nhấn mạnh đến hệ tư tưởng mà bỏ qua nghệ thuật”. Chủ đề của các bộ phim phải chia thành ba loại: (1) cuộc đấu tranh chống Nhật của Kim Il-sung, (2) Chiến tranh Triều Tiên và (3) nguồn cảm hứng cho người lao động thực hiện “những tiến bộ cách mạng vĩ đại trong sự nghiệp thi công xã hội chủ nghĩa”.

Sau bài phát biểu, khán giả “đã đứng dậy vỗ tay hồi lâu, ngước nhìn Chủ tịch Kim Il-sung và đồng chí Kim Jong-il. . . Chính từ thời điểm đó trở đi, sự chỉ đạo phát triển điện ảnh năng nổ của Kim Jong-il bắt đầu.”

Khi còn ở tuổi đôi mươi, Kim Jong-il đã thăng tiến trong hệ thống cấp bậc của Ủy ban Trung ương đảng để trở thành phó giám đốc ban tuyên truyền và vận động (dưới quyền bạn ông là Kim Guk-tae lần nữa, theo một số báo cáo) và sau đó là giám đốc.

Làm công việc tuyên truyền đã cho con trai của Lãnh tụ vĩ đại một lý do chính thức để tiếp tục quan tâm đến điện ảnh – điều mà cuối cùng sẽ chứng tỏ một nỗi ám ảnh đầy ảo tưởng. Ở một mức độ nào đó, ông chỉ đơn giản muốn chất lượng tốt hơn từ một ngành công nghiệp điện ảnh non trẻ và đang gặp khó khăn, không thể đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật của Moscow, chứ đừng nói đến Hollywood. Ở một mức độ khác, ông quyết tâm loại bỏ tận gốc những ảnh hưởng phản cách mạng, tư sản, xét lại, phong kiến, vọng ngoại mà bọn xấu bị thanh trừng năm 1967 đã vun trồng trong những năm trước đó để đánh lạc hướng người dân khỏi việc tôn thờ Kim Il-sung với sự nhất tâm, nhất trí đúng đắn. Đây sẽ là một phiên bản mặt trái của danh sách đen của Hollywood.

Kim Jong-il bắt đầu bằng việc bãi bỏ hội nghị hàng năm vào tháng giêng của các nhà làm phim trên khắp đất nước để đánh giá sản lượng phim của năm trước từ quan điểm nghệ thuật. Kim chỉ trích cách đánh giá thẩm mỹ vì nó đã không tuân thủ nghiêm ngặt việc thúc đẩy hệ tư tưởng cai trị của một người. Ông gọi nó là “nền tảng được sử dụng bởi những kẻ lảm nhảm để chứng tỏ trí thông minh của mình.” Những kẻ phản cách mạng chống đảng phụ trách phát triển điện ảnh cho đảng đã mơ về phiên họp này với âm mưu “khôi phục lại thói buông thả bản thân đã lỗi thời, ‘tự do hóa’ sáng tạo.” Thay vì nghiên cứu tư tưởng của Kim Il-sung về nghệ thuật và văn học, các diễn giả tại cuộc họp lại tập trung vào các lý thuyết từ bên ngoài. Họ thậm chí còn đi đến mức “đề xuất giới thiệu hệ thống chỉ đạo của cái này và hệ thống diễn xuất của cái kia du nhập từ châu Âu.”

Các quan chức nghe lời phàn nàn của ông đều “hoang mang”, trước đây chưa bao giờ thấy mình gây tác hại gì trong các cuộc họp mặt. Tuy nhiên, bây giờ khi óng ấy đề cập đến điều đó, họ “cảm thấy như thể tầm nhìn của mình đang được mở rộng”. Kim Jong-il sau đó đã mở rộng tầm nhìn của họ rộng hơn một chút, ra lệnh rằng “từ nay trở đi các bạn không được sử dụng từ ‘đánh giá thẩm mỹ. ‘ Thay vào đó chúng ta phải tổ chức một cuộc họp để nghiên cứu tư tưởng nghệ thuật và văn học của nhà lãnh đạo vĩ đại.” Bây giờ họ đã có được bức tranh, và “các quan chức và nghệ sĩ rời khỏi phòng, cay đắng suy ngẫm về sự bất lực phân biệt đúng sai của mình.”

Vài ngày sau Kim Jong-il đã chủ trì buổi họp nghiên cứu đầu tiên về tư tưởng nghệ thuật và văn học thiên về juche của Lãnh tụ Vĩ đại, được triệu tập tại một hãng phim. Ông ta làm nhục diễn giả đầu tiên lên phát biểu, tấn công y vì sử dụng các từ nước ngoài như “moral (bài học đạo lý)” và “suspense (tính hồi hộp)” của một bộ phim trong khi tiếng Triều Tiên cũng có những từ hoàn toàn tốt để diễn giải những tính chất như vậy. Ra dấu bảo diễn giả đang  “ngẩn ngơ” ngồi xuống, ông bày tỏ sự ghê tởm cho rằng “thói quen vọng ngoại và giáo điều thậm chí còn lặp đi lặp lại tại nơi chúng ta đang nghiên cứu tư tưởng văn học và nghệ thuật theo định hướng juche của Lãnh tụ Vĩ đại. Điều này thật kinh khủng.” Nếu không loại bỏ thói quen “bắt chước như con vẹt” người khác, các nhà làm phim sẽ “không bao giờ có thể làm được những bộ phim thực sự có tác dụng lớn cho cách mạng Triều Tiên, những bộ phim được người dân Triều Tiên yêu mến.”

Để quét sạch những sai sót trong quá khứ, “Kim Jong-il đã nghiêm khắc ra lệnh đốt tất cả hồ sơ về các cuộc họp ‘đánh giá nghệ thuật’. Tất cả những người có mặt tại cuộc họp đều bị ấn tượng bởi sự lãnh đạo sáng suốt của Kim Jong-il.” Sau cuộc họp, tất cả các hồ sơ và báo cáo được trình bày “có tính thẩm mỹ trong các lần đánh giá trước” quả thực đã bị đốt bỏ, để có thể thực hiện một khởi đầu mới dựa trên các lý thuyết của Kim Il-sung.

 

Mặc dù Kim Il-sung đã dàn dựng các vở kịch và tiểu phẩm cũng như phổ biến các tiểu luận trong cuộc đấu tranh chống Nhật của mình, ông vẫn chưa làm phim. Do đó, sự lựa chọn rất mong manh đối với các nhà làm phim đang tìm kiếm sự hướng dẫn từ thánh thư của Lãnh tụ vĩ đại. Kim Jong-il vui vẻ bước vào bước đột phá và đưa ra lý thuyết của riêng mình, luôn mô tả chúng là sự phát triển tư tưởng của cha mình.

Tại cuộc họp đầu tiên để nghiên cứu tư tưởng của Lãnh tụ vĩ đại về nghệ thuật và văn học theo định hướng juche, theo các ghi chép chính thức, cũng như trong những dịp khác, Kim con đã đưa ra lý thuyết chongja hay “hạt mầm” của mình. Ông đã “lần đầu tiên trong lịch sử khám phá ra hạt mầm của tác phẩm nghệ thuật, hạt nhân của nó.” Trên thực tế, việc ông yêu cầu các nhà văn và đạo diễn “nắm bắt hạt mầm” của một tác phẩm là một cách khác để hướng họ chọn một chủ đề có thể diễn đạt chỉ bằng vài từ và bám sát nó. Tất nhiên, ở mức độ đó, ý tưởng của Kim Jong-il không hề mới. Nhưng nguyên tắc tập trung chặt chẽ vào một chủ đề rõ ràng có lẽ là nguyên tắc mà các nhà văn-chuyên gia trong đó thường xuyên quên bẵng. (Bản thân tôi, khi đọc những ý tưởng của anh chàng này về “hạt  mầm”, nhận ra rằng nhiều phần trong bản thảo của tôi thiếu trọng tâm và cần viết lại. Cảm ơn Lãnh đạo quý mến vì lời nhắc nhở hữu ích.) Việc Kim nhấn mạnh vào nguyên tắc chỉ tạo ảnh hưởng tích cực đến việc viết kịch bản, chỉ đạo và biên tập phim của Triều Tiên theo quan điểm kỹ thuật

Nội dung lại là chuyện khác. Kim Jong-il muốn những người làm nghệ thuật nắm bắt những hạt mầm nào có thể thúc đẩy hệ tư tưởng của chế độ, đặc biệt là chế độ độc tài. Nói chuyện với các nhà làm phim Năm anh em du kích vào năm 1968, ông phàn nàn rằng họ đã giết chết một nhân vật, khiến anh ta trở thành nạn nhân của một âm mưu của kẻ thù nhằm đầu độc nguồn cung cấp muối cho quân du kích. Điều đó đã đi ngược lại những gì lẽ ra phải là hạt mầm của tác phẩm: “Quân đội Cách mạng Nhân dân Triều Tiên sẽ luôn chiến thắng miễn là căn cứ của cuộc cách mạng còn tồn tại.”

Kim Jong-il cũng phàn nàn rằng nguyên mẫu thực sự của nhân vật mà các nhà làm phim đã giết chết thực ra không chết trong sự cố muối. Và ông ấy nhấn mạnh rằng “văn học và nghệ thuật của chúng ta phải phản ánh sự kiện lịch sử theo đúng nguyên tắc duy trì lòng trung thành với đảng và tính chính xác về mặt lịch sử.” (Lưu ý lòng trung thành với đảng chiếm ưu tiên hơn tính chính xác lịch sử.) “Bạn không được ngụy tạo, một cách bất cẩn, những gì không tìm thấy trong cuộc sống, và những cảnh hiện tại khác xa với sự thật, chỉ đơn giản là vì mục đích nghệ thuật. Trong việc xử lý các sự kiện lịch sử bạn phải loại bỏ những thứ không có thực thể ; nhưng bạn không được loại bỏ điều gì có ý nghĩa thiết yếu, diễn giải nó theo ý bạn hoặc phát minh ra điều gì đó.”

Đó là lời khuyên tốt. Tôi nghĩ nó đã được ghi nhớ, ở một mức độ nào đó, dựa trên cơ sở thực tế rõ ràng trong nhiều câu chuyện kể về Kim cha và con trong các cuốn sách mà chế độ xuất bản từ những năm 1980 trở đi, ít nhất là cho đến khi Kim Il-sung qua đời năm 1994.

Nhưng Kim Jong-il chỉ làm theo lời khuyên của chính mình một cách có chọn lọc. “Căn cứ cách mạng” mà ông nhắc đến trong bài phê bình Năm anh em du kích được hiểu là sở chỉ huy!của Tướng Kim Il-sung, con người cao quý đó có số mệnh trở thành Lãnh tụ vĩ đại của Triều Tiên. Trên thực tế lịch sử, sở chỉ huy của Kim Il-sung không hơn gì các sở chỉ huy của bất kỳ nhóm chiến binh du kích và lãnh đạo chính trị nào khác, tọa lạc tại các khu vực khác ở Mãn Châu, ở Trung Quốc, ở chính Triều Tiên hoặc các nơi khác, những chiến binh cách mạng ngang bằng hoặc tốt hơn Kim.

Quy tắc bất thành văn dường như là người viết nên tránh nói dối về những điều nhỏ nhặt, những sự kiện dễ dàng kiểm chứng được và phải bám vào những lời dối trá kp7lớn – chẳng hạn như quyền lãnh đạo tự phong của Kim Il-sung đối với toàn bộ “cuộc cách mạng” từ những năm 1930 trở đi và việc Hàn Quốc xâm lược miền Bắc để bắt đầu Chiến tranh Triều Tiên. Kim Jong-il không đề cập nhiều, trong các tài liệu xuất bản, đến tầm quan trọng của Lời Dối trá Lớn đối với chế độ. Tuy nhiên, ông tán thành việc hư cấu hóa các sự kiện lịch sử: “Tác phẩm nghệ thuật, mặc dù dựa trên các hoàn cảnh thực tế, không được sao chép các sự kiện và tình huống một cách tự động; tác phẩm phải xác định những gì có ý nghĩa thiết yếu và khái quát hóa chúng,” ông nói, trong cùng một bài nói chuyện ở đó ông đã nhấn mạnh đến tính trung thực với sự thật. Thật không may, ông nói, những nhà làm phim thiếu trí tưởng tượng mà ông đang nói đến đã “không thể tận dụng tối đa khả năng sáng tạo tuyệt vời này.”

Lời khuyên có vẻ mâu thuẫn của ông có thể tóm lại là: Hãy bám vào sự thật nếu việc bịa đặt có thể dễ dàng bị phát hiện – nhưng nếu lời nói dối có thể phục vụ cho việc duy trì chế độ, thì hãy nói dối và vượt qua sự hoài nghi của người dân bằng sức mạnh kịch tính và sự lặp lại liên tục.

Để đưa các nhà làm phim đi đúng hướng, Kim Jong-il quyết định hướng dẫn họ làm phim dựa trên một số tác phẩm – kịch hoặc tiểu phẩm – từ thời kỳ đấu tranh chống Nhật ở Mãn Châu. Trong mỗi trường hợp, đó là những tác phẩm mà tác giả gốc được cho là Kim Il-sung. Đầu tiên trong số đó là Sea of ​​Blood (Biển Máu), đó là câu chuyện về một bà mẹ bình thường ở một ngôi làng nông thôn góa chồng trong biển máu do hành động tàn bạo của đế quốc Nhật Bản. Câu chuyện kể lại một cách sinh động về cách người mẹ nhận ra sự thật của cuộc đấu tranh qua thử thách, đã đứng lên trong cuộc đấu tranh cách mạng. Phải nuôi ba đứa con, vai nữ chính phải trải qua một khoảng thời gian khó khăn dưới sự cai trị áp bức của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản. Con trai lớn Won-nam gia nhập quân du kích chống Nhật những năm đầu đời, cô con gái duy nhất Gap-sun và cậu con trai út Ul-nam dần dần thức tỉnh trước sự nghiệp cách mạng.

Bà mẹ biết được chân lý cách mạng, đầu tiên là nhờ ảnh hưởng của chồng con và sau đó được giáo dục bởi một cán bộ chính trị du kích chống Nhật.

Một ngày nọ, cậu con trai út Ul-nam bị kẻ thù sát hại dã man khi đang cố gắng cứu người cán bộ chính trị đang bị quân đồn trú Nhật truy đuổi. Xốc lên ý chí kháng cự trong vực sâu tuyệt vọng, vai nữ chính phẫn nộ đứng dậy, tổ chức hội phụ nữ, tham gia cùng công nhân và tìm được thuốc nổ. Sau những hoạt động nổi bật, bà dẫn đầu một cuộc nổi dậy quần chúng hỗ trợ cuộc tấn công vào huyện lỵ của Quân đội du kích và sau đó gia nhập. Trong ngày vui giải phóng huyện lỵ, nữ anh hùng nói trước quần chúng về sự thật mà mình đã biết, nhiệt tình kêu gọi họ đứng lên làm cách mạng.

Đội ngũ sáng tạo của Kim Jong-il đã dành một năm để phát triển kịch bản của bộ phim dựa trên kịch bản của vở kịch gốc. Kim con nhanh chóng thể hiện sở thích làm việc vào ban đêm của mình bất kể giờ giấc nghỉ ngủ của cấp dưới, những người mà ông ta mong đợi sẽ điều chỉnh theo giờ giấc của mình. Ở trong “ngôi nhà bên hồ” – có lẽ là một trong những biệt thự của mình  ông đã làm việc với đội ngũ sáng tạo kịch bản. Một đêm,

những người viết kịch bản, đã làm việc miệt mài đến tận đêm khuya, vừa chuẩn bị đi ngủ thì Kim Jong-il gọi họ và trao lại những bản thảo mà anh đã xem qua. Ông ấy yêu cầu họ mang cho mình bất kỳ bản thảo nào khác mà họ có thể có. Lúc đó đã 2h30 sáng nên họ lưỡng lự. Một người trong số họ đề nghị ông nên đi ngủ.

“Đừng bận tâm, hãy đưa cho tôi những bản thảo khác đồng chí đã viết, nếu có. Đồng chí biết đấy, chủ tịch đã viết tác phẩm nổi tiếng này, thức trắng trong nhiều đêm liền, sử dụng thời gian nghỉ ngơi giữa các cuộc đấu tranh khốc liệt, đẫm máu chống quân Nhật. Trong trường hợp đó, làm sao chúng ta có thể cho phép mình, khi viết phiên bản điện ảnh của kiệt tác đó,  được nghỉ ngơi và ngủ bao nhiêu tùy thích, hài lòng với điều kiện thoải mái của mình? Tôi thích làm việc trong những giờ phút yên bình vào sáng sớm. Làm ơn đưa cho tôi những bản thảo mà đồng chí đã viết.”

Đôi mắt ông long lanh với nỗi háo hức. Các nhà văn bị cuốn theo cảm xúc dâng trào và đưa cho ông bản thảo của mình.

Nhận bản thảo, Kim Jong Il một lần nữa lao vào công việc biên tập của mình. Đêm trôi qua, ánh trăng soi trên mặt nước gợn sóng của hồ nhạt dần trong ánh bình minh xám xịt. Các nhà văn cũng ngồi vào bàn làm việc lâu hơn một chút. Chẳng bao lâu họ không chịu được cơn mệt mỏi và bắt đầu ngủ vùi.

Bao nhiêu thời gian trôi qua không ai biết. Một người bị đánh thức bởi tiếng nước nhỏ giọt ở đâu đó. Âm thanh chắc chắn đến từ nhà vệ sinh. Kim đồng hồ đang chỉ 4 giờ sáng. Anh ta vểnh tai lên để xác định xem âm thanh phát ra từ đâu, và một lần nữa .. . tiếng nước chảy giờ hòa lẫn với tiếng nước bắn tung tóe. Người viết đứng dậy. Anh vào phòng vệ sinh và ngạc nhiên khi thấy Kim Jong-il đang rửa mặt bằng nước lạnh. Một cục nghẹn chợt dâng lên trong cổ họng anh. “Anh ấy đang vượt qua sự mệt mỏi do làm việc quá sức.” Người viết như bị mê hoặc đứng một lúc, nhìn chằm chằm vào vị lãnh tụ kính yêu, người đã rất tâm huyết với công việc biến phiên bản màn ảnh thành một tác phẩm trường tồn để truyền lại cho hậu thế.

Kim Jong-il cũng đích thân giám sát việc quay phim Biển máu. Vào tháng 9 năm 1969, khi quay một cảnh quân Nhật đốt cháy một ngôi làng, ông chạy đi chạy lại trong làn khói để đảm bảo tất cả các đoạn đều khớp với nhau. Ông kể về một diễn viên đóng vai một lính Nhật “vung kiếm chạy khắp nơi dù vừa mới bị một nông dân giết chết bằng một chiếc rìu.” Ở một thời điểm khác, ông ta thúc giục nhóm kỵ binh Nhật lao về phía mẹ của Ul-nam, đang điên cuồng tìm kiếm các con của mình, nhưng họ không nghe thấy ông. Ngay lập tức ông lao vào làn khói ngột ngạt và dẫn nhóm kỵ binh đến nơi họ cần đến.”

Biển Máu được công chiếu sau đó vào năm 1969, vài năm sau là các phiên bản màn ảnh của các “kiệt tác cách mạng” của Kim Il-sung. Năm 1970 xuất hiện Số phận một người lính thuộc Quân đoàn Phòng vệ, nhân vật chính lần đầu tiên bị buộc phải phản bội tổ quốc thông qua việc phục vụ trong quân phòng vệ của đế quốc Nhật Bản. Anh ta nhanh chóng nhận thấy quân đoàn là “địa ngục trần gian của sự phân biệt chủng tộc, lăng mạ và đánh đập.” Một bạn đồng đội cố gắng đào ngũ bị xử tử. Trong khi đó, bọn Nhật xua đuổi cha của vài nam chính như một con thú, khi ông lao động giúp xây dựng một ụ súng, và sau đó họ bắn chết ông. Người thanh niên trước đây không có ý thức giai cấp, nay chuyển hướng, đi “con đường cách mạng diệt giặc xâm lược”. Lúc đầu, người viết gặp khó khăn khi quyết định chủ đề trung tâm. Kim Jong-il đã giải quyết nó. Hạt mầm của tác phẩm, ông nói, là cái chết không thể tranh khắc, cho dù thanh niên có gia nhập quân đoàn phòng vệ hay không.

Lưu ý rằng bộ phim đưa ra một góc nhìn về cuộc sống đủ phức tạp để cho phép một nhân vật tiêu cực chuyển sang tích cực. Một người bắt đầu như một kẻ phản bội có thể trở thành một nhà cách mạng sáng chói. Kiểu thắt nút đó sẽ trở thành dấu ấn của thời đại Kim Jong-il trong điện ảnh, so với những “vở kịch đạo đức cách mạng” đơn giản mà các hãng phim Triều Tiên đã sản xuất trước đó. Sự kiện này dường như gây ra một ghi nhận mỉa mai: Từ những gì chúng ta được nghe về Một Hành động Chân thành – vở kịch mà Kim Jong-il đã trước đây tố cáo là thể hiện một thủ đoạn phản bội của bọn tay sai Kim To-man – cách tiếp cận dường như cũng tương tự.

Trong khi quay phim Số phận một người lính thuộc Quân đoàn Phòng vệ, dàn diễn viên và đoàn làm phim đã làm việc tại địa điểm Pochonbo ở vùng núi phía bắc đất nước. Thời tiết lạnh. Kim Jong-il “đã gửi cho họ nhiều loại thực phẩm và thuốc men chất lượng cao, ngoài chăn, áo khoác lông, mũ lông và giày lông cho từng thành viên đoàn phim. Ông ấy thậm chí còn gửi cho họ một lá thư. Khi nhận được những món quà này, đoàn phim đã nghẹn ngào vì xúc động.” Sử dụng ảnh hưởng của mình để lấy được những ân huệ đặc biệt ở quy mô hào phóng như vậy cho những người tham gia vào các dự án yêu thích của mình – hoặc cho những người có hoàn cảnh không may, có nhu cầu đặc biệt khiến ông ấy chú ý và cảm động- đã trở thành hình mẫu của ông ta. Động lực cho sự hào phóng dường như đủ chân thật, nhưng trong lòng vị tha và lòng từ thiện, phong cách của ông không hề khiêm tốn hay kín đáo.

Lúc đó Kim đang thúc đẩy một “chiến dịch tăng tốc” nhằm tăng sản lượng trong ngành điện ảnh, song song với các chiến dịch tương tự ở những nơi khác trong nền kinh tế. Ông ta gọi điện đến đoàn làm phim Pochonbo hàng ngày vào khoảng nửa đêm hoặc sáng sớm để kiểm tra tiến độ, thúc giục “việc quay phim được thực hiện với tốc độ cực nhanh.” Hạn ngạch quay phim hàng ngày là 80 mét phim, nhưng “nhờ sự quan tâm và tin tưởng của Kim Jong-il” đoàn làm phim đã quay trung bình 250 mét một ngày – mặc dù các nhà quay phim “phải làm việc trong khi thở vào ống kính để làm ấm chúng.” Một bộ phim thông thường sẽ phải mất một năm để hoàn thành được quay trong bốn mươi ngày. “Đèn hiệu của chiến dịch tốc độ do Kim Jong-il nêu lên đã lan nhanh như cháy rừng đến tất cả các đơn vị trong ngành công nghiệp điện ảnh và những kỳ công đáng kinh ngạc lần lượt được thực hiện. Chỉ riêng năm 1970, công nhân điện ảnh đã sản xuất ra hàng chục phim hạng nhất,” – một thành tựu đã biến lời tuyên bố của bọn phản cách mạng độc ác cho rằng “tốc độ cao hơn dẫn đến chất lượng thấp hơn là những lời dối trá.”

Kim thực sự không mệt mỏi trong công việc theo đuổi cuộc cách mạng trong phim ảnh. Ông chọn chủ đề cho các phim như Làng hưng thịnhGia đình công nhân, cả hai đều đoạt Giải thưởng Nhân dân của nước. Trong trường hợp thứ hai, ông ta xem qua bộ phim đã quay và xác định rằng đội ngũ sáng tạo đã không nắm bắt được hạt mầm. Ông nói với họ: “Cần phải nhấn mạnh một thực tế là người công nhân không bao giờ được quên nguồn gốc của mình và dù biết rõ nguồn gốc của mình nhưng anh ta sẽ thoái hóa nếu không không ngừng cách mạng hóa chính mình”. “Hạt mầm của bộ phim nên bắt nguồn từ ý tưởng này.” Họ đã xây dựng lại các nhân vật và các cảnh quay tương ứng. Một tường thuật chính thức cho biết, đó là cách bộ phim “trở thành một tác phẩm có tác động lớn đến xã hội, khiến mọi người phải kêu gọi cần phải cách mạng hóa xã hội.”

Không hài lòng với việc chỉ bảo nhân viên phải làm gì, Kim “còn xông xáo với chiếc kéo trong tay suốt đêm trong phòng biên tập chật hẹp hoặc trong phòng tối.” Chuyện kể về một đạo diễn thiếu kinh nghiệm, bản thân phải làm việc đến tận đêm khuya mới chèn xong một cảnh theo chỉ dẫn của Kim rồi mới đi ngủ. Nhưng y ngủ không được lâu vì bị đánh thức được lệnh trở lại phòng hậu kì, nơi y thấy Kim Jong-il đang biên tập lại bộ phim bằng kéo. Kim đã xem qua chín cuộn phim và đã ở đó được khoảng bốn giờ. “Bộ phim đã được phát triển tốt,” ông nói với vị đạo diễn “hoàn toàn bối rối”, giải thích rằng ông đã “cắt bỏ một số cảnh có thể buồn tẻ. Tôi không chắc đồng chí sẽ hài lòng với những gì tôi đã làm ….”

“Kính thưa Lãnh tụ!” đạo diễn lẩm bẩm, lòng “vô cùng xúc động.”

Cuối cùng, Kim Jong-il đặt chiếc kéo xuống và bước ra ngoài, nói với y: “Đồng chí đạo diễn, hãy cẩn thận ráng xem qua phim lần nữa.”

Sau đó ông rời khỏi studio. Chiếc xe chở Kim Jong-il lướt ra khỏi cổng trường quay và mất hút trong bóng tối, rồi chẳng bao lâu rựng rựng thành ánh bình minh xám mờ.

Đạo diễn quay trở lại phòng và khi xem lại bộ phim vừa được Kim Jong-il biên tập lại, y bị choáng ngợp bởi một cảm xúc dâng trào khác. Những cảnh từa tựa nhau và thừa thãi đã bị cắt bỏ, đồng thời loại bỏ phần nhạc nền rền rĩ và đoạn hợp xướng dài ở đoạn cuối. Khi những việc này được thực hiện sự phát triển cảm xúc giờ đã có nhịp độ và sức mạnh và nó khiến người ta rơi vào tâm trạng trầm tư. Đạo diễn có cảm giác như mình đang xem một bộ phim hoàn toàn khác.  Y bất giác đỏ mặt vì xấu hổ. Để làm nổi bật cảm xúc trong đoàn kết, y đã đan xen những cảnh tương tự, vô nghĩa và hỗ trợ chúng bằng âm thanh dàn nhạc kéo dài và một đoạn hợp xướng. Bây giờ đạo diễn mới nhận ra rằng mình chỉ đơn giản tuân theo các quy tắc chuẩn mực của kỹ thuật biên tập thông thường. Đột nhiên vang lên trong tai y những lời mà Kim Jong-il đã khiêm tốn nói khi bỏ đi- “hãy cẩn thận ráng xem qua phim lần nữa.”

Vì vậy, Kim, mặc dù bản thân vẫn còn rất trẻ, nhưng đã đóng vai một người cha lớn, xem đoàn làm phim như những đứa trẻ. “Đúng với câu tục ngữ ‘Thương cho roi cho vọt’, Kim Jong-il là người cực kỳ khắt khe đồng thời cũng vô cùng tử tế với họ. Với sự quan tâm của một người cha như vậy, Kim Jong-il đã giúp đỡ họ trong công việc.”

Vai trò của quần chúng đi xem phim mà ông hình dung thậm chí còn trẻ con hơn: xem phim của ông và thông qua việc xem, họ hoàn toàn thấm nhuần lòng tôn kính sùng bái đối với cha mình với tư cách là cha của tất cả họ, phù hợp với “hệ tư tưởng nguyên khối”. Những nỗ lực của ông đã được đền đáp, cả về mặt tuyên truyền lẫn nghệ thuật. Khán giả chắc chắn nhận thấy có sự đổi mới. Một số bộ phim được sản xuất dưới sự giám sát của ông đã thu hút được những đánh giá tích cực không chỉ từ khán giả Triều Tiên bị giam cầm mà còn từ những người bên ngoài.

 

Việc Kim Jong-il tiếp quản ngành opera Bắc Triều Tiên vào cuối những năm 1960 cũng thẳng thừng và, đối với những người trong ngành, ban đầu là một sự bẽ mặt giống như động thái trước đó của ông nhằm bãi bỏ các buổi hội thảo nghệ thuật của các nhà làm phim. Ông ấy đã tham dự buổi khai mạc một vở opera mới. Trong lúc xem biểu diễn, “mặt ông ấy trông u ám”. Khi bức màn hạ xuống, ông tập hợp các nhà văn và hỏi họ “liệu có phải ​​họ vẫn cứ vận dụng theo lối cũ hay không. Trước câu hỏi đột ngột như vậy, họ không nói nên lời. Quay sang các nghệ sĩ đang ngơ ngác, ông lần lượt giải thích những khuyết điểm của opera và nói rằng đã đến lúc họ phải loại bỏ những vở opera thuộc loại này – trong đó nội dung bị trói buộc vào hình thức và không hấp dẫn về mặt thẩm mỹ đương đại.”

Triều Tiên có hình thức opera cổ điển của riêng mình. Tuy nhiên, ít nhất một phần do ảnh hưởng của Liên Xô, hình thức truyền thống đã suy giảm để nhường chỗ cho opera theo phong cách châu Âu. Xem opera châu Âu như một hình thức quý tộc, Kim Jong-il cũng không quan tâm đến việc khôi phục lại thể loại opera Triều Tiên truyền thống, rõ ràng là không mang tính cách mạng. Đúng hơn, ông quyết tâm tạo ra một thể loại opera mới, bắt đầu với các phiên bản opera của Biển Máu và những “kiệt tác mang tính cách mạng” khác mà ông đã dựng thành phim.  Ông sẽ thay thế các aria (một phần độc lập cho một giọng hát, có hoặc không có nhạc cụ đệm hoặc hòa tấu)  và recitatives (hát nói) theo phong cách phương Tây bằng các yếu tố juche, bao gồm các bài hát được hát theo câu hoặc khổ thơ, như trong các bản ballad dân gian Triều Tiên.  Một yếu tố juche khác sẽ là pangchang, đơn ca, song ca hoặc hợp xướng ngoài sân khấu, nhằm tường thuật hoặc phản ánh tiếng nói nội tâm và thiết lập tâm trạng.  Pangchang được mô tả là “độc đáo trong opera.”

Trong thực tế có ca hát ngoài sân khấu trong opera châu Âu. Lấy Il Trovatore làm ví dụ. Nhưng sẽ là sai lầm nếu chỉ bác bỏ tuyên bố của Triều Tiên bằng cách nói rằng Verdi và những người khác đã đi trước Kim Jong-il ở điểm đó. Khi tôi có cơ hội trực tiếp trải nghiệm điều đó, lúc tham dự buổi biểu diễn Cô gái bán hoa năm 1989 (tôi sẽ nói thêm về buổi biểu diễn đó ở chương 20), tôi nhận thấy pangchang có sức ảnh hưởng đặc biệt – khác biệt một cách tinh tế nhưng đáng kể so với lối hát thông thường ở ngoài sân khấu trong các vở opera lớn của phương Tây và trong các vở nhạc kịch sân khấu thuộc loại Broadway.

Kim đặt mình vào quá trình phát triển Biển Máu như một vở opera giống như ông đã làm với phiên bản điện ảnh trước đó. Một tiểu sử chính thức cho biết: “Sự áp dụng không ngừng nghỉ mà ông ấy mang đến cho nhiệm vụ của mình có thể được thể hiện qua những con số sau: ông đã nghe hơn 50 bài hát trong 9 lần trước khi chọn bài hát của thanh niên làng ở Màn 1; nghe 90 bài hát trong bảy lần trước khi chọn một bài để song ca ở Màn 2; và hơn 100 bài hát trong sáu lần để chọn một bài song ca giữa mẹ của Bok-dol và Chil- song ở Màn 3.

Các nghệ sĩ sáng tạo không hiểu rõ cách sử dụng pangchang, vì vậy Kim con “đã chỉ rõ khi nào nên sử dụng pangchang và nội dung của nó.” Ví dụ, trong một cảnh trong đó Ulnam, con trai của nữ anh hùng mù chữ, đang dạy bà viết, các nhà soạn nhạc đã viết những bài hát riêng cho hai người hát. “Nhưng Kim Jong-il, khi nhìn thấy cảnh này, khẳng định rằng nó không có sức hấp dẫn chung và rằng tình cảm sâu sắc của hai mẹ con nên được khắc họa sâu sắc, không phải qua các bài hát của họ mà bằng cách sử dụng pangchang.” Trong cảnh được viết lại sau đó, cả hai mẹ con im lặng học tập trong khi điệp khúc pangchang ngoài sân khấu “gợi lên thế giới tâm linh của hai mẹ con theo một cách mà không bài hát hay cử chỉ nào có thể diễn tả được:”

Giọng mẹ vang vọng khắp bầu trời tối tăm;

Một cơn lũ sao trời rọi sáng đêm mất ngủ.

Nuôi dưỡng mầm hoa trong tim bà,

Bà hình dung một thế giới tươi mới và vui tươi.

Người mẹ, đã từng trải quá cuộc đời cay đắng như vậy,

Học được một chữ, rồi một chữ khác đêm nay

Theo tất cả các tường thuật, khi Biển Máu được công chiếu lần đầu tại Nhà hát lớn Bình Nhưỡng vào ngày 17 tháng 7 năm 1971, trước sự chứng kiến ​​​​của chính Lãnh tụ Vĩ đại, vở opera đã khiến khán giả kinh ngạc về sức mạnh của nó. Một cựu thành viên của giới thượng lưu đã đào thoát sang Hàn Quốc cho biết: “Mọi người trong nhà hát đều vô cùng xúc động và đứng dậy vỗ tay tán thưởng Kim Jong-il”. Việc sản xuất đã làm nên tên tuổi của Kim Jong-il và giúp củng cố vị thế của ông với tư cách là người kế vị có nhiều khả năng nhất cho cha mình.

Ánh hào quang kéo dài một thời gian. Chú thích kèm theo bức ảnh của Kim Jong-il chụp ngày 6 tháng 4 năm 1973, mô tả ông đang giải thích “các nguyên tắc tạo ra vở opera cách mạng kiểu Biển Máu”. Đó là một trong những bức ảnh lôi cuốn nhất của ông. Đứng trong một nơi có vẻ như là văn phòng của mình, ông mỉm cười và ra điệu bộ khi nói chuyện với các nhà báo đang hí hoáy ghi chép, vị vua văn hóa 31 tuổi tỏ ra tự tin và nhiệt tình. Bây giờ óng không còn là một đứa trẻ có đặc quyền, chỉ dựa vào ông bố để có quyền thống trị những người lớn tuổi hơn mình, nhưng là một bậc thầy trẻ tuổi trưởng thành trong một lĩnh vực mà những người trẻ tuổi thường có thể tỏa sáng, một người không chỉ biết mà còn yêu thích chuyên môn của mình.

Trong công việc của mình với điện ảnh và opera, đối với Kim Jong-il dường như đã thành tựu – một lần trong đời – sự kết hợp tinh tế giữa sự chỉ đạo cứng rắn và sự quan tâm cần thiết để tranh thủ khả năng tốt nhất của cấp dưới. Có thể ông ấy đã nghiên cứu kỹ các kỹ thuật lãnh đạo của cha mình và học hỏi từ chúng.

 

Tất nhiên, mục tiêu tuyên truyền mà Kim Jong-il nhắm  tới qua loại hình opera mới và tất cả các loại hình nghệ thuật khác (ông cũng chú ý đến việc cải thiện khiêu vũ, nhạc hòa tấu, kịch sân khấu và tiểu thuyết, cùng các hình thức khác) hoàn toàn là một vấn đề khác. “Những tác phẩm không đáp ứng yêu cầu của Đảng đều vô dụng,” ông thẳng thừng nói với các đồng nghiệp tuyên truyền vào năm 1974. Thành tựu nổi bật nhất của ông trong nghệ thuật và văn học, một người viết tiểu sử Bình Nhưỡng, cho biết, là “giải pháp tuyệt vời của ông cho vấn đề miêu tả lãnh đạo.” Ông ấy ra lệnh thành lập ba trung tâm sáng tạo của các nhà văn và nghệ sĩ hạng nhất: Paektusan Productions, April 15 Literary ProductionsMansuadae Art Studio. Những bộ phận này “hoàn toàn dành cho việc khắc họa chân dung của nhà lãnh đạo vĩ đại.”

Khi Một Người Con Gái Thực Sự của Đảng công chiếu, “nó không mấy hấp dẫn. Một ngày nọ, sau khi xem vở opera, Kim Jong-il nói rằng lý do thất bại của vở kịch là vì lòng trung thành với Lãnh tụ Vĩ đại không được thể hiện một cách nổi bật và rằng không có bài hát chủ đề phù hợp.” Rồi ông ấy đã tự viết lời bài hát cho mình:

Tướng quân như từ phụ ở đâu

Khi Bắc Đẩu chiếu sáng bầu trời!

Sở chỉ huy Tối cao có thể ở đâu với các cửa sổ tràn ngập ánh sáng?

Nơi mà người chắc chắn đang ở đó!

Từ khu rừng tối tăm phía sau phòng tuyến kẻ thù, Chúng ta tự hỏi Tướng quân hiện đang ở đâu.

Khi cơn gió thu se lạnh thổi qua

Chúng ta khao khát được người chăm sóc thật ấm áp.

 

Thử thách lớn nhất trong thời kỳ đầu sự nghiệp của ông là việc tổ chức các lễ hội đánh dấu năm Kim Il-sung bước sang tuổi sáu mươi. Vì vậy, Kim Jong-il đã ra lệnh hành quân cho một số nghệ sĩ viết lời và soạn nhạc trước 15 tháng. Họ phải nghĩ ra một bài thánh ca có tựa đề “Người lãnh đạo trường thọ và an khang” để hát trong một bữa tiệc vào ngày đầu năm mới 1972. Họ bắt đầu làm việc. “Nhiều bài hát đã được viết nhưng không bài nào vừa ý Kim Jong-il.”

Khi thời hạn đến gần, Kim Jong-il đã đến thăm các nhà soạn nhạc vào đêm khuya, nghe những bản nhạc mới nhất của họ, nhưng rất bực tức vì họ vẫn chưa có tiến bộ. “Tôi tin tưởng và trân trọng các bạn từ đáy lòng,” ông nói với họ. “Nhưng sao các đồng chí vẫn không hiểu tôi? Hãy nghĩ xem, năm mới lãnh tụ sẽ sáu mươi tuổi. Vì vậy tôi quyết định tặng ông ấy bài hát này vào sáng ngày đầu năm, nhưng các đồng chí dường như còn rất xa mới hiểu được tôi.” Các nhà soạn nhạc tất nhiên rũ mắt xuống, cảm thấy xấu hổ. Sau đó Kim Jong-il tiếp tục:

Các đồng chí không biết lãnh tụ của chúng ta đã phải chịu đựng nỗi đau và gánh vác nhiệm vụ lớn lao như thế nào trong suốt cuộc đời và những khó khăn mà ông đã vượt qua. thủ lĩnh của chúng ta đã trải qua tất cả những thử thách, đau buồn và thống khổ mà con người đã từng chịu đựng và đã vô số lần liều mạng. Người đã rơi nhiều nước mắt khi ôm những đồng đội đang hấp hối trên con đường cách mạng và ngay cả hôm nay người cũng không thể ngủ được khi nghĩ về họ. Lãnh tụ của chúng ta có bao giờ được an tâm nghỉ ngơi chưa? Người đã trải qua hai mươi năm hoặc hơn trong mưa tuyết ở vùng hoang dã Mãn Châu và làm việc thâu đêm để xây dựng đất nước mới sau khi giải phóng và người đã trải qua những thử thách chưa từng được kể trong ba năm chiến tranh. Sau chiến tranh người đã chiến đấu chống lại bè lũ xấu ác và thắt lưng buộc bụng cùng với mọi người, người đã dành cả ngày rong ruổi trên đường để tự mình kiểm tra cá nhân, lắm khi bỏ bữa.

 

Kim Jong-il dừng lại, dường như “không thể kiềm chế được bản thân” và “mắt những nhà soạn nhạc bỗng  ươn ướt”. Bất chấp tất cả những hy sinh đó của Lãnh tụ Vĩ đại, “họ vẫn chưa sáng tác được một bài hát nào ra hồn để nguyện cầu cho người được trường thọ.” Kim Jong-il nói tiếp:

 Người lãnh đạo đã cống hiến cả cuộc đời mình để mang lại cho nhân dân cuộc sống sung túc mà họ được hưởng ngày hôm nay. Hạnh phúc hôm nay của họ đã đến và đơm hoa dưới sự chăm sóc của người lãnh đạo như từ phụ. Vì lý do này mà nhân dân ta theo người cho đến cùng trời và cuối đất, kính trọng người và thiết tha nguyện cầu cho người trường thọ và an khang. Nếu các đồng chí thể hiện những cảm nghĩ và xúc động trong những lời nhạc và giai điệu của mình, điều đó sẽ tạo nên một bài hát mà chúng ta rất mong muốn được nghe – một bài hát sẽ trở nên rất nổi tiếng. Bài hát này không được chỉ là một bản ballad; nó phải là một bài thánh ca của toàn thể nhân dân bày tỏ niềm hy vọng và mong muốn mãnh liệt của mình.

 

Bingo! Các nhà soạn nhạc “bỗng cảm thấy niềm hứng khởi xâm chiếm lấy họ.” Họ lao vào phòng và bắt đầu say sưa viết. Chẳng bao lâu sau, họ nghĩ ra lời bài hát này:

 

Mỗi khoảnh khắc cuộc đời của lãnh tụ chúng tôi đều cống hiến

Để mang lại cuộc sống sung túc hơn, phong phú hơn cho nhân dân.

Hạnh phúc của chúng tôi thật tuyệt vời; lòng nhiệt thành của chúng tôi không có bên bờ

Người mang chúng tôi đến trái tim người với tình yêu không hề sai chạy

Đến tận cùng mặt đất xa xôi chúng tôi luôn theo người.

Cho đến khi mặt trời và mặt trăng nguội lạnh, chúng tôi cũng vẫn ở bên người.

Lòng tốt của người thật tuyệt vời, chúng tôi sẽ hát ca tụng mãi mãi.

Chúng tôi sẽ luôn trung thành với người, hỡi người lãnh tụ vĩ đại.

Cầu mong người được sống lâu và khỏe mạnh, thưa ngài lãnh tụ như từ phụ của chúng tôi.

Là nguyện ước của nhân dân trên mảnh đất vui tươi của chúng ta.

Giai điệu “nhẹ nhàng vô cùng và vang vọng ý nghĩ của lời nói”. Kim Jong-il đã đọc bài thánh ca “hoàn hảo” và phổ biến nó tới công chúng ngay cả trước ngày trọng đại. Năm mới đã đến và các ca sĩ lên sân khấu tại phòng tiệc, hào hứng vì sắp được hát bài này lần đầu tiên trước sự chứng kiến ​​của Kim Il-sung.

Để nắm bắt được những gì diễn ra sau đó, điều quan trọng là phải hiểu rằng người Triều Tiên có xu hướng là những người giàu cảm xúc, dễ bộc lộ sự đau buồn và cuồng loạn trước công chúng. Ở Triều Tiên, để minh họa, những người theo đạo Cơ đốc giáo Tin lành với những lời tuyên xưng đức tin đầy cảm xúc của họ đã tạo ra những bước tiến lớn; nhóm Cơ đốc giáo phát triển nhanh nhất ở miền Nam là những người theo đạo Ngũ Tuần, cực kỳ hay bộc lộ cảm xúc. Ở Bắc Triều Tiên, với việc cấm các tôn giáo khác truyền đạo, những người vận động đức tin chính thức, chủ nghĩa Kimilsung, đã tìm cách khơi dậy cùng dòng cảm xúc đó.

Bây giờ chúng ta hãy tiếp tục câu chuyện về bữa tiệc mừng năm mới do một người viết tiểu sử của Kim Jong-il kể lại.

Những người biểu diễn đứng lên hát và theo sau phần mở đầu nhẹ nhàng của dàn nhạc, họ bắt đầu hát vài dòng đầu tiên của bài hát. Nhưng rồi, vì quá xúc động, các ca sĩ đã lạc nhịp với dàn nhạc và dần dần ngừng hát. Các ca sĩ cố gắng bắt đầu lấy lại giọng nhưng không được, vì họ đang khóc nức nở.

Cả người chỉ huy và dàn nhạc đều bị ảnh hưởng như nhau và mọi người trong bữa tiệc đều để mặc cho nước mắt tuôn chảy. Đồng chí Kim Jong-il thân mến, đang có mặt trong khán giả, gọi một số ca sĩ khác đến và yêu cầu họ tiếp tục bài hát bị gián đoạn. Ngay sau đó bài hát được tiếp tục nhưng giọng của các ca sĩ này cũng bị ấp úng và khán giả liền đứng dậy bắt đầu hòa theo họ, đồng thanh hát giữa những tiếng nức nở. Cả khán phòng chìm trong cơn lốc của nỗi phấn khích. Nó tuôn trào với bài thánh ca nguyện cầu an khang và trường thọ cho vị lãnh tụ như từ phụ – đó là bài hát từ trái tim của cả dân tộc, là bài ca của những người trung nghĩa. Ngay sau đó bài hát kết thúc nhưng những người có mặt vẫn chưa ngồi xuống; tiếng khóc có thể được nghe thấy ở khắp mọi nơi. Vị lãnh tụ chậm chiếc khăn tay lên mí mắt và, nắm chặt tay các đồng đội kỳ cựu đang đứng bên cạnh, nói: “Cảm ơn, cảm ơn. Nào, đừng khóc, ngồi xuống, ngồi xuống”. Đôi mắt của Kim Jong-il, khi nghe những lời đó và nhìn ông, cũng long lanh.

Quả vậy. Màn trình diễn nghệ thuật dị thường xuất sắc vào ngày đầu năm mới đã mở đầu cho một năm kỷ niệm sinh nhật lần thứ 60, trong đó Kim Jong-il đã chứng tỏ mình là bậc thầy xu nịnh – hoặc “trung thành” trong thuật ngữ của chế độ – không ai so sánh được.

Tại một trong những buổi lễ kỷ niệm, Kim Jong-il đã tiết lộ những màn ảo thuật mới mà ông đã ép các ảo thuật gia mờ nhạt trước đây của Rạp xiếc Bình Nhưỡng phải hoàn thiện. Họ mang ra một lẵng hoa có treo một dải băng có dòng chữ chúc Lãnh tụ Vĩ đại trường thọ và an khang. Chim bồ câu bay ra khỏi giỏ và bay vòng quanh giỏ. Khi Kim Il-sung khen ngợi các nhà ảo thuật, “mắt họ mờ đi vì đẫm lệ”. Kim Jong-il bảo họ hãy tiếp tục cải thiện cho đến khi họ có thể “dẫn đầu thế giới về trò ảo thuật”. Sau khi tiếp tục tập luyện, họ tiến lên giành được các giải thưởng cao nhất trong Lễ hội Ảo thuật Hiện đại Quốc tế, trong đó có danh hiệu “Vua Ảo thuật của Thế giới”.

 

Kim Jong-il được ghi nhận là người có “lý thuyết độc đáo” về nhà lãnh đạo. Vào mùa xuân năm 1965, ông được cho là đã kể lại lý thuyết của mình với một quan chức khác của Ủy ban Trung ương bằng những lời sau:

Vấn đề người lãnh đạo là cốt lõi của cách mạng. Mong muốn của riêng quần chúng nhân dân không phải là đủ cho một cuộc cách mạng. Phải có bộ óc tư tưởng, lý luận, là trung tâm đoàn kết, đưa ra ý kiến, vạch ra chiến lược, chiến thuật và đoàn kết quần chúng. Và đó là người lãnh đạo. Cách mạng giành thắng lợi mà không có người lãnh đạo thì cũng giống như chờ hoa nở mà không có ánh nắng.

Theo lý thuyết của ông, quần chúng nhân dân được yêu cầu “thống nhất vững chắc với một ý tưởng sắt đá duy nhất.”

Cho dù Kim Jong-il 23 tuổi có tự mình nghĩ ra lý thuyết đó hay không thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng theo năm tháng, ông đã trở thành người đề xướng và thực thi chính lý thuyết đó. Chúng ta được biết: “Kim Jong-il đã có quan điểm đúng đắn về cách tôn kính nhà lãnh đạo”. “Trung thành với người lãnh đạo là mục đích tối thượng của mọi nỗ lực và của chính cuộc đời anh ta.”

Các học giả tranh luận về mức độ mà các mô hình Đông Á truyền thống và phương Tây ảnh hưởng đến việc Triều Tiên đề cao vai trò của nhà lãnh đạo. “Đối với việc thể chế hóa bền vững của sự cai trị độc tôn,” nhà ngoại giao/sử gia Úc Adrian Buzo lập luận, “chỉ có hệ thống của Stalin ở thời kỳ đỉnh cao mới có thể so sánh được một chút với quyền lực do Kim Il-sung thực thi từ năm 1967 cho đến khi ông qua đời vào năm 1994.” Theo phân tích của Buzo, hệ thống của Bắc Triều Tiên đã kết hợp chủ nghĩa Stalin với “khẩu vị, thành kiến ​​và trải nghiệm của lối tư duy du kích Mãn Châu—quân phiệt, khắt khe, tàn nhẫn, âm mưu, phản trí thức, chống quan liêu và thiển cận.”

Mặt khác, Hwang Jang-yop, người từng theo học ở Moscow của Stalin để chuẩn bị cho nhiệm vụ tư tưởng của mình ở Bình Nhưỡng, lập luận rằng Triều Tiên – dưới lãnh đạo của Kim Jong-il- quay chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mác-Lê trên đầu họ trở về với các quan niệm Nho giáo. “Chủ nghĩa Stalin thừa nhận sự cần thiết của chế độ độc tài của người lãnh đạo cao nhất, nhưng vẫn khẳng định rằng người lãnh đạo cao nhất phải phục vụ đảng, giai cấp công nhân và nhân dân,” Hwang viết. Hệ thống của Stalin “là sự mở rộng của chủ nghĩa Mác, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết của tính chuyên chế của giai cấp công nhân,” và do đó “các mệnh lệnh của Stalin không được coi là đến từ một cá nhân mà từ giai cấp công nhân.” Ở Bắc Triều Tiên, “mọi việc diễn ra theo chiều hướng ngược lại. Lãnh tụ Vĩ đại không sống vì nhân dân. Chính nhân dân sống vì Lãnh tụ Vĩ đại”.

Theo quan điểm của Hwang, giới lãnh đạo Bình Nhưỡng “đã lợi dụng tư tưởng phong kiến ​​về đạo hiếu để biện minh cho chủ nghĩa chuyên chế của Lãnh tụ Vĩ đại. Lòng hiếu thảo trong chế độ phong kiến ​​đòi hỏi con cái phải coi cha mẹ như ân nhân, chủ nhân vì con cái sẽ không tồn tại nếu không có cha mẹ. Chăm sóc cha mẹ bạn, những người đã cho bạn sự sống – nói cách khác, trở thành những đứa con hiếu thảo – là mục tiêu cuối cùng trong cuộc sống và là quy tắc đạo đức cao nhất. Nhà nước là hợp nhất của các gia đình và người đứng đầu của tất cả gia đình này không ai khác chính là nhà vua. Từ đó mới có vai trò mà giới lãnh đạo đặt ra cho Kim Il-sung: cha già của nhân dân. Cũng giống như đời sống vật chất của một người đến từ cha mẹ, đời sống chính trị xã hội của người đó đến từ Lãnh tụ Vĩ đại. Và chế độ vẫn khẳng định rằng cuộc sống chính trị xã hội này quý giá hơn nhiều so với sự tồn tại vật chất đơn thuần của động vật.

Dù các nhà sử học tương lai có thể kết luận gì về tiền thân của hệ thống, theo Hwang, có một điểm đặc biệt là tuyên truyền của chế độ đã nhất trí với sự thật: Cách nhìn mới về Lãnh tụ Vĩ đại “là công trình của Kim Jong-il chứ không phải của chính Kim Il-sung.”

 

Trong số những khác biệt giữa những gì xảy ra ở Bắc Triều Tiên và Trung Quốc bắt đầu từ giữa những năm 1960 và 70, điều quan trọng nhất là ở Trung Quốc, Cách mạng Văn hóa và các phong trào liên quan đã tiêu hao lực lượng chỉ sau hơn một thập kỷ. Giang Thanh bị bắt năm 1976, ngay sau Mao qua đời. Tôi đã ở Bắc Kinh để đưa tin về thủ tục tố tụng vào cuối năm 1980 và đầu năm 1981 khi bà và Lũ Bốn Tên khét tiếng của bà bị xét xử và kết án. Mục tiêu chính của họ, Đặng Tiểu Bình, đã chiến thắng. Hồng vệ binh, trải qua tuổi trẻ nổi loạn thay vì học tập, đã tỉnh táo và đối mặt với thực tế ảm đạm về sự nghiệp còi cọc và cuộc sống lãng phí của họ. Giang Thanh rất vui vẻ tại phiên tòa, thể hiện sự khinh thường đối với bên công tố và thẩm phán ngay cả khi họ chế nhạo bà là “bạch cốt tinh”. Nhưng sau khi án tử hình của bà bị đình chỉ, để tôn trọng người chồng quá cố, bà thấy cuộc sống trong tù không như ý muốn. Năm 1991, bà treo cổ tự vẫn trong phòng giam.

Trái lại, phiên bản Cách mạng Văn hóa của Triều Tiên lại diễn ra khốc liệt trong nhiều thập kỷ dưới sự điều hành của nhà lãnh đạo ban đầu, Kim Jong-il. Năm 1972, năm mà Kim con tổ chức sinh nhật lần thứ 60 của ông bố, một hiến pháp mới quy định một cách hợp pháp quyền cai trị cá nhân không giới hạn của Lãnh tụ Vĩ đại. Mọi cơ hội can thiệp dai dẳng của các cơ quan lập pháp và tòa án như vậy đã không còn nữa.

Đến cuối những năm 1970, khi Trung Quốc đang dỡ bỏ giáo phái Mao Trạch Đông, cuộc thảo luận về Lãnh tụ Vĩ đại là những lời lẽ dưới đây, từ số báo Nodong Shinmun nhân ngày sinh nhật của ông, ngày 15 tháng 4 năm 1977:

Trong suốt thời gian kể từ khi con người ra đời và lịch sử bắt đầu trên trái đất này, không ai có thể sánh bằng Đồng chí Kim Il-sung, một vị anh hùng lỗi lạc được toàn dân tôn kính; ông ấy là thiên tài vĩ đại nhất của ý thức hệ, thiên tài lãnh đạo và động lực cách mạng, người nổi bật bởi trí thông minh vượt trội, tư tưởng triết học và hoạt động lý luận thiên tài, hiểu biết sâu sắc về khoa học, nghệ thuật quân sự bất khả chiến bại, sự cống hiến vô hạn cho nhiệm vụ giải phóng nhân loại, sức mạnh cách mạng vô song, đức tính cao quý, có tình yêu con người nhiệt thành. Ông dựng lên một tòa tháp lịch sử tỏa sáng và bất tử, xúc tiến không mệt mỏi cách mạng Triều Tiên và cách mạng thế giới với chiều rộng và chiều sâu chưa từng có bộc lộ tất cả những tài năng của mình.

Không quá lời khi nói rằng việc tôn sùng cá nhân Kim Il-sung hoạt động như một tôn giáo. Dân chúng được khuyến khích khóc nức nở “như trẻ thơ” trước lòng trắc ẩn nhân hậu của Đấng Lãnh Đạo, cũng như tại các cuộc hành lễ tuyên xưng đức tin của đạo Tin lành, những người sám hối rơi nước mắt tạ ơn về sự cứu rỗi của mình. Những câu chuyện của chế độ về Kim liên tục kể về việc mọi người rơi nước mắt khi biết được nghĩa cử này hay nghĩa cử khác.

Một người châu Âu từng làm việc nhiều năm với tư cách là nhà ngoại giao ở Bình Nhưỡng, với các chức vụ liên tục ở đó từ những năm 1970 đến những năm 1990, đã ví Triều Tiên như một quốc gia Công giáo thời Trung Cổ. Ông ước tính rằng khoảng 90 phần trăm người dân thực sự tin vào chế độ và lời dạy của nó – trong khi 10% còn lại không có lựa chọn nào khác ngoài việc giả vờ tin tưởng. Nhà ngoại giao này cho biết, trái ngược với các nước cộng sản khác, nơi những câu chuyện cười về các nhà lãnh đạo như Brezhnev của Liên Xô và Erich Honecker của Đông Đức là chủ đề chính trong các cuộc trà dư tữu hậu, ở Triều Tiên không có câu chuyện cười nào như vậy về Kim Il-sung hay Kim Jong-il.

Kim Il-sung bị nhấn chìm trong những lời nịnh hót, và nhiệm vụ của Kim Jong-il là duy trì nó. Như ông Kim đã viết trong hồi ký của mình: “Người được nhân dân yêu thương là hạnh phúc, và người nào không được thế thì khổ sở. Đây là quan điểm về bản chất của hạnh phúc mà tôi đã duy trì trong suốt cuộc đời mình.” Ông tự hào với mọi lời tri ân, dường như không hề biết mệt mỏi với sự nịnh bợ. Không giống như Hitler, vốn từ chối cho phép những người trồng dâu đặt tên mình cho những quả dâu tây khổng lồ hoặc những bậc cha mẹ đầy tự hào đặt tên cho con gái mình là Hitlerine, Kim vui vẻ trở thành tên của một loài hoa do nhà thực vật học phát triển, “kimilsungia“.

Những thế hệ trẻ em tiếp theo sẽ phải chịu sự dạy dỗ của Kim Jong-il trong các chương trình theo hệ thống chính thống mới. Ghi nhớ cuộc đời và tư tưởng của Kim Il-sung, chúng sẽ tuân theo mệnh lệnh và hát lên ca tụng hai cha con Kim, và tinh thần thiêng liêng của juche – tất cả những điều này phải trả giá đắt cho một nền kinh tế đang rất cần những ý tưởng mới mẻ và sự phân cấp trong việc đưa ra quyết định. Mọi người Triều Tiên bị nghi ngờ là tên Đặng Tiểu Bình ẩn mình sẽ bị triệt hạ.

 

 

Bình luận về bài viết này