Hệ lụy về việc kiêng húy dưới thời Vua Thiệu Trị

Hồ Bạch Thảo

 

 

Chữ húy tại nước ta có từ triều Trần, nhưng đến thời Nguyễn thì gắt gao nặng nề hơn; riêng dưới thời Thiệu Trị trong 7 năm trị vì, nhà Vua 8 lần ban dụ kiêng húy. Tại đây chúng tôi không chép đầy đủ tất cả chữ húy, chỉ đề cập đến những trường hợp gây hệ lụy:

Tên Vua Thiệu Trị là Tuyền []; trong chỉ dụ vào tháng 2 năm Thiệu Trị thứ nhất [21/2-22/3/1841] kiêng húy tên này. Sự cố xãy ra trong kỳ thi Hội vào tháng 3 năm Thiệu Trị thứ 4 [18/4-16/5/1844], do Tả tham tri Lâm Duy Thiếp làm Chủ khảo; Hữu thị lang Phạm Thế Hiển làm Phó chủ khảo. Có một thí sinh từng đậu Giải nguyên tên là Triệu Công Bách người làng Vụ Nữ, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; trong bài thi, dùng một chữ tuyền [旋], tuy đồng âm nhưng khác chữ viết, và khác cả  nghĩa. Giám khảo phát giác ra, hậu quả Công Bách, tuy đậu đầu Cử nhân trường thi Hương Nam Định, nhưng bị cách tuột Cử nhân, đuổi về nguyên quán!

Vua Thiệu Trị còn có tên khác là Dung, nên cửa biển Tư Dung thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên; thời Thiệu Trị phải đổi thành cửa Tư Hiền. Trong dân gian, chữ “dung” đọc thành “dong”, như hình dung gọi là hình dong, bao dung gọi là bao dong. Ngay cả câu thơ của Lý Bạch ca tụng sắc đẹp của nàng Dương Quí Phi trong tác phẩm Thanh Bình Điệu [清平調 ] “ Vân tưởng y thường hoa tưởng dung” [雲想衣裳花想容] ( Nhìn mây nhớ đến y phục, ngắm hoa nhớ đến dung nhan nàng); cũng phải đọc trại là: Vân tưởng y thường, huê tưởng dong.

Theo Đế Hệ Thi (1) do Vua Minh Mệnh đặt ra để qui định dòng dõi làm Vua, Thiệu Trị còn có tên là Miên Tông. Lịch sử nước ta qua các triều đại, Vua nối nghiệp phần nhiều có tên Tông, như Lý Thái Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông vvv…Kể từ thời Thiệu Trị trở về sau, tên Tông [宗] đổi thành Tôn [尊]; nên các nhà soạn sử triều Nguyễn gọi các Vua  xưa là Lý Thái Tôn, Trần Nhân Tôn, Lý Thánh Tôn.

Mẹ Vua Thiệu Trị là bà Hồ Thị Hoa, con gái Chưởng cơ Hồ Văn Vui, chết non lúc 17 tuổi [1790-1806], bấy giờ mới sinh Thiệu Trị được 13 ngày. Bà có ngờ đâu sau khi con lên làm Vua, tên “Hoa” của bà cũng gây không ít hệ lụy. Vì kiêng húy nên tỉnh Thanh Hoa được đổi thành Thanh Hóa; huyện Kỳ Hoa tỉnh Hà tĩnh đổi thành huyện Kỳ Anh; núi Thúy Hoa tại huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên đổi thành núi Thúy Vân. Ngay trong bài thơ Vào Hè của cụ Dương Bá Trạc vào đầu thế kỷ 20, thay vì chữ “hoa” cũng dùng chữ “huê”:

Ai xui con cuốc gọi vào hè,
Cái nóng nung người, nóng nóng ghê!
Ngõ trước, vườn sau um những cỏ,
Hồng rơi thắm rụng tiếc cho huê
Trên cành gọi bạn chim xao xác,
Trong tối đua bay, đóm lập loè.
May được nồm nam cơn gió thổi,
Đàn ta ta gảy khúc Nam nghe.

Trong nhân gian, từ ngữ hoa dạng gọi là huê dạng; Phàn Lê Hoa gọi là Phàn Lê Huê, Hoa Kỳ gọi là Huê Kỳ.

Lại một liên lụy khác cho vị quan đầu tỉnh. Vào tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 2 [6/8-4/9/1842], nhân đại hạn lâu ngày trời bổng trút mưa xuống, tưới mát ruộng lúa; Tổng đốc Bình Phú Đặng Văn Thiêm mừng vui dâng tờ tâu về triều. Trong tờ tâu dùng một chữ cảo [稿] có nghĩa là rơm rạ, chẳng may chữ này  đồng âm nhưng khác chữ viết với Cảo [槁] là tên húy của Vua Gia Long (2). Vua Thiệu Trị tức giận quở mắng rằng:

Chữ này bên tả bộ mộc, bên hữu chữ cao, từ trước tới nay tôi con trong ngoài ai cũng kính cẩn kiêng tránh. Dặng Văn Thiêm làm việc đã lâu ngày sao lại thế?”

Rồi giáng  Đặng VănThiêm 4 cấp, bộ Lễ nhân đó nhắc nhở thêm điều cấm.


Chú thích:

1.Đế Hệ Thi như sau:

Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh.

Bảo Quí Định Long Trường.

Hiền Năng Kham Kế Thuật,

Phúc Tộ Bách Gia Xương.

2.Vua Gia Long còn có các tên húy khác: Noãn, Chủng, Ánh.

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này