
Hồ Bạch Thảo
Thời gian và không gian là hai điều cốt lõi, người soạn sử cần phải lưu ý. Trong tập sử ngót 1000 trang về Vua Minh Mệnh, ngày Giáp Tý Âm Lịch xưa, lần đầu tiên được đổi sang ngày tháng Dương Lịch; địa danh cổ có chú thích kèm bên cạnh bằng địa danh hiện đại. Sự kiện chép theo trình tự ngày tháng; khiến người đọc nắm vững nguyên nhân cùng hậu quả. Muốn nghiên cứu riêng từng nhân vật, từng địa danh, thì mục Bảng Tra Cứu ghi đầy đủ tên người tên đất; như nhân vật Nguyễn Công Trứ xuất hiện 100 lần, Lê Văn Duyệt 47 lần; tỉnh An Giang 49 lần, Hà Nội 63 lần. Về nội dung, tóm lược như sau:
Nguyễn Vương Phúc Ánh là một chính khách có đầu óc tương đối phóng khoáng; quyết dành ngai vàng, không kể đến phương tiện phải nhờ cậy ngoại bang như Xiêm La hoặc Pháp. Nhưng quân Xiêm đến giúp bị đại bại bởi phe Tây Sơn tại Rạch Gầm; nhờ Giáo sĩ Bá Đa Lộc, mang con làm tin, sang Pháp cầu viện; hiệp ước đã ký, rồi cùng bị hủy bỏ. Cuối cùng dựa vào bầy tôi tâm huyết, cùng lòng dân miền Nam trung nghĩa ra sức phò Nguyễn; từ Xiêm La giong thuyền phục quốc, lấy lại được thành Gia Định.
Niềm hy vọng nhờ nước ngoài thì quân Xiêm La sợ Tây Sơn như cọp, còn phía Tây phương thì chỉ có một ít người ưa mạo hiểm tình nguyện đến giúp, nên chẳng đáng là bao! Riêng cậu con trai đầu là Đông cung Cảnh, rời nhà ra đi lúc lên 4; năm 13 tuổi [1789] trở về nước, đã quen phong tục phương Tây nên không chịu lạy trước bàn thờ tổ tiên, khiến Hoàng thái hậu phải khuyên bảo mãi mới nghe. Với những điều diễn ra trước mắt, cùng ý thức hệ tôn quân sẵn trong lòng; khiến Nguyễn Vương không thể chần chừ gì thêm, dùng danh Nho dạy các Hoàng tử dùi mài theo Nho học.
Hoàng tử Cảnh được Ngô Tòng Chu rèn cặp, chẳng may mất sớm. Riêng Hoàng tử Đởm , do Quốc sư Nguyễn Đăng Tuân dạy dỗ; với bản tính thông minh, đảm lược, trau dồi học vấn uyên bác; nên rất được Vua cha quí mến, chọn nối ngôi tức Vua Minh Mệnh.
Xét qua hành trạng, Minh Mệnh xứng đáng là đấng anh quân thời quân chủ. Với võ công lừng lẫy, mở mang bờ cõi đến tận các nước Ai Lao, Chân Lạp. Về sách lược cai trị, chủ trương trung ương tập quyền, đặt quan cai trị xuống tận các châu huyện dân tộc thiểu số, nhắm bỏ thế tập cha truyền con nối. Về kinh tế Vua đôn đốc vỡ hoang, chăm sóc đê điều, cải tiến hệ thống vận tải giúp hàng hóa thực phẩm điều hòa lưu thông. Ngài hàng năm đưa hải thuyền ra nước ngoài để mua khí giới tàu thuyền, và tìm hiểu tình hình an ninh khu vực. Ngoài ra Vua rất yêu văn học, là tác giả 2 tập văn ngự chế, và 5 tập thơ ngự chế. Ngày Giáp Thìn mồng 4 tháng 2 năm Minh Mệnh thứ tư [16/3/1823], cho đúc ấn “Hoàng đế chi bảo” (1) núm hình rồng cuốn hai tầng, vuông 3 tấc 2 phân, dày 5 phân, bằng vàng mười tuổi, nặng 180 lạng 9 đồng 2 phân; phàm chiếu thư, sắc dụ đều đóng ấn này.
Tuy nhiên nỗ lực của nhà Vua phần nhiều gặp những phản ứng không thuận lợi. Hoài bảo mở nước Việt thành nước Đại Việt tức Đại Việt Nam, bị láng giềng Xiêm La đố kỵ; nước này liên tục xúi dục hai nước Ai Lao, Chân Lạp gây mối bất ỗn. Chia địa phương thành phủ, huyện trực tiếp cai trị là nguyên nhân lớn gây các cuộc nỗi dậy của Nông Văn Vân năm 1833, và tại Chân Lạp năm 1840. Ngài lưu ý đến các phát minh của Tây phương, nhiều lần cho người ra nước ngoài mua tàu thuyền, máy hơi nước, súng ống; nhưng cấm dân tiếp xúc với người Tây phương, không mời họ đến truyền dạy; nên sự hiểu biết về văn minh Tây phương rất mơ hồ, việc cấm đạo càng gây mối hấn khích.
Nhà Vua vốn rất mê say chiến thắng; khi nhận cờ đỏ phi báo “chém được thủ nghịch Nông Văn Vân”, Ngài rất vui, mệnh bày tiệc rượu, sai cung tần ca hát liên hô “Cao Bình bình phục, Cao Bình bình phục.” Nhưng đến tháng cuối đời của ngài [tháng chạp năm Minh Mệnh thứ 21, 24/12/1840-22/1/1841], được tin viên Đề đốc Hải Tây [tây biển hồ Tonlesap] Vũ Đức Trung, bị đại quân Xiêm La ép phải bỏ thành rút lui; khiến Vua không khỏi ôm mối sầu muộn, trước khi lìa trần!

Ấn Hoàng Đế Chi Bảo lưu lạc tại Pháp, được ông Nguyễn Thế Hồng mua lại vào tháng 2 năm 2023, hiện lưu giữ tại bảo tàng Hoàng Gia Nam Hồng, Bắc Ninh; ảnh chụp dưới đây: