Đọc hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại

Mai Nguyễn

Báo Một Thế Giới

nguyen-cao-ky-hinh-anh_GIGK

1. Nguyễn Cao Kỳ một mình chống lại Ngô Đình Diệm?

Đối với anh em ông Diệm, 1.11.1963 là ngày kết thúc giấc mơ quyền lực kéo dài 9 năm. Nhưng với nhiều người khác, mới chỉ là thời khắc phôi phai những “mộng ban đầu”. Nguyễn Cao Kỳ chẳng hạn, thừa nhận: “Đối với tôi mọi việc bắt đầu từ ngày hôm ấy”!

Lẽ ra, “mọi việc bắt đầu” sớm hơn một ngày. Vì theo dự tính, đảo chính nổ ra vào 31.10.1963 nhưng tướng Dương Văn Minh quyết định hoãn lại 24 tiếng đồng hồ. Thay đổi giờ chót đó do sơ suất không báo kịp đến Nguyễn Cao Kỳ nên Kỳ vẫn “độc diễn” phần việc được giao: Ông ta tập hợp khoảng gần 200 binh lính và sĩ quan dưới quyền vào một nhà kho lớn chứa máy bay trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhất.
 
Theo kế hoạch, ông cầm chân họ tại lớp học tâm lý chiến mà mình chủ trì sao cho đến 1 giờ trưa để đợi tín hiệu là tiếng xe tăng tiến vào căn cứ quanh chỗ tập họp. Nhận tín hiệu, ông sẽ bất thần tuyên bố: “Đảo chính bắt đầu”, và phát lệnh hành động.
 
Nhưng, theo một VIP, K.K (sếp quân đội) kể lại, đến 1 giờ kém 5 phút, Kỳ “lắng tai nghe vẫn không thấy động tĩnh gì hết”; 1 giờ đúng: vẫn vậy!. VIP thuật: Năm phút sau “nghe tiếng động cơ hình như tiếng chiến xa vô (như tín hiệu đã báo), Kỳ lật đật xô ghế đứng dậy, chưa kịp tuyên bố thì một trung úy chạy vô cho biết đó là tiếng của một trực thăng Mỹ đang đáp” chứ chẳng phải xe tăng xe tiếc gì cả. May quá, Kỳ kịp ngậm miệng bước xuống, chưa hô “đảo chính” ai cả. Đợi thêm tới 1 giờ 30 trưa đó (31.10) đành giải tán, quay về gặp tướng Minh và trách: “Tại sao đình lại mà không cho biết, suýt một chút là chết hết cả đám!”. Ông Minh xin lỗi vì quên thông báo.
 
Thật là một cái quên chết người và rất “khó quên”!
 
dao-chinh-hinh-anh-1_scaw

Đúng 1 giờ 30 trưa hôm sau 1.11, không phải Nguyễn Cao Kỳ, mà Dương Văn Minh tuyên bố: “Đảo chính bắt đầu” và tước vũ khí các tướng tá phe Diệm. Lúc đó, Nguyễn Cao Kỳ đang…ăn trưa tại một nhà hàng Sài Gòn. Tài xế ông ta từ căn cứ phóng xe tới phanh rít trước cửa, chạy vào kêu: “Trung tá trở về căn cứ ngay. Có chuyện lạ đang xảy ra”. Lập tức, Kỳ vọt ra xe đích thân cầm lái phóng như bay về Tân Sơn Nhất. Đến cổng, Tham mưu trưởng không quân là đại tá M. chặn lại la lớn: “Trời! Có anh đây rồi! Đảo chính đã bắt đầu và chúng tôi muốn anh bắt đại tá Nguyễn Hữu Hiền!”.

Đại tá Hiền là tư lệnh không quân, vốn chơi thân với Ngô Đình Nhu. Kỳ chụp một cây súng tiểu liên, lái xe thằng đến văn phòng Bộ Tư lệnh Không quân, một mình gõ cửa bước vào. Đại tá Hiền dường như đoán trước việc phải xảy đến, ông ta ngồi yên trên bàn viết, Kỳ lễ phép: “Thưa đại tá tư lệnh, đại tá đã bị bắt giữ”.
 
Ông ta không mấy ngạc nhiên trước diễn biến bất lợi cho mình đó. Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ông Hiền là một phi công xuất sắc, và trong vòng mấy tháng tôi đã có thể vận dụng ảnh hưởng của tôi để tìm cho ông ta một việc làm ở hàng không Việt Nam. Không bao lâu, ông ta được giao cho lái một phản lực lớn, lãnh được nhiều tiền hơn hẳn số tiền mà chẳng bao giờ tôi hy vọng lãnh được với tư cách là tư lệnh không quân”.
 
Sau khi bắt giữ đại tá Hiền, lúc gần 3 giờ chiều, cuộc tiến công tuy “ít đổ máu nhưng tốc độ là điều sống còn” đó bị chận lại vì lực lượng trung thành phòng vệ Phủ Tổng thống chống trả quyết liệt.

Trần Thiện Khiêm điện khẩn bảo Nguyễn Cao Kỳ “hành động ngay”. Kỳ lệnh lấy vài chiếc máy bay và bay ngay bên trên dinh tổng thống ở cao độ thấp để gây khiếp sợ, rồi bắn một vài tên lửa xuống thành lớn của bộ phim đóng gần dinh: “Sau khi họ bắn chỉ có hai tên lửa: quân giữ thành của Diệm đầu hàng. Đối với tôi đó là một giây phút lịch sử không phải chỉ vì đã làm thay đổi được cán cân trong việc lật đổ chế độ Diệm mà lần đầu tiên, với cương vị một người không quân, tôi còn thí nghiệm được giá trị của sức mạnh không quân khi được sử dụng để yểm trợ bộ binh khi gặp khó khăn. Tôi quả quyết rằng nếu tôi không ra lệnh hai chiếc máy bay nhỏ đó cất cánh thì cuộc đảo chính đã thất bại”. (Chúng ta đã thua trận ở Việt Nam như thế nào? – Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ) *. Mười ngày sau, bước xuống máy bay sau một chuyến đi dự lễ bên ngoài Sài Gòn, tướng Minh bảo: “Kỳ à, tôi đã quyết định bổ nhiệm anh làm tư lệnh không quân”.

Sang năm 1964, Kỳ tiếp tục thăng tiến trong bối cảnh Mỹ muốn dùng “nhóm tướng trẻ” như Kỳ để mở rộng chiến tranh. Tháng 4 năm đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara đến Việt Nam cao hứng hô khẩu hiệu: “Việt Nam muôn năm” bằng tiếng Việt, sau đó tăng viện trợ quân sự lên 50 triệu đôla để Sài Gòn bắt thêm 50.000 thanh niên vào lính, huấn luyện và tung 7.500 cán bộ “dày xéo nông thôn”, tăng cường hải lục không quân và kho bãi hậu cần, quân tiếp vụ.
 
Đầu năm 1965, Kỳ đã được phong tướng, làm ủy viên ngoại giao của thường vụ Hội đồng Quân lực Sài Gòn, tán thành sự kiện Mỹ đưa lực lượng thủy quân lục chiến đầu tiên tới Đà Nẵng tham chiến và ném bom miền Bắc. Sau khi đích thân lên máy bay chào từ biệt Nguyễn Khánh trong ngày Khánh ra nước ngoài, Kỳ và “nhóm tướng trẻ” nắm lấy quyền bính, loại thằng cò các “tướng già”, muốn độc quyền đứng dưới bóng tòa đại sứ Mỹ.
 
Đến giữa năm 1965, sau một loạt các biến động, chính phủ do ông Phan Huy Quát làm thủ tướng lung lay, dẫn đến cuộc họp triệu tập vội vàng đêm 12.6 với sự có mặt của quốc trưởng Phan Khắc Sửu mà Nguyễn Cao Kỳ ghi lại qua những dòng không mấy văn vẻ, đôi chỗ giọng điệu hơi xấc:
 
Sửu có mặt tại phiên họp – với phần xác chứ không phải phần hồn, bởi vì không có một ai có thể bàn luận nghiêm chỉnh với ông già này về bất cứ một vấn đề gì được. Sửu luôn luôn nói lải nhải, giảng thuyết không mạch lạc về nguyên tắc thượng tôn pháp luật và cách xử sự khi làm chính trị. Rốt cuộc bất thình lình, Quát đập mạnh xuống bàn và không có một lời mở đầu nào cả, đã nói một cách cộc cằn: Tôi xin từ chức. Vì hội đồng quân lực đã chỉ định tôi làm thủ tướng, hôm nay tôi xin giao trả quyền hành thủ tướng lại cho hội đồng quân lực”.

Như vậy, sau các “tướng già” bị loại, đến lượt các “chính khách già” tự phủ nhận đứng bên lề chính trường. Kỳ (và Thiệu) mau chân nhảy lên “bàn tiệc quốc gia” sau đêm đó.

Tìm Thủ tướng mới, Thiệu bảo: “Để cho thằng Kỳ làm!”

Cuộc họp trên kéo dài từ 8 giờ tối đến 12 giờ rưỡi khuya tạm ngưng. Sáng hôm sau, họp tiếp tại tổng hành dinh Bộ Tư lệnh Thủy quân lục chiến để cử thủ tướng mới thay ông Quát. Có 50 thành viên cấp cao của Hội đồng Quân lực và “nội các rệu rã” ngồi hai ngày một đêm để chỉ định người vào chức vị ấy.
 
Nguyễn Văn Thiệu bấy giờ là trung tướng được ông Kỳ đề cử. Nhưng Thiệu từ chối và đề cử “ngược lại” Kỳ. Kỳ lúc đầu đẩy đưa qua Nguyễn Chánh Thi kèm theo lời “bình loạn” công khai trước mặt Thi: – Xét cho cùng, hình như thiếu tướng là người có đủ điều kiện để lãnh đạo. Thiếu tướng có ý thích chính trị nhiều hơn hầu hết các tướng lĩnh  khác và thiếu tướng khoái được nổi tiếng!
Nghe xong Nguyễn Chánh Thi nổi quạu, không chỉ từ chối một lần mà đến cả chục lần đây đẩy: “Không! Không! Không!” trong suốt hai ngày “nghị sự”. Cuộc họp “nghỉ ăn trưa với bánh “xăng-quych” và uống bia với nước ngọt Hoa Kỳ và khi chúng tôi nhóm lại, tôi đã đề cử tướng Có”. Ông Kỳ kể như vậy và tiếp “Có cũng từ chối”, mệt lả, cả hội trường tạm đình phiên họp vào 10 giờ đêm, ngủ và ăn cơm tối tại chỗ.
 
Sáng sau nữa, “bầu” tiếp chưa xong, nghỉ uống cà phê, bất ngờ Thiệu bước về phía Nguyễn Cao Kỳ nói thẳng: “Kỳ, tại sao anh không nhận làm thủ tướng?”. Rồi vào họp, theo hồi ký của ông Kỳ, Thiệu nói với giọng van nài:

-Yêu cầu anh Kỳ đứng ra thành lập chính phủ!

Nhưng sau lưng Kỳ, ông Thiệu kêu Kỳ bằng “thằng”, đã khoèo Nguyễn Chánh Thi ra đứng riêng (như hồi ký của Thi kể) mà thì thầm vào tai:

-Để cho thằng Kỳ làm đi!

Đến khi Nguyễn Cao Kỳ nhận lời làm “thủ tướng” được một tháng (bấy giờ Thiệu lên làm quốc trưởng) bèn bảo Kỳ:

-Chúng ta phải tổ chức một buổi lễ liên hoan.

Kỳ có hơi “ngớ người” hỏi lý do vì sao mở tiệc? Thiệu bảo: “Thì chính phủ của anh đã tồn tại được một tháng rồi!”. Câu ấy hàm ý là “cái chính phủ” của Kỳ lẽ ra phải bị ngã đổ một, hai tuần sau khi ra mắt kia chứ. Tồn tại một tháng là “kỳ tích” đáng liên hoan rồi! Mặc kệ Thiệu mỉa mai, nhân đó hàng tháng Kỳ cùng các đồng sự mở tiệc!

Cuộc họp trên có thể xem là một trong các điển hình về sinh hoạt chính trị bát nháo trên sân khấu Sài Gòn tả-pí-lù thời đó. Mà “Thủ tướng” Kỳ, vốn người trong cuộc, đã phải thốt lên là “đáng buồn cười”. Không lâu sau, với sự hỗ trợ của Mỹ, thế lực phe Kỳ nhanh chóng át hẳn Thiệu từ hội nghị Honolulu. Nhưng rồi Thiệu quật lại vào cuối năm 1967 lên làm “tổng thống”, đẩy Kỳ xuống hàng “phó”. Đầu những năm 1970. Kỳ thất thế hẳn so với Thiệu, tạm lui vào vòng tay người đẹp Đặng Tuyết Mai lúc ấy đã thành vợ mình và bắt đầu sống với những hồi ức. Trong đó tiệc cưới Kỳ – Mai có tiếng nổ đôm đốp của 7.800 chai sâm – banh mở đầu những ngày  “mộng dưới hoa” ? Thử giở lại hồi ký những trang đầu Kỳ chép…(còn nữa)
 

(*)Trích theo bản của TTXVN

 
2. Cao Kỳ – Tuyết Mai: Một thời để yêu và một thời… đảo chính!
 
nguyen-cao-ky-dang-tuyet-mai-hinh-anh_YJGS
Trên chuyến máy bay sang Thái Lan vào năm 1964, Nguyễn Cao Kỳ bị hớp hồn bởi “một sắc đẹp cổ kính nhất” của cô tiếp viên hàng không Đặng Tuyết Mai 20 tuổi mà ông ta “chưa thấy bao giờ”. 
 
Xuống phi trường Băng-cốc, Kỳ tìm cách mời cho được Mai dùng cơm với mình chiều hôm đó và” qua sáng hôm sau biết được nàng sẽ rời Băng-cốc sớm trong chuyến bay trở về Việt Nam, tôi cảm thấy là phải đến chào từ giã nàng. Nhưng thông thường đàn ông không đường đột vào phòng ngủ đàn bà lúc 6 giờ sáng. Tuy nhiên tôi cũng đã tìm ra được cách để vào phòng nàng.
 
Mặc xong bộ quân phục thiếu tướng không quân màu trắng có hồ bột cứng sẵn sàng để đi dự cuộc diễu hành chính thức, tôi kín đáo đứng chờ người phục dịch khách sạn mang điểm tâm lên phòng nàng và tôi dúi cho người này mấy đồng bạc (do người phục dịch “nhường” lại) đến gõ nhè nhẹ cửa phòng của Mai. Nàng đang đứng nhìn ra ngoài cửa sổ và gần như không ngó đến tôi khi nàng bảo để mâm điểm tâm xuống bàn…”.
 
Kỳ kể về lần đầu gặp Mai như vậy. Đến tháng 9-1, khi Mai đã trở thành cô vợ sắp cưới của mình, lần đầu tiên Kỳ lái xe chở Mai đi chơi ra khỏi Sài gòn vào sáng chủ nhật ngày 13. Nơi họ muốn đến thăm là sân bay Biên Hòa và vùng phụ cận nằm cách 35 dặm phía Bắc. Trên đường, viên sĩ quan cận vệ lưu ý về số đông binh lính đang di chuyển khác thường theo hướng ngược lại họ, nhưng Kỳ không để tâm lắm vì mải trò chuyện với Mai. Tới Biên Hòa, Kỳ biết chắc cuộc chuyển quân nói trên nằm trong âm mưu đảo chính mới của viên tướng tư lệnh vùng sông Cửu Long và Dương Văn Đức.
Dương Văn Đức làm đại sứ tại Séoul thời ông Diệm và đã yêu một cô gái Đức làm việc trong sứ quán Tây Đức ở Hàn Quốc hồi đó. Mặc dầu ông Diệm tỏ ý không bằng lòng nhưng Đức vẫn cưới người mình yêu và bị cách chức, đưa qua Mỹ học.
Về sau, ông Đức ở Pháp hoạt động chống Diệm, thường uống rượu say, sống túng thiếu, sau ngày 1.11.1963 được trở về Việt Nam. Nay thì ông Đức quay sang chống lại sự kềm siết của Nguyễn Khánh và đang kéo quân uy hiếp Sài Gòn, trong lúc Khánh vừa bay lên Đà Lạt, còn Kỳ đi chơi với người đẹp Tuyết Mai ở Biên Hòa.
 
Rõ ràng Đức đang nắm ưu thế ngay giờ đầu của mưu toan lật đổ, và nếu căn cứ không quân rơi vào tay Đức, lực lượng đảo chính sẽ có thêm phương tiện để có thể hành động phiêu lưu và nguy hiểm. Do vậy Kỳ phải lập tức quay về Tân Sơn Nhất trước khi quân của Dương Văn Đức tràn đến. Không thể để Mai ở lại Biên Hòa một mình, Kỳ điện Bộ Tư Lệnh cấp tốc đưa trực thăng đến đón hai người. Cuộc du ngoạn ngắn ngủi bằng đường bộ chuyện sang chuyến bay chiến thuật song song với cuộc tiến quân đang diễn ra dưới đất.
 
Rất nhanh, khi trực thăng đưa Kỳ và Mai đáp xuống “ngôi nhà có giàn hoa tím” của họ tại Tân Sơn Nhất, Sư đoàn bộ của tướng Dương Văn Đức với xe tăng yểm trợ đã kiểm soát gần hết Sài Gòn, kể cả Bộ Tổng tham mưu và Đài phát thanh. Qua làn sóng điện, tướng Lâm Văn Phát lên tiếng mạt sát Nguyễn Khánh thậm tệ.
 
Từ Đà Lạt, Khánh nghe được giọng hậm hực của Phát đã tái mặt bảo Trần Văn Đôn và Trần Thiện Khiêm (lúc đó giữ chức Tổng tư lệnh quân đội, cũng đang có mặt ở cao nguyên và bỏ trống Sài Gòn):

-Nếu thằng Kỳ mà theo bọn ấy, nó sẽ cho phi cơ dội bom tụi mình ở đây…

Nên gia đình Khánh và Khiêm dời chỗ ở đi nơi khác và cho đặt súng phòng không ở Dinh số 2. Nhưng họ quá lo xa, vì Kỳ vốn không ưa Lâm Văn Phát, nay nghe Phát lên đài phát thanh với “nhiều lời tuyên bố mà tôi (Nguyễn Cao Kỳ) chẳng thích. Mục đích được ông ta đưa ra là nhằm phục hồi lại triết thuyết của Diệm (?)”. Không ăn cánh với Phát nhưng lại có quan hệ không căng thẳng mấy với tướng Đức, nên Kỳ gọi điện nhắn Dương Văn Đức là “nên quay trở về”.

Nhưng Đức vẫn tiến quân, đưa xe tăng áp sát căn cứ không quân Tân Sơn Nhất và đến gần vị trí Bộ Tư lệnh của Kỳ chập tối ngày hôm đó. Để dễ “nhận mặt nhau”, hỏa châu được bắn sáng cả bầu trời và Kỳ đích thân ra khỏi vành đai phòng thủ gặp người chỉ huy các toán xe tăng.
 
Giữa hai binh chủng không quân và thiết giáp trong quá khứ vẫn chưa có gì hiềm khích nhau nên việc dàn xếp để tránh đụng độ khá thuận lợi. Ra về, Kỳ nhắn nhe: “Nếu các anh cho xe tăng tiến lên một bước nữa là tôi sẽ cho ném bom”. Đêm đó, xe tăng án binh bất động.
 
Sáng ra Kỳ điện cho Dương Văn Đức: “Đã đến lúc trung tướng nên từ bỏ ý định… Đây là lời nói sau cùng của tôi. Nếu trung tướng không rút lui, tôi sẽ ném bom, xuống bộ chỉ huy của trung tướng”. Xét nhiều yếu tố bất lợi, trong đó có sự bất hợp tác của lực lượng không quân nên Dương Văn Đức bỏ cuộc. Sau lần ấy, theo lời Kỳ, ông ta nổi bật lên như “một lãnh tụ không chính thức của nhóm sĩ quan trẻ” mà Kỳ ưa nhắc đến trong hồi ký với tên gọi “nhóm tướng trẻ”.
 
Quà cưới: Chiếc Ford Facon lộng lẫy và bộ đồ trà chân quê
 Nguyễn Cao Kỳ - Đặng Tuyết Mai thuở mặn nồng

Nguyễn Cao Kỳ – Đặng Tuyết Mai thuở mặn nồng

Vài tháng sau cuộc đảo chính trên, Kỳ và Mai gửi thiệp hồng đến hàng ngàn quan khách gồm toàn bộ nhân viên chính phủ, tư lệnh và chỉ huy trưởng các đơn vị hải, lục, không quân, ngoại giao đoàn, cùng nhân vật cao cấp Việt – Mỹ có thế lực tại Sài Gòn mời dự đám cưới.
 
Khánh lúc ấy với tư cách là “sếp bự” và là bạn cố tri của Kỳ đã tặng vợ chồng Kỳ món quà lộng lẫy là chiếc xe Ford Falcon mà Khánh đang đi. Đó là chiếc xe hơi đầu tiên Kỳ được làm chủ trong đời. Trước đó Kỳ chỉ luôn lái chiếc xe jeep của quân đội cấp cho.
 
Kỳ viết: “Hương (Trần Văn Hương), lúc bấy giờ còn là thủ tướng đã gửi đến chúng tôi một món quà mừng đám cưới sang trọng là 200.000 đồng, số tiền này đã hết sức tiện lợi cho tôi để trang trải phí tổn tiệc cưới tại nhà hàng Caravelle mà “ai ai” cũng đều được mời dự”.
 
Theo lời kể của dân Sài Gòn và báo chí thời đó, đêm cử hành hôn lễ của Kỳ – Mai tại khách sạn Caravelle “quả là một đại dạ hội tưng bừng hiếm có giữa Sài Gòn xáo trộn, báo hiệu cái thế giá đang lên của một nhân vật gặp thời”. Kỳ và Mai, một  bên là tư lệnh không quân, một bên là nữ tiếp viên hàng không xinh đẹp, họ đã thật sự “bay lên mây” theo nghĩa bóng  lẫn nghĩa đen, và làm đám cưới vào độ đậm đà nhất của cuộc tình.
 
Người Mỹ đang cần đến “ lãnh tụ nhóm tướng trẻ” để ủng hộ việc tăng 180.000 quân Mỹ ở VN năm đó. Chính khách Sài Gòn cần có chỗ dựa để khỏi lạnh gáy giữa thời buổi “đảo chính xảy ra như cơm bữa”. Nên quà cưới của hai phía Mỹ – Việt gửi đến họ khá hào phóng, đắt tiền; trừ một món quà chân quê, đó là bộ đồ trà đơn sơ nằm cứ như một dấu chấm than trêu ngươi giữa các tặng vật hào nhoáng. Kỳ có hơi chột dạ chưa dám giới thiệu với Mai chủ nhân vắng mặt của món quà đó: thiếu tướng Đỗ Mậu.
 
Đỗ Mậu viết:” Mùa xuân năm 1965, thiếu tướng tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ làm lễ thành hôn với người đẹp nữ tiếp viên phi hành Đặng Tuyết  Mai. Đám cưới Kỳ – Mai là một trong những đám cưới linh đình nhất Việt Nam từ mấy chục năm qua, chỉ thua đám cưới ông Trần Trung Dung, cháu rể của Tổng Thống Diệm (trước kia), và dĩ nhiên phải thua đám cưới ái nữ Tổng Thống Thiệu và con trai ông Nguyễn Tấn Trung (sau này)”.
 
Ngoài đại tiệc ở Caravelle, một đại tiệc khác dành riêng cho hai họ và bà con thân thuộc được mở tại Chợ Lớn. Lễ tơ hồng:” tân lang trong chiếc áo dạ hội màu đỏ đã tặng giai nhân chiếc nhẫn to bằng đầu ngón tay”! Đây là cuộc hôn nhân lần thứ hai của Kỳ; ông viết:” Cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi với một phụ nữ Pháp – và chúng tôi đã có 5 đứa con với nhau – đã kết thúc bằng ly thân và tiếp đó chúng tôi đã ly dị”.
 
Đời vợ trước của Kỳ, theo lời tướng Đỗ Mậu, không được hanh thông dư dả lắm. Hàng năm cứ vào mùng một Tết, Kỳ thường dẫn vợ con đến nhà Đỗ Mậu mừng tuổi và lạy bàn thờ gia tiên vì xem Đỗ Mậu” như người anh trưởng của gia đình Kỳ’. Đến cuộc hôn nhân với Mai, Kỳ đích thân đến nhà mời vợ chồng  Đỗ Mậu dự tiệc, nhưng ông Mậu đã quá “chán chường không muốn chen lấn vào những nơi tụ họp đông đảo của hạng người trưởng giả nữa” nên không dự đại tiệc của Kỳ ở Caravelle. Có lẽ vì vậy đã dẫn đến thái độ cao ngạo đáp trả của Kỳ đối với Đỗ Mậu khi Kỳ lên làm thủ tướng vào khoảng nửa năm sau ngày cưới Mai. Chuyện như sau:

Kỳ phái viên thiếu tá chánh văn phòng của mình mời Đỗ Mậu đến dinh thủ tướng, đợi hơn một tiếng đồng hồ mới tới. Tới rồi, Kỳ đi thẳng vào phòng làm việc bắt Đỗ Mậu chờ thêm một tiếng nữa rồi mới ra tiếp. Sau hai giờ chờ chực, tưởng Kỳ nói chuyện chi quan trọng lắm, ai dè chỉ buông một câu trống không: “Lâu ngày không gặp nên tôi chỉ mời thiếu tướng vào thăm thế thôi”. Đỗ Mẫu “cám ơn” rồi ra về, buồn bực vì cuộc gặp mặt lãng nhách đó. Chắc Kỳ không mời đến để “thăm” vì thâm tình, bởi nếu vậy Kỳ đã tìm đến nhà riêng tướng Mậu, người mà Kỳ từng tôn xưng là “đàn anh” trước kia.

Đỗ Mậu chẳng buồn vì cách đối xử quá “hỗn” của Kỳ làm chi, mà nhớ đến “lá số tử vi” của một nhân vật “khắc tinh” của Kỳ và đang có mặt bên cạnh Kỳ là Nguyễn Văn Thiệu. Hồi ký Đỗ Mậu viết: “Thiệu có đến 4 chữ Tý: Tuổi Giáp Tý 1924, sinh vào giờ Tý (nửa đêm), tháng Tý (11 âm lịch) và cung Mệnh viên cũng nằm ở Tý”.

Dựa vào “lá số” đó, trước kia Đỗ Mậu xui Thiệu “làm cách mệnh” chống lại chế độ Diệm. Thiệu hoảng sợ năn nỉ Đỗ Mậu là “ông Cụ” (tức  Ngô Đình Diệm) cũng tin tử vi lắm, đừng nói với “ông cụ” về lá số quá tốt của Thiệu, sợ “cụ” nghi kỵ:

-Ông cụ biết được ông sẽ chặt đầu cả hai đứa mình!

 3 – Ông thầy tướng số “bí ẩn” sau lưng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ

nguyen_cao_ky_TIQQ

Nguyễn Văn Thiệu lâng lâng nghe Đỗ Mậu giải đoán về “lá số tử vi đại quý” của mình với một loạt chữ Tỵ. Đỗ Mậu dựa vào đó để “cổ vũ” Thiệu theo hướng có lợi cho cuộc vận động các sĩ quan chống Diệm. Mớm cho Thiệu phải “hành động quân sự” mới ứng hợp với bước đường thăng tiến mà “lá số” cho thấy.

Nguyễn Văn Thiệu ra về, không bao lâu sau, cũng chính Đỗ Mậu, với tư cách Giám đốc Nha an ninh quân đội, gọi điện thoại bắt Thiệu phải đến trình diện mình gấp. Vội vã và lo lắng, Thiệu rời Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 do mình nắm giữ, về ngay Nha an ninh quân đội vài giờ sau đó.
 
Lần này, Đỗ Mậu không mở đầu bằng những lời tiên đoán tốt đẹp  như trước đây, mà dọa “bắt giam” Thiệu vì tội “âm mưu lật đổ tổng thống” Diệm! Nghe vậy Thiệu thất sắc, chưa biết phải nói năng ra sao, Ông Mậu vội trấn an ngay, bảo mình giả vờ thôi, và bàn vào chuyện…lật đổ Diệm thật!
 
Vậy là “ông thầy bói” thành “ngài đại tá” vận động làm binh biến và trong đảo chính 1.11.1963 chính Nguyễn Văn Thiệu cầm quân trực tiếp đánh vào thành Cộng hòa và dinh Gia Long, được thăng từ đại tá lên thiếu tướng.
Theo những người thân cận dinh độc lập thì phần việc tham gia đảo chính trên của ông Thiệu do tướng Dương Văn Minh giao.Thăng đến trung tướng. Thiệu chuyển sang vai “quốc trưởng” (Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia). Năm 1964-1965, Nguyễn Văn Thiệu cùng “nhóm tướng trẻ” đưa “ông thầy bói” Đỗ Mậu ra khỏi Sài Gòn quản thúc. Nguyễn Cao Kỳ cũng vậy, trước được Đỗ Mậu dẫn đi coi bói bởi một “ông thầy” khác để biết chuyện tương lai, sau lên làm “thủ tướng” đã góp tay đẩy ông Mậu về vườn.
 
Chuyện như sau: Theo Đỗ Mậu, ông và Nguyễn Cao Kỳ có liên hệ “thắm thiết” như anh em, chí lí tình nghĩa đến cả chia nhau chút ruốc mắm, lọn nem, đòn chả, củ hành, dưa kiệu, nhét túi cho Kỳ đôi đồng uống bia là thường. Ngày mẹ mất, Kỳ thống thiết thưa với đàn anh: -“ Buổi sinh tiền, mẹ tôi ngỏ ý muốn khi mất sẽ được chôn cất ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi mà tôi thì quá túng thiếu không làm sao báo hiếu được, vậy nhờ đại tá giúp đỡ đàn em”. (Đỗ Mậu).
 
Cám cảnh Kỳ nghèo mà có hiếu, Đỗ Mậu bỏ tiền “mua biếu tặng bà cụ đám đất trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi”, giúp Kỳ chôn cất mẹ như ý nguyện. Kỳ dính líu tới nhóm sĩ quan nhảy dù mưu lật đổ Ngô Đình Diệm vào năm 1960; lại buôn lậu hàng hóa rẻ từ Singapore về bị quan thuế bắt; Đỗ Mậu bảo mình đều đứng ra che chở “đàn em”.
 
Đến ngày vận động lật đổ chế độ Diệm, tuy thân thiết như vậy, Đỗ Mậu vẫn thi triển bài bản có lớp lang chu đáo. Đầu tiên, gọi Kỳ đến, mở miệng là dọa “bắt” (như với Thiệu). Nhưng sau hạ giọng mát mẻ mời “tham gia đại sự”, làm như bộ luôn tiện (thật ra có chủ ý, sắp xếp trước) lôi Kỳ đi coi bói.
 
Theo lời Kỳ, hai người lên taxi chạy qua những phố vắng vẻ của Sài Gòn, ngừng trước một căn nhà tồi tàn: “Một cụ già đưa chúng tôi vào một gian phòng dơ dáy đầy sách vở, cuộn giấy, biểu đồ thiên văn…Đỗ Mậu đưa cho ông ta những chi tiết về ngày sinh của tôi rồi hỏi ông ta hai câu. Câu thứ nhất: “Người này (chỉ Nguyễn Cao Kỳ) có lương thiện không, có phải là một người tôi có thể tin tưởng, sẽ không bao giờ phản lại tôi hay những người khác không?”

Câu trả lời của cụ già khẳng định là Kỳ không phải loại người “phản trắc”.

Đoạn “mở đầu gieo quẻ” đó, Đỗ Mậu kể sinh động hơn: “Tôi  (Đỗ Mậu) bèn kéo Kỳ đến nhà thầy tử vi Minh Lộc ở đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần, Q.3, TP.HCM) mà tôi đã sắp đặt từ trước. Sau khi gieo quẻ bấm tay, ông MinhLộc nói rằng số Canh Ngọ này (của Nguyễn Cao Kỳ) làm nghề đi mây về gió (!) tuy nhiên đến thu đông năm nay (nhằm khoảng thời gian áng chừng nổ ra cuộc đảo chính Diệm; sau ấn định vào 1.11) phải làm gì có tính cách bạo động rồi trở thành vương tướng, phú quý song toàn” (!)Câu ấy hàm ý kích động Kỳ tham gia quân đội lật đổ Ngô triều.

Tử vi của ông này (Kỳ) có báo trước là một ngày nào đó ông ta sẽ đi tù không?

Kỳ viết: “Một lần nữa lão thầy bó nghiền ngẫm những biểu đồ và sách vở của ông ta rồi quyết đoán: Không, suốt đời ông này sẽ không bao giờ đi tù cả”.

Câu hỏi đó của Đỗ Mậu là câu trả lời “không bao giờ đi tù” của ông thầy bói nhằm trấn an Kỳ. Vì từ lời “thầy” mà suy ra, đảo chính bị “hụt”, Kỳ vẫn an toàn không bị ở tù chi cả, vì “số” là như thế (!).

Đến câu hỏi này mới thật cột nhau vào thế kẹt: “Số này (của Kỳ) có phản bội tôi (Đỗ Mậu) không?”. Minh Lộc khẳng định: “Không, bởi nếu phản bội sẽ bị chết bất đắc kỳ tử”. Đỗ Mậu thưởng cho thầy tử vi một trăm đồng bạc rồi ra về: “Trước khi chia tay, Kỳ thề suốt đời giữ trọng lòng trung nghĩa đối với tôi. Sau này Kỳ phản tôi, cùng với nhóm tướng trẻ cô lập tôi ở Kon Tum, tại Nha Trang nhưng Kỳ đã không chết bất đắc kỳ tử, vả lại trong thâm tâm tôi cũng thật lòng không muốn ai phải chết bất đắc kỳ tử…”.

Tuy không “bất đắc kỳ tử nhưng tiếng đồn không mấy hay ho về Kỳ (và Thiệu) tăng dần theo số quân Mỹ từng vào VN tham chiến mà đến Giáng sinh năm 1965 đã lên 184.000 (so với tháng 7.1965 chỉ mới 81.400 quân – số liệu dẫn từ Mc Namara).
Giữa năm đó, thuốc phiện cũng được thả dù xuống cao nguyên Trung phần sau khi bí mật đưa lên máy bay gần Savanakhet của Lào. Một số trong đó “lọt” vào chiếc chuyên cơ của Nguyễn Cao Kỳ với sự “hợp tác” của cả Thiệu, Nguyễn Hữu Có, Vĩnh Lộc, Cao Văn Viên.
 
Khi chuyến bay sắp cất cánh rời Pleiku về Sài Gòn thì bị phát giác và la ầm lên bởi viên Tư lệnh Quân đoàn I vùng I chiến thuật: Nguyễn Chánh Thi! Nguyễn Hữu Có (Tổng ủy viên quốc phòng) chặn không cho Thi tới gần máy bay chở thuốc phiện. Ức khí, Thi gằn giọng:

Định bán cho ai?

 4: Chuyến hàng thuốc phiện của các tướng lĩnh đứng về phía…dân nghiện!

Tướng Nguyễn Hữu Có, Tổng uỷ viên Quốc phòng (Tổng trưởng Quốc phòng) và. Tư lệnh Vùng 1 Nguyễn Chánh Thi, ảnh chụp trước khi xảy ra vụ biến động miền Trung

Tướng Nguyễn Hữu Có, Tổng uỷ viên Quốc phòng (Tổng trưởng Quốc phòng) và. Tư lệnh Vùng 1 Nguyễn Chánh Thi, ảnh chụp trước khi xảy ra vụ biến động miền Trung

Ngay từ ngưỡng cửa của việc nắm trọn quyền lực, Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu đã tạm thỏa hiệp ngồi lại với nhau trên “chiếc chiếu thần” của nàng tiên nâu, để tổ chức những chuyến hàng thuốc phiện dài ngày tội lỗi…

Những tướng lĩnh vừa đoạt quyền “điều khiển quốc gia” từ tay một chính phủ dân sự bất lực của các ông Phan Khắc Sửu – Phan Huy Quát vào tháng 6.1965 đang cấu kết mở rộng “con đường tơ nhện” trên không để đưa thuốc phiện về Sài Gòn qua đoạn trung chuyển từ các sân bay nằm khuất tận cao nguyên.
 
Một vài tay có vai vế cao nhất “thượng thủ, thượng thượng thủ” trong họ, gồm “quốc trưởng” Thiệu, “thủ tướng” Kỳ, cùng Nguyễn Hữu Có và Linh Quang Viên (thiếu tướng, tổng ủy viên an ninh trong nội các chiến tranh của Kỳ) đã có mặt cùng lúc tại sân bay Pleiku vào buổi chiều có chuyến hàng thuốc phiện đó. Duyên do gì cả 4 tay nêu trên lại hội nhau ở phố núi cao?
Nguyễn Chánh Thi trả lời qua hồi ký Một trời tâm sự: “Vào khoảng tháng 9.1965, Nguyễn Văn Thiệu gọi tôi, bảo phải đi Pleiku hội. Cuộc hội có Thiệu, Kỳ, Có, Viên và tôi. Đến sân bay Pleiku lúc 9 giờ 30, tất cả lập tức đi quan sát đồn Pleime, nơi vừa xảy ra trận đánh lớn…Về lạu Pleiku, tất cả đến tư thất Vĩnh Lộc ăn một bữa cơm thật thịnh soạn. Ăn xong Thiệu mới nói: – Cuộc họp mặt hôm nay quan trọng không phải vì trận Pleime, mà vì chuyện của anh Vĩnh Lộc. Tướng Westmoreland cũng như đại sứ Lodge đều yêu cầu phải thay thế Vĩnh Lộc ở chức vụ Tư lệnh vùng II chiến thuật. Đó là do lời đề nghị của tướng Palmer, cố vấn của anh Vĩnh Lộc. Anh Vĩnh Lộc đã làm mất lòng ông Palmer sao đó. Anh Thi nghĩ sao?
 
Tôi trả lời: – Phải để cho anh Vĩnh Lộc trình bày xem có gì nghiêm trọng không đã, tôi mới có ý kiến được.
Thiệu chặn ngang: – Người Mỹ họ cằn nhằn tôi là anh Vĩnh Lộc không có “tinh thần hợp tác”. Ông Palmer kêu qua họp mà anh ấy từ chối không qua. Đã nhiều lần như thế”.
 
Vĩnh Lộc vội vã biện bạch, Thiệu tiếp tục “truy”. Hỏi qua đáp lại kéo dài. Hãy khoan nhắc tới nội dung cà kê đó, xin tóm gọn là việc đi đến kết luận cách chức Vĩnh Lộc hôm ấy bất thành, vì mãi đến chiều còn cãi nhau. Nguyễn Hữu Có nhìn trời nhìn đất “quanh năm mùa đông” mới giục về Sài Gòn cho kịp, tạm nhưng họp, Nguyễn Chánh Thi viết:“Thường lệ đi họp mà muốn về lại Sài Gòn, thì tất cả tướng lĩnh đều được mời đi trên chiếc máy bay tốt nhất mà Nguyễn Cao Kỳ đang dùng. Lần đó quen lệ và cũng đinh ninh là mọi người sẽ đi chung một chiếc máy bay để có thêm thì giờ hàn huyên hay giải quyết những chuyện phối hợp lặt vặt, nên tôi xăm xăm đi thẳng tới chiếc máy bay của Nguyễn Cao Kỳ. Đột nhiên Nguyễn Hữu Có giơ tay ngăn tôi lại: – Anh đi chiếc máy bay của anh thì hơn. Tôi sinh nghi: Một ý nghĩ thoáng qua nhanh trong đầu: tụi này âm mưu gì đây”
 Ảnh tư liệu: Tướng SG Nguyễn Chánh Thi

Ảnh tư liệu: Tướng SG Nguyễn Chánh Thi

Đúng là có “âm mưu” trong chiếc máy bay đặc biệt của Nguyễn Cao Kỳ đậu kia. Mà Kỳ khi còn mang cấp bậc đại úy thời ông Diệm, bị dư luận cho là đã dính dáng đến các chuyến bay của phi đội đặc nhiệm chở thuốc phiện.
 
Có hơn 2.500 tiệm hút hoạt động tại Chợ Lớn từ những năm đầu 60. Dùng máy bay chở thuốc phiện về Sài Gòn không phải là điều hiếm thấy, mà có đến hàng trăm chuyến mỗi tháng. Thậm chí mỗi ngày có từ 300 đến 600 cân thuốc sống được người “cộng tác mật thiết” với Ngô Đình Nhu là Francisci dùng máy bay hai động cơ vận chuyển.
 
Khi hai anh em ông Diệm mất, Kỳ nắm chức tư lệnh không quân, việc buôn lậu thuốc phiện mở rộng, thời điểm đó Thiệu mới “bước vào nghề”. Như trên đã nói, Nguyễn Chánh Thi nghi chiếc “chuyên cơ” của Kỳ có gì “lạ” lắm đây, nên cứ một mực bảo Có là máy bay của mình phải trở về Quân đoàn, và mình cần “đi chung với các anh”.
 
“Nguyễn Hữu Có không ngăn được tôi, tỏ vẻ khó chịu. Tôi bước lên máy bay lẹ làng. Vừa ngồi xuống ngó chung quanh, tôi thấy mọi người đang nhìn nhau, nửa nghi ngại, nửa như bực dọc vì sự hiện diện của tôi”. Ai chẳng biết tính tình của viên tướng vùng 1 này, ăn nói bặm trợn chẳng kể ai. Có lần ông ta giúp Thiệu tránh được đám đông biểu tình “đòi làm thịt tại chỗ”, Thiệu cho phụ tá của mình đến cảm ơn. Thi bạo miệng đùa: “ Ơn nghĩa chi! Con chó bị thất thế như tôi cũng cứu huống cho ông Thiệu.
Đại khái ăn nói lua lua “ác khẩu” như vậy, thêm cái khí chất lúc nào cũng nóng nảy như bốc cháy của viên tướng vùng “hỏa tuyến”, nên người ta gọi Thi là “cục lửa to tướng mang hình dạng con người”. Mà “cục lửa” đó lại đang ngồi chình ình trước mặt họ chẳng biết phực cháy khi nào.
 
Bực mình quá, Nguyễn Hữu Có vọt miệng nói huỵch toẹt: – Chúng tôi vừa bắt được một vụ buôn thuốc phiện lậu, tịch thâu được khá nhiều, định đem về bán lấy tiền làm quỹ đen. – “Chúng tôi” (Thiệu, Kỳ, Có, Viên) là những phù thủy có đủ đòn phép đổi chữ “buôn” (lậu) thành chữ “bắt” (hàng quốc cấm). “Bắt” rồi bán lấy tiền, cầm trên tay những đồng “sạch sẽ” được “rửa” trước mắt Thi!
 
Nói “la ầm lên” thì không đúng hẳn, nhưng cái cách vừa cười nhạt vừa hỏi “cung” của ông Thi nghe cũng đinh tai” –Thuốc phiện bắt được bao nhiêu? Trị giá được bao nhiêu?Nguyễn Hữu Có tỉnh bơ: – Được vài trăm ký, bán được vài chục triệu. Bán xong, nếu anh muốn, tôi sẽ gửi biếu anh chút đỉnh tiêu…
 

5 – Bà Từ Cung muốn gả cháu gái cho tướng vùng “Hỏa tuyến” Nguyễn Chánh Thi?

Thiệu và Kỳ, cả hai chẳng thích thú gì khi đang gắng gạt hết các “tướng già” như Đỗ Mậu, lại phải bận tâm với loại “tướng trẻ” ngang ngạnh như Nguyễn Chánh Thi.

 
Chiếc máy bay như “lết đi nặng nề” và “bầu không khí bỗng trở nên nghẹt thở sau khi câu chuyện thuốc phiện bị Nguyễn Hữu Có đem nói toạc ra” theo như Thi kể. Đã thế, Thi bồi thêm mấy câu pha trò, khích bác chơi.
 
Thiệu và Kỳ, cả hai chẳng thích thú gì khi đang gắng gạt hết các “tướng già” như Đỗ Mậu, lại phải bận tâm với loại “tướng trẻ” ngang ngạnh như Nguyễn Chánh Thi. Thi sinh tại Huế, 33 tuổi làm Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù (1956) là một trong những người cầm đầu cuộc đảo chính hụt Ngô Đình Diệm hôm 11.11.1960, sau đó phải trốn sang Campuchia trong 3 năm.
 
Khi chế độ Diệm đổ, ông ta quay về Sài Gòn thì vợ đã chung chạ với một người bạn cũ của ông. Từ đó, ông sống một mình, nuôi 4 con. Nhận chức Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng I chiến thuật từ năm 1964-1966, đóng bản doanh tại Đà Nẵng nhưng hàng tuần Nguyễn Chánh Thi vẫn dùng trực thăng bay ra Huế. Bay ra đó vì công việc của “đại biểu chính phủ” tại Trung nguyên Trung phần mà ông ta kiêm nhiệm. Song dư luận báo giới đương thời vẫn cho vì ông nặng lòng với một cô gái Huế.
Dưới tít lớn “Tướngrâu miền hỏa tuyến (Nguyễn Chánh Thi) vừa yêu cô dược sĩ, vừa…ghét ai nhứt?” một bài báo viết: lại trông đêm trông ngày chờ ông đi cưới, thế mà…”. Chuyện đó ông ta không kể trong hồi ký mà chỉ nhắc đến cô H.T.X.M nào đó trong đoạn “Chuyện trò thân mật với Đức Từ Cung thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại” trích sau: “Cuối tháng 11.1964 một buổi mai thứ bảy, tôi đang ngồi uống nước trà với bà chị cả tôi ở quê lên thăm, thì vào khoảng 10 giờ sáng, một bà cụ già của Phước tộc ghé thăm. Sau mấy lời xã giao, bà cụ nói: – Đức Từ Cung sai tôi đến đây có ý mời Ôn qua nhà uống trà, luôn tiện có vài công chuyện muốn thưa với Ôn”.
 
Theo lời hẹn, sáng hôm sau chủ nhật ông ta đến nhà bà Từ Cung lúc 10 giờ sáng. Bà Từ Cung cho người nhà bận quần áo chỉnh tề ra đón khi ông vừa bước xuống xe, mời vô nhà. Cửa vừa mở, đã thấy bà Từ Cung đứng sẵn mặc áo màu vàng lạt, đầu tóc bạc phơ, mời Nguyễn Chánh Thi ngồi trên bộ trường kỷ bằng mun đen cẩn xà cừ, uống nước trà sen.
 
Gần 10 năm trước, ông Thi đã gặp bà khi được biệt phái đến chỉ huy Tiểu đoàn Ngự lâm quân. Nay đến thăm và nhờ nghe “một vài công chuyện muốn thưa” gì đó. Bà Từ Cung cám ơn vài việc mà ông đã làm cho hoàng tộc, rồi hạ thấp giọng: – Còn một chuyện quan trọng có tính cách gia đình mà bà muốn giúp cho Ôn vì biết Ôn có 4 đứa con dại không có người trông coi. Bà có đứa cháu gái giỏi, khôn ngoan, tên là H.T.X.M muốn cho Ôn đem về làm vợ để nuôi 4 đứa con và săn sóc Ôn khi đau ốm trở trời.
Nói xong, bà cho gọi cô X.M ra chào. Dừng chập lâu, bà lại khuyên ông nên “có vợ để lo gia đình”. Nguyễn Chánh Thi lúng túng, ngạc nhiên, thưa là “có thể năm ba năm nữa, bảy tám năm nữa, cháu mới dám nghĩ đến chuyện gia thất. Hiện chừ bổn phận làm cha cũng chưa đủ, huống chi thêm vào trách nhiệm làm chồng. Xin đức Từ thông hiểu hoàn cảnh của cháu”.
Bà Từ Cung mời Thi ăn bánh, đoán ông ta áy náy chuyện tuổi tác, chậm rãi nói: – Bà thật thương Ôn Thi và cháu của bà. Nó đã thưa với bà là muốn có tấm chồng gan dạ để được hy sinh với chồng, dù người chồng có hơn tuổi bao nhiêu cũng chả răng, cho nên bà có ý cho (làm vợ) Ôn đó”. Còn cô X.M ?
 
Hồi ký kể: “Tôi thấy cô X.M với cặp mắt trong xanh cũng cất đầu lên nhìn tôi với những giọt nước mắt đang rớt xuống làm thấm chiếc áo dài xanh lạt của cô. Lòng tôi lúc ấy thật là bùi ngùi, xúc động với những giây phút bất ngờ đã xảy ra tại đây”. Nghĩ một lúc, Bà Từ Cung tiếp: – Thôi nói rứa biết rứa, khi mô nghĩ lại thì đến cho bà biết để bà liệu cho và nhớ khi mô rảnh đem mấy đứa tới thăm bà với cho vui.
 
Kiếu Bà Từ Cung ra về, ông Thi bào tài xế riêng của mình hãy mang xe về trước, còn ông thả bộ chầm chậm dọc theo bờ sông An Cựu suy nghĩ mông lung về chuyện hôn nhân. Trong tướng tá Sài Gòn quanh ông, có người lỡ “lấn sân” qua bạn đời của kẻ khác. Bồ nhí thì không nhớ hết tên…
 
Khi Nguyễn Văn Thiệu nắm hết quyền lực vẫn muốn lợi dụng các vụ mèo mỡ lăng nhăng của các tướng tá phe đối lập, ra lệnh cho các tờ báo do mình đỡ đầu đem ra nện tới nơi để hạ uy thế đối thủ, mặc dù chính Thiệu cũng lăng nhăng không kém. Người đương thời đồn đại nhiều vụ ăn vụng, trăng hoa, như tướng Đỗ Cao Trí lấy vợ của dược sĩ V.H.T và bắt bồ với bà chủ hãng Cosuman Film chẳng hạn. Hoặc Cao Văn Viên “mang lộn dép” của vợ một sĩ quan dưới quyền vì tối trời điện cúp…
Ngoài câu chuyện liên quan đến H.T.X.M trong buổi gặp bà Từ Cung, ông Thi cho bà biết đã bàn với phụ tá “đại biểu chính phủ” là ông Hồ Dũ Châu, lo mượn hai chiếc máy bay C.130 lên Đà Lạt để chở trở lại 40 thùng đồ cổ của Đại nội mà trước kia vợ chồng Ngô Đình Nhu đã lấy lên Đà Lạt, tính trang hoàng cho ngôi biệt thự của họ. Nguyễn Chánh Thi viết: “Thật ra, không chỉ một mình vợ chồng Nhu mà sau này, sau vụ biến động miền Trung ngày 10.3.1966, dân chúng thành phố Huế cho biết là bọn Thiệu – Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan, Hoàng Xuân Lãm, Nguyễn Văn Toàn đã làm tiêu tán những bảo vật quý giá của hoàng tộc sau Đại nội và tại Tòa đại biểu Huế”.

Trong số tướng tá mà Nguyễn Chánh Thi nêu trên có một tay “máu lạnh” truyền kiếp: Nguyễn Ngọc Loan. Loan đã nói gì với Nguyễn Chánh Thi trong một cơn say tí bỉ mà Thi mô tả là “như đứa con nít đang lên cơn sốt”?…

6 – Sinh sự vì Dương Văn Minh lên đại tướng trước Nguyễn Khánh 3 ngày!

Vừa là bạn đồng sàng, vừa là phụ tá đắc lực của Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan được “Thủ tướng” Kỳ tin cẩn lần lượt giao nắm các chức vụ đầy quyền sinh sát trong ngành an ninh quân đội, tình báo và cảnh sát Sài Gòn

Một bữa, Loan uống say, mặt đỏ và méo, kéo tay Nguyễn Chánh Thi lôi vào một căn phòng ở Bộ Tổng tham mưu hét toáng lên: – Thôi ông ơi, ông thì chịu khó đi ra ngoại quốc một thời gian đi! Chúng nó ngại ông lắm. Nếu ông còn lẩn quẩn ở đây thì chúng nó còn khó chịu và còn làm nhiều chuyện ồn ào lắm.
 
“Chúng nó” tức cánh Kỳ và Thiệu đang hợp tác tìm thủ đoạn đốn ngã Thi, Loan vừa lè nhè mớm cho Thi hãy “chạy ra nước ngoài”, vừa đưa cao chai bia đang cầm trong tay lên nốc, rồi chửi đổng một hồi vung vít…
 
Chừng sáu, bảy ngày sau, Loan tìm gặp Thi lần nữa, lần này có cả Mai Đen – từng nhúng tay vào việc buôn vàng và thuốc phiện vùng biên giới Lào – Việt thời Ngô Đình Nhu – đi kèm. Không say như hôm trước, mà rất tỉnh táo, lạnh lùng “đề nghị” Thi:  Ông nên chịu khó đi ra nước ngoài thì hơn, nếu ông còn ở lại Việt Nam, chỉ sợ tính mạng của ông không được bảo đảm.

Nguyễn Chánh Thi hiểu đó chẳng phải là lời đe dọa suông.

Sau này, khi lưu vong, ông viết hồi ký và ngán ngẩm về các “chiến hữu” của mình thời đó như Kỳ, như Khánh. Với đầu óc quân phiệt, muốn làm “cha dân” của Khánh. Có lần qua điện đàm, Thi tỏ thái độ không đồng tình với Khánh về chuyện đó, khiến Khánh “rất khó chịu” và theo lời Thi: “ông ta bỏ điện thoại xuống một cách giận dữ”.
 
Thi viết: “Dẫu sao sau đấy một chính quyền dân sự (!) được thành lập bởi Thủ tướng Trần Văn Hương và cụ Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng, Trung tướng Dương Văn Minh và trung tướng Nguyễn Khánh được thăng lên đại tướng”.
 
Vụ thăng đại tướng của hai ông Khánh và Minh hồi ấy cũng bộc lộ những bất đồng sẵn có giữa họ vốn manh nha từ cuộc đảo chánh 1.11.1963. Ông Khánh không muốn ông Minh đưa ông Nguyễn Ngọc Thơ lên làm Thủ tướng. Ông Minh đợi đến buổi lễ gần thăng cấp cho các tướng tá có công trong đảo chánh mới quay lại bảo Khánh: – Anh không muốn cho ông Thơ làm thủ tướng chớ gì, chỉ chốc nữa đây chính ông Thơ sẽ gắn sao cho anh!

Làm sao Khánh có thể khước từ được? Chuyện xảy ra tại Câu lạc bộ Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn có đông đảo các tướng tá sĩ quan cùng biết nên Khánh bực lắm. Đến 1964, khi ông Minh làm “Quốc trưởng” và Khánh làm “Thủ tướng” rồi tự dàn cảnh phong mình lên “Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa”, thì hai bên “đụng” nhau hoài. Một lần, vào ngày 1.7.1964, hai ông Minh và Khánh sừng sộ nhau tại Dinh số 2 Đà Lạt trước mặt các ông Trần Thiện Khiêm, Lê Văn Kim quanh “quyền” của mỗi người. Ông Khánh bắt đầu “nổ” ngay:

–          Tại sao anh ra Huế và Đà Nẵng, anh gắn huy chương cho ông Tôn Thất Xứng và ông Mỹ, tôi là “chủ tịch” mà anh không hỏi ý kiến tôi gì hết?

Dương Văn Minh đáp:

–          Tôi tưởng tôi là “Quốc trưởng” thì có quyền chớ!

Khánh không chịu:

–          Nhưng tôi là “Chủ tịch”, anh phải hỏi tôi.

–          Thế anh có quyền thì ấn định quyền hạn cho tôi đi.

–          Thì anh đề nghị quyền hạn lên tôi. Chuyện này nữa, tôi là Thủ tướng, tôi cần dùng xe cộ, tôi cũng có khách để tiếp đón, tại sao bên anh lại sử dụng gì đến một trăm hai mươi mấy chiếc xe, tôi cần anh trả lại một ít để làm cái Pool: văn phòng tôi hỏi thì ông đổng lý văn phòng anh bảo là không trả gì cả!

“Quốc trưởng”, “Thủ tướng” và “Chủ tịch nước” mà đè nhau ra chì chiết những chuyện như thế thì khó nghe quá. Trần Văn Đôn cũng có mặt tại buổi “tọa đàm nội bộ’ trên kéo dài từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, có chen vào những “thắc mắc chung” của “từng người” khác và đã ghi lại mẩu “đối chọi” giữa hai ông Minh và Khánh như vậy trong hồi ký Việt Nam nhân chứng.

Vài tháng sau, cuối năm 1964, ông Khánh mới nhờ cậu ông ta là Nguyễn Lưu Viên, bấy giờ giữ chức “Tổng trưởng Nội vụ” nói với ông Trần Văn Hương đề nghị với Quốc trưởng Phan Khắc Sửu thăng Nguyễn Khánh và Dương Văn Minh lên đại tướng, nhưng trong sắc lệnh phải ghi, ông Khánh được “lên” trước ông Minh…1 ngày!

Theo ông Đôn, khi sắc lệnh được trình ký lên văn phòng quốc trưởng “những sĩ quan làm việc tại đó phần nhiều là người của ông Minh. Thấy thế, biết là ông Khánh chơi “thầy” mình nên họ đề nghị Quốc trưởng trình lên Thượng hội đồng quốc gia (…). Nhận định rằng ông Minh là cựu Quốc trưởng và ở chức vụ trung tướng thâm niên hơn ông Khánh, cho nên cuối cùng họ (Thượng hội đồng quốc gia) đồng chấp thuận thăng hai ông lên đại tướng, nhưng để ông Minh “lên” trước …3 ngày!”.

Thế là sinh sự . Khi nhận được điện thoại báo tin sắc lệnh trên đã được ký, ông Khánh đang dùng cơm tối với Trần Văn Đôn ở Dinh số 2, chẳng những không vui mà lộ hẳn vẻ ác cảm, bực tức đến nghẹn cơm vì cái “hội đồng quốc gia” đã làm ông vỡ một cuộc chơi.
 
Về Sài Gòn, Khánh nhóm họ “nhóm tướng trẻ” quy cho “Thượng hội đồng quốc gia đang âm mưu giành tất cả quyền hành, lấn át quân đội!”. Lúc đó, theo hồi ký của Nguyễn Cao Kỳ, có người về hùa với Khánh la to: “Hốt chúng đi là xong!”. Thật loạn.
Bề nào thì hội đồng đó vẫn gồm các thành viên cao niên, hoặc tên tuổi được chính giới Sài Gòn biết tiếng như các ông: Phan Khắc Sửu, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Huyền, Trần Đình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Văn Chữ, Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương Trọng Tường, Nguyễn Đình Lượng, Hồ Đắc Thắng, được thành lập hồi tháng 9.1964.
 
Nguyễn Cao Kỳ mỉa mai: “Hội đồng quá già nua đến độ ở các quán rượu Sài Gòn người ta gọi đó là viện bảo tàng quốc gia”, và Kỳ cùng Khánh ra lệnh “nhóm tướng trẻ” hốt hội đồng đó thật, bắt một số đem quản thúc khiến đại sứ Mỹ M.Taylor phải ôm đầu bảo họ: “Các vị đã làm nát bét cả rồi!” Nghĩa là làm mất cái “màu mè dân chủ”, cái “chính phủ dân sự” mà Mỹ đang muốn có. Dĩ nhiên,  nhiều nguyên do để Khánh “hốt” hội đồng , nhưng chắc chắn việc quyết định để Khánh lên đại tướng sau Dương Văn Minh 3 ngày có tác động tâm lý thúc đẩy Khánh hành động nhanh hơn. Vả lại, lúc ấy nghi án “5 tướng Đà Lạt” kết thúc rồi, các “tướng già” đang có mặt ở Sài Gòn . Họ quen biết những nhân vật thân cận với đại sứ Taylor, điều đó cũng đáng lo chứ?
 
7 – “Anh cả Trường Sơn” Vĩnh Lộc với cuộc tình trên phố núi cao
 
Trung tướng Vĩnh Lộc thường cho máy bay quân sự

Trung tướng Vĩnh Lộc thường cho máy bay quân sự “không vận” các nữ ca sĩ lên phục vụ ở Vùng II chiến thuật

Đêm 28.5.1964, đường phố Đà Lạt thấp thoáng bóng nhiều chiếc xe jeep gắn sao đỏ di chuyển về hướng dinh số 3. Có nhiều dấu hiệu rất rõ về sự hiện diện bất ngờ của khá đông các tướng tá từ Sài Gòn lên.

Kết thúc nghi án năm tướng Đà Lạt “trung lập”

Trần Văn Đôn lúc đó cùng em rể là trung tướng Lê Văn Kim được đưa từ Đà Nẵng về quản thúc tại nhà riêng số 16 đường Lê Thái Tổ, Đà Lạt. Khoảng mười một giờ rưỡi khuya hôm đó, an ninh quân đội đến “mời” hai ông Đôn và Kim ra xe, đưa về dinh 3. Ở đó, 4 tướng “Đôn-Đính-Kim-Xuân” (và Vỹ) bị tình nghi “trung lập” được đưa ra đối chất trước hội đồng tướng lĩnh ngồi xoay quanh theo hình chữ U.
 
Trần Văn Đôn được đưa vào phòng họp lúc …1 giờ sáng 29.5! Ông Đôn kể: “Bước vào thật là buồn rầu, bỡ ngỡ. Trước mặt tôi là các tướng tá: Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Đỗ Cao Trí, Phạm Xuân Chiểu, Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát, Đỗ Mậu, Tôn Thất Xứng, Nguyễn Chánh Thi, Dương Ngọc Lắm, Trần Tử Oai, Lê Văn Nghiêm, Nguyễn Cao Kỳ (đến buổi sáng sau). Chung Tấn Cang, các đại tá: Trần Thanh Bền, Nguyễn Mộng Bích, Lê Văn Nhiêu. Tôi ngồi ở giữa, họ ngồi chung quanh…”.

Sau 4 tháng bắt giữ vì bị nghi “trung lập”, đến lúc đưa ra xét hỏi chẳng thấy nhắc tới hai tiếng “trung lập” chi cả, chỉ loanh quanh mấy chuyện gì đâu kéo tận tới 6 giờ rưỡi sáng . Nguyễn Chánh Thi cứ lôi chuyện bà Ngô Đình Nhu hỏi Đôn: “Tại sao trung tướng trả các con của bà Nhu lại mà không giữ làm con tin để đòi trao đổi tiền bạc của nhà Nhu?”. Trần Văn Đôn viết là ông đã trả lời ông Thi một cách “bình tĩnh, ôn tồn” như sau:

–          Sau cái chết của hai ông Diệm – Nhu dư luận trong và ngoài nước đều xúc động nên đại sứ Cabot Lodge có yêu cầu chúng tôi trả con của bà Nhu lại cho bà ta để làm dịu bớt tinh thần dân chúng Mỹ đang xúc động.

Ông Đôn bảo là đã trình lên hội đồng quân nhân đảo chính trước khi các con bà Nhu lên máy bay ra nước ngoài và hội đồng chấp thuận. Sau những thẩm vấn đại loại như vậy, các tướng gác chuyện bà Nhu sang một bên và trao cho Trần Văn Đôn một danh sách dài thượt gồm tên họ các bà các cô và bảo: – Có phải đây là tên họ các nhân tình của anh? Chúng tôi nhận thấy anh thiếu tác phong. Chúng tôi nghỉ 15 phút để anh coi cho kỹ rồi trả lời.

Thật lạ lùng. “Hội đồng xét hỏi” đưa ra danh sách các bà các cô xem chừng chẳng dính dáng gì tới “nghi án chính trị”? Ông Đôn đọc qua; khi trở lại phiên họp, trả lời rằng “một số tên đúng” là nhân tình của ông ta, “một số tên chưa hề quen biết”, có thể là nhân tình của ai đó đang ngồi đây? Cả phòng họp cười ồ. Tướng Đỗ Cao Trí bảo hỏi chuyện đời tư nghe “xấu hổ quá” : – Nếu ngày nào tôi ngồi vào ghế của trung tướng Đôn thì không phải là một tờ giấy như vậy mà là chở một xe GMC!

Ý ông Trí bảo nếu có điều kiện như ông Đôn, danh sách tình nhân của ông ta chép trên giấy nhiều tới nỗi phải dùng xe quân sự loại lớn mới tải hết!

Ngoài “Đôn-Đính-Kim-Xuân”, tướng Nguyễn Văn Vỹ cũng bị xét hỏi, và kết quả rất chung chung cho 5 người là: “Chưa dứt khoát tư tưởng”, “thiếu lãnh đạo chỉ huy”, kèm theo mục bồ bịch lung tung gọi là “thiếu tác phong”. Rồi tuyên bố…trả tự do! Ưa thì bắt. Ưa thì thả. Chuyện như đùa, xét hỏi như đùa. Đôn than: “Tôi ngủ một đêm tự do sau 4 tháng “đi nghỉ mát” ở biển và cao nguyên. Qua ngày chủ nhật 31.5, tất cả gia đình tôi đoàn tụ ở Đà Lạt sau 4 tháng đen tối nhất của đời tôi”.

Vụ “nghi án” 5 tướng Đà Lạt “trung lập” khép lại hồ sơ từ đó. Đường binh nghiệp của họ cũng dần khép theo, một khung cửa hẹp mở ra để Trần Văn Đôn bước vào chính trường theo con đường khác, sau này…

Bộ sưu tập “ảnh lạ cao nguyên” xẻ làm ba mảnh, vì đâu?

Không chỉ ông Đôn bị lôi chuyện bồ bịch đời tư vào “chương trình nghị sự” mà nhiều tướng tá Sài Gòn khác như “anh cả Trường Sơn” Vĩnh Lộc cũng bị vướng. Gọi “anh cả Trường Sơn” vì theo làng báo thời đó, ông Lộc tuy thuộc hàng VIP. KK nhưng có máu văn nghệ, bỏ tiền thực hiện bộ phim Anh cả Trường Sơn và nhảy vào đóng phim đó luôn!

Thuộc hoàng phái, từng làm việc trong văn phòng Bảo Đại, đến thời ông Diệm suốt 10 năm trong quân vụ ông chỉ lên được một cấp: trung tá chỉ huy trưởng một trung tâm huấn luyện nằm sát Sài Gòn. Chế độ Diệm đổ, thời Thiệu – Kỳ chớm lên, Vĩnh Lộc làm Tư lệnh Vùng II chiến thuật đóng tại “phố núi cao” Pleiku. Vĩnh Lộc thường sai viên sĩ quan tùy viên của mình về Sài Gòn rủ một số văn nghệ sĩ , ký giả, và dĩ nhiên vài “người đẹp hậu phương’ lên cao nguyên chơi vào cuối tuần. Qua sáng thứ  hai, dùng máy bay quân sự chở họ về Sài Gòn.

Những chuyến bay “văn nghệ tiền tuyến” đó nối chặt cuộc tình “anh cả Trường Sơn” với cô ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn thời đó: Minh H.

Ca sĩ H. là “người vợ không bao giờ cưới” của nhạc sĩ T.T.T, tác giả của các nhạc phẩm viết về chân trời tím, và tình thư của lính…

Khi mối tình vụng trộm của “anh cả” và ca sĩ H. chín mọng, vừa lúc Thiệu và Kỳ hục hặc nhau nặng và Thiệu muốn hất Kỳ thẳng tay. Vì vậy khi nghe em út dèm pha rằng nhóm văn nghệ sĩ hay lên Pleiku “giao duyên” với Vĩnh Lộc là nhóm của Kỳ, cánh Thiệu nhất định không để yên cho “sinh hoạt văn nghệ” đó. Họ tìm cách chụp lén hình tướng Lộc và ca sĩ H. ăn nằm âu yếm nhau góp lại làm một “sưu tập”. Sau đó chia làm 3 phần. Một phần đưa lên mặt báo. Một phần gửi cho người vợ lớn của ông Lộc có nhà nằm trong khu đất Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn. Phần còn lại gửi cho người chồng “chưa cưới” của ca sĩ H. là nhạc sĩ T.

Riêng hai phần sau có kèm theo mấy cuốn băng ghi âm những lời thề thốt “yêu ai yêu cả một đời” của họ. Việc gì xảy ra sau đó? Theo dân làng báo thời bấy giờ, sau khi xem ảnh và nghe xong băng, vợ “anh cả Lộc” nổi cơn ghen ngút trời. Nhạc sĩ T. lận súng lên tận biệt điện Phượng Hoàng đòi bắn  ca sĩ H. Chuyện còn dài nhưng xin ngừng nơi đây. Tờ Quật Cường do ông Thiệu cùng nhóm vây cánh của ông ta – phối hợp với các “diễn đàn” khác – bôi nhọ Vĩnh Lộc, triệt hạ uy tín những người bị nghi là thuộc phe Nguyễn Cao Kỳ, bằng cách moi móc chuyện phòng the làm cho phải ngượng nghịu trước “quân dân bốn vùng chiến thuật”.

Bộ sưu tầm ảnh phải “xẻ làm ba mảnh” vì như thế. Cũng cần nhắc việc xích mích giữa Vĩnh Lộc với cố vấn Mỹ Palmer mà chúng tôi có nói qua trong bài viết về chuyến hàng thuốc phiện ở sân bay Pleiku. Theo Vĩnh Lộc: “Ông Palmer trịch thượng, xem thường chức vụ của tôi. Nhiều khi ông ấy hành động như là muốn sai khiến tôi thế nào cũng được. Vì muốn giữ thể diện, nên đôi khi ông ấy làm quá, tôi phải tỏ thái độ”.

Nhưng Thiệu – Kỳ thì khác, họ muốn vâng lời, vâng lời và vâng lời đã! Vĩnh Lộc đã khều Nguyễn Chánh Thi ra xa Thiệu – Kỳ sau một cuộc họp tại cao nguyên và thẳng thừng mắng: “Tụi nó chó má chưa! Chỉ đi theo quan thầy thôi. Thôi thì trăm sự nhờ “ainé” cả”. Ông Thi xác nhận đó là nguyên văn lời Vĩnh Lộc. Nhưng một năm sau, trong nhóm “quan tòa” xử Nguyễn Chánh Thi ngoài Thiệu – Kỳ – Có – Viên trong chuyến máy bay chở thuốc phiện tháng 9.1965 có…Vĩnh Lộc ngồi chung, và là người đầu tiên cao giọng chỉ trích Thi! Ông Thi viết một cách cay đắng:

–          Bây giờ trong hàng ngũ quan tòa xử tội tôi, tôi chua chát thấy Vĩnh Lộc ngồi chung với bọn “chó má”. Giá ông ta không có thái độ gay gắt, có khi tôi vẫn tin rằng ông ta lẫn lộn với bọn “chó má” chẳng qua chỉ vì vạn bất đắc dĩ mà thôi”.

Thi bị gạt vào Sài Gòn họp và bị bắt giữ bất ngờ. Những người tưởng “tướng tá anh em” đã xử ông tội gì?

8 – Chân dung tướng Mỹ M.Taylor dưới “kính loạn hoa” của Thiệu – Kỳ – Thi

Nguyên tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu

Nguyên tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu

Nguyễn Chánh Thi bị ghép “13 tội” mà theo ông ta tội lớn nhất không được nêu ra là “biết quá rõ những hành động tham ô, buôn lậu á phiện” của phe Kỳ và Thiệu. Tội nữa là nặng đầu óc cát cứ miền Trung – bộc lộ qua đòi hỏi phải thả, hoặc để những nhân vật người Trung cho Thi xử lý qua vụ “hốt” Thượng hội đồng quốc gia cuối năm 1964.

Vụ “hốt” đó do Khánh và” nhóm tướng trẻ” của Kỳ  chủ mưu. Nó là sự tiếp tục tham vọng quân đội làm “vua” manh nha ngay sau đảo chính 1.11.1963, như Thiệu đòi hỏi:”Quân đội đảo chính thì quân đội phải hưởng” (trong cuộc họp tìm người thay  Nguyễn Ngọc Thơ làm thủ tướng ).

Trần Thiện Khiêm trong chuyến thăm Mã Lai, người nước đó hỏi: Ở Sài Gòn đảng nào mạnh nhất, Khiêm trả lời:”Quân đội!”. Nghe kể lại, các tướng tá Sài Gòn cười ầm lên, người hả hê nhất phải là Khánh. Một tuần trước lễ Giáng sinh 1964, Khánh xuất hiện với bộ quân phục, gặp các ông  Đôn – Kim – Xuân tại Đà Lạt và hậm hực nói (giọng vẫn đầy ”ấn tượng” với Dương Văn Minh):

–         Thượng hội đồng quốc gia là người của ông Minh, tôi quyết định vấn đề gì họ cũng bác hết. Các anh thấy tôi bận quân phục đây chắc là sẽ phải có chuyện gì! Chiều nay (19.12) tôi về Sài Gòn nhóm anh em và sẽ có quyết định: một là đảo chính, quân đội lên nắm chính quyền trở lại; hai là xúc Thượng hội đồng quốc gia.

Thượng hội đồng đang soạn thảo hiến pháp để tiến tới thiết lập chính quyền dân sự, nhưng điều đó thâm tâm Khánh-Kỳ-Thiệu–Khiêm và nhóm tướng trẻ diều hâu, quân phiệt không muốn. Nguyễn Cao Kỳ xem rẻ Thượng hội đồng, bảo Quốc trưởng Phan Quốc Sửu là “ông già lải nhải”, gọi thủ tướng Trần văn Hương 61 tuổi, cựu đô trưởng Sài Gòn là “một người mang lại tai họa. Ông ta không có nghị lực, không nhìn xa thấy rộng…”. Tóm lại, Kỳ cũng đang nôn nóng lật ngã cái “Thượng hội đồng” bị mỉa mai là “Viện bảo tàng quốc gia” đó, thì đùng một cái, như lời hứa, Khánh về Sài Gòn tụ họp “nhóm tướng trẻ” suốt 6 tiếng đồng hồ để xem có nên ra tay chưa.

Kỳ kể lại, cuối cùng tất cả biểu quyết bằng cách đưa tay, kết quả là đồng ý “hốt” ngay hôm 20.12.1964 và: “Tôi còn nhớ lúc đó vào khoảng chập tối, tướng Có (sau này là thành viên trong nội các của tôi cho đến khi tôi giải nhiệm ông ta vì tham ô) nhìn vào đồng hồ tay và nói: Đã muộn rồi. Đến lúc phải lùa về gà và bò vào chuồng thôi!”.

Việc “hốt”, “xúc”, hoặc “lùa” (chữ dùng của nhóm tướng tá kiêu binh, quân phiệt) được tiến hành trong đêm tối; y hệt cuộc hợp đồng tác chiến chống lại những ông già ốm yếu không một tấc sắc trong tay.
Kỳ ghi nhận: “Khánh cầm đầu các lực lượng vũ trang, tôi hoàn toàn kiểm soát không quân. Những người khác kiểm soát lực lượng đặc biệt, thủy quân lục chiến, nhảy dù. Tôi cho tìm những sĩ quan cấp nhỏ, cung cấp chi tiết (danh sách, địa chỉ, nơi giam giữ), thế là họ cho quân đi bắt…”
Khuya đó, một số thành viên Thượng hội đồng và hàng chục chính khách, giáo sư, lãnh tụ sinh viên mà Kỳ ghép vào “thành phần bất hảo” bị bắt giữ đưa lên Pleiku và Kontum quản thúc ngay sáng hôm sau. Trong số đó có cả thiếu tướng Đỗ Mậu, ông kể: “Khoảng 3 giờ đêm ngày 20.12.1964, đại tá Nhiêu, một cộng sự viên của Khánh và đang là Giám đốc Sở Trung ương tình báo, đi xe jeep cùng với 3 binh sĩ võ trang đến nhà riêng của tôi mời tôi đến gặp Hội đồng tướng lĩnh đang nhóm họp tại Bộ Tổng tham mưu. Tôi biết việc chẳng lành đang xảy ra nên dặn vợ con cứ yên tâm ở nhà (…), Đến 7 giờ sáng, tướng Có mời tôi lên xe và đưa ra phi trường Tân Sơn Nhất”. Ở đó, các ông Mai Ngọc Liệu, Vũ Ngọc Các, Nguyễn Văn Lực, bác sĩ Lê Khắc Quyến, luật sư Trần Thanh Hiệp…lần lượt được binh lính chở tới cầu thang máy bay để đưa đi quản thúc tại Kontum và Pleiku.

Đại sứ Mỹ M.Taylor nhanh chóng biết tin và điện thoại cho Khánh, Khánh nghe xong quay qua bảo mọi người có mặt: “Đại sứ Mỹ Taylor muốn gặp tất cả chúng ta tại Đại sứ quán Mỹ ngay bây giờ. Nhưng tôi không đi (…). Trong các anh có ai đại diện tôi không?”. Không ai đi thay cả. Khánh nói: “Này Kỳ, anh là lãnh đạo của nhóm tướng trẻ, anh nên đi đi”. Thiệu và Thi đồng ý đi. Đô đốc Chung Tấn Cang cũng thế. Rốt lại: Thiệu-Thi-Kỳ-Cang đi gặp Taylor.

Thái độ và lời nói của Taylor nhằm vào 4 người được mô tả là “quá sỗ sàng”. Ông ta bảo đại ý là cuộc đảo chính náo động tối hôm qua đã làm tiêu tan quá trình hình thành chính phủ dân sự đang diễn tiến, khiến Mỹ có thể cắt viện trợ. Hành động của nhóm tướng trẻ quá “loạn”. Lời nói của Taylor đầy vẻ lên lớp, không làm tắt “loạn” được. Hai bên chỏi nhau.
Kỳ bảo: “Taylor vẫn cứ tiếp tục nói với chúng tôi như là những học sinh lang thang bị bắt gặp đang trộm quả trong một vườn cây ăn trái”. Ngược lại, các tướng đầy máu kiêu binh, quân phiệt, háo thắng đó lại nhìn Taylor qua một “kính loạn hoa” để thấy ông ta chẳng phải là “ngài đại sứ” đang mặc bộ thường phục trang nhã trước mặt họ mà là, như Kỳ viết, một vị tướng “không sao che đậy được phong thái quân sự…Taylor thuộc về loại người luôn luôn thuyết giảng cho người khác chứ không phải là để nói chuyện với họ”.

Ông hiện ra trong ý nghĩ họ như một người đang mặc áo hoa rằn ri của lính Mỹ với những lời như đạn réo. Thiệu ức lắm, dọa sẽ họp báo về thái độ của Taylor. Thi điên lên. Còn Khánh? Kỳ bảo sẽ không bao giờ tha thứ Khánh về việc ông ta “lẩn tránh không chịu đi dự cuộc họp đó”. Nhưng 3 ngày sau, Khánh lên Đà Lạt khoe trước Trần Văn Đôn, Linh Quang Viên, Lê Nguyên Khang:

–         Bây giờ tôi đã nắm ông Taylor trong tay rồi, ông ta không dám hành động gì để chống tôi nữa. Ông Taylor muốn gặp tôi thì đến văn phòng tôi ở Bộ Tổng tư lệnh – chứ tôi không đến văn phòng ông Taylor nữa đâu.

Ông Đôn không lạ về lối nói của Khánh, hỏi:

–         Có phải anh gây với ông Taylor không?

Khánh khoái lắm, cười ha hả:

–         Ừ, tôi đã mắng ông Taylor một mạch…

Và ông Taylor đã nhịn im?
 
9: Nguyễn Khánh lừa đại sứ Henry Cabot Lodge và cái chết của thiếu tá Nhung
Trung tướng Nguyễn Khánh họp báo sau cuộc chỉnh lý ngày 30.1.1964

Trung tướng Nguyễn Khánh họp báo sau cuộc chỉnh lý ngày 30.1.1964

Nguyễn Khánh khoe đã thâu băng cuộc nói chuyện tay đôi với đại sứ Taylor: “Tôi nói ông (Taylor) là một tướng giỏi, tài ba ở nước ông, nhưng ở đây ông là một nhà ngoại giao dở”.

“Ngoại giao dở” vì không lôi kéo được mà còn gây ra sự bất mãn của các tướng lĩnh Sài Gòn như Thiệu – Kỳ – Thi  và…Khánh! Có lẽ ông Taylor đã nín nhịn, nhưng ngấm ngầm “vận động” thế nào đó để góp phần làm Khánh phải văng ra khỏi Việt Nam, lưu vong mãi đến giờ.

Với đại sứ Cabot Lodge, ông Khánh “qua mặt” một lần. Frederick Flott, một người thân cận với Tòa đại sứ Mỹ, đã đưa 3 đứa con của bà Ngô Đình Nhu sang Roma hồi đảo chánh 1.11.1963, kể với Trần Văn Đôn chuyện đó.

Theo Flott, hôm vụ chỉnh lý 30.1.1964 nổ ra, đại sứ Cabot Lodge cho mời Nguyễn Khánh đến lúc 5 giờ sáng, hỏi vì sao lại bắt mấy tướng Đôn-Đính-Kim-Xuân? Khánh đáp: – Không bắt sao được, chúng tôi có tài liệu là trong vài ngày nữa, các ông đó sẽ tuyên bố miền Nam trung lập!

–         Thế anh chắc chắn có bằng chứng không?

–         Sao lại không? Chúng tôi có đủ tất cả tài liệu đây nầy!

Ông Khánh chỉ vào một tập hồ sơ ông ta đang ôm trong tay.

–         Thôi được, anh đưa tôi xem để tôi trình cho Hoa Thịnh Đốn.

–         Không được, vì trưa nay chúng tôi có cuộc họp báo, cần tài liệu này để trưng bằng cớ, rồi sau đó sẽ đưa lại cho ông.

Nói qua chuyện vậy thôi chứ ông Khánh không đến. Phía đại sứ Cabot Lodge –nhắn, Khánh lại hứa “sẽ”.  “Rồi một hai tháng trôi qua, ông Khánh không đưa gì hết. Lúc ấy ông Lodge mới biết là bị gạt”, Đôn viết như vậy. Đó là tập “hồ sơ giả” hoặc một mớ giấy lộn “giả làm hồ sơ” mà “ngài đại sứ” không bao giờ đọc được. “Qua mặt”. Cabot Lodge, Khánh không đơn độc mà có sự che chở của cố vấn Mỹ riêng của mình là Jasper Wilson.

Các hồi ký sau này của Trần Văn Đôn, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh Thi viết và xuất bản ở nước ngoài đều cho người sắm “vai chánh” trong chỉnh lý 30.1.1964 không phải Nguyễn Khánh mà là…Trần Thiện Khiêm (lúc đó làm tư lệnh quân đoàn 3). Do vậy, đại sứ Cabot Lodge lẽ ra gặp ông Khiêm thay vì Khánh mới “đúng người đúng việc”. Đêm có chỉnh lý, bắt các tướng, ông Khánh chỉ được 5 phút để suy nghĩ nhận làm hay không làm thủ tướng. Trần Văn Đôn viết:

Ông Khánh cho tôi biết sau này là ông ta nhận làm thủ tướng quá bất ngờ. Trong đêm đảo chánh (chỉnh lý 30.1.1964) Trần Thiện Khiêm yêu cầu Nguyễn Khánh nhận chức vụ Thủ tướng và Khiêm chỉ để cho Khánh 5 phút quyết định. Năm phút sau Khánh bằng lòng. Có lẽ vì vậy mà nhóm đảng Đại Việt (…) nói là họ bị gạt và đòi “đảo chánh lại”.
Hồi ký Nguyễn Chánh Thi cũng viết Trần Thiện Khiêm là “vai chánh” vụ đó: “Ngoài ra, bên cạnh ông Khiêm còn có một số quân nhân thuộc đảng phái, cộng với một số sĩ quan khác bất mãn với chế độ “mới” (của ông Dương Văn Minh) vì không được trọng dụng, không được lên lon v.v…Thì ra cái thứ “cách mạng” (chỉ cuộc chỉnh lý 30.1.1964 lúc đầu được Thi ủng hộ) mà tôi đã tin tưởng, đã lăn lưng vào, nó là như thế!”.

Ra nước ngoài hơn 35 năm nay, chưa thấy ông Khánh xuất bản hồi ký. Trong một cuốn sách của Vĩnh Phúc ấn hành tại Mỹ năm 1998 có in lời đáp của Nguyễn Khánh khi được hỏi quanh “cái chết của thiếu tá Nhung” (người bắn hai anh em Diệm Nhu) với các chi tiết dưới đây.

Về lời đồn cho rằng Nguyễn Chánh Thi xuống nhà giam của lực lượng nhảy dù đang nhốt Nhung rồi đi lên, mặt hầm hầm, một lát sau lại xuống, lên lần nữa bảo thượng sĩ Hải: “Mầy xuống lấy dây giầy cột nó lên!”, có không? Ông Khánh trả lời không được rõ ý và nhắc lại:
Hôm đảo chánh 1.11.1963, những tư lệnh quân chủng, thủy quân lục chiến, ông Khang nầy nọ…trước khi vô ăn cơm họ để khí giới ngoài .Ăn cơm xong ông Minh mới tuyên bố có cuộc đảo chánh. Thì lúc đó thằng Nhung nó có súng. Nó đi đi lại lại, sỉ vả mấy ông đại tá, kể cả ông đại tá Cao Văn Viên. Hồi lâu lâu, nó buồn tình, nó nắm đầu một ông lên nó bắn! Phải có lịnh chứ không phải vô tình. Nó nắm ông Tung (Lê Quang Tung) ra sau hè nó bắn. Hồi nữa nó vô nó nắm em ông Tung là trung tá Triệu (Lê Quang Triệu) đem ra ngoài bắn luôn. Thành ra, mấy ông nầy bị sỉ vả mà có làm được gì đâu. Anh tưởng tượng mấy ông đại tá …bị một anh đại úy mà hồi Bình Xuyên với tôi nó còn là trung sĩ, thượng sĩ là gì đó nó sỉ vả thì họ nghĩ sao? Thành ra có nhiều “thèses” lắm. Tôi không dám quả quyết được”.

Theo ông Khánh, việc Nhung chết rất đáng tiếc vì có nhiều chuyện cần để Nhung nói ra.

Ông Nguyễn Chánh Thi phủ nhận việc dư luận gán cho ông là người đá chết Nhung dưới hầm nhà giam. Ông bảo lúc bắt Nhung đưa về chỗ ông tuồng như có Cao Văn Viên ở đó nữa, ông nói với Nhung: “Anh khai thật đi. Vì cái chuyện mình nhà binh (…), thiên lôi chỉ đâu đánh đó! Có gì mà anh phải sợ. Khai thật cho tôi nghe vì tôi có biết qua về chuyện giết ông Diệm đó”.

Nghe lời, thiếu tá Nhung viết bản tường trình khai hoàn toàn không biết gì về quyết định của Hội đồng quân nhân đảo chánh mà chỉ ra đi bắt hai ông Diệm – Nhu theo lệnh của Viên “chỉ huy tổng quát vụ nầy là ông thiếu tướng Thu” (?).

Xe từ nhà thờ cha Tam đi một hồi gặp một đoàn mấy xe jeep chạy ngược lại, trên xe có tướng Thu (…). “Khi đó ông Thu đưa hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) của bàn tay trái…tôi (thiếu tá Nhung) rút khẩu Colt 12 bắn mỗi người 5 phát. Sau đó hăng máu bồi thêm cho ông Nhu 3 phát nữa vào ngực. Đồng thời đoàn xe thiết giáp dẹp đường chạy về Bộ Tổng tham mưu…”.

Ông thiếu tướng Thu là ai? Nhung chết quá nhanh chưa kịp khai hết chi tiết, nên “tướng Thu” vẫn còn là một dấu hỏi trong hồ sơ cũ.

10 – Bữa cơm gây oán của thị trưởng Đà Nẵng đãi “người hùng” Honolulu

Thủ tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ và tổng thống Mỹ Johnson ở

Thủ tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ và tổng thống Mỹ Johnson ở “hội nghị thượng đỉnh” Honolulu, tháng 2.1966

Đầu tháng 2.1966, Tổng thống Johnson triệu tập “hội nghị thượng đỉnh” Việt – Mỹ tại Honolulu. Phía Sài Gòn chỉ được báo trước có …2 ngày! Gấp gáp quá, diễn văn của “thủ tướng” Kỳ không soạn kịp và phải phác thảo trên máy bay.

Trước khi lên đường, theo yêu cầu phía Mỹ cần có mặt một tư lệnh Quân đoàn (đại diện cho 4 quân đoàn thuộc 4 vùng chiến thuật miền Nam) và Sài Gòn chọn Nguyễn Chánh Thi. Tướng Nguyễn Cao Kỳ điện khẩn ra Đà Nẵng bảo Thi chuẩn bị đi họp “thượng đỉnh”, nhưng Thi nổi đóa, phang: “Dù chỉ hai thường dân mời nhau ăn bữa cơm, thì cũng không thể mời một cách khiếm nhã như thế được”, thành ra giờ cuối đoàn Sài Gòn vắng Nguyễn Chánh Thi.
 
Đến nơi, phía Mỹ hiện diện khá “hùng hậu”: ngoài Tổng thống Johnson , có Bộ trưởng ngoại giao Dean Rusk, Bộ trưởng quốc phòng Mac Namara, Trợ lý quốc phòng Mc Naughton, cố vấn trưởng đối ngoại Mc George Bundy, Bộ trưởng Nông nghiệp Orville Freeman, Bộ trưởng Y tế Giáo dục và Phúc lợi John Gardner, các tướng Earle Wheelr, W.Westmoreland, Maxell Taylor, Đô đốc Grant Sharp và các đại sứ: Henry Cabot Lodge, Averell Hamman và Leonard Unger.
 
Nguyễn Chánh Thi nhận định Thiệu, Kỳ qua họp chỉ để nhận “chỉ thị” về “Mỹ hóa” cuộc chiến Việt Nam. Còn Nguyễn Cao Kỳ viết trong hồi ký là tại hội nghị, Johnson đã “chấm dứt lắng tai nghe” diễn văn của Kỳ. Khi Kỳ dứt lời “Johnson đã vươn mình về phía tôi” và khen “Thật hay, thủ tướng đã nói giống như một người Hoa Kỳ” (!!!). Kỳ viết: “Tôi thích Johnson và ngay từ lúc đầu chúng tôi đã ý hợp tâm đầu”. Phần Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Hữu Có ngồi hai bên Kỳ, đối diện với Johnson, họ chủ yếu gật, hoặc lắc, đôi lúc tỏ đồng tình bằng cách…nhoẻn cười!

Báo chí Sài Gòn thời đó “điểm tin Honolulu” viết là “Johnson cưng chiều Kỳ quá” đến nỗi trong bữa cơm trưa, Johnson dành phần lớn thời giờ đàm đạo với Kỳ, còn quốc trưởng Nguyễn Văn Thiệu phải chịu cảnh ngồi rờ râu cằm ngó trần nhà! Vào đêm cuối cùng của hội nghị, Johnson mời Kỳ- Thiệu với Westmoreland uống vài ly. Sau đó, theo Kỳ, Johnson nói nhỏ: “Mời Thủ tướng đến phòng ngủ của tôi độ vài phút…” Đóng cửa lại, Johnson nói nếu Kỳ không thấy trở ngại thì Phó Tổng thống Hubert Humphrey cùng đi với Kỳ về Việt Nam. Đây là điều khiến Kỳ ngạc nhiên vì không có mặt Humphrey tại đó. Johnson điện về Hoa Thịnh Đốn bảo Humphrey đến Honolulu ngay.

–         Humphrey sẽ có mặt ở đây trước khi máy bay của thủ tướng cất cánh.

Humphrey và Nguyễn Cao Kỳ xuất hiện bên nhau tại cầu thang máy bay trước mắt công chúng. Đó là hình ảnh đầy “tính hợp tác Việt – Mỹ” có công năng thông báo nhanh chóng đến dư luận sự ủng hộ của chính phủ Johnson đối với “nội các chiến tranh” của Kỳ. Về Sài Gòn, Kỳ cấp tiền cho 4 vùng chiến thuật biểu tình hoan hô thành quả Honolulu. Đến 19.2 Kỳ gửi công điện cho biết sẽ ra thăm các “chiến lợi phẩm”. Thi trả lời: “Vùng 1 không có gì để triển lãm” và cũng không tổ chức hoan hô “Lulu”.

Từ Sài Gòn, Nguyễn Cao Kỳ điện đàm với tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh là Nguyễn Văn Chuân tìm người thay thế Nguyễn Chánh Thi. Nguyễn Văn Chuân đâm thọc sao đó để đại tá Nguyễn Văn Thiện bị cách chức thị trưởng Đà Nẵng trước. Thi tính sau. Đại tá Thiện cho biết như vậy tại lễ bàn giao; người nhậm chức tân thị trưởng là bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn. Ông thị trưởng này rất bực mình với danh xưng “chính phủ của dân nghèo” do Nguyễn Cao Kỳ làm “thủ tướng”.

Buổi ra mắt chính phủ này, các “bộ trưởng” tổng ủy viên ăn mặc áo ngắn tay, tỏ rõ quyết tâm làm “cách mạng”. Họ kéo lên Đà Lạt họp tại Dinh số 1, bàn bạc chương trình hành động biện minh cho sự có mặt của quân Mỹ và “đồng minh” ngày càng đông tại miền Nam. Cuối buổi họp, ăn cơm xong, bàn ghế được dọn dẹp để các thành viên “chính phủ của dân nghèo” nhảy đầm.
Nguyễn Chánh Thi thuật lại: buổi đó một số “gái gọi” được đưa đến “để hầu các tướng lãnh”  (chữ Thi dùng). Thị trưởng Mẫn muốn chơi “thủ tướng” của cái chính phủ “nghèo” đó, nên hôm Kỳ ra thăm Đà Nẵng vào 1.3.1966, đã mời Kỳ một bữa cơm đạm bạc đúng nghĩa tại Tòa Thị chánh, Nguyễn Chánh Thi viết:
 
Ông thị trưởng là bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn dường như cố ý cho Kỳ một bài học, nhất định đãi một bữa cơm đơn sơ, nhất định không đem rượu cho Kỳ uống (mặc dù Kỳ đòi phải có rượu uống trước khi ăn cơm). Đã thế, ông còn buông một câu làm Kỳ tím mặt:  “Chúng tôi theo gương “chính phủ của dân nghèo” xin thủ tướng hiểu cho! Đợi cho Kỳ thấm thía, bác sĩ Mẫn hỏi tiếp: -Thiếu tướng ra kỳ này chắc phải có tin mừng cho chúng tôi? Cao Kỳ nói: “-Hôm nay, Hoa Kỳ vừa chấp thuận 4,8 tỷ Mỹ kim cho chiến tranh Việt Nam, và họ hứa sẽ ủng hộ tôi hết mình”.
 
Nghe vậy, ông Thi “kê tủ đứng” vào miệng Kỳ mấy câu, như: “Tiền của ấy chỉ tăng thêm chết chóc, tăng thêm đĩ điếm, tham nhũng, rác rưởi…”. Ngồi lặng một lúc, Kỳ đốp lại: “Nếu anh (Nguyễn Chánh Thi) có ý nghĩ như thế, tôi đề nghị anh cầm đầu một phái đoàn đi ngoại quốc xem sao”.
 
“Đi ngoại quốc” trong tình huống đó là tín hiệu bị thất sủng, sắp mất quyền: Ông Thi biết Kỳ không dọa chơi. Bữa ăn tiếp tục lạnh nhạt, buồn nản. Kỳ ngó lảng đi nơi khác, nhưng tâm ý chắc hẳn vẫn chăm chăm đến chuyện trả đũa thị trưởng Mẫn và bãi chức Thi. Chả thế mà vài tháng sau, khi cuộc đấu tranh miền Trung nổ lớn, báo chí hỏi Kỳ:

–         Nghe nói ông thị trưởng Đà Nẵng, bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn là người Công giáo, nhưng lại giúp đỡ đồng bào Phật giáo miền Trung biểu tình chống Chính phủ Sài Gòn. Có thật thế không?

Nguyễn Cao Kỳ trả lời đầy hằn học: “- Không cần biết. Chỉ biết rằng, một là chính phủ này sụp đổ, hai là tên thị trưởng Mẫn bị bắn chết!”.

11 – Nguyễn Cao Kỳ trước biến động miền Trung 1966

nguyen_cao_ky_tra_loi_phong_van_MRVN

Đang còn đắng họng vì “bữa cơm của dân nghèo” không rượu không gái do thị trưởng Đà Nẵng bày ra khoản đãi để chửi khéo, Nguyễn Cao Kỳ lại bị thêm một vố đau khác trong chuyến thăm Huế vào ngày hôm sau 2.3.1966.

Tại Huế, ông ta có buổi tiếp xúc với thân hào nhân sĩ và các đoàn thể nhân dân ở Tòa đại biểu chính phủ bên sông Hương. Không khí cuộc gặp mặt được hâm nóng bởi phát biểu “có lửa” của ông Hồng Dũ Châu:

Thưa thủ tướng “Chính phủ của dân nghèo” ra đời tại Sài Gòn đã 8 tháng nay. Suốt thời gian ấy chưa thấy làm được gì cho dân nhờ, chỉ thấy nay lệnh này mai lệnh khác trái ngược nhau, khiến chúng tôi bối rối không biết lệnh nào đúng mà thi hành. Gạo cơm tiếp tế cứ bị thiếu hụt mãi…

Mặt ông Kỳ tái dần theo lời bài bác cái chính phủ quá “nghèo” do ông làm thủ tướng. Mà chính ông, khi đảm nhiệm chức vụ ấy cũng không tin mình làm tròn. Bằng chứng là 26 điểm trong chương trình hành động của “chính phủ” không thực thi được: “Tôi công nhận quá non không biết gì hết”. Ông tự xét mình một cách thảm hại với Trần Văn Đôn như thế và Đôn chép lại trong hồi ký của mình.
 
Rồi việc cho dựng 5 cây trụ trước chợ Bến Thành để lập “pháp trường cát” thi hành án tử hình, bị dư luận quở rằng bắn người công khai giữa chợ là vô nhân đạo nên phải dẹp. Nghĩa là nhiều chuyện đáng bị công kích, đánh đổ, nhưng thời gian đầu xem chừng vẫn sóng êm bể lặng.
 
Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ấy vậy mà chẳng có một âm mưu đảo chánh nào để lật đổ tôi hoặc một sự chống đối ầm ĩ nào cả. Có thể nào lại xảy ra trường hợp người không chuyên nghiệp đã thành công trong công việc mà người lành nghề đã bị thất bại chăng?”. Nay “người không lành nghề” ấy qua hội nghị Honolulu nhờ nhà chính trị “lành nghề” và “tâm đầu ý hợp” là tổng thống Johnson ra tay đạo diễn giúp nổi bật trên chính trường Sài Gòn. Nhưng đến Huế lại bị dân miền Trung chống đối, như ông Hồng Dũ Châu vạch: 
 
“Xin thưa thật với thủ tướng rằng chính phủ ông thật xứng đáng là chính phủ của dân nghèo vì sau 8 tháng ông cầm quyền, dân đã nghèo lại nghèo thêm”
 
Theo Nguyễn Chánh Thi, ông Kỳ không nén nổi cơn giận “quên cả cương vị thủ tướng của mình, xông ra ngắt lời ông Hồng Dũ Châu, sừng sỏ như sắp đi đánh lộn ở một tiệm nhảy đầm nào đó.

–  Ông là cái thớ gì mà dám nói với một vị thủ tướng chính phủ như thế? Đồ vô phép! Câm mồm!

Mọi người hiện diện đều giận tím mặt. Nếu có ai hô lên một tiếng chắc Cao Kỳ không nguyên vẹn mà về lại Sài Gòn”

Trước đó một ngày, ở Đà Nẵng, khi Kỳ hăm dọa Thi, trung tá Lê Ngọc Uyển (Quân vụ thị trấn) và đại tá Đàm Quang Yêu (chỉ huy trưởng biệt khu Quảng Đà) đã “gai mắt” muốn bắt giam Kỳ đột ngột chơi. Trung tá Uyển mở miệng gợi ý trước:

–  Cái thằng cao bồi này khó dung tha. Xin trung tướng (Thi) cho phép chúng tôi bắt nó nhốt lại, xem quan thầy nó cứu nổi nó không?

Thi làm mặt nghiêm, ngăn Uyển. Nay ở Huế, Thi lại đứng ra “can gián đôi bên cho xong chuyện”. Thời điểm đó ở vị trí tư lệnh Quân đoàn I Vùng I chiến thuật, ông Thi đối diện trước cuộc đấu  tranh đòi dân chủ chống Kỳ, Thiệu, Có (Kỳ lúc này đang “nổi” hơn Thiệu) của dân miền Trung. 
 
Tin tức liên quan đến việc Mỹ mở rộng chiến tranh, tướng Maxwell Taylor đề nghị tiến hành phong tỏa cảng Hải Phòng bằng mìn, Westmoreland đòi tăng mạnh tăng nhanh quân số Mỹ vào Việt Nam, đã khơi dậy ngọn lửa đấu tranh đòi hòa bình. “Phe đối phương” tập kích hàng loạt đồn bót dọc ranh giới vùng Bến Hải; súng nổ giao tranh khắp nơi từ Cam Lộ, Khe Sanh đến Mộ Đức, Đức Phổ. Xe jeep chở Thi trúng mìn trên đường đi Hội An khiến tài xế chết, một đại tá ngồi trên xe bị thương nặng. 
Thi may mắn thoát hiểm đâm ra nghĩ ngợi: “nhiều nguy hiểm đang chờ đợi mình”, mìn của “đối phương” gài hay của “phe ta”? Ông viết rằng tâm trạng ông những ngày tháng đó thật rối bời, vì bên ngoài quân “đối phương” đánh tơi bời, bên trong “toàn những phản bội rình rập (…) có nhiều lúc tôi chỉ mong mình trúng quách một trái B40 cho nó…nhẹ nợ!”. Nhưng vẫn phải sống đến ngày Kỳ đạp ngã ông để dẹp đường đưa quân từ Sài Gòn ra bắn thẳng vào dân miền Trung tranh đấu.
 
Kỳ viết: “Đến tháng 3.1966 (sau chuyến đi miền Trung xui xẻo kể trên của ông) đã xảy ra những cuộc biểu tình trong nhiều thành phố lớn, đặc biệt là ở Huế và Đà Nẵng (…). Những người Phật tử đòi tổ chức bầu cử tự do”. Điều mà ông Kỳ cho “tệ hại” và đáng lo ngại là binh sĩ của Quân đoàn I do ông Thi làm tư lệnh có thể từ chối không chịu đánh nhau với những người dân tham gia đấu tranh có vũ trang. Thậm chí báo cáo mật cho thấy dấu hiệu các chỉ huy cao cấp nhất của Quân đoàn I đang có xu hướng đứng về phía dân chúng nên nguy cơ binh biến thật sự chờn vờn trong giấc ngủ của Kỳ.
 
Ông ta nhướng mắt về hướng Hoa Thịnh Đốn và phần nào yên tâm vì “người Hoa Kỳ ủng hộ hành động và các kế hoạch của tôi; đại sứ Lodge đã nhận thấy được là tôi không còn có cách gì khác hơn là phải củng cố chính phủ bằng biện pháp gạt ra ngoài những phần tử chống đối”.
 
Qua hồi ký, khi kể lại giai đoạn đó, Nguyễn Cao Kỳ vẫn còn dùng những lời lẽ hậm hực, khích bác các thượng tọa lãnh đạo cuộc đấu tranh của Phật tử và khen “Tổng thống Johnson đã sáng suốt làm ra vẻ như không nghe những lời kêu gọi của họ”. Tuy vậy “họ” (những lãnh tụ đấu tranh) có lợi thế được tư lệnh các tỉnh miền Trung là Nguyễn Chánh Thi ủng hộ. Kỳ cho biết đã chăm chú theo dõi Thi từ lâu: “Hàng ngày tôi đều nhận được bằng chứng là thay vì duy trì trật tự tại vùng Huế – Đà Nẵng trong tình hình đang hết sức sôi động. Thi trái lại đã giúp đỡ cho những người Phật tử…”
 
Kỳ không thể chịu đựng hơn nữa những hình nộm được dân chúng và thanh niên sinh viên học sinh dựng lên bêu rếu mình khắp nơi: “Tôi đã bị gán cho là bù nhìn của Mỹ và trên tường trong nhiều thành phố đã xuất hiện dòng chữ rất quen thuộc “Người Mỹ hãy cút đi!”. Hình ảnh “nhức mắt” đó xảy ra thường xuyên trên “lãnh địa” do Thi làm tư lệnh, Kỳ hạ bút: “Rõ ràng là Thi đang nuôi tham vọng muốn trở thành một lãnh chúa của thời xa xưa!”.
 
12 – Bị kết tội cát cứ miền Trung, cặp bài trùng “Nguyễn Cao Kỳ – Nguyễn Chánh Thi tan vỡ”
Cặp bài trùng Nguyễn Cao Kỳ - Nguyễn Chánh Thi

Cặp bài trùng Nguyễn Cao Kỳ – Nguyễn Chánh Thi

Một dạo báo chí Sài Gòn gọi Nguyễn Cao Kỳ – Nguyễn Chánh Thi là cặp bài trùng trong “nhóm tướng trẻ”. Họ để râu, mặc quân phục, ảnh chụp xa xa trông giông giống nhau. Kẻ trước người sau lần lượt nắm hai binh chủng “anh em”: nhảy dù “anh cả đỏ” (Thi), không quân (Kỳ).
 
Ngày ông Thi mưu đảo chính Ngô Đình Diệm vào 11.11.1960 đem lực lượng nhảy dù uy hiếp Sài Gòn, vây khốn dinh Độc Lập, chiếm Tân Sơn Nhất. Căn cứ không quân lọt phũm trong tay đại tá Thi – lúc đó Kỳ mới thiếu tá. Không may, ông Diệm – Nhu dùng kế “giả hòa”, hứa từ chức để lập chính phủ “đoàn kết quốc gia”, rồi ngầm sai quân phản công. Thi trúng kế, biết mặt trận sắp vỡ, rút khỏi các vị trí then chốt ở trung tâm “thủ đô”, chạy về căn cứ không quân gặp Kỳ, bảo:
 
–        “Kỳ, chúng tôi đã thất bại! Chúng tôi phải thoát khỏi nơi đây một cách nhanh chóng bằng không thì Diệm sẽ chém đầu chúng tôi!”.

Phải có ngay một chiếc máy bay để nhóm Thi trốn sang Campuchia. Kỳ viết: “Tôi muốn giúp đỡ họ, lúc nào nhảy dù và không quân cũng rất thân thiết với nhau vì tính chất của công việc làm. Thế nhưng tôi không thể nào đích thân lái máy bay chở họ đi vì nếu làm thế, tôi sẽ không bao giờ trở lại Việt Nam được”. Làm sao đây? Kỳ cố tìm một lối thoát và sau “vài phút lưỡng lự” đã quyết định:

“Tôi (Kỳ) “cho” ông ta (Thi) một chiếc DC3, thế là 15 người trong nhóm âm mưu đảo chính đã được trốn đi. Dĩ nhiên là tôi không bao giờ lấy lại được chiếc máy bay đó và Diệm đã tỏ ra nghi ngờ”. Phe Thi bắt giữ trung tướng Thái Quang Hoàng “tư lệnh biệt khu thủ đô” để làm con tin. Dinh Độc Lập lệnh hai phi cơ khu trục đuổi theo chiếc máy bay của nhóm Thi xem họ đi về hướng nào. Đến biên giới Campuchia bắt kịp Thi, hai khu trục cơ điện về xin chỉ thị dinh Độc Lập có nên bắn hạ hay không. Lúc đó Nguyễn Khánh nghe bà Ngô Đình Nhu đứng bên cạnh la lên “Bắn rơi chiếc máy bay đó đi. Giết hết tụi nhảy dù phản nghịch!”.
 
Khánh không đồng ý với bà Nhu, bảo bà ta với giọng bực dọc: “Tôi là tổng tư lệnh ở đây. Xin bà để tôi quyết định”. Và ông Khánh ra lệnh cho hai khu trục cơ quay về. Người ta thường nhắc đến chi tiết đó với lời khen Nguyễn Khánh bộc trực. Máy bay Thi do đại úy Phan Phụng Tiên lái xin hạ cánh xuống phi trường Pocheng Tong.
 
Dưới đất điện hỏi: “Máy bay nước nào?”. Đáp: “Air Việt Nam”. Phía Campuchia yêu cầu cho biết chắc chắn danh tánh, xuất xứ, số hành khách và lý do hạ cánh. Không dài dòng bất tiện, dòm thấy phi đạo trống, họ quyết định không trả lời và liều lĩnh hạ cánh xuống phi trường Pocheng Tong. Đồng hồ điểm 13 giờ ngày 12.11.1960. Cơ quan an ninh cảnh sát Campuchia có mặt ngay, tịch thu súng đạn và tất cả mọi thứ, dẫn về khu trại vãng lai dành cho sĩ quan.
 
Họ làm thủ tục tỵ nạn chính trị (3 năm) và thả trung tướng Thái Quang Hoàng quay về Sài Gòn vài ngày sau đó. Chiếc máy bay của Nguyễn Cao Kỳ đã “linh động” đưa Thi thoát đi nằm phơi mình trên đất Chùa Tháp như một gợi nhớ Sài Gòn xa xăm. Kỳ sau đó phải trả lời chất vấn của dinh Độc Lập. Ông ta đáp vì tình thế bắt buộc và bị binh lính vũ trang của Thi uy hiếp. Được thêm Đỗ Mậu che chở nên về sau việc ấy cũng êm. Đó là kỷ niệm thời trẻ của họ, năm ấy Thi mới 36 tuổi.
 
Vào 1963, Thi về Sài Gòn. Đến 1964, họ nổi bật giữa “nhóm tướng trẻ”. Sang 1965, khi Kỳ làm “thủ tướng”, họ có khoảng cách…Đến 1966, Kỳ (và Thiệu) thực sự muốn “nhổ” cái đinh chướng mắt: Thi. Họ ra mặt cạch nhau. Báo chí đưa nhiều tin bài về sự vỡ đôi của “cặp bài trùng”. Tờ Tia Sáng chẳng hạn, đi tít lớn: “Tướng Kỳ nhất quyết hạ tướng Thi: khu trục cơ mang hỏa tiễn bay rợp trời Sài Gòn yểm trợ cho đề nghị cách chức tướng Thi của ông Kỳ!”. Việc xảy ra tháng 3.1966 theo tóm lược dưới đây:

Bệnh “đau mũi” rất dễ lây trong bầu khí thanh trừng của Sài Gòn 1966

Nhóm Kỳ (và Thiệu) giăng bẫy sẵn tại Sài Gòn, ngày 9.3.1966 “đạt” giấy mời Nguyễn Chánh Thi rời miền Trung vào họp. Trước đó trùm CIA Rib Robinson đến văn phòng ông Thi nói thẳng những “ghi nhận” không lành về ông, như: tinh thần “chống Mỹ” ngày càng rõ (chống hội nghị Honolulu), làm ngơ và khuyến khích dân miền Trung bất hợp tác với “chính quyền trung ương” ở Sài Gòn để mưu cát cứ Huế, Đà Nẵng…
 
Vì vậy Thi biết chuyến đi này được Mỹ và Sài Gòn bàn trước. Đến Bộ tổng tham mưu lúc 9 giờ 30 sáng 10.3, nhiều xe thiết giáp đậu sẵn ngoài cổng, máy bay gầm rú trên không, Thi viết: “Tôi phản ứng lại còn kịp, nhưng không muốn…”. Vào phòng họp, Nguyễn Hữu Có nã ngay:
 
–  Từ ngày anh Thiệu, anh Kỳ lên cầm quyền, ông Thi đã gây quá nhiều rắc rối. Mệnh lệnh của trung ương, ông không thi hành.

Lê Nguyên Khang, Nguyễn Bảo Trị …nói hùa theo để Nguyễn Cao Kỳ đứng lên “gút”: – Tôi hết chịu nổi rồi! Nếu quý vị còn tín nhiệm tôi thì ông Thi phải ra đi. Một là ông Thi đi, hai là tôi đi.

Đi đâu?

Một là “đi” khỏi chức vụ đương nhiệm.

Hai là đi ra nước ngoài “chữa bệnh”.

Cả “hai thứ đi” đó phải diễn ra tương tục, không gián đoạn, và phải được “hội đồng tướng lĩnh” thông qua. Nguyễn Cao Kỳ nêu ý kiến “bỏ phiếu kín”(!). Tới đó, Thi đứng dậy, bước khỏi phòng họp. Mặc kệ họ! Sáng hôm sau 11.3, Thi ra ngoài phi trường Tân Sơn Nhất định về lại Đà Nẵng. Nhưng vừa tới sân bay đã thấy Nguyễn Hữu Có, “tổng ủy viên quốc phòng”, đích thân chỉ huy một đám lính, giơ súng chặn Thi lại, buộc phải quay về Bộ tổng tham mưu. Về đó có Nguyễn Văn Thiệu chờ sẵn tại cửa phòng Cao Văn Viên, miễn cưỡng bắt tay Thi và nói: – Thôi, toa chịu khó ở lại đây vài hôm. Hình như Mỹ đã bằng lòng mời toa đi “chữa bệnh” kia mà!

Ai đứng ra “mời”?

Ngay ngày hôm đó, Nguyễn Ngọc Loan và Văn Văn Của mang bức thư của tướng Westmoreland đến trao Thi, nội dung: “Dear General Thi, I understand that you are interested in securing medical attention in the United States…” (Tướng Thi thân. Tôi được biết ông đang quan tâm tới việc được khám bệnh tình tại Mỹ nên tôi nghĩ ông có thể hoan hỉ đón nhận lời mời của tôi (để rời Việt Nam đến Mỹ) nhân danh Ngũ Giác Đài để được khám bệnh tổng quát và chữa trị cần thiết. Nếu đề nghị này được ông đồng ý, xin nhắn lại cho tôi được rõ và tôi sẽ dàn xếp ngay mọi việc cần thiết. Thành thật cùng ông. Ký tên: Tướng Westmoreland).

Như vậy đã quá rõ, Mỹ trực tiếp “mời” đi. Trước nơi giam lỏng Nguyễn Chánh Thi ở số 9 đường Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng) luôn luôn có xe quân cảnh Mỹ túc trực. Ba ngày sau khi nhận thư Westmoreland, Phạm Văn Liễu (quen với Thi hồi lưu vong ở Campuchia) dẫn đại tá Sam Wilson và ông Ted Britton đến gặp Thi.

Đó là ba người mà ông Thi cho “có thể đối thoại được”. Họ bảo tướng Westmoreland viết thư trên theo “yêu cầu của Nguyễn Cao Kỳ” và gợi ý ông Thi thử về miền Trung một chuyến trước khi qua Mỹ? Ngày 15.3, Kỳ đồng ý để Thi về thăm Đà Nẵng, Huế. Tình hình miền Trung lúc đó sôi bỏng, Kỳ – Thiệu tung tin “Nguyễn Chánh Thi là đầu mối của biến động” và cần phải “trừ đầu mối ấy đi”.
 
Khoảng nửa tháng sau, khi phong trào đấu tranh dâng cao, Kỳ tuyên bố: “Huế và Đà Nẵng bị cổng sản chiếm đóng!”. Lần này với lối “chụp mũ cối” to tướng đó, Kỳ đang manh tâm chuẩn bị nổ súng thẳng vào mặt dân chúng miền Trung. Quả vậy, ngày 4.4.1966 Kỳ thử cho quân đổ bộ ra Đà Nẵng bằng máy bay nhưng đồng bào phẫn nộ chắn bít các lối vào thành phố. Nguyễn Hữu Có cấp tốc “bay ra” định bụng đàn áp bằng súng đạn, nhưng không hiểu vì đâu lại “bay vào” Sài Gòn ngay. Kỳ phải nhờ Mỹ chở quân lùi về, đóng tại Chu Lai. Viên tướng chỉ huy Nguyễn Văn Chuân chuồn mất (về Sài Gòn), Kỳ và Thiệu đưa Tôn Thất Đính ra thay, ai dè đến Huế, ông Đính tuyên bố chống Thiệu – Kỳ nảy lửa. Hồi ký Nguyễn Chánh Thi ghi lại phát biểu của Tôn Thất Đính với dân Huế nguyên văn:
 
–        Chúng ta phải xiết chặt hàng ngũ, phải cắt cổ những thằng Việt gian bán nước, những tên thời cơ, lừa thầy phản bạn ở Sài Gòn. Chúng nó là lũ tôi tớ ngoại bang, chỉ biết lừa gạt đồng bào và nói láo với quan thầy…

Nghe Tôn Thất Đính tuyên bố, ông Hồng Dũ Châu bảo nhỏ với ông Thi: “Coi bộ không ổn rồi! Thái độ ông Đính thế này thì tất Sài Gòn không tha chúng ta đâu!”

Ông Đính nhận lệnh triệu về Sài Gòn để “họp”. Biết hễ về là nguy, nên ông Đính không thi hành. Nguyễn Chánh Thi viết: “Có lẽ bị ông Đính làm cho điên đầu, Sài Gòn lại tìm cách thương lượng với tôi” và nhờ đại tá Phạm Văn Liễu, trung tướng Phạm Xuân Chiểu ra miền Trung đưa thư tay của Kỳ. Thư mở đầu: “Anh Thi thân mến, sau một thời gian tĩnh dưỡng ngoài đó, tôi tin rằng sức khỏe của anh chắc được dồi dào hơn. Hôm nay, bệnh mũi của anh chắc được đỡ nhiều…”. Thi tức giận bảo viên tướng đưa thư:
 
–        Bệnh mũi? Tôi có đau mũi bao giờ đâu? Hắn tự bịa ra những chuyện kỳ quái như thế mà nghe được à?

Không có “bệnh mũi” vẫn phải bệnh khác để “đi” Mỹ chữa! Thi vò nát thư, liệng xuống đất. Đồng bào miền Trung đòi bắt Chiểu làm con tin. Chiểu hốt hoảng lên máy bay chuồn về Sài Gòn. Đến nước đó, Kỳ bộc lộ toàn vẹn tính hung hãn võ biển, đưa quân tập kích vào Đà Nẵng với sự yểm trợ của máy bay và xe tăng phun lửa…

13- Cuộc họp bí mật trước giờ tập kích miền Trung

Đoàn thanh niên Đà Lạt tuyên thệ quyết tử năm 1966

Đoàn thanh niên Đà Lạt tuyên thệ quyết tử năm 1966

Như đã nói trung tướng Tôn Thất Đính – người theo đạo Phật được cử nắm trọng trách tại miền Trung với hy vọng đối thoại dễ dàng hơn cùng các lãnh tụ Phật giáo để làm dịu tình hình. Nhưng đến Huế, tướng Đình đã khuấy nóng “chảo lửa” này lên bằng những lời công kích và hạch tội Thiệu – Kỳ – Có! Ông bỏ nhiệm sở, chống lại lệnh gọi về Sài Gòn và chạy thẳng vào Bộ tư lệnh thủy quân lục chiến Mỹ ở Đà Nẵng xin tỵ nạn chính trị.

Cay cú, Kỳ và Thiệu bèn chỉ định tướng Huỳnh Văn Cao là tín đồ Công giáo ra Trung thay. Tới nơi, thấy đông đảo quân nhân và công chức ly khai hoặc lãn công chống đối nhà cầm quyền Sài Gòn. Cao bất lực bỏ doanh trại chạy luôn về Bộ tư lệnh thủy quân lục chiến Mỹ ở Đà Nẵng xin tá túc y hệt …tướng Đính!

Chỉ huy trưởng của Bộ tư lệnh Mỹ nói trên là thượng tướng Lewis W.Walt, đồng thời làm cố vấn Quân đoàn I, sau này phản ứng gay gắt với Nguyễn Cao Kỳ trong những giờ đầu Kỳ triển khai cuộc tập kích đàn áp miền Trung. Ông ta không khỏi bất ngờ vì chỉ trong một thời gian ngắn mà phải đón đến hai tư lệnh “tháo chạy tán loạn”: Tôn Thất Đính và Huỳnh Văn Cao.

Tiếp đó miền Trung gần như “vô chính phủ”, theo lời các cơ quan truyền thông đại chúng lúc bấy giờ gọi. Ngoài đường và trong các khu phố xuất hiện lực lượng “quyết tử” chống chế độ Sài Gòn. Đã có nhiều tín hiệu “bất an” đối với Thiệu – Kỳ trước khi xảy đến tình trạng đó, như cuộc chiến tranh của Phật tử, lực lượng thanh niên sinh viên học sinh (SVHS) yêu nước bùng nổ dữ dội tại Huế và Đà Nẵng ngày 24.3.1966. Hôm sau 25.3, tại Sài Gòn, sinh viên trường Hồng Lạc bãi khóa, xuống đường, vây đài phát thanh với sự tham gia của đông đảo thanh niên từ ngã bảy kéo về hỗ trợ.
 
Đúng một tuần sau, vào 31.3, hơn 10.000 người mở phiên xử và đốt hình nộm của Thiệu – Kỳ ngay “pháp trường cát” do chính Kỳ dựng lên trước chợ Bến Thành. Cơn sốt chính trị rõ ràng lan rộng vào các thành phố phía Nam. Kỳ ghi nhận: “Bầu không khí căng thẳng ở Sài Gòn đã lên cao. Người ta tổ chức biểu tình hằng ngày ở Sài Gòn và Chợ Lớn (…). Khoảng 2.000 người ngồi một cách kiên nhẫn trong 3 giờ đồng hồ trước Viện hóa đạo để nghe thuyết pháp” và cổ xúy đấu tranh chẳng hạn.
Riêng phía thanh niên SVHS thời đó, dựa nhiều nguồn tư liệu và mới đây nhất là cuốn Sơ thảo lịch sử phong trào học sinh – sinh viên Việt Nam và Hội Sinh viên Việt Nam 1945 – 1998 do Nhà xuất bản Thanh Niên (Hà Nội 1999) ấn hành thì: trước làn sóng đấu tranh của thanh niên và nhân dân, Thiệu phải tuyên bố tình trạng chiến tranh và ra lệnh đóng cửa các trường học vào ngày 4.4.1966.
 
Nhưng những ngày tiếp đó, các trường đại học Y khoa, Dược khoa, Văn khoa, Khoa học vẫn thay nhau mở hội thảo chống đàn áp đồng bào miền Trung. Nguy hiểm cho Thiệu – Kỳ là phong trào bắt đầu xuất hiện công khai khẩu hiệu: US go home! (Mỹ hãy cút về nước!) ngay trước tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn trong cuộc biểu tình đông ngót 100.000 người ngày 1.5.1966. Khẩu hiệu kẻ bằng sơn trắng trên lòng đường chạy ngang trước tòa đại sứ.
 
Cuối tháng đó, Tòa lãnh sự Mỹ ở Huế nằm trên đường Đống Đa bị SVHS Huế đốt cháy rụi. Tại sân chùa Linh Sơn (Đà Lạt) vào thượng tuần tháng 5.1966 đã mở “phiên tòa” xử Johnson và McNamara về tội tăng cường chiến tranh Việt Nam cũng như ủng hộ Thiệu – Kỳ đàn áp Phật giáo đồ và SVHS yêu nước; đốt hình nộm của “hai tội phạm chiến tranh” trên!

Xu thế chống Mỹ lan khắp Huế – Đà Nẵng – Sài Gòn – Đà Lạt…khiến Hoa Thịnh Đốn lo ngại. Ngay trước khi điều đó bùng nổ, người Mỹ đã xót ruột muốn Thiệu – Kỳ phải nhanh chóng “giải quyết vấn đề nội bộ” nếu không sẽ “xét lại” thái độ của Mỹ về đường lối hiện hành. Nguyễn Cao Kỳ điểm: “Từ mồng 9 đến 20.4, tại Nhà Trắng có 5 phiên họp được triệu tập một cách khẩn trương vì cuộc khủng hoảng ở Nam Việt Nam và tại các phiên họp này, các thành viên trong chính quyền Mỹ đã duyệt xét lại các đường lối hành động mà Hoa Kỳ còn có thể áp dụng được”.

Đang bị phía Mỹ chăm chú quan sát và đang lúng túng vì “sự cố” do các tướng Thi, Đính, Cao và thị trưởng Mẫn gây ra làm vướng tay chân, Thiệu – Kỳ lại choáng váng trước tin tướng Nhuận, Tư lệnh Sư đoàn I bộ binh, công khai đi theo phong trào tranh đấu, lôi cuốn binh lính dưới quyền cầm súng gia nhập đội ngũ “quyết tử” miền Trung, khiến các cố vấn Mỹ “cảm thấy nghẹn ngào vì bất thình lình họ bị lâm vào tình trạng phải cố vấn cho những quân nhân quyết tâm muốn lật đổ chinh phủ mà người Hoa Kỳ đã cam kết ủng hộ
 
Nguyễn Cao Kỳ viết tiếp: “Một sư đoàn bộ binh (của tướng Nhuận) đã thực sự liên kết với những người Phật tử. Những lực lượng thuộc đặc khu Quảng Đà (của đại tá Đàm Quang Yên) cũng vậy”. Ông ta lo ngại: “Rồi đây họ sẽ tuyên bố vùng này (miền Trung) là một vùng tự trị”. Đài phát thanh, các cơ sở của thị xã và tổng hành dinh quân đội ở Đà Nẵng bị lực lượng tranh đấu chiếm giữ. Tình trạng cũng xảy ra cùng lúc ở nơi khác như Huế. Đặc biệt là sự kết hợp giữa “lực lượng tranh đấu” với cán bộ “Việt Cộng” trong hoạt động lật đổ chế độ Sài Gòn và đòi “Mỹ cút”, như nhận định của Cyrus L.Sulzberger: “Từ hai ngả khác nhau, những người Phật tử và Cộng sản đã gặp nhau tại ngã ba đường và bây giờ họ đã cùng nhau đi chung lối”. Nguyễn Cao Kỳ dẫn lời Sulzberger gọi biến động của Huế và Đà Nẵng là bệnh ung thư cần được “giải phẫu” gấp, nếu không “sẽ sụp đổ”.
 
Lời báo động đó và sự thèm muốn được thể hiện quyền lực “trung ương” của mình đẩy Kỳ đi nhanh đến quyết định dùng hung khí để “mổ thịt” miền Trung. Nhằm giữ bí mật, Kỳ triệu tập các chỉ huy quân sự trung thành họp lúc 3 giờ sáng ngày 14.5.1966 để phổ biến kế hoạch tập kích Đà Nẵng.
 
Theo lời Kỳ, cuộc tập kích huy động lực lượng quân sự hỗn hợp được phác thảo âm thầm và kín đáo bởi “một mình tôi” (!). Ông ta giao quyền chỉ huy hành quân cho viên tướng Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn. Những đơn vị chỉ định tham dự tập kích bay ra Đà Nẵng trong đêm tối, lúc các lực lượng “quyết tử” đang còn ngủ. Yếu tố bất ngờ giúp mũi tiên phong của quân nhảy dù và thủy quân lục chiến lọt vào nội thành trước khi trời sáng. Người Mỹ ở các vị trí cố vấn kinh hoàng khi phát hiện một lực lượng đặc biệt của “quân đội Sài Gòn đang tấn công quân đội Đà Nẵng”. Tướng Lewis W.Walt “tỏ ra giận dữ trước cuộc tấn công trên vùng lãnh thổ mà Walt tự cho là mình chịu trách nhiệm nhưng không được biết trước”. Lúc đó, binh lính ly khai của Quân đoàn I đang hướng nòng pháo đến căn cứ không quân Đà Nẵng chực nhả đạn về phía máy bay đang đáp xuống…
 

14 – Nguyễn Ngọc Loan và Huỳnh Văn Cao trước cuộc đọ sức giữa bàn thờ và xe bọc thép

Nguyễn Cao Kỳ viết : “Một số binh sĩ thuộc Quân đoàn I đi theo những người Phật tử đã thực sự chĩa pháo của họ về phía căn cứ không quân Đà Nẵng khi máy bay của chúng tôi đáp xuống và đã đe dọa cho nổ súng.”

 
Từ trên cao, máy bay phe Kỳ quần thấp nhiều vòng quanh căn cứ pháo binh của quân đội ly khai để “thả xuống một thông điệp” đanh thép, đại ý bảo rằng nếu dưới đất phát pháo, “không đoàn máy bay khu trục và ném bom” sẽ hành động trả đũa bằng cách oanh kích san bằng căn cứ.
 
Xa xa, ngoài vòng đai sân bay, tiếng súng giao tranh nổ vang trên đường phố Đà Nẵng vọng đến tận bãi biển Honolulu, đánh thức tướng Westmoreland trong tuần nghỉ phép hiếm có. Ông được Washington báo tin tướng Kỳ vừa xua lực lượng đặc nhiệm từ Sài Gòn ra Đà Nẵng tập kích. Và lính nhảy dù, thủy quân lục chiến, có xe tăng yểm trợ đã tiến chiếm đài phát thanh, tòa thị trưởng, sở chỉ huy quân đoàn và các địa điểm then chốt.
 
Trước diễn biến nóng bỏng đó, Westmoreland được lệnh ngưng ngay đợt nghỉ phép với gia đình trước thời hạn. Bộ trưởng Quốc phòng McNamara yêu cầu ông tức tốc về lại Sài Gòn vào ngày 20.5.1966, khi cuộc tập kích đã qua giai đoạn mở đầu. Ông ghi chép nhiều sự việc trước và sau khoảng thời gian ấy trong hồi ký xuất bản năm 1975 tại NewYork. Trong đó có các chi tiết liên quan đến xung đột giữa Nguyễn Ngọc Loan, Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia của chế độ Sài Gòn và Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Quân đoàn I, quanh quyết định tấn công chùa chiền và đạp đổ “bàn thờ Phật xuống đường”.
Cuộc đấu tranh bất bạo động của tăng ni, phật tử năm 1966 tại Thừa Thiên - Huế

Cuộc đấu tranh bất bạo động của tăng ni, phật tử năm 1966 tại Thừa Thiên – Huế

Westmoreland viết là vào lúc Huế, Đà Nẵng lâm vào tình trạng gần như “vô chính phủ”, Huỳnh Văn Cao vẫn làm Tư lệnh Quân đoàn I về danh nghĩa . Theo Westmoreland, thâm tâm Cao không muốn nhậm chức tại vùng đất đang sôi sục ngoài Trung. Một lần Cao “chấp nhận” bay ra Huế trên chiếc trực thăng cùng phụ tá cố vấn cao cấp Arch Hamblen, Cao cố gắng thuyết phục một cách yếu ớt các sĩ quan Sư đoàn I và sinh viên học sinh Huế lại là Phật tử. Gia đình họ theo Phật giáo lâu đời, cha mẹ anh chị em và bà con họ đang tham gia đấu tranh chống Thiệu – Kỳ, đòi bầu cử dân chủ, nên lời nói của Cao còn khoảng cách rất xa mới đến được “bàn thờ Phật”. Cao và cố vấn Hamblen quay về Đà Nẵng. Westmoreland thuật : 

“Sắp lên máy bay thì một đám đông khoảng 100 sinh viên và lính tráng ùa tới. Chiếc trực thăng khởi động chực nhích khỏi mặt đất thì một sĩ quan Nam VN cấp bậc trung úy rút khẩu súng cỡ 45 bắn hai phát vào cánh quạt đằng đuôi máy bay. Lính Mỹ gác súng máy ở cửa máy bay, theo hiệu lệnh của cố vấn Hamblen, liền nổ súng giết viên trung úy Nam VN. Mặc dù bị hư hỏng, chiếc trực thăng vẫn được viên phi công cố lái vượt thoát lên rồi tìm cách hạ xuống bên ngoài thành phố để chuyển những người đi trên máy bay sang chiếc trực thăng hộ tống”. 

Cao hiện rõ lo lắng trên chuyến bay về Đà Nẵng, có lẽ tái xanh mặt vì chuyện vừa rồi, khiến Westmoreland ấn ngòi bút nhiếc: “Cao quá tồi!”. Về Đà Nẵng, Nguyễn Ngọc Loan bấy giờ được Kỳ cử ra miền Trung chỉ huy cảnh sát “chống nổi loạn” đã bất thần tự tung tự tác hạ lệnh tấn công các chùa chiền mà Loan cho rằng nằm trong tay “bọn ly khai” có vũ trang. Các đợt tấn công rất ác liệt do không quân đảm nhiệm mà Nguyễn Chánh Thi lúc đó đang có mặt ngoài Trung ghi nhận là khó mà đếm hết một lượt số “chùa chiền và nhà cửa bị trúng bom cháy rụi!”.
 
Quyết định Nguyễn Ngọc Loan khiến Cao ức lắm. Vì Cao là người Công giáo, sợ rằng tấn công chùa sẽ khơi dậy lời đồn “đàn áp tôn giáo”.  Nên lúc đầu, Cao dè dặt, tránh né và từ chối ra lệnh tấn công đó. Thế mà Loan dám làm. Cuộc xung đột của Cao và Loan dẫn đến cãi vã tay đôi tại một địa điểm chỉ huy của Quân đoàn I. Hồi ký Westmoreland kể : “Cố vấn Hamblen “đã nhìn qua cửa sổ thấy Loan đang chống nạnh tranh luận hùng hổ với Cao trong khi các sĩ quan đi đi lại lại, một người khác đứng sau Cao đang vung một khẩu súng lục gần đầu Cao (ý chừng sắp bắn), Hamblen chạy vội lại ….  Về sau Cao nhắc việc Hamblen cứu mình thoát chết”.

Cao xin tỵ nạn chỗ tướng Walt, hàng ngày ẩn mặt trong văn phòng Thompson, hầu như không làm gì ngoài cầu nguyện. Ông chỉ tin Chúa lòng lành trên cao kia, còn dưới đất, Westmoreland viết: “Cao nói ông không tin người Việt Nam nào, trừ vợ ông” (!!!).

Thế người Mỹ? Cao phó mặc cố vấn Hamblen thay mình mọi sự, quá là hợp lý. Westmoreland: “Cứ để Cao ẩn náu trong sở chỉ huy của Mỹ, đồng thời về danh nghĩa cứ để ông ta làm tư lệnh Quân đoàn I là có lợi vì nó cho phép Arch Hamblen  thực tế nắm quyền chỉ huy Quân đoàn I” (!). Khi Cao lọt hẳn sau cánh lá chắn của sở chỉ huy Mỹ, Loan ở bên ngoài mặc tình tiếp tục đánh phá chùa chiền , đàn áp Phật tử, sinh viên học sinh, thỏa tính hung hãn. Loan là tay hiếu sát mà sau này người ta gớm mặt, khi Loan tự tay giương súng bắn vào đầu tù binh trên đường phố Sài Gòn đầu xuân Mậu Thân 1968. Còn dạo đó, theo Tiếng hát những người đi tới “Báo Thanh Niên – Báo Tuổi Trẻ – Nhà Xuất Bản Trẻ 1993): “lần đầu tiên ngày 7.6.1966, đồng bào Phật tử Huế huy động nhà nhà đưa bàn thờ xuống đường làm chướng ngại vật. Biện pháp này gây xúc động tâm lý trong nhân dân, nhưng đối với bọn Nguyễn Ngọc Loan thì không ăn thua gì. Y ra lệnh cho xe tăng …tới luôn!”.
 
Kết quả cuộc đọ sức giữa các bàn thờ bất động với xe bọc thép, dĩ nhiên lư hương, tượng Phật phải ngã lăn lóc bên đường. Về phía Mỹ, Washington đã chỉ thị cho tướng Walt phải giữ “thái độ trung lập” đối với hai phe “nội chiến”. Nhưng thật khó giữ điềm tĩnh trong cảnh lửa bỏng và cuộc va chạm đầu tiên giữa thủy quân lục chiến Mỹ với binh lính Nam Việt Nam xảy ra đến bên bờ sông Hàn vào ngày 18.5.1966 khi khối chất nổ lớn được cài dưới chân cầu với lời đe dọa sẽ kích hỏa để diệt một toán quân Mỹ sắp ngang qua.
 
15 – Hai cuộc chạm trán của tướng Walt với tư lệnh hai phe “nội chiến”
Thủ tướng Nam VN Nguyễn Cao Kỳ (trái) tham dự lễ tấn phong Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao (phải) là chỉ huy quân sự mới để trấn áp nổi loạn tại Đà Nẵng, ngày 18.5.1966

Thủ tướng Nam VN Nguyễn Cao Kỳ (trái) tham dự lễ tấn phong Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao (phải) là chỉ huy quân sự mới để trấn áp nổi loạn tại Đà Nẵng, ngày 18.5.1966

Lẽ nào quân ly khai đóng bên kia cầu lại đi khiêu khích lính thủy đánh bộ Mỹ gác bên này sông Hàn? Họ không dại gì làm như thế. Để tìm hiểu nguyên do và làm dịu bớt “khối chất nổ”, tướng Walt quyết định đích thân ra giữa cầu gặp tư lệnh quân ly khai, nói “lập trường trung lập” của Mỹ và thuyết phục hãy gỡ bỏ chất nổ cài sẵn dưới chân cầu.

16 – Miền Trung: “con rắn khổng lồ” trong ác mộng của Nguyễn Cao Kỳ

Tướng Westmoreland cùng tổng thống Mỹ Lyndon Johnson trong chuyến viếng thăm Nam VN tháng 10.1966. Đón tiếp là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và thủ tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ

Tướng Westmoreland cùng tổng thống Mỹ Lyndon Johnson trong chuyến viếng thăm Nam VN tháng 10.1966. Đón tiếp là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và thủ tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ

Bầu trời yên tĩnh lại sau khi máy bay chiến đấu của phe Kỳ quay về căn cứ và tướng Walt cũng lệnh đội phản lực của mình thôi bay. Họ ngưng lườm nhau để cùng nhìn về một hướng: nơi cuộc khủng hoảng lan rộng thành đợt đấu tranh chính trị kéo dài 100 ngày, từ tháng 3 đến quá tháng 6.1966

Hơn 3 triệu 30 vạn lượt người thuộc 4 thành phố lớn và 29 thị xã của miền Nam xuống đường biểu tình, bãi khóa, bãi công, bãi thị liên tục. Theo Địa chỉ văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (Trần Văn Giàu – Trần Bạch Đằng – Nguyễn Công Bình chủ biên) Sài Gòn có 800.000 người tham gia; toàn đợt bắt đầu từ việc phản đối Thiệu – Kỳ cách chức Nguyễn Chánh Thi, phát triển đến chỗ đòi lật đổ chế độ Sài Gòn, đòi quân Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam! Trong 33 thành phố, thị xã đứng lên; sôi sục mở đầu là Huế, Đà Nẵng. Dải đất ven biển miền Trung thành nỗi ám ảnh của Kỳ:

–        Theo tôi bờ biển miền Trung giống như một con rắn.

Kỳ nói tiếp với Walt: “Tôi đã không muốn giết chết con rắn này, việc mà tôi có thể làm được nếu tôi tấn công Huế…”

Huế, thành phố mà Westmoreland nhắc đến trong hồi ký A soldier reports (NXB Trẻ đã in một phần dưới nhan đề Tường trình của một quân nhân, trích bản dịch của Phòng khoa học Quân khu 9, không để tên người dịch. Chúng tôi sử dụng trích dẫn theo bản đó), với câu trả lời không chút do dự khi Tổng thống Johnson hỏi ông tại khách sạn Honolulu hồi đầu năm 1966 là “Nếu ông là cộng sản, sắp tới ông sẽ làm gì?”.

–        Chiếm Huế?

Kế đó vào tháng 3.1966, lực lượng đặc biệt bị đánh bật khỏi thung lũng A Shau mở một cửa cho “đối phương” phóng tầm nhìn tiến về Huế. Khủng hoảng chính trị miền Trung ngăn cản việc xây dựng một sân bay gần Huế nhằm mục đích quân sự trong đó có việc chuyển quân, tiếp tế, bảo vệ cố đô khi bị tấn công. Ngưng xây vì “sân bay mới này đòi hỏi phải chuyển đi cả nghìn ngôi mộ. Đại sứ Lodge đã yêu cầu tôi hủy bỏ dự án này vì sợ các phần tử ly khai nắm lấy để kích động dư luận thêm nữa”.
Đại sứ Lodge thấy mục tiêu của dân chúng và sinh viên học sinh trong đấu tranh không dừng lại chỗ “bênh vực tướng Thi” mà tiến xa tới khẩu hiệu “chống Mỹ” nên ông thận trọng và yêu cầu Westmoreland như trên. Westmoreland cũng biết điều đó. Ông ghi nhận chưa đầy 24 giờ sau khi tướng Thi bị cách chức, hàng ngàn thanh niên học sinh Đà Nẵng xuống đường biểu tình, đòi trả lại chức vụ cho Thi, thị trưởng Đà Nẵng đồng tình, không ngăn cản, tuy nhiên:
Điều đó (chỉ việc tướng Thi bị cách chức) không phải là nguyên nhân mà chỉ là cái cớ mà sinh viên và Phật giáo viện ra để châm ngòi nổ cho sự bất mãn của họ và tranh thủ cho sự ủng hộ đối với mục tiêu của họ là gạt bỏ chính phủ quân sự ở Sài Gòn”.
Và thành phố Huế là “nơi sinh viên đã chiếm Đài phát thanh của chính phủ, phát liên tục những lời tố cáo chính phủ. Các khẩu hiệu chống Mỹ bằng tiếng Anh nhằm khiêu khích gây những vụ xung đột với lính Mỹ xuất hiện trên các đường phố của hai thành phố (Huế và Đà Nẵng)”. Đòi Mỹ rút khỏi miền Nam là nội dung “chạm nọc” Westmoreland. Nữ sinh Nguyễn Thị Vân, 17 tuổi, học trường Bồ Đề, tự thiêu ngày 31.5.1966 tại Huế. Các cuộc đàn áp dữ dội những ngày sau đó  không dập tắt hẳn ngọn lửa đấu tranh chuyền cháy về lâu dài nên Kỳ vẫn mơ “thấy rắn” mà Huế là “đầu rắn” (chữ Kỳ dùng trong hồi ký). Chắc hẳn Kỳ nhập tâm về chuyến ra Huế bị đại diện các đoàn thể nhân dân vạch tội đòi trị “cho biết tay”. Thêm tướng ba sao Phạm Xuân Chiểu do Kỳ phái ra bị sinh viên Huế “bắt sống” làm Kỳ nhức nhối.
Phạm Xuân Chiểu mang lon thiếu tướng từ thời Ngô Đình Diệm. Ông được Trần Văn Đôn mời soạn thảo các kế hoạch hoạt động chính trị và văn hóa hồi “tiền đảo chánh 1.11.1963” . Từ năm 1956, ông Diệm hỏi Trần Văn Đôn: “Trong hàng ngũ tướng lãnh toàn là người Nam và người Trung. Không có người Bắc. Ông thấy thế nào?”. Lúc đó Phạm Xuân Chiểu là đại tá, người Bắc vào , ông Đôn đáp: “Tôi thấy người có khả năng nhất trong số các đại tá là ông Phạm Xuân Chiểu”.
Sau ông Chiểu được phong tướng, làm tham mưu trưởng liên quân. Dầu ông Diệm không tin dùng như các tướng khác, nhưng Phạm Xuân Chiểu vẫn trụ được dưới triều Ngô qua những đợt thanh trừng lớn. Chừng đó thôi, Nguyễn Cao Kỳ đã bái huynh rồi. Khi Kỳ làm thủ tướng, xảy ra biến động ngoài Trung, phái ông Chiểu mang thư ra trao Nguyễn Chánh Thi, luôn tiện dò xem tình hình của “rắn”.
Ai ngờ ra Huế chưa kịp thở, Chiểu bị đồng bào sinh viên học sinh bao vây, buộc xuống xe hơi, lên xe xích lô về “nghỉ ngơi” ở trụ sở của lực lượng sinh viên tranh đấu Huế” – bị quản thúc ở đó 3 ngày với sự canh giữ của sinh viên đấu tranh – và “sau khi được thả về Sài Gòn, bị mất chức Tổng thư ký hội đồng quân lực”. Nguyễn Cao Kỳ hẳn phải e dè với Huế sau những vụ như vậy. Huống gì, tại nơi mà Nguyễn Cao Kỳ cho là đang cố chứng minh “trái tim của phong trào tranh đấu” đã sớm tập hợp tiếng nói trí thức qua nhóm Việt Nam Việt Nam: “Mỗi cái chết đều chứa đựng một sự thật. Đã có hàng triệu người Việt Nam chết trong cuộc chiến tranh trên đất này; nên cũng có hàng triệu sự thật cần được nói”.
Và sự thật làm Kỳ-Thiệu hoảng sợ là nhóm đã vạch rõ chính Mỹ và những “đồng minh” đưa quân vào Việt Nam đã gây cảnh chết chóc và miền Nam là “một xã hội bệnh hoạn lâu năm”  cần được giải phẫu, cắt bỏ những khối u như chế độ của Kỳ và Thiệu. Để át những tiếng nói tương tự, Kỳ ra lệnh tiếp tục nổ súng. Ngày 20.5.1966, một số khu vực quanh Đà Nẵng tan hoang…
 
17 – Miền Trung với cuộc dàn trận của 2.000 quân ly khai chống Thiệu – Kỳ
Lính thủy đánh bộ Mỹ được sự yểm trợ của xe tăng trên chiến trường miền Trung 1966

Lính thủy đánh bộ Mỹ được sự yểm trợ của xe tăng trên chiến trường miền Trung 1966

Cuộc tập kích Đà Nẵng bằng lực lượng quân sự hỗn hợp được phác thảo bởi “một mình tôi” (!). Kỳ viết như vậy và nhấn mạnh: “Đây là một kế hoạch được giữ bí mật cho đến độ mà ngay cả tướng Thiệu tôi cũng không cho biết”.

Đối với Mỹ, Kỳ cân nhắc có nên tiết lộ hay không và mãi đến giờ G người Mỹ vẫn chưa được thông báo gì cả. Lúc toán quân đầu tiên chạm cửa ngõ Đà Nẵng vào một đêm giữa tháng 5.1966 đại sứ Lodge không có mặt tại Việt Nam. Ông đang ở Mỹ. Đến khi nhiều vị trí then chốt mang tính chất quyết định thành bại của cuộc tiến quân lọt vào tay phe Kỳ, đại sứ Cabot Lodge mới quay lại Sài Gòn, nhằm 20.5.1966, tỏ lời hân hoan:

–         Tôi lấy làm vui sướng biết được thủ tướng (Kỳ) đã lấy quyết định hành quân ra miền Trung. Nếu thủ tướng không làm việc đó, có thể thủ tướng đã khiến cho tôi thất vọng.

Vậy thì đại sứ Mỹ đã đặt “hy vọng” vào “thái độ cứng rắn” của Kỳ từ trước khi Kỳ “làm việc đó”. Nghĩa là ông Lodge ủng hộ giải pháp vũ lực nhằm dập tắt khủng hoảng ngoài Trung và nói ra rõ ràng để Kỳ yên tâm tiếp tục cuộc hành quân “bí mật”. Về phía Westmoreland, tư lệnh trưởng bộ chỉ huy viện trợ Mỹ tại Sài Gòn (MACV), đã “theo dõi chặt chẽ cuộc khủng hoảng” và tại sao bỗng rời Việt Nam đi nghỉ mát với gia đình tại bãi biển Honolulu chỉ một, hai ngày trước khi xảy ra cuộc tập kích?

Hồi ký Westmoreland cho biết ông “đã bàn bạc thường xuyên với Thiệu” và nhiều người khác trong bộ máy cầm quyền của Sài Gòn. Tướng Walt, các cố vấn Arch Hamblen, Samuel Thomson … đều được tham khảo trực tiếp về diễn tiến của biến động ngoài Trung. Các nhân viên quân sự Mỹ được lệnh không được lai vãng vào Huế và Đà Nẵng để đề phòng bất trắc.
Westmoreland chỉ thị “cố vấn Mỹ và tất cả mọi phương tiện yểm trợ của Mỹ phải rút ra khỏi bất cứ đơn vị nào của quân đội Nam Việt Nam không còn tuân theo mệnh lệnh của chính phủ (Sài Gòn) mà lại đi giúp đỡ những người ly khai”.
Ông ta gợi ý với đại sứ Lodge cần nêu rõ với tướng Kỳ sự lo ngại của Mỹ về 228 người Mỹ ở vùng Quân đoàn I đã chết ngoài mặt trận trong vòng 3 tuần lễ xảy ra xáo trộn tại nội thành: “Tôi cho môt sĩ quan tình báo báo cáo với các nhà lãnh đạo Nam VN về mối đe dọa của Việt cộng và Bắc Việt Nam đang tăng lên ở vùng Quân đoàn I đồng thời gợi ý chuyển tin này cho thị trưởng Đà Nẵng, nhà sư Thích Trí Quang, để họ dùng ảnh hưởng chấm dứt các cuộc biểu tình”.
Nhưng vô hiệu, phong trào bùng nổ dây chuyền, lan đến Sài Gòn, Pleiku, Nha Trang, Đà Lạt, nguy hiểm hơn khi “một số chỉ huy quân đội Nam Việt Nam ở địa phương bắt đầu phát súng đạn cho sinh viên. Điều rắc rối hơn hết là hôm 2.4, 3.000 quân thuộc Sư đoàn I quân đội Nam Việt Nam mặc quân phục diễu hành qua các đường phố ở Huế sau đội quân nhạc của sư đoàn, hô các khẩu hiệu đòi lật đổ chính phủ”.
Hai ngày sau, vào 4.4 (hơn một tuần trước cuộc tập kích), Thiệu – Kỳ đưa 3 tiểu đoàn thủy quân lục chiến ra Đà Nẵng “biểu dương lực lượng”. Giờ xuất phát, họ đã báo trước để Westmoreland biết là “quân Sài Gòn” sẽ chiếm đóng căn cứ không quân. Nhưng không dễ gì, vì lực lượng ly khai ở Đà Nẵng giương súng về phía họ, và bóng ma nội chiến treo lơ lửng trên các cỗ pháo tầm xa. Những giờ phút căng thẳng của vụ việc được tướng Westmoreland viết lại trong Tường trình của một quân nhân (A Solider report). Chúng tôi tóm lược dưới đây dựa vào bản dịch của Phòng Khoa học Quân khu 9.

Chỉ huy trưởng biệt khu Quảng Đà: Đại tá Đàm Quang Yêu với 4 khẩu “Đại tá ru êm”.

Trước ngày đưa quân ra Đà Nẵng bằng máy bay C-47 của Mỹ, Nguyễn Cao Kỳ họp báo tại Sài Gòn. Ông ta nói quanh co, đôi lúc trả lời các nhà báo bằng những câu không ăn khớp với điều được hỏi. Hồi ký Nguyễn Chánh Thi ghi lại chất vấn của một ký giả ngoại quốc:

–         Ông nói rằng Cộng sản đã chiếm Huế và Đà Nẵng, có thật thế không?

Kỳ đáp dường như chỉ để “Kỳ nghe” còn các ký giả bị “tịt ngòi”:

–         Đó là chuyện của người Việt Nam.

Đã là chuyện “nhà” vậy nói ra “ngoài phố” làm gì?

Kỳ muốn “thuyết trình” về lý do tiến quân (đợt 1 vào 4.4) ra Đà Nẵng, nhưng những lời công kích của ông được thuật lại trên đài phát thanh Sài Gòn càng làm không khí miền Trung thêm oi bức. Phản ứng quyết liệt và tức khắc của phe ly khai đối với lực lượng do Kỳ mới đưa tới Đà Nẵng là tiến quân bao vây.

Theo Westmoreland, “một lực lượng ly khai của quân đội Nam Việt Nam gồm khoảng 2.000 quân dưới quyền chỉ huy của đại tá Đàm Quang Yêu” di chuyển nhanh về hướng căn cứ không quân, nơi thủy quân lục chiến của Kỳ mới từ Sài Gòn ra trú đóng. Một nửa số quân của đại tá Yêu “vượt khỏi một chiếc cầu cách Đà Nẵng mấy dặm”, một nửa khác còn nằm bên kia sông đang tiếp tục khởi động tiến theo.
Chính lúc đó, tướng Walt muốn cản họ lại để hai bên đừng nổ súng vào nhau. Mặc dù trước đó Westmoreland lưu ý tướng Walt hãy giữ “thái độ trung lập”, không can thiệp vào cuộc khủng hoảng, nhưng Walt thấy cần “làm một cái gì đó” ngăn cản đổ máu sắp diễn ra trước mắt. Và đại đội thủy quân lục chiến Mỹ đã tự lật nhào một chiến xe tải ngay trên lòng cầu chặn đường tiến của quân ly khai còn lại. Họ muốn đại tá Yêu dừng chân để cùng tướng Walt bàn bạc cách gì đó nhằm dàn xếp “hòa bình” với phe Kỳ đang đóng trong sân bay.
Nhưng đại tá Yêu, người từng dọa bắt nhốt Nguyễn Cao Kỳ vào quân lao Đà Nẵng, nhất quyết ra lệnh “chĩa 4 khẩu đại pháo vào căn cứ không quân”. Để ngăn chặn lại, đại tá John Chaisson đã hối hả và “cố ý cho máy bay lên thẳng của mình hạ trước mũi cỗ đại bác của đại tá Yêu, trong đó có 2 khẩu 155mm”.
Chaisson là sĩ quan do tướng Walt phái đến gặp đại tá Đàm Quang Yêu, với nhiệm vụ ngăn không để quân ly khai khai hỏa. Hai người, Chaisson và Yêu, trò chuyện trong tiếng máy bay ném bom của Mỹ đang lượn trên đầu họ. Để tăng thêm độ mặn của buổi đối thoại ngoài trời, phía Chaisson “trung lập” dựng một hàng rào bảo vê “hòa bình” bằng dãy đại bác nằm đối mặt với các nòng pháo của Yêu, ngấm ngầm tỏ thái độ: “Nếu Yêu ra lệnh bắn vào sân bay, đại bác Mỹ sẽ “lên tiếng” can thiệp!”.
Hàng trăm lính Mỹ bận đồ rằn ri xanh được tung tới nằm phục tại các vị trí quanh đó. Chaisson hỏi nếu đạn pháo rót thẳng vào căn cứ không quân Đà Nẵng, liệu máy bay của Mỹ đậu trên phi đạo và cả người Mỹ trong khu vực không bị “văng miểng” chứ? Chẳng ai dám đoan chắc. Chaisson nói:

–         Chúng tôi không muốn thấy máy bay Mỹ và sinh mạng người Mỹ bị đại bác của chính người Mỹ cấp cho người Việt Nam hủy diệt!

Vì thế người Mỹ không để yên cho các cỗ đại bác đang hướng nòng về phía họ khai hỏa mà “sẽ nổ tung” dập tắt. Mặc Chaisson, đại tá Yêu không tỏ chút nhượng bộ nào và “các pháo thủ của ông bắt đầu mở hòm đạn, đặt ngòi nổ để chuẩn bị bắn”. Phía pháo binh Mỹ động đậy đáp trả. Chaisson buông lời cảnh cáo cuối cùng vọt lên máy bay dạt ra xa.

18 – Bắt hai tướng Đính và Thi sau “cuộc cờ tàn”

Tướng Tôn Thất Đính (giữa) cùng tướng Nguyễn Chánh Thi bị điều về Sài Gòn giam ở số 2 Tú Xương

Tướng Tôn Thất Đính (giữa) cùng tướng Nguyễn Chánh Thi bị điều về Sài Gòn giam ở số 2 Tú Xương

Chiếc trực thăng chở đại tá John Chaisson (sau là thiếu tướng giám đốc trung tâm hành quân chiến đấu thuộc Bộ tham mưu của tướng Walt ở Đà Nẵng) bốc lên cao, ra khỏi cụm pháo sắp nhoáng lửa và bay nhanh về bên kia sông.

Đứng bên này đại tá Đàm Quang Yêu nghĩ nếu ông khai hỏa, máy bay Mỹ trong căn cứ không quân tất bị hư hại, quân Mỹ chết lây, chừng đó Mỹ phản ứng bằng những trận mưa pháo mà Chaisson cảnh cáo là sẽ trút xuống cùng lúc với bom hạng nặng. Nếu 2.000 quân ly khai dưới quyền ông “quyết tử” vì trận huyết chiến với lực lượng Thiệu – Kỳ – Có từ Sài Gòn đưa ra ắt họ sẵn lòng, nhưng đằng này do sự va chạm có thể tránh được với Mỹ thì hãy kiềm chế đã. Đại tá Yêu bàn với sĩ quan tùy viên của mình đình chỉ bắn phá sân bay. Cách đó không xa lắm, các pháo thủ Mỹ chưa hay biết quyết định trên của đại tá Yêu nên họ vẫn đứng yên cạnh các cỗ đại pháo chờ nã đạn đáp trả.

Dưới cái nắng gay gắt giữa trưa, tình trạng căng thẳng kéo dài hầu như không thể chấm dứt được. Thần kinh mọi người đang căng thì lính thủy đánh bộ Mỹ nhìn qua ống nhòm thấy đàm pháo thủ (quân ly khai) dừng lại, không chuẩn bị bắn nữa mà tháo ngòi nổ và bỏ các quả đạn vào hòm. Cuối cùng, cơn khủng hoảng trước mắt cũng qua đi. Westmoreland, viết tiếp là sau đó mặc dầu bầu không khí ở Huế, Đà Nẵng vẫn ngấm ngầm chờ bộc phát nhưng dẫu sao cũng yên tĩnh hơn những cuộc dàn quân rầm rộ và “tôi đã lợi dụng dịp yên tĩnh này đáp máy bay sang Honolulu ngày 12.5” nghỉ mát ở bãi biển với gia đình.
Nhưng ông phải trở lại Việt Nam sau đó mấy ngày, chứng kiến thảm cảnh cuộc tập kích “giải phóng Đà Nẵng” (chữ Kỳ dùng) với những đợt bắn phá, bỏ bom của không quân xuống chùa chiền, doanh trại quân ly khai, bắn thẳng vào dân chúng đấu tranh và đàn áp triệt để lực lượng thanh niên sinh viên học sinh yêu nước từ nơi ẩn náu.
Tại Sài Gòn, Đại hội sinh viên “Chống nội chiến miền Trung” tổ chức ngày 24.5.1966. Sau buổi đại hội, sinh viên tràn xuống đường, xông đến trụ sở Tổng hội sinh viên Sài Gòn (lúc bấy giờ đang do Thiệu – Kỳ khống chế đưa người vào khuynh loát) buộc Tô Lai Chính từ chức. Lực lượng sinh viên nắm quyền chi phối tổng hội từ đó.
Đứng lên cùng phong trào Huế và Đà Nẵng, từ 1.6 đến 4.6, Lực lượng thanh niên sinh viên học sinh tranh thủ dân chủ bao vây và chiếm giữ Đài phát thanh Đà Lạt. Bị tấn công lấy lại, trước khi rút lui, sinh viên học sinh đã đốt cháy rụi đài phát thanh trên. Sau chiếc xe Mỹ đầu tiên bị sinh viên đốt tại Viện hóa đạo Sài Gòn vào tuần đầu tháng 5.1966, thanh niên vùng Bàn Cờ – Ngã Bảy (được xem là căn cứ địa đấu tranh) tỏa ra truy tìm xe Mỹ từ ngày 16.6.1966 và đốt cháy 10 xe, giết chết công an Kiều Công Hai, dựng chướng ngại vật, lập phòng tuyến làm chủ “khu tứ giác” Bàn Cờ suốt mấy tuần lễ. Thiệu – Kỳ phải cho loan báo trên Đài phát thanh Sài Gòn dọa sẽ kết án tử hình những ai lãnh đạo đấu tranh.

Vào đoạn cuối biến động đẫm máu ngoài Trung, Huỳnh Văn Cao từ nơi ẩn náu an toàn đã ký lệnh tấn công chùa chiền, ra lời kêu gọi quân ly khai buông súng. Cầm các bản in lời kêu gọi với chữ ký của Cao, phụ tá cố vấn cao cấp Arch Hamblen và Thomson đi từ đồn bót này đến các đơn vị khác thuyết phục. Đang lúc đó, xe tăng và phi pháo của Kỳ phái tới vẫn thi nhau khạc đạn vào các ổ kháng cự. Đến ngày 23.5, Đà Nẵng tạm yên tĩnh trở lại. Khi đó, Huế đang bị phong tỏa. Các đường vận chuyển thực phẩm và hàng nhu yếu trên bộ trên biển bị Kỳ ra lệnh cắt đứt từ trước. Thay vì đổi gạo, thuốc men, dầu thắp và nhiều vật dụng thiết yếu khác, Kỳ lại gửi quân nhảy dù bất thần đến cố đô ngày 15.6, làm nốt phần việc “bình định miền Trung”.

Điểm lại biến động miền Trung 1966 có 242 người vừa chết vừa bị thương,  chùa chiền, nhà cửa trúng bom cháy rụi khắp nơi. Theo tài liệu của Trần Văn Đôn, “khoảng 6.000 sĩ quan, hạ sĩ quan và quân nhân đào ngũ, một số người phải chạy lên chiến khu của Việt cộng”. Hồi ký Nguyễn Chánh Thi viết não nùng:

Hoàn toàn bất lực, đứng bên lề nhưng tự thấy mình có trách nhiệm phần nào, tôi lại lăn lưng ra dàn xếp (…). Tôi đi từng ổ kháng cự, năn nỉ đồng báo, năn nỉ các tổ chức chống đối, hãy mở đường cho quân Sài Gòn tiến vào, rồi muốn ra sao thì ra … Một lần nữa, nhờ táng tận lương tâm, đã thẳng tay bắn giết đồng bào mà Thiệu – Kỳ đã “thắng”.

Tránh đẩy Nguyễn Chánh Thi và Tôn Thất Đính vào thế chân tường, Westmoreland đã gặp Thi ở Chu Lai và Walt gặp Đính trước ngày cuộc biến động lắng xuống. Hai tướng Mỹ hứa sẽ can thiệp “sâu” để Thiệu và Kỳ đối xử tử tế hai ông Thi và Đính. Đối với Huỳnh Văn Cao, Westmoreland mỉa mai: “Cuối cùng tướng Cao trở vào Sài Gòn sống cùng người vợ mà ông tin cậy” ngoài ra, ông không tin vào bất cứ người Việt Nam nào cả như nói ở chương trước. Huỳnh Văn Cao đã viết thư cho tôi (tướng Westmoreland) xin được trở thành dân Mỹ” (!!!). Cao vào Sài Gòn, tướng Hoàng Xuân Lãm, chỉ huy sư đoàn 23 ra Đà Nẵng thay, làm tư lệnh mới của Quân đoàn I. Tướng Lãm lệnh quân lính ra khỏi thành phố Huế và Đà Nẵng để tiếp tục “ổn định tình hình” nội thành.

Dầu có sự hứa hẹn của Westmoreland và Walt, nhưng Tôn Thất Đính vẫn bị bắt đưa về Sài Gòn. Với Nguyễn Chánh Thi, Thiệu – Kỳ có cách “mời khéo”, cũng đưa về Sài Gòn. Cả hai ông, Đính và Thi bị giam tại số 2 đường Tú Xương, tuyệt đối không được liên lạc với bên ngoài vì bị coi là “can phạm trọng tội”. Phạm Xuân Nhuận, tư lệnh sư đoàn I ly khai, cũng bị bắt đưa ra Tòa án quân sự. Ngày 14.7.1966, quân cảnh áp giải tất cả đến bộ Tổng tham mưu xử. Tại đó, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Hữu Có, Linh Quang Viên, Vĩnh Lộc và các tướng vây cánh với Thiệu – Kỳ đã ngồi sẵn trong phòng dành cho Hội đồng tướng lãnh xét xử vụ án. Linh Quang Viên đọc cáo trạng xong. Thiệu hỏi:

–         Tướng Thi, ông có gì trình bày không?

Nguyễn Chánh Thi đáp:

–         Không.
 
19 – Diễn biến phiên tòa đặc biệt xử Nguyễn Chánh Thi và Tôn Thất Đính
Nguyễn Văn Thiệu kết tội vòng vo, mục đích cuối là tước quyền và đẩy tướng Thi đi ngoại quốc cho rảnh nợ

Nguyễn Văn Thiệu kết tội vòng vo, mục đích cuối là tước quyền và đẩy tướng Thi đi ngoại quốc cho rảnh nợ

Không, không có gì để trình bày! Sau mấy lời đầy vẻ bất cần đó, Nguyễn Chánh Thi thòng một câu móc Hội đồng quân lực: “Bây giờ loại trừ được tôi, các anh đã có tất cả: an ninh quân đội, cảnh sát công an, Mỹ và đô-la của Mỹ…”.

 Vĩnh Lộc đứng phắt dậy, gay gắt ngắt lời Thi khi thấy bị can bắt đầu muốn đả kích “quan tòa” và e ngại Thi lôi chuyện máy bay chở thuốc phiện ở Pleiku ra xỉa xói, tố cáo, thì ê quá. Phiên xử tạm ngưng đến hai giờ chiều. Vẫn Linh Quang Viên, thiếu tướng, tổng ủy viên an ninh trong nội các chiến tranh của Kỳ, ngồi ghế  “công tố viên” nổ trước:-        Tôi  xin đề nghị: trung tướng Thi đã được thưởng xứng đáng thì ông Thi phải nhận lãnh một hình phạt tương xứng với những tội trạng do ông gây ra!

Cuối lời, Viên có “vớt” xin “tỏ lượng khoan hồng dành cho trung tướng Thi một ân huệ, làm sao để giữ cho khỏi bất mãn”.

Đến lượt Nguyễn Văn Thiệu, với tư cách trung tướng chủ tịch hội đồng kỷ luật quân đội Sài Gòn, nhận xét nhân thân và quá trình phạm tội, đưa ra mức trừng phạt cụ thể đối với Nguyễn Chánh Thi.

Để bạn đọc thấy lối ăn nói “có ít xít ra nhiều” của ông Thiệu thời đó, chúng tôi giữ nguyên văn lời kết tội mà ông ta nhằm vào Thi, được Hoàng Đại Minh ghi lại trong loạt tài liệu đặc biệt đăng hàng chục kỳ báo trước năm 1975 tại Sài Gòn.

Mở đầu:

–        “Nói về ông Thi trong vụ âm mưu lật đổ chính quyền thì ông Thi không có khả năng. Chính ông cũng nhìn nhận ông không có khả năng, nhưng cũng nhìn nhận ông có tâm nếu như ai lật đổ được chính phủ cho ông ta làm quốc trưởng, thủ tướng thì ông cũng làm. Vì mặc cảm tự cho ông là anh hùng cách mạng. Khi về đây (ý nói lúc ông Thi làm đảo chính hụt Ngô Đình Diệm, phải sống lưu vong 3 năm tại Nam Vang (Campuchia), và về lại Sài Gòn sau ngày 1.11.1963 – MN), hồi ông Dương Văn Minh bắt ông ra ngoài đó ông được uy tín với miền Trung. Ông ráng tạo uy tín đó đến khi nào có chuyện gì ông sử dụng cái uy tín đó. Cũng vì ông như vậy người ta lợi dụng ông. Thật sự ông cũng có tham vọng. Ông thường chỉ trích chính phủ trung ương là ông Kỳ làm không nên thân, mấy cha trong này nói cách mạng miệng chớ không làm gì hết!”.

Với cương vị “quốc trưởng” và về sau là “tổng thống”, Thiệu vẫn không chữa được lối nói thiếu khúc chiết, vòng vo trước đám đông, từa tựa như trên. Một dạo dân chúng miền Nam, nhất là thanh niên sinh viên học sinh không nhịn được cười khi nghe Thiệu phát biểu trên truyền hình, đại loại như: “Tại Mỹ nó làm áp lực tôi thế này thế nọ. Đó là lịch sử”(!). Ở đây, tiếp tục hài tội Nguyễn chánh Thi, Thiệu thỉnh thoảng chen vài tiếng Tây, tiếng Mỹ vào:

–        “Thấy ông có khả năng ở miền Trung thôi chứ tham vọng của ông rất lớn (?). Nói về Complicite (tiếp tay) với đối phương thì rất ít, sự đồng lõa với đối phương trong vụ tranh đấu này cũng rất ít (…). Bởi vì trách nhiệm của người chef militaire (sếp quân đội) cách chức ông rồi tự nhiên ông không còn quyền hạn gì để mà bàn cãi. Nói về phản bội anh em một cách trắng trợn hay là vi phạm cái danh dự quân đội, tôi thấy cái trường hợp của ông không có cái hành động rõ rệt. Nếu như ông có chủ trương ông làm thì ông khó ngụy trang công việc của ông. Nhưng mà khi nói về cái nhân phẩm của ông đối với tướng lĩnh thì phải nhìn nhận rằng ông Thi thứ nhất là con người dễ bị sách động, dễ bị nâng lên, thổi phồng lên, dễ khiến ông làm một việc gì! Thành thử trong cái giai đoạn khó khăn của nước nhà này nếu như mai mốt, trở đi trở lại như thế này mãi đó (ý nói cuộc biến động miền Trung tái phát – MN), rủi ro có chuyện gì cho mình trong lúc mà họ (những người lãnh đạo đấu tranh chống Thiệu – Kỳ – MN) khai thác được ông Thi thì cũng là một mối lo ngại rất lớn. Do đó tôi thấy rằng làm sao cho ông Thi đừng có tiếp xúc với ai hết. Ông đừng có cái cơ hội vật chất nào (?), cái sự thuận tiện nào để ông có thể lợi dụng ở trong lãnh thổ”.

“Ở trong lãnh thổ”  ý nói ở trong nước. Đừng để ông Thi “có cơ hội vật chất” có lẽ không để ông nắm thực quyền. Tóm lại ý Thiệu muốn nói: Thi phải bị cách chức và đẩy ra nước ngoài. Đúng là Thiệu, Kỳ và cả 20 tướng trong phiên tòa là những người nắm quyền cao nhất của Sài Gòn lúc bấy giờ rất sợ sự có mặt của những “chuyên viên nổi dậy” và “sẵn sàng nổi dậy” như Nguyễn Chánh Thi. Huống gì “sự có mặt” đó kèm theo lực lượng ủng hộ, làm đảo chánh được chứ?
Trong các tội của Thi, Thiệu – Kỳ rất ớn “tội” nắm thực quyền. Mặc dầu bị cách chức tại Sài Gòn trước ngày biến động miền Trung, nhưng theo “tin tức riêng” của tướng Westmoreland, “trên thực tế Thi vẫn nắm chặt quyền chỉ huy sư đoàn I quân đội Nam VN” và đã “tung ra những lời tuyên bố gay gắt từ một nơi bí mật tại Huế”. Nơi bí mật mà Westmoreland đề cập tới hẳn là chùa chiền, các trụ sở đấu tranh của sinh viên học sinh hoặc doanh trại binh lính ly khai… Do vậy, Nguyễn Văn Thiệu cày lui cày tới quanh biện pháp cô lập hẳn Nguyễn Chánh Thi. Nhân danh “chủ tịch hội đồng kỷ luật” đồng thời “chủ tọa phiên tòa”, Thiệu đanh lại:

–        Theo tội ông Thi thì phải phạt ông, phạt tối đa và quân kỷ nhưng mà cái quan trọng là phải cô lập hẳn đừng cho ông nắm một cơ hội, đừng cho ông có một phương tiện (…). Nếu như con người ông mà có cơ hội thuận tiện, có phương tiện được thúc đẩy, hoặc được bơm lên, thì bấy giờ ông làm super man (siêu nhân) ông cũng làm. Tóm lại biện pháp của tôi là phải phạt quân kỷ tối đa. Quan trọng nhất là phải cô lập ông, đừng cho ông có cơ hội tiếp xúc để cho mình qua các giai đoạn thật là “nguy hiểm (ý muốn nói vượt qua hẳn biến động miền Trung để củng cố bộ máy cầm quyền giai đoạn đó – MN). Theo tôi bây giờ thì cái ý định của tôi đưa ra cho các anh em (Hội đồng quân lực Sài Gòn) thấy không cho ông đi ngoại quốc với tính cách cá nhân của ông thì phải cô lập ông một chỗ nào xa lánh thời cuộc, chính trị, phương tiện, đạo đức, thượng tọa v.v… Làm sao cho ông đừng tiếp xúc với quân nhân, làm sao cho ông như người đi tu vậy!

Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Bảo Trị không đồng ý với Thiệu phạt ông Thi “như người đi tu vậy”, tại sao?
 

20 – Sát phạt và sợ bị trả thù trước giờ tuyên án tướng Thi

Nghe Nguyễn Văn Thiệu vạch tội Nguyễn Chánh Thi lê thê luộm thuộm quá, tổng ủy viên thông tin trong nội các của Nguyễn Cao Kỳ là thiếu tướng Nguyễn Bảo Trị đứng dậy đỡ lời và “tém lại” cho gọn.

 Ông Trị gióng tiếng cảnh giác Hội đồng kỷ luật do Thiệu làm chủ tịch hãy thật công bằng, đừng dựa vào “lời khai một phía” của “thằng Hộ” nào đó mà kết tội Thi, Thiệu ngắt lời :-        Thằng Hộ (?) cũng là một source d’information (nguồn thông tin)… Bây giờ anh em muốn décider (quyết định) liền hay là để mình đi lần lượt mình làm comparaison (đối chiếu) sau, hay là mình cứ đưa ra một cái gần như draft (phác thảo) trước?

Hỏi như vậy Thiệu làm rối chuyện lại và chẳng ai trả lời. Nguyễn Cao Kỳ giả bộ không nghe câu Thiệu hỏi, đẩy mũi dùi thẳng vào Thi:

–        Xin dùng danh từ ông Thi là cái ngòi mà cái người châm ngòi không phải ông Thi. Ông Thi chỉ là cái ngòi trước sự xáo trộn và nhất là trong cái vụ xáo trộn Thi chỉ là cái ngòi thuốc súng và cái người châm ngòi là Trí Quang và tất cả phe nhóm chính trị đứng đàng sau.

Trí Quang mà Kỳ nói là “cái người châm ngòi” tức thượng tọa Thích Trí Quang – lãnh đạo Phật tử  đấu tranh chống Thiệu – Kỳ tại Đà Nẵng và Huế. Kỳ viết trong hồi ký rằng sau biến động miền trung, Kỳ đã ra lệnh bắt giữ thượng tọa Thích Trí Quang và đưa vào Sài Gòn “chữa bệnh”. Kỳ tiếp:

–        Các quý vị còn nhớ, đại tướng Khánh hỏi rằng ông Thi ra nắm được miền Trung không, cũng đã nhiều lần tôi đã nói với ông Khánh là phải cho một số anh em ở trung ương (Sài Gòn) ra cạnh ông Thi (ở miền Trung) để mà conseiller (khuyên can bớt) ông đó. Ông Thi chưa nắm được miền Trung đâu trái lại chính miền Trung lại nắm ông Thi để làm cái paravent (bình phong) mà che cho họ núp đàng sau… Trước ngày ông bị cách chức (10.3.1964 tại Sài Gòn ) thì ông đã bị lợi dụng. Có người(?) đã tính đường xa hai ba năm về sau là nó thúc đẩy “conseiller” (chỉ vẻ) để thổi phồng lên hầu nó có một bộ mặt chính thức và ông Thi đã vô tình cũng như có một phần nào có ý mắc vào cái mưu mẹo đó (…). Ông biết rằng ông không thể nào đơn phương độc mã mà làm chuyện gì ghê gớm đâu. Thế nhưng mà ngồi ở đó (tư lệnh quân đoàn I và vùng I chiến thuật, kiêm đại biểu chính phủ tại trung nguyên Trung Phần) thằng nào tới nói “Oui” (Ừ! Được) ông cũng “Oui”, mà nói “Non” (Không!) thì ông cũng “Non”!

Nói tới đó, Nguyễn Cao Kỳ hạ thấp dần cường độ khích bác để đưa đến nhận xét có lợi một cách bất ngờ cho ông Thi khiến Thiệu chưng hửng:

–        Ông Thi có những hành động nào tiếm quyền và dùng quân đội (ý nói trực tiếp chỉ huy quân ly khai chiến đấu chống trả cuộc tập kích của Thiệu – Kỳ – MN) trong vụ xáo trộn này không, thì không có một bằng cớ nào tỏ ra ông Thi có cái việc tiếm quyền phản loạn. (Thật ra Nguyễn Cao Kỳ biết rõ ông Thi thực chất nắm quyền điều động Sư đoàn I trong tầm tay và cổ xúy binh lính ly khai như “tin riêng” của tướng Westmoreland nhận được). Tất nhiên lúc tuyên bố thế này thế nọ cũng có, không thể nào tránh được. Thêm nữa theo như témoignage (làm chứng) của thiếu tướng Lãm thì trong những ngày cuối cùng (của cuộc biến động) ông Thi tỏ ra hiểu biết và hợp tác (kêu gọi ngưng đánh nhau – MN). Tất nhiên yếu tố chính là ông đã thấy sự tranh đấu đó không thể thắng được… Tôi đề nghị phạt trọng cấm và đi an trí.

Mức hình phạt do Kỳ đề nghị làm nhiều thành viên của hội đồng kỷ luật sửng sờ vì nó… “nhẹ hều”!

Chỉ trọng cấm, an trí!!!

Và rồi đây có thể phục hồi vai vế của Thi trong quân đội???!!! Một luồng khí lạnh tanh thổi qua gáy các tướng lĩnh từng công khai mạt sát Thi khi ông bị cách chức. Nhất là ngay phiên xử này, nhiều cặp mắt lạnh nhạt hoặc lỡ lườm ngó Thi trước đó nay nghe Kỳ phát biểu đều phải chột dạ. Vì sao? Vì sợ Thi trả thù nếu Thi không bị đẩy hẳn ra nước ngoài, hoặc bị bao vây cô lập một chỗ “ như người tu”. Nóng ruột tỏ thái độ không đồng ý với mức án của Kỳ quá nhẹ dành cho Thi, trung tướng tổng ủy viên quốc phòng Nguyễn Hữu Có bật dậy mổ xẻ:

–        Phải xét lại cho kỹ cái cá nhân con người đó (Nguyễn Chánh Thi) đối với tương lai. Nếu mà mình vì cái cảm phục cho một ngày nào ông trở lại, tôi nói thật với các anh em khó lắm chứ không phải dễ. Tôi đã thấy ông qua bữa chỉnh lý (hôm 31.1.1964, Thi ủng hộ Khánh “lật” Dương Văn Minh, bắt Đôn-Đính- Kim- Xuân- Vỹ, nhưng không lâu sau đó thất vọng vì Nguyễn Khánh tham quyền và muốn làm “cha” dân! – MN), tôi đứng ngoài cửa, cái cách ông (Thi) bắt ông Đôn (Trần Văn Đôn) cùng ông này ông kia (các tướng khác) với cử chỉ căm thù. Huống chi mà mình đem ông đem ra trước đây để xử ông, mình bắt ông, mình giam ông. Mà một ngày nào ông có cái cơ hội thuận tiện mà ông còn trong quân đội không giải ngũ, còn cái chức tước với cái chính phủ khác, ông cũng vẫn là một vị tướng, thì  tôi e rằng có hại cho quân đội. Tôi không nói là cá nhân ông Thiệu, ông Kỳ, ông Có gì cả mà tôi nói quân đội thôi. Ông sẽ làm một cái représaille (báo thù) ghê gớm lắm! Không phải riêng ông Thiệu, ông Kỳ, ông Có mà cái représaille đó có thể đi lần xuống dưới nữa (…) Vì ông Thi là người hết sức “ambitieux” (“có dã tâm”), hết sức dám làm! Liều lĩnh! Liều lĩnh! Liều lĩnh! Và  “ambitieux” (dã tâm) thì nguy hại vô cùng!

Nguyễn Hữu Có nói một hơi đầy vẻ lo sợ, thống thiết, khẩn cầu Kỳ gấp gấp rút lại mức phạt “chẳng thấm thía gì” với Thi và tăng nó lên để bóp chặt Thi, không cho Thi cơ hội nắm lấy “cán dao” báo thù. Có sợ cũng phải, vì Có từng chĩa súng vào ngực buộc Thi không được lên máy bay về Trung và nhiều lần “đụng” khác… Chẳng lẽ Kỳ không biết tính Thi “dữ như cọp” sẵn sàng ăn miếng trả miếng đó sao? Kỳ quá rành! Nhưng vẫn đề nghị giảm nhẹ cho Thi chẳng phải Kỳ yêu mến cảm phục gì Thi mà chẳng qua vì… phía Mỹ có cảnh báo! Đại sứ Cabot Lodge gặp Kỳ trước khi mở phiên tòa quân sự đặc biệt đó và đánh tiếng: “Phải dè dặt và kín đáo kẻo dư luận báo chí bên Mỹ nó ồn ào rùm beng lên thì mang tiếng”. Kỳ đành lập lại câu nói Cabot Lodge giữa tòa khiến hội đồng kỷ luật của Thiệu ngớ người trước khuyến cáo mới!
 
21 – Nguyễn Hữu Có và Đặng Văn Quang, hai tướng quyết liệt chống lại giải pháp “nửa chừng xuân”
Tướng Nguyễn Hữu Có và nhiều tướng khác sợ nếu không lột lon tướng Thi sẽ bị trả thù..

Tướng Nguyễn Hữu Có và nhiều tướng khác sợ nếu không lột lon tướng Thi sẽ bị trả thù..

Đại sứ Cabot Lodge khuyến cáo Nguyễn Cao Kỳ và hội đồng kỷ luật của quân đội Sài Gòn hãy dè chừng dân chúng và báo chí Mỹ. Vì lần này đem xét xử không chỉ một mình Nguyễn Chánh Thi mà cùng lúc những 4 tướng nữa: Tôn Thất Đính, Phan Xuân Nhuận (chống đối, ly khai), Nguyễn Văn Chuân, Huỳnh Văn Cao (đào tẩu, thiếu trách nhiệm…).

 Nếu cả 5 tướng đều bị lột lon cách chức, đưa về vườn một lượt, sợ sẽ gây chấn động trong quân đội. Tiếng đồn về mối bất hòa dai dẳng giữa các tướng lĩnh Sài Gòn một lần nữa sẽ vang ra ngoài và thế nào báo chí Mỹ cũng xoáy vào đàm luận.
Khi ấy, một số có xu hướng phản chiến trong báo giới Mỹ có thể nhân đó công kích Tổng thống Johnson đang ủng hộ một chính phủ mất đoàn kết, không đáng tin cậy như Thiệu – Kỳ và hâm nóng bầu khí chống chiến tranh Việt Nam vốn sôi bỏng cách đó hơn nửa năm vào tháng 11.1965 với 25.000 người biểu tình kéo về đài tưởng niệm Washington tố cáo Johnson leo thang chiến tranh.
Chiến tranh Việt Nam 1965-1966 đã khiến phải rút giảm các quỹ xã hội Mỹ. Ngân sách giáo dục và chương trình cung cấp sữa cho học sinh bị cắt đầu tiên. Mục sư Martin Luther King hỏi: “Chúng ta thích cuộc chiến chống nghèo khó hay chúng ta thích chiến tranh ở Việt Nam?”. Một luật gia Mỹ bảo: nền kinh tế không thể cùng lúc đưa lại cả súng và bơ! Vậy cần chọn lựa một trong hai. Nhưng Tổng thống Johnson đã cột Mỹ vào hai cuộc chiến tranh cùng một lúc: chiến tranh chống nghèo khó và chiến tranh Việt Nam. Làn sóng phản đối dâng cao tràn ra Đại lộ số 5 New York diễu hành, la ó, ném trứng, đốt thẻ quân dịch… Đó là những hình ảnh nhức đầu mà Cabot Lodge không muốn chúng tiếp tục diễn ra từ “một đám cháy” tận Việt Nam. Nên Lodge khuyên “dè dặt”, nhất là “đối với Nguyễn Chánh Thi”. Để chiều đại sứ Cabot Lodge, Nguyễn Cao Kỳ muốn phạt quân kỷ cả 5 tướng vài tháng, rồi “tính bước nữa” chả muộn. Nhưng Nguyễn Hữu Có nằng nặc đòi giải ngũ Thi lập tức, đưa về làm dân không dính gì tới quân đội nữa:

– Cho nên ông (Thi) còn mang trung tướng mà không phải một người dân thì ông còn sử dụng cấp bực trung tướng, khi mình ra biện pháp này những người tay chân bộ hạ của ông, về chính trị cũng như trong quân đội, vẫn còn nuôi hy vọng là ông Thi vẫn còn là một vị trung tướng. Cho nên ở trong đó còn “réserver” (dành riêng) cho một cái “carte” (lá bài) để sau này ông sử dụng lại. Họ còn ủng hộ, còn tiếp tục liên lạc với ông Thi thì các ảnh hưởng đó gây khó khăn cho mình nữa! Theo ý kiến tôi hết sức khách quan không vì cá nhân, vì tư thù nói rằng bây giờ tôi còn cầm quyền; có quyền hạn ăn nói ở đây để buộc tội người ta, làm cho người ta sợ (sợ không thôi cũng chưa đủ) mà trên thực tế nếu mình biết ông là người “dangereux” (nguy hiểm) mà mình còn giữ cho ông lá bài, không giải ngũ ông thì “half and half ” lấy biện pháp nửa chừng xuân, thì cái hậu quả đó có nguy hại đến cho mình không? Có lợi không?

 Câu hỏi báo động đỏ chưa tắt, ông Có ném cái “phao dỏm” chen mấy tiếng Tây cố hữu:

– Mình muốn “réserver” (dành chỗ) cho ông còn trung tướng để “sauver” (cứu) ông là người tư cách đối với anh em chúng mình, đối với miền Trung. Nếu thấy ông Thi hoàn toàn không lỗi (mà chỉ) vì chỉ bị người ta lợi dụng – (thì) tôi nói thật với anh em, tôi xin nhường chức vụ của tôi cho ông Thi để “sauver” (cứu) ông, để cho ông có một “avenir” (tương lai) đường hoàng (!!!), chớ đừng bắt bỏ tù ông (!!!). Nếu nói ông Thi là người “capable” (có khả năng) và không tội gì, một người xứng đáng, có tư cách, thì tôi sẵn sàng nhường chỗ tôi cho ông!

 Cái “phao dỏm” muốn “cứu” ông Thi của Nguyễn Hữu Có vừa ném ra, một trung tướng trong hội đồng quân lực đã tức tốc nhào lên phát pháo, đâm lủng tòe loe, không cho “nổi” lên một chút gió:

– Xin phép anh em suy nghĩ lại cái nguy hiểm cho tương lai (….) ông Thi sẽ trả thù từng đứa (…) tôi ơn ớn chuyện đó (…).

Còn cả một tràng dài bồi đắp cái “nấm mộ” tố khổ đã cao càng cao thêm, trù dập chôn Thi chết đứng giữa phiên tòa. “Ngài trung tướng” có công “bồi thêm” đòn chí tử kia là Đặng Văn Quang. Hồi ký Đỗ Mậu viết:

Quang là: “người con nuôi tinh thần của bà Ấm, chị ruột tổng thống Diệm và là thân mẫu của giám mục Nguyễn Văn Thuận. Vợ Quang là em ruột cựu Bộ trưởng Bộ Nội vụ Bùi Văn Lương thời Diệm (…). Quang cũng là người điều động hệ thống buôn thuốc phiện lậu để chia lời với Thiệu như Ngô Đình Nhu trước kia buôn thuốc phiện lậu để làm giàu mà Mac Coy đã nói rõ trong The Politics of Heroine in Southeast Asia”.
Đặng Văn Quang tai tiếng vì tham nhũng thời còn làm Tư lệnh Quân đoàn 4 đóng vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thiệu đắc cử tổng thống năm 1967 dùng Quang làm phụ tá đặc biệt về quân sự, an ninh, tình báo. Ở chức vụ sinh sát đó, Quang lấn tới kiểm soát luôn lực lượng đặc biệt để tung về Kontum, Pleiku đột kích sang những vùng thuốc phiện nằm sâu tận hạ Lào vơ vét. Đứng chân được ở miền cao, Quang quay dòm con đường thủy tiến vào lãnh thổ Campuchia, chuyển ma túy từ Phnom Penh đến Niếc Lương qua Tân Châu, Bình Thủy, về Sài Gòn bằng các giang thuyền của lực lượng hải quân – với sự thỏa hiệp của Lâm Ngươn Thanh và của đô đốc Chung Tấn Cang.
Chung Tấn Cang, bạn ông Thiệu, Tư lệnh Hải quân từng được Thiệu che chở khỏi cơn bĩ cực một dạo, nên phục tùng Thiệu, nhập với Quang thành “liên minh ma quỷ”. Mỉa mai là, khi Mỹ than phiền thuốc phiện lậu “chảy” xiết vào Sài Gòn, Quang cử Chung Tấn Cang làm trưởng ban bài trừ ma túy của hải quân Sài Gòn! Đặng Văn Quang nắm trong tay nguồn lợi khổng lồ từ thuốc phiện. Trần Văn Đôn viết: “Đặng Văn Quang là người đứng sau Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm và Cao Văn Viên về quyền uy, nhưng đứng hàng đầu về tham nhũng” như chúng tôi sẽ nhắc đến ở ngay sau đoạn mở đầu.
 

22 – Tại sao TT Marcos khuyên Nguyễn Cao Kỳ “để sẵn va-li đầu giường ngủ” và câu chuyện về “Quế tướng công”?

Do khi làm Tư lệnh Sư đoàn 2 đóng trên miền núi phía Nam Đà Nẵng, tướng Toàn đã thèm thuồng và phù phép vơ không nguồn lợi từ những rừng quế đắt giá ở đó. Ông ta sai linh lấy trộm cả “núi” bán chợ đen. Quế được chở lén lút bằng xe nhà binh xuống thị trong những đêm “hành quân ma”. Việc vỡ lỡ thì Toàn đã no bụng.

 Nguyễn Cao Kỳ viết: “ông ta (tướng Toàn) đã tạo được một tài sản lớn nhờ đánh cắp loại cây gia vị rất quý giá này”. Theo Đỗ Mậu, tướng Toàn là người có công với Thiệu Kỳ vì “từng chỉ huy thiết giáp đàn áp Phật tử trong biến cố 1966”. Có lẽ nhờ vậy, Toàn được Kỳ làm ngơ vụ đó, nhưng dân làng báo đương thời chơi ác, phong Toàn cái danh bất hư truyền: “Quế tướng công” từ đó. Mãi sau Toàn vẫn phây phây bon tới chức Tư lệnh quân đoàn III Vùng III chiến thuật, nơi đóng quân và hoạt động của 3 sư đoàn tinh nhuệ, 7 lữ đoàn biệt kích, gần 700 xe bọc thép và hàng trăm máy bay, bao gồm cả “thủ đô” Sài Gòn trong tầm phòng thủ!

Nắm trong tay lực lượng quân sự lớn, Toàn với cấp bậc trung tướng nằm trong Hội đồng An ninh quốc gia của Thiệu bên cạnh những tay tham nhũng khét tiếng như phụ tá quân sự Đặng Văn Quang, Tổng giám đốc Công an Nguyễn Khắc Bình…

Nay, hắc danh “Quế tướng công” vẫn thấy nhắc đến trong các sách báo của người Việt xuất bản ở nước ngoài!

Lúc Toàn biết “ăn” quế, Kỳ mới lên làm thủ tướng, chưa mảy may kinh nghiệm việc “nước”. Ngay chuyện nhậm chức đứng đầu chính phủ là “quốc gia đại sự” mà Kỳ phải chạy về hỏi vợ có nên nhận không rồi mới làm. Nghe tưởng đùa, nhưng thật 100%. Kỳ thuật lại, hôm hội đồng tướng lĩnh chỉ định Kỳ làm “thủ tướng”, ông ta dùng dằng một hồi rồi đưa thêm điều kiện vào cuối phiên họp:

“- Tôi phải xin phép vợ tôi đã!

Phản ứng của vợ tôi là “cấm không cho”! Lúc ấy chúng tôi (Kỳ và Tuyết Mai) là cặp vợ chồng trẻ, chúng tôi không muốn bận bịu bởi chuyện chính trị. Tuy nhiên sau khi nghe giải thích, vợ tôi đã hiểu và đồng ý với việc tôi quyết định đứng ra thành lập chính phủ. Ngày hôm sau tôi trở lại phòng họp của hội đồng quân lực để xác nhận quyết định này!”.

Việc “nước” việc “nhà” của “tướng trẻ” cứ lẫn vào nhau như quyền và lợi của họ. Mới nắm quyền, Kỳ lúng túng nhờ cố vấn Bùi Diễm lo gánh vác nhưng đâu xuể. Trần Văn Đôn viết: “Nguyễn Cao Kỳ ưa chơi đá gà, đánh mạt chược, chuyện quốc gia lơ là nên tham nhũng càng lúc càng trầm trọng. Những tên tham nhũng buôn bán gạo chợ đen, đầu cơ tích trữ, những tay thầu lớn, đều là tay chân thân tín, bà con với những người đang cầm quyền lãnh đạo lúc bấy giờ”.
Càng về sau, cái thế “gia đình ta” cùng làm cùng ăn càng rõ tợn. Như Tổng trưởng Nội vụ Trần Thiện Khiêm (sau cùng là thủ tướng, 1969) đưa cả nhà vào cuộc. Em ruột Khiêm là Trần Thiện Khởi nắm quyền kiểm tra xuất nhập khẩu tại sân bay Tân Sơn Nhất với mối lợi béo bở nhờ việc che chở các đầu mối buôn lậu vàng và thuốc phiện. Người em nữa là trung tá Trần Thiện Phương làm Giám đốc Cảng Sài Gòn. Một người nắm quyền lên trời, một người vùng vẫy dưới nước, toàn ở vị trí có nhiều cơ hội làm ăn lớn. Thêm em bên vợ là tướng Trần Thanh Phong làm giám đốc tổng nha cảnh sát; em rể là Đỗ Kiến Nhiễu làm Đô trưởng Sài Gòn; thế mạnh như cọp mọc sừng!

Ở những vị thế cao ngất cỡ Kỳ, chỉ ngồi “nhà” cũng “thường xuyên được các công ty nước ngoài đến thăm dò ý kiến”. Một công ty Nhật bắn tiếng nếu Kỳ đồng ý “cho phép thành lập xí nghiệp ráp xe hơi” họ sẽ biếu Kỳ “1 triệu đô-la tiền mặt và 300 chiếc xe hơi để tặng bè bạn” như chính Kỳ kể về thời mới nắm quyền thủ tướng. Với cương vị đó, tại hội nghị lãnh đạo chính phủ các nước Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Hàn Quốc, Thái Lan nhóm họp tại thủ đô Manila vào cuối năm 1966, Kỳ gặp Tổng thống Marcos của Philippines và Marcos kéo ông ra riêng để khuyên:

–         Anh nên nghĩ đến nguy cơ của một cuộc đảo chính để lo trước cho tương lai của mình!

Lo cách nào? Kỳ viết: “Có lẽ tất cả các tổng thống tại các nước không ổn định đã tìm cách làm ra tiền cho riêng họ để đề phòng khi bị mất chức”. Marcos nói về mình song hàm ý mách nước để Kỳ làm theo:

–         Tôi luôn luôn để sẵn hai va-li bên giường ngủ của tôi.

Chỉ hai va-li? Thua “tông tông” Thiệu! Kỳ viết: “Người ta nói là Thiệu đã mang theo những 5 va-li chứa đầy đô-la” chạy ra nước ngoài cùng “tẩu tướng” Trần Thiện Khiêm vào cuối tháng 4.1975 (chưa kể vàng tấn chuyển ra Tân Sơn Nhất).

Dưới Thiệu và Kỳ, các tư lệnh cùng, tỉnh trưởng, quận trưởng đều có 1.001 cách tham nhũng, vòi hối lộ. Ăn cắp thì có hệ thống “quân giai” – như cả nửa triệu tấn gạo biến mất khỏi các kho lương thực trong năm 1967. Ngoài tủ lạnh, ti vi, xe gắn máy…súng cũng được bán với giá 25 đến 30 đô-la một khẩu. Vài tay liều mạng đánh cắp lựu đạn rao bán và bị theo dõi còng tay ở chợ Qui Nhơn. Nguyễn Cao Kỳ viết:

“Nếu ai muốn mua một xe bọc thép hoặc một máy bay lên thẳng thì việc đó cũng có thể dàn xếp được!”. Mặt hàng này đặc biệt hấp dẫn đối với mafia châu Á cùng những đội quân thuốc phiện ở vùng “Tam giác vàng”! Chúng được đưa ra khỏi các kho vũ khí bởi các VIP KK.

Trung tướng Vĩnh Lộc hối lộ cho ai?

Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ nêu trường hợp: “Nguyên tư lệnh các lực lượng Nam VN ở đồng bằng sông Cửu Long đã lấy cắp 8.000 đài vô tuyến và 24.000 vũ khí cá nhân do Hoa Kỳ trang bị” và sớm tiêu thụ chúng sạch sành sanh. Tài liệu mật từ Tòa đại sứ Mỹ cho biết “Việt cộng” đã sở hữu phần lớn số đó! Không có điều kiện vẫy vùng, dậy sóng như các VIP KK nhưng các sĩ quan và quan chức địa phương cũng rất ấm túi nhờ các món tiền lo lót để được miễn dịch (khỏi đi lính) chẳng hạn. Việc mua quan bán chức có giá ấn định theo từng cấp, từng vùng, thậm chí từng quận. Ví dụ ở Sài Gòn, quận 5 sáng giá. Kỳ kể hồi nhóm tướng trẻ mới nổi, các người bạn lái máy bay của Kỳ nói đùa:

–         Này Kỳ, nếu sau này có lúc nào đó anh lên làm thù tướng và muốn tìm việc cho bạn bè cũ thì xin anh đừng băn khoăn nghĩ đến chuyện bố trí chúng tôi vào một chức bộ trưởng nào trong nội các của anh cả! Mà anh chỉ cần cho một người trong chúng tôi làm trường ty cảnh sát quận 5 là đủ!.

Muốn làm quận trưởng ở đó phải hối lộ đúng chỗ 15 triệu đồng nhưng người ta yên chí chồng tiền vì sẽ thu gấp ba lần số bỏ ra chỉ sau 2 năm tại chức do nhiều nguồn thu nhập như “hợp tác” làm ăn, hiếu hỷ “vượt mức” v.v…Riêng khoản chạy chọt giấy tờ miễn dịch đưa tới hàng năm một món khá to rồi. Vì Chợ Lớn với 90% dân Hoa kiều thời đó không ai muốn bị đẩy ra chiến trường bom đạn, chết chóc nên “hầu hết những người cha trong gia đình đều cố trả những món tiền hối lộ thật lớn để cho con của họ được miễn dịch”.

Giấy miễn dịch được những người có thẩm quyền cấp phát dưới sự mách nước lắm khi từ các …bà vợ của họ. Một đoạn hồi ký khá hóm hỉnh viết:

Số tiền 100.000 đồng mà các bà vợ nhận được mỗi khi họ (bảo chồng mình) giúp cho con của bè bạn được khỏi bị gọi đi lính – đã trở thành một món tiền phổ biến đến mức các bà đánh xì-phé trong các canh bạc lớn mỗi lần đi tiền thêm đã hô:

–         Tôi tố thêm một tân binh quân dịch!”.

“Một tân binh” nghĩa là đặt thêm 100.000 đồng nữa (theo Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, 1 đô-la Mỹ ăn 118 đồng tiền Sài Gòn vào giữa năm 1965-1966). Ngoài giấy miễn dịch, các loại giấy khác để hoàn tất thủ tục xuất ngoại, hoặc môn bài, bằng cấp…đều cần nạp lễ bằng tiền, hoặc bánh trung thu nhân hột xoàn. Dân hối lộ quan chức và các tướng tá là sự thường, tướng tá hối lộ dân có không? Có. Chắc bạn đọc còn nhớ chuyện trung tướng Vĩnh Lộc (người kết án Nguyễn Chánh Thi rất gay gắt) dan díu với ca sĩ Minh H. bị dư luận “pha đèn”. “Rét” quá, Vĩnh Lộc sai người khệ nệ ôm một bó bạc bọc giấy hoa, khiêng dàn máy Akai loại “đời mới” thời đó, thêm hai chiếc đồng hồ Seiko sáng chói khép nép đến làm lễ ra mắt một…nhà báo. Mục đích xin đừng viết về “mối tình nghệ sĩ” của ông trung tướng nữa.

Nhưng trung tướng hoàng gia đã “lầm địa chỉ”.

23 – Trung tướng Nguyễn Chánh Thi bị xử 60 ngày biệt cấm tại …Mỹ!

Trung tướng Nguyễn Chánh Thi (ngồi giữa) - ảnh chụp năm 1964

Trung tướng Nguyễn Chánh Thi (ngồi giữa) – ảnh chụp năm 1964

Người mà ông Vĩnh Lộc “tặng không” dàn máy âm thanh, đồng hồ, bạc bó là một ký giả có vai vế ở báo Quật Cường. Tờ đó do Hoàng Đức Nhã và các cán sự thông tin báo chí của ông Thiệu lập ra với sự thường xuyên hỗ trợ của Tổng Giám đốc Cảnh sát quốc gia kiêm Đặc ủy trưởng tình báo trung ương Nguyễn Khắc Bình

Sự “phối hợp nghệ thuật” giữa họ đề ra ban biên tập sẵn sàng “quật” đối lập, trong đó có một số cây bút quân đội kéo từ “Cây đèn cầy” về. “Cây đèn cầy” tức vùng 1 chiến thuật. Con số “1” đính nơi áo giống hình cây đèn cầy thắp lên giữa vùng hỏa tuyến, xui lắm! Binh nhì đưa ra tác chiến ở đó dễ thành “cố binh nhất” vĩnh viễn. Đã bị đẩy trú quân vùng 1 mà được chuyển về Sài Gòn coi bằng thoát miền tử địa, khỏi ăn cháo lú. Nhưng bù lại, các cây bút hưởng “ân huệ” đó cần quên mình, viết theo chỉ thị đưa ra từ phủ đầu rồng.
 
Dạo đó có tin Quật Cường chuẩn bị “quật” chuyện tình vụng trộm của mình lên mặt báo, trung tướng Vĩnh Lộc lo lắm. Tuy là tờ báo hẻo lánh, ít bạn đọc so với các tờ khác trong làng báo Sài Gòn, nhưng tướng Lộc sợ các tờ khác xía vô “nổ dây chuyền” phiền phức.
 
Cũng thời điểm đó, ký giả “có vai vế” mà tướng Lộc muốn nhờ đỡ đang bị “hạ tầng công tác” vì việc gì không rõ và em rể của nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan (người họ Trịnh) được đưa về thay thế. Không biết việc thay đổi về nhân sự trên, ông Lộc cứ truyền lễ lạc mang tới. Ký giả kia bảo mình không có quyền hạn chi. Nhưng phía ông trung tướng tưởng quà cáp còn ít cứ nài nỉ “xin nhận cho”…Việc cũng qua, trung tướng Vĩnh Lộc băng băng lên tới Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn nhưng chỉ tại chức có …1 ngày, vào 29.4.1975 theo quyết định muộn màng của đại tướng Dương Văn Minh, ông Vĩnh Lộc được các tướng tá viết hồi ký nhắc đến là sĩ quan “có học vấn cao” (Đỗ Mậu), thuộc hàng “tướng lĩnh thâm niên nhất” (Trần Văn Đôn). Còn Nguyễn Chánh Thi ghép ông với các tướng tham nhũng cạnh nhau, gọi bằng “chúng nó”.
 
Và phiên tòa của “chúng nó” như chữ ông Thi gọi, tiếp tục cuối chiều đó bằng phát biểu của Nguyễn Cao Kỳ sau khi nghe Nguyễn Hữu Có và Đặng Văn Quang chống lại hướng xử “nửa chừng xuân”:
 
“Tôi quên không nói rõ là cá tính của ông Thi thù hằn ghê lắm. Phải mường tượng ngày hôm nay hội đồng kỷ luật từng này người mà phạt ông 60 ngày trọng cấm, ngày nào ông ngồi ông xét xử lại, ông kể lại từng tên một này ra, không xót một tên nào! (…) Tôi xin kể anh em nghe câu chuyện: Thiếu tá Phan Phụng Tiên lái máy bay cho ông đi trốn ở Cao Miên chỉ vì sang đó (1960) nó hành động này nọ, nó chỉ trích rồi nó không chơi với ông nữa. Thì hôm đầu tiên ông về đây (1963) gặp tôi ông bảo, thằng Tiên nó đâu rồi mày. Hôm đó ông định giết nó. Tôi phải can ông mãi trong hành lang Tổng tham mưu. Tôi bảo nó là đàn em, dầu nó có tội mà nó có công lái máy bay nếu không làm sao anh trốn được. Thằng Tiên sợ quá xanh mặt về nói với tôi thôi rồi ông Thi về đây tôi chết. Vì ông đó là ông ghê gớm lắm!
 
Ghi lại các phát biểu trên, Hoàng Đại Minh, người đưa tài liệu đặc biệt về phiên xử lên mặt báo Tia Sáng, đã nhận xét: “Dẫu sao lúc này sau những tháng rối ren đẫm máu mà (nguyên cớ) cũng tại việc ông (Kỳ) cách chức tướng Thi nên đứng ở địa vị thủ tướng chính phủ đứng đầu ngành hành pháp…ông Kỳ phải thận trọng. Lần kết tội này đối với tướng Thi nếu suôn sẻ không nói chi ngược bằng rối ren lại ầm ầm dấy lên thì chưa chắc ông còn giữ vững được ngôi vị…”. Đoán ý Nguyễn Cao Kỳ tuy có chuyển sau những lời kết tội mạnh mẽ của hai ông Có và Quang nhưng vẫn còn dè dặt, chờ đợi, thiếu tướng Vỹ tiếp thêm:
 
–         “Tôi e rằng nếu không giải ngũ ông Thi là mình tự thổi phồng ông lên…”. Tướng Lê Nguyên Khang thì: “Sở dĩ ông Thi được coi là thần tượng trong thời gian vừa rồi vì nhiều người thấy ông hò hét như vậy nể nang, riêng mình phải nhận một phần lỗi, chứ nếu mình đã đưa ông đi an trí với những biện pháp, rồi cắt đứt tất cả sợi dây liên lạc rồi thì tôi tin rằng ông không còn cái gì nữa…”.
 
Phiên xử lấn cấn chỗ nên “cắt đứt tất cả sợi dây liên lạc ngay” (biệt cấm) đồng lúc với giải ngũ hay hoán từng giai đoạn. Lui tới “phe ông Có” đòi “bứng gốc” bị can Nguyễn Chánh Thi khỏi đất Việt Nam quăng ra nước ngoài. Một lần cuối, ông Kỳ cố thuyết phục hãy chầm chậm chút đỉnh:
 
–         Nếu trên thực tế mình chấp nhận ông ấy phải ra khỏi quân đội, thì bây giờ (như đòi hỏi gấp gáp của tướng Có) hay hai tháng sau, cũng vậy. Vì từ giờ đến hai tháng nếu mình chấp nhận mọi hình phạt trọng cấm hay biệt cấm xong là 60 ngày thì trong 60 ngày ông không “contacter” (tiếp xúc) được với ai!
 
Phiên xử đến hồi phải gút. Đến 17 giờ 5 phút ngày 9.7.1966 (ông Thi ghi 14.7). Hội đồng kỷ luật quân đội Sài Gòn do ông Thiệu đứng đầu tuyên án 60 ngày biệt cấm, hưu trí đối với tướng Thi. Hồi ký Nguyễn Chánh Thi viết:
 
Cuộc hỏi tội chấm dứt lúc nào tôi cũng không biết. Tôi bâng khuâng bước ra khỏi phòng hội Bộ Tổng tham mưu, đầu óc trống rỗng”. Ông và Tôn Thất Đính, Phan Xuân Nhuận bị áp giải về lại số 2 đường Tú Xương. Cơm tối xong, ông Đính hối hả chạy sang gặp Nguyễn Chánh Thi, bảo:
 
–   Anh có nghe radio không? Chúng nó loan báo phạt mình và đuổi ra khỏi quân đội rồi!

Ông Đính quát tháo, chửi bới Thiệu – Kỳ – Có toáng lên. Lính gác ngỡ có xô xát ôm súng chạy đến. Họ đứng nghe, im lặng “im lặng nhìn nhau rồi bỏ đi”.

 Mấy hôm sau, Nguyễn Hữu Có cho xe đến đón Nguyễn Chánh Thi vào nơi làm việc tại Bộ Quốc phòng. Ông Thi thuật lại buổi nói chuyện cuối cùng với ông Có tại Sài Gòn hôm đó:
 
 Gặp tôi hắn có vẻ ngài ngại, cố làm ra vui vẻ, hỏi:

–         Anh có được mạnh khỏe không?

Tôi không trả lời. Hắn nói tiếp: Chính phủ (?-Ông Thi đánh dấu hỏi) và người Mỹ đã chịu điều kiện anh đòi hỏi, anh nghĩ sao?

– Điều kiện ấy là gì?

– Thì anh sẽ chịu đi ra ngoại quốc với điều kiện là thả tất cả những người phạm tội trong vụ biến động miền Trung.

Tôi cố làm ra vui vẻ nói đùa với Nguyễn Hữu Có:

–         Té ra tôi cũng quan trọng thế hả? Bứng được tôi chắc các anh mừng lắm hỉ?…

Có lặng thinh nhẫn nhịn. Tôi trêu thêm:

–         Hôm nay tôi cứ tưởng anh gọi đến chia tiền bán thuốc phiện, mừng quá…”

 
Không đợi đến “60 ngày biệt giam” mà khoảng hơn 10 ngày sau, vào ngày 20.7.1966, đại tướng Samuel Wilson, “Giám đốc cải cách điền địa” mà ông Thi biết là người của CIA đến nhà giam thúc: “đã đến lúc tôi phải đi khỏi nước càng sớm càng tốt”!
 

24 – Nguyễn Văn Thiệu hứa cuội với Nguyễn Chánh Thi và hạ đo ván tướng Kỳ lần đầu tiên ra sao?

Đích thân vào ‘thăm” Nguyễn Chánh Thi tận nơi giam giữ, đại tướng Mỹ Samuel Wilson thông báo chính ông ta đứng ra “dàn xếp như ý muốn” của ông Thi. Nghĩa là “những anh em can dự vào biến động miền Trung sẽ được thả”. Phần tướng Thi, còn được một tuần đến 10 ngày để chuẩn bị rời khỏi Việt Nam vô thời hạn.

 
Theo ông Thi, ông không có trương mục gửi nhà băng Thụy Sĩ hoặc các ngân hàng khác. Hội đồng quân lực Sài Gòn phải trợ giúp ông 5.000 đô la, may cho 5 bộ đồ lớn tại hiệu may Tân Tân đường Tự Do và mua “tặng” tấm vé máy bay Sài Gòn đi Hoa Thịnh Đốn không đăng ký khứ hồi. Một trời tâm sự của Nguyễn Chánh Thi viết:
Ngày 29.7.1966, tôi và hai đứa nhỏ, Nguyễn Chánh Hiển 9 tuổi và Hoàng Thị Hoàng Yến 7 tuổi được đưa ra sân bay Tân Sơn Nhất đi Mỹ”.

Số ông lận đận, ngay chuyến bay biệt xứ đó cũng gặp trắc trở. Theo một tờ báo đương thời: “Tướng Thi cùng 2 trong 4 đứa con (vợ ông sống với người khác từ hồi ông bị Ngô Đình Diệm kết tội “phản nghịch” phải trốn sang Campuchia năm 1960-1963) và một hầu cận (?) rời Sài Gòn đi Hoa Thịnh Đốn nhưng một cuộc đình công của nhân viên hàng không làm họ kẹt ở Honolulu”. Cả bốn người chuyển sang chiếc phản lực cơ Air Force One đi nhờ đoạn đường còn lại. Ông Thi viết:

Chuyến lưu đày nào mà không buồn! Đi thì đi nhưng tôi không ngờ lại bị giam hãm ở nước này (Mỹ) lâu đến thế!”

Bốn năm sau, vào giữa tháng 12.1970, tờ Baltimore Sun tiết lộ “phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ trong chuyến sang Mỹ đã gặp tướng Thi” nhưng cuộc gặp gỡ này đầy kịch tính và được nữ phái viên Rose Kusnher tường thuật khá sinh động:

Ông Kỳ “ngồi hàng ghế đầu ở câu lạc bộ quốc gia báo chí tại Hoa Thịnh Đốn ghì lấy lưng ghế rồi quay lại ra lệnh một cách vội vàng … Liền đó, ông Đặng Đức Kh. (tuân lệnh) đi nhanh đến dãy bàn nằm đối diện diễn đàn rồi ngồi mọp xuống bên cạnh chiếc ghế của một người Việt Nam khác cũng có bộ râu như ông Kỳ là trung tướng Nguyễn Chánh Thi để chuyển lời mời tướng Thi đến ngồi với phó tổng thống Kỳ tại bàn tiệc đặt ở hàng đầu, tướng Thi đã từ chối”.
Đến bữa cơm được dọn ở trụ sở trên, những người biểu tình thuộc nhiều phe nhóm hò hét bên ngoài, ông Kỳ được bảo vệ kỹ lưỡng, nhưng hẳn nhiên không thoải mái lắm bởi hàng rào an ninh chìm nổi vây quanh, trong lúc “tướng Thi tự do đi đi lại lại trong phòng tiệc đầy người, ngưng lại nói chuyện với thân hữu cũ như tướng Lewis Walt, cựu tư lệnh bộ chỉ huy thủy quân lục chiến Mỹ tại Đà Nẵng thời miền Trung biến động. (…) Tướng Thi phà khói sau khi hít những hơi thuốc trong chiếc ống điều ngà cũ xì và thuật lại những diễn biến đưa đến việc ông bị hạ bệ”.
Ông nói vào lúc đó (1966), Mỹ tung một lúc quân lính và đô la ào ào vào Nam Việt Nam. Đô la Mỹ làm mờ mắt nên không ai muốn từ bỏ quyền hành của mình đang nắm, vì “có quá nhiều cơ hội để trở nên giàu có”, ngược lại họ lanh lùng loại trừ những tiếng nói phản kháng. Thậm chí họ đành tâm nghe theo ý kiến ngấm ngầm chỉ vẽ của “đại sứ Cabot Lodge và vị phụ tá là ông Philip Habib cho phi cơ Mỹ dội bom Đà Nẵng khi dân chúng nổi dậy phản đối …”!

Những lời bộc trực cứng cỏi đó chắn hẳn phải gây khó cho ông trong chuyện ông xin hồi hương về Việt Nam vào đầu năm 1972. Ông Thiệu bắn tin qua báo Sóng Thần (một tờ báo “thông thạo nhất về tin tức của phía chính quyền”) là “sự trở về của ông Thi có một vài khiếm khuyết về thủ tục, ông (Thiệu) cũng sẽ ra lệnh cho các viên chức thừa hành thông qua”.

Thế là sau 6 năm sống lưu vong, sáng 23.2.1972 ông Thi về đến phi thường Tân Sơn Nhất trên chuyến phi cơ 747 của hãng PANAM. Dư luận báo chí hết sức ngạc nhiên, như Mạc Kinh viết: “Nhiều lầnông (Thi) vẫn tuyên bố chống chính sách can thiệp của Mỹ, điều làm cho Hoa Kỳ không mấy hài lòng. Mới đây ông cũng xác nhận quan điểm đó cho nên người ta đã ngạc nhiên làm sao tướng Thi lại được Hoa Kỳ chấp thuận cho trở về Việt Nam. Một vài nguồn tin còn đi xa hơn cho rằng chính Hoa Kỳ đã áp lực tổng thống Thiệu, yêu cầu ông Thiệu để cho ông Thi về với một sứ mạng đặc biệt nào đó trong tương lai” (!)

Thật ra chẳng có “một sứ mạng” nào cả mà thực tế xảy ra khác hẳn với lời Nguyễn Văn Thiệu hứa. Nghĩa là thay vì đón mừng, theo Hiếu Chân thuật lại, sáng sớm hôm đó một đại đội cảnh sát dã chiến nai nịt gọn gàng, trang bị lựu đạn cay, súng M-16, ma trắc và cả lá chắn được tung đến phục sẵn quanh chỗ máy bay sắp hạ cánh. Hỗ trợ bên trong các phòng hành chánh của phi trường còn có cảnh sát áo trắng chở tới đông ngót hàng chục xe túc trực với đồ nghề cầm tay gồm máy truyền tin liên lạc, máy đánh chữ và súng lục bên hông.

Tất cả đợi khi chiếc máy bay có chở tướng Thi vừa đáp xuống thì cùng một lượt hướng tầm mắt về phía cầu thang lên xuống … Ở đó, theo hãng UPI, có giám đốc cảnh sát đô thành Trang Sĩ Tấn. Trang Sĩ Tấn xuất hiện chặn tướng Thi lại, yêu cầu ông không được bước vào phòng khách của Tân Sơn Nhất và ngồi yên tại chỗ để quay trở về Mỹ trong vòng 10 phút nữa!
Vào lúc đó, từ đại sảnh của phòng trà sân bay, hàng trăm thân hữu của ông Thi nhướng mắt chờ đợi ông với bữa tiệc hứa hẹn sẽ đầy đủ các chính khách quan trọng đến dự ngay trưa ấy tại Sài Gòn. Nhưng ngoài kia ông bị giữ lại. Cuối cùng, chiếc phi cơ phản lực khổng lồ gầm rú và hối hả cất cánh quay về Mỹ với người khách độc nhất là tướng Nguyễn Chánh Thi.
Như vậy chuyến hồi hương về Việt Nam đó ông chỉ được nhìn khung cảnh Sài Gòn qua cửa máy bay, rồi bị buộc phải độc hành viễn xứ lập tức. Báo chí Sài Gòn lại rộ lên dư luận chỉ trích Thiệu – Kỳ xử sự với ông Thi không công bằng và đưa tin hãng PANAM chưa đồng ý về khoản bồi thường 200.000 đô la cho “sự cố” trên.

Qua vụ đó, người ta liên tưởng đến việc ông Thiệu hạ đo ván tường Kỳ thời kỳ vận động tranh cử tổng thống 1967. Lúc đầu, Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu đều muốn ghi danh. Song Kỳ bảo: “Nếu hai chúng tôi cùng ganh đua để tranh ghế tổng thống thì điều này có thể sẽ được người ta coi là một sự rạn nứt trong quân đội”. Để giải quyết, tướng Cao Văn Viên với tư cách “bộ trưởng bộ quốc phòng” triệu tập 48 tướng lãnh bàn cãi một ngày dài. Nhưng không tới đâu, và hai bên quay mặt choảng nhau. Màn ngoạn mục đầu tiên là Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố ứng cử tổng thống để Thiệu làm phó nhưng …

25 – Thiệu – Kỳ và cuộc chạy đua “có người lái” vào Dinh Độc Lập

Hai ông Thiệu và Kỳ trước cuộc bầu cử tổng thống VNCH năm 1967

Hai ông Thiệu và Kỳ trước cuộc bầu cử tổng thống VNCH năm 1967

Thật ra không đợi đến cuộc bầu cử tổng thống năm 1967 mà ngay giai đoạn thành lập nội các chiến tranh hồi 1965 đã nảy sinh va chạm ngấm ngầm giữa “cái ngã” của hai ông Thiệu và Kỳ.

Lúc mới đầu, Thiệu và tôi (Nguyễn Cao Kỳ) đã đối xử với nhau khá hòa thuận nhưng có sự rắc rối tế nhị giữa chúng tôi. Trong địa vị quốc trưởng, Thiệu không nắm bất cứ quyền hạn gì trên thực tế. Chính tôi đã phải chịu lấy trách nhiệm về các quyết định và việc này khiến Thiệu đâm ra ghen tỵ. Tôi có thể hiểu chuyện này dễ dàng hơn nếu Thiệu đã không từ chối thành lập một chính phủ trước đó bởi vì Thiệu sợ vướng trách nhiệm. Thiệu muốn có quyền lực và danh vọng, nhưng lại không muốn nhận những công việc nặng nhọc khó khăn. Thiệu là hạng người như vậy”.
Dẫu không ưa “hạng người như vậy” nhưng ông Kỳ vẫn phải chung sống một cách khổ sở chỉ vì cả hai đang cùng hợp sức quật ngã những tướng tá có máu khinh bạc như Thi. Thi đi rồi, đến lượt Nguyễn Hữu Có bị “chiếu tướng”. Do bệnh “công thần”, lại cậy mình là phó thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc phòng, nên tướng Có hớ hênh, nhiều lời. Biết Thiệu – Kỳ để tâm. Có thổ lộ với Trần Văn Đôn muốn làm đảo chánh cho “yên bề”. Nhưng chưa kịp động thủ, cuối năm 1966 Có đi thăm Đại Hàn và Đài Loan về đến Hồng Kong bất ngờ nhận được lệnh của Thiệu – Kỳ cấm không cho trở lại Việt Nam, phải sống lưu vong dài hạn ở nước ngoài! Dòm trong nước, các “tướng già” Đôn – Đính – Kim – Xuân đã bị loại bằng nhiều cách. Như Đôn và Kim thì bị lấy cớ “25 năm ở trong quân đội” phải “hưu”. Dương Văn Minh “công du” biệt tăm, về Bangkok thì chặn lại, mãi đến 1970 mới hồi hương. Nguyễn Khánh thì khỏi nói – làm “đại sứ lưu động suốt đời”… Thế là thoáng. Nhóm “tướng trẻ” do Kỳ và Thiệu đứng đầu giờ đây nắm quyền, cả chính trị lẫn quân sự. Không còn ai đối thủ, Kỳ và Thiệu đối mặt nhau, tranh ghế tổng thống.

Như nói trên, 48 tướng lĩnh thuộc hội đồng quân lực Sài Gòn họp nhằm giải quyết hai vụ ông Kỳ và Thiệu đều là người của quân đội lại đứng ra lập 2 liên danh riêng để tranh phiếu coi không được. Binh lính sẽ ủng hộ ai? Lối thoát vạch ra là yêu cầu ông Thiệu rút lui khỏi quân đội và sau đó ra ứng cử với tư cách dân thường.

Nhưng ông Thiệu nêu “hai không”:

–         Thứ nhất, không rút khỏi quân đội, vì nếu rút khỏi đó ông sẽ mất phiếu!

–         Thứ hai? (nói sau).

Bàn đi cãi lại mãi không ngã ngũ, 40 tướng lĩnh nhường quyền quyết định cuối cùng cho hội nghị cấp cao nhất của họ và rút ra khỏi phòng họp chờ đợi. Thiệu và Kỳ cũng vậy, cùng ngồi ngoài hành lang xem 7 thành viên ủy ban lãnh đạo quốc gia sẽ công bố gì. Kết quả, ủy ban gạt những bất đồng để cùng đòi hỏi ông Thiệu giải ngũ trước, ra ứng cử sau. Thiệu sừng sộ:

–         Quý vị không thể buộc tôi rút lui khỏi quân đội.

Dường như tới đó ông Thiệu làm lung lay lòng kiên nhẫn của ông Kỳ khi ông ta lặp đi lặp lại cái “không rút lui” đó. Nghệ sĩ tính nơi Kỳ nổi dậy vừa đủ để thấy “một nỗi chua chát dâng lên” và sau đó buông một câu trong hồi ký:

Thật là hèn hạ hết chỗ nói!

Đoạn tiếp theo là “tự bạch” thời xâu xé vất vả:

Trước đây tôi đã thực sự không ưa thích gì hoạt động chính trị dầu cho tôi từng giữ chức thủ tướng. Nhưng tôi phải trải qua nhiều tháng với sự thách thức để giành lấy quyền hành tối cao, với những tranh chấp về chức vụ hoặc địa vị và bỗng nhiên tôi cảm thấy ghê tởm và mệt mỏi”. Rồi bằng sự buông bỏ tự tâm, ông Kỳ khiến hội đồng quân lực trố mắt bởi tuyên bố:

Nếu ông Thiệu muốn là ứng cử viên của quân đội thì hãy để ông ta làm một mình. Tôi sẽ quay về với nhiệm vụ trước đây của tôi trong không quân.

Bầu khí lúc đó được ghi nhận là “yên lặng đầy kinh ngạc”, trước sự hy sinh của Kỳ. Không đợi lâu, tướng Hoàng Xuân Lãm (được Kỳ giao chức tư lệnh vùng I sau xáo trộn miền Trung) la lớn lên:

Vì ông đã hy sinh để giúp củng cố tình đoàn kết trong quân đội, vậy thì tại sao ông không thể hiện sự hy sinh ấy tới cùng!

Lý do Kỳ phải “hy sinh” là ông Thiệu ứng cử một mình chưa chắc thắng nổi các đối thủ dân sự. Vậy nên ông cần đứng chung liên danh với Thiệu. Lúc đầu, nói như Trần Văn Đôn “phiên họp tiền hội nghị quyết định ông Kỳ là ứng cử viên tổng thống và ông Thiệu ứng cử viên phó tổng thống”. Tới đó Thiệu lòi ra cái “không” thứ hai:

– Không làm “phó” cho Kỳ!

Tiếp tục hục hặc. Mỹ nhảy vào làm “trọng tài”…bênh Thiệu: “Tối đó, Mỹ đi tìm một số tướng lãnh để bàn thảo, thuyết phục các tướng rằng Nguyễn Cao Kỳ bồng bột, bốc đồng v.v…” Bảo các tướng hãy để Thiệu đứng tên ứng cử viên tổng thống. Kỳ làm phó. Sáng ra, hội đồng quân lực chung quyết. Rốt cuộc, sau nhiều ngày lao tâm, Kỳ “hy sinh” hết điều này đến điều nọ, để cuối cùng chịu làm “ứng cử viên phó tổng thống đứng dưới ông Thiệu”.

Tạo màu sắc dân chủ, Tòa đại sứ Mỹ khuyến khích hình thành một số liên danh tranh cử với Thiệu – Kỳ như các liên danh của: Phan Khắc Sửu – Phan Quang Đán, Trần Văn Hương, Mai Thọ Truyền, Hà Thúc Ký – Nguyễn Văn Dinh, Nguyễn Hòa Hiệp – Nguyễn Thế Truyền, Vũ Hồng Khanh – Nguyễn Văn Đang, Hoàng Cơ Bình – Lưu Quang Khình, Nguyễn Đình Quát – Lê Ngọc Chấn, Phạm Huy Cơ – Lý Quốc Sỉnh, Trần Văn Lý – Nguyễn Văn Đương, và có cả liên danh đối lập của Trương Đình Dzu. Như thế, Mỹ trở thành “người cầm lái” cho cuộc chạy đua vào dinh Độc Lập, Ở nước rút, Kỳ thừa hiểu khi đứng vai ứng cử viên “phó”, vai trò “toàn quyền” của mình ở vị thế thủ tướng trong hai năm 1965 – 1967 sẽ chuyển sang tay Thiệu (với vị thế tổng thống). Điều đó được quyết định từ sân sau của tòa đại sứ Mỹ.

Để chia sẻ quyền hành, không thả hết cho Thiệu, các tướng mưu lập một hội đồng giám sát hành pháp. Hai tướng Nguyễn Đức Thắng và Linh Quang Viên soạn nội quy với sự chấp nhận của Thiệu: “Sau này dầu là Tổng thống nhưng Nguyễn Văn Thiệu lại là hội viên của Hội đồng tướng lãnh (quân ủy hội) nên phải chịu sự giám sát của Nguyễn Cao Kỳ”!

Liệu “một tổ chức bí mật, ngoài quy định hiến pháp” kiểu như vậy được Mỹ để cho thành cơm, thành cháo không? Nội tình chính trường Sài Gòn đang loay hoay quanh dinh Độc Lập thì ngoài kia, xa hút phía ngoại ô, những cơn sấm sét sắp về theo ngọn đông phong 1967.

26 – Những dấu hiệu “Không bình thường” trước Tết Mậu Thân 1968

Trước ngày “hy sinh”tuột xuống vị trí ứng cử viên phó tổng thống để Thiệu nổi lên, Nguyễn Cao Kỳ đã tìm gặp Trần Văn Đôn và dịu giọng:

– Tôi tiếc rằng hiến pháp không cho anh ứng cử tổng thống hoặc phó tổng thống. Nếu không tôi đã mời anh ra phó tổng thống với tôi. Tôi cần một phó tổng thống người miền Nam.

Hiến pháp mà ông Kỳ nhắc trên soạn thảo xong cuối năm 1966 theo đòi hỏi nóng bỏng của cuộc tranh đấu ngoài Trung. Khác hiến pháp dưới thời Ngô Đình Diệm cho phép người “có quốc tịch Việt Nam liên tục ít nhất 10 năm” quyền ghi danh ứng cử tổng thống, phó tổng thống.
Hiến pháp “đệ nhị cộng hòa” soạn thảo thời Thiệu – Kỳ nắm quyền bắt buộc “có quốc tịch Việt Nam từ lúc mới sinh” nên Andre Trần Văn Đôn (sinh 1917 tại Pháp) bị loại. Tuy vậy, ông có quyền ứng cử quốc hội nên đã cùng Tôn Thất Đính và 8 người khác đứng chung một liên danh và đắc cử vào Thượng viện Sài Gòn qua cuộc bầu cử tổ chức trước đó, tháng 5.1967. Nay, tuy không ra tranh cử tổng thống, phó tổng thống được, nhưng ông Đôn đã có ghế nghị sĩ, nghĩ “đúng lúc phải ngồi lại với nhau” nên giới thiệu với Kỳ luật sư Nguyễn Văn Lộc thay mình. Kỳ đồng ý.

Khi ráp với Thiệu, Kỳ nêu yêu sách sau trúng cử sẽ để Nguyễn Văn Lộc làm thủ tướng. Ông Thiệu chấp thuận. Và giữa tháng 11.1967, ông Lộc trình diện nội các với các tổng trưởng: bác sĩ Trần Văn Đỗ (ngoại giao), trung tướng Nguyễn Văn Vỹ (quốc phòng), trung tướng Linh Quang Viên (nội vụ), trung tướng Nguyễn Đức Thắng (xây dựng nông thôn), ông Trương Thái Tôn (kinh tế), ông Lưu Văn Tính (tài chính), giáo sư Tăng Kim Đồng (văn hóa giáo dục), giáo sư Phó Bá Long (lao động), bác sĩ Trần Lữ Y (y tế), ông Bửu Đôn (công chánh), ông Huỳnh Đức Bửu (tư pháp), ông Paul Nur (phát triển sắc tộc), ông Tôn Thất Trình (canh nông, điền địa), bác sĩ Nguyễn Phúc Quế (xã hội và tỵ nạn), ông Lương Thái Siêu (giao thông vận tải) và hai tổng trưởng phụ trách các lĩnh vực khác. Thứ trưởng có ông Phạm Đăng Lâm (ngoại giao), ông Trần Lưu Cung (giáo dục; đặc trách đại học và chuyên ngành), giáo sư Lê Trọng Vinh (giáo dục; đặc trách đệ nhất, đệ nhị cấp và phổ thông), luật sư Hồ Thới Sang (giáo dục; đặc trách thanh niên học đường), giáo sư Bùi Xuân Bào (văn hóa), ông Nguyễn Chánh Lý (thương mại), ông Võ Văn Nhung (công kỹ nghệ). Giáo sư Nguyễn Văn Tường và ông Đoàn Bá Cang giữ chức bộ trưởng phủ thủ tướng.

Nhìn vào danh sách trên, chính giới Sài Gòn thời ấy nhận xét nội các Nguyễn Văn Lộc bớt “mùi thuốc súng” hẳn so với nội các chiến tranh của Nguyễn Cao Kỳ. Song cơ cấu nặng “tính chất chuyên viên” đó tự thân đã chuyển động chậm, lại bị lực cản từ phía Thiệu đón đầu, nên chẳng nhích được tý nào trên đường hành pháp. Ngay từ thai nghén, Thiệu chẳng mặn mà gì, vì là nội các do người của Kỳ đưa ra (thủ tướng Lộc). Nhân cuộc tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968 của “đối phương”, Thiệu mượn đà hất ngã luôn “phe mình”, đưa tướng Trần Thiện Khiêm thay Nguyễn Văn Lộc làm thủ tướng và lập nội các mới. Tướng tá cánh Kỳ bị bắn tan hàng.

Thế cô lực kém, Kỳ không làm sao bắt Thiệu tuân theo “tổ chức bí mật” gọi là Hội đồng tướng lãnh (Quân ủy hội) do Kỳ làm chủ tịch được. Ngược lại, Thiệu sổ toẹt hội đồng ma đó, xóa lời hứa “chịu sự giám sát” trước kia, một mình tự tung tự tác. Nhiều lần “chủ tịch” Kỳ nhắc nhở, mời họp, Thiệu giả điếc không nghe. Kỳ đành đưa cái hội đồng lãng mạn đó vào…hồi ký, trách: “Ông Thiệu mánh khóe xảo quyệt giành lấy thêm nhiều quyền hành cho ông ta”. Kỳ, với danh hờ “phó tổng thống”, bị hất đứng bên lề từ đó. Thiệu lên.

Việc chính quyền Thiệu gây “ấn tượng mới” là hủy bỏ lệnh cấm đốt pháo vào những ngày đầu xuân 1968. Mấy năm trước cấm hẳn. Thiệu vui, nhưng Mỹ rất lo, Westmoreland kiểm lại các diễn biến quân sự đáng để ý vào cuối năm: “Mùa thu đã trôi qua, ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy (Việt cộng) đang hình thành thế thay đổi chiến thuật nào đó, mà thay đổi lớn! Điều này đã được thể hiện ở Lộc Ninh trong tháng 10 và ở Dakto trong tháng 11.1967 với tính chất khác thường. Số lượng các trận tấn công ở mức trung bình nhưng tăng đều khắp cả nước (…). Lực lượng đối phương ở khu phi quân sự tăng lên. Số xe vận tải phát hiện được dọc đường Hồ Chí Minh tăng lên khoảng 200%!”.

Một dấu hỏi lớn màu đỏ được chấm đằng sau con số kia. Câu trả lời phỏng đoán của Westmoreland là việt cộng đang nỗ lực chuyển quân nhằm “đánh tràn vào”. Nhưng đánh ở đâu? Và khi nào?

CIA ở Sài Gòn cố thu lượm và tập hợp các bằng chứng để củng cố thêm “về một chiến lược đánh tới”, đánh quyết liệt của “đối phương” sắp đến. Nhưng tướng Võ Nguyên Giáp từ Hà Nội tuyên bố tiến hành cuộc chiến tranh kéo dài và kêu gọi bảo toàn lực lượng. So với thực tế chiến trường, lời nói tướng Giáp đăng trên báo tháng 9.1967 khác xa. Vì qua tháng 11.1967,  lữ đoàn dù bắt được tài liệu “nêu lên những nét lớn cho đợt tiến công quy mô” và rằng “Bộ chỉ huy miền Trung (của Việt cộng) kết luận là đúng lúc phải có một cuộc cách mạng (do các lực lượng quần chúng) trực tiếp hành động và đến thời cơ tổng tấn công, nổi dậy”. Phải chăng lời kêu gọi “bảo toàn lực lượng” của tướng Giáp chỉ nhằm đánh lạc hướng đối thủ? Westmoreland viết: “Sau những trận đánh mùa thu, tôi kết luận rằng (lời tướng Giáp) là một cách ngụy trang, một lối tỏ vẻ như thất vọng có tính toán”.

Với những nhận định trên, Westmoreland về Washington tháng 11.1967 để gặp tổng thống Mỹ. Người phụ tá ở Sài Gòn là tướng Abrams đã điện cho Westmoreland tài liệu bắt được gần Dakto kêu gọi “có một nỗ lực tấn công tập trung phối hợp với các đơn vị khác ở khắp chiến trường miền Nam Việt Nam!”. Westmoreland đem tài liệu đó thảo luận ngay với Lầu Năm Góc. Tuy có bàn tới, nhưng cuộc tổng tiến công vẫn bất ngờ, hết sức bất ngờ đối với Westmoreland vào Tết Mậu Thân nhằm ngày 31.1.1968. Trước đó nửa tháng, Westmoreland lúng túng:

“Như tôi đã báo cáo trước Hội đồng phái bộ Mỹ ngày 15.1.1968, tôi thấy khả năng là 60 đến 40% đối phương sẽ đánh trước Tết, có thể vào ngày 25.1. Ngược lại, tướng Davidson, sĩ quan tình báo của tôi, lại thấy khả năng là 40 đến 60% đối phương sẽ vận động, chuẩn bị trong thời gian ngưng bắn và sẽ đánh sau Tết”.

Nhưng cuộc tổng tiến công nổ ra không phải “trước” hoặc “sau” mà đúng vào ngày Tết! Westmoreland và Davidson đều đoán sai! Trong lúc các tướng chỉ huy cao cấp nhất của Mỹ ở Việt Nam đang điên đầu vì các dự đoán, thì ông Thiệu sắm sửa chuẩn bị về quê vợ tại Mỹ Tho ăn Tết và ông Kỳ trầm trồ về “dinh tổng thống Việt Nam rộng lớn không kém gì Nhà Trắng ở Washington!”.

27 – Vụ đánh bom Dinh Độc Lập năm 1962 và tướng Kỳ “hạ cánh không an toàn“

Bà Trần Lệ Xuân tại hiện trường vụ ném bom Dinh Độc lập năm 1962

Bà Trần Lệ Xuân tại hiện trường vụ ném bom Dinh Độc lập năm 1962

Cuối năm 1967, với “33 phần trăm số phiếu bầu” liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ dẫn đầu cuộc chạy đua “có người lái” vào dinh Độc Lập.

Một lần nữa, dinh Độc Lập thành nơi tập trung quyền lực cao nhất của nhà cầm quyền Sài Gòn với danh xưng mới: nền “đệ nhị cộng hòa”. Nơi đó diễn ra những cuộc họp tối quan trọng do Tổng thống Thiệu triệu tập. 
Ai ngờ những dự án quốc gia, những tin tức chiến lược đem ra bàn bạc tại đó được nhanh chóng thu thập, phúc trình về Hà Nội bởi cụm tình báo A.22 và bởi “cố vấn Tổng thống Thiệu”: tướng Vũ Ngọc Nhạ cài ngay trong dinh.

Phía Mỹ thì tìm cách “nghe trộm”. Phương pháp của họ dựa vào kỹ thuật “cách không truyền âm” như Trần Văn Đôn kể qua hồi ký Việt Nam nhân chứng. Theo đó, vào những ngày quân đội Sài Gòn bắt đầu rơi vào tình trạng hoảng loạn trước cuộc tiến công xóa sổ của quân giải phóng, ông Đôn được phái ra nước ngoài thăm các nước phi liên kết, điện đàm với Thủ tướng Pháp Chirac và gặp đại sư Mỹ ở Hồng Kông là Robert “tham khảo” tình hình và giải pháp cho Sài Gòn.

Về đến Tân Sơn Nhất ngày 5.4.1975, ông Đôn đi thẳng tới dinh Độc Lập gặp ông Thiệu trình bày những điều mà 2 ông Chirac và Robert tán đồng. Không ngờ văn phòng CIA tại Singapore “nghe rõ ràng tiếng tôi (Trần Văn Đôn) và ông Thiệu nói chuyện với nhau”. Ông Đôn biết điều đó nhờ một người bạn tên T.P.L tiết lộ sau ngày 30.4.1975 tại Mỹ.
Ông L. bảo trưa đó (5.4) ông có mặt tại văn phòng CIA ở Singapore (để liên lạc với CIA ở Sài Gòn sắp xếp cho gia đình rời Việt Nam) nên tình cờ nghe được những mẩu đối thoại truyền về từ Sài Gòn. Ông Đôn viết: “Thì ra lúc dinh Độc Lập được sửa lại sau vụ ném bom năm 1962, trong mấy năm trời xây cất (đến năm 1965 hoàn tất), Mỹ đã đặt máy ghi âm để nghe tất cả những gì xảy ra trong dinh”. 
Vụ ném bom năm 1962 (thời Ngô Đình Diệm) mà ông Đôn nhắc tới đã phá hủy bên trên nơi làm việc của ông Ngô Đình Nhu nằm phía trái dinh Độc Lập. Đó cũng là sự kiện được nhắc đến trong nhiều hồi ký Đỗ Mậu viết:

“Sáng ngày 27.2.1962, khoảng 7 giờ, tôi đang chuẩn bị đến văn phòng thì bỗng nghe tiếng nổ dữ dội, rồi một vùng khói đen nghịt cuồn cuộn từ phía dinh Độc Lập tỏa lên cao, trong lúc trên bầu trời quận một và quận nhì thành phố, 2 chiếc chiến đấu cơ đang bay lượn theo đội hình tác chiến. Không cần phải kiểm chứng tôi cũng biết được dinh Độc Lập đã bị ném bom…”.

Khi Đỗ Mậu đến dinh thấy cửa ngoài đóng kín, xung quanh quân phòng vệ phủ tổng thống bố trí sẵn sàng chiến đấu. Ông Nhu không hề gì dù mục tiêu cuộc bỏ bom nhằm vào ông. Bà Nhu bị xây xát nhẹ ở mặt vì bị gạch vỡ văng trúng. Người nhà ông Diệm chạy vào trú tại căn phòng xây vững chắc nhất nằm dưới cầu thang đại sảnh “mọi người im thin thít, mặt xanh như tàu lá chuối”.
Ông Diệm, gia đình ông Nhu và cả giám mục Ngô Đình Thục cũng có mặt tại đó. Đỗ Mậu (và Nguyễn Khánh) chào và quay ra, lát sau nhận tin: “Hải quân đã bắn hạ một chiếc phóng pháo cơ của không quân (vừa tấn công dinh Độc Lập) trên sông Nhà Bè, cách công xưởng hải quân chỉ độ một cây số và đã biết được viên phi công là trung úy Phạm Phú Quốc, còn chiếc máy bay thứ hai thì đã mất dạng”.

Vài giờ sau, “ông Diệm ra lệnh dời phủ tổng thống về dinh Gia Long tức khắc” và gọi ông Mậu đi theo. Ông Diệm ngồi sững sờ đến năm phút mới hỏi:

– “Mậu có biết thằng Quốc không?”

– “Thưa cụ, nếu nói là Phạm Phú Quốc thì y là người Quảng Nam thuộc dòng dõi cụ Phạm Phú Thứ”.

Ông Diệm chau mày, Đỗ Mậu quan sát nơi bom thả, đoán hai phi công bỏ bom dinh Độc Lập chỉ muốn giết vợ chồng Ngô Đình Nhu chứ không có ý sát hại ông Diệm nên tìm cách nói xa gần nhận định trên để ông Diệm nghe… Rời dinh Gia Long, ông Mậu về Nha An ninh quân đội. Tại đó, Cục An ninh hải quân bắt trung úy Nguyễn Văn Đính (anh ruột của trung úy phi công Nguyễn Văn Cử. Cử trực tiếp ném bom dinh Độc Lập và đã bay thoát qua Campuchia) giải về điều tra, khai thác nguyên do, đầu mối “tạo loạn” và đánh cả hai người “mặt mày thâm tím, sưng vù trông rất đáng thương”.

Đỗ Mậu viết: “Tôi ra lệnh ngừng ngay cuộc hỏi cung và cho dẫn Quốc, Đính về phòng giam tạm của nha. Ba hôm sau, bà mẹ của Phạm Phú Quốc từ Đà Nẵng vào xin gặp tôi để được phép thăm con” và “chính tôi đích thân dẫn bà cụ vào phòng giam thăm Quốc”.

Bà cụ bình tĩnh giữ gương mặt cười thản nhiên và hỏi con:

-Vì sao mặt con sưng lên như thế?

Quốc trả lời:

-Thưa mẹ, khi máy bay rớt xuống nước, mặt con đụng vào thân phi cơ.

Chứng kiến, nghe và viết lại những cảnh, những lời đó, Giám đốc Nha An ninh quân đội Đỗ Mậu biết rằng “nét mặt bình tĩnh và nụ cười trên môi bà cụ chỉ là thái độ gượng gạo bên ngoài để che giấu lòng dạ đang héo hon của bà. Cũng như việc Quốc không nói lên sự thật đã bị tra tấn cũng chỉ là lời che giấu để mẹ được yên tâm. Tôi khâm phục mẹ Quốc (…). Tôi liền thưa với bà cụ:

-Thưa bác, anh Quốc muốn giấu bác đó, chính nhân viên điều tra của tôi đã tra khảo anh ta đến nỗi mang thương tích nặng nề. Tôi xin lỗi bác…

Bà Thiệu lập vườn hoa tren nóc dinh Tổng thống để… chống Nguyễn Cao Kỳ 

Khi Phạm Phú Quốc bị bắt, chiếc máy bay thứ hai cùng đánh bom dinh Độc Lập hôm đó do phi công Nguyễn Văn Cử lái cũng trúng đạn phòng không. Nhưng may mắn nhẹ hơn và Cử cố lái bay thoát về hướng biên giới, vào vùng trời Campuchia. Ngày đó, Nguyễn Chánh Thi cũng đang tị nạn chính trị vì đảo chính hụt chế độ Diệm và tá túc trong căn nhà thuê gần sân bay Po Cheng Tong kể lại:

“Hôm 27.2.1962, ông Thi đi xuống phố thăm dò những tin tức thử xem Sài Gòn có biến động gì không. Và khi “đi vừa gần sân bay Po Cheng Tong thì chợt thấy một chiếc máy bay khu trục có cờ Việt Nam đang sửa soạn hạ cánh. Chiếc máy bay bị trúng nhiều đạn, tỏa ra một loạt khói đen ngắt trông thật dễ sợ. Sau đó được biết thêm viên phi công là Nguyễn Văn Cử ném bom vào dinh Độc Lập và bay sang Cao Miên xin tị nạn. Ngày hôm sau tôi đến công an Miên xin phép được vào thăm Cử, đem theo một vài thứ cần dùng cho anh ta. Nguyễn Văn Cử người (tầm vóc) trung bình, rất là bình tĩnh, không một chút dao động, Anh đưa ý kiến muốn được như ý, ra ngoài cùng Nguyễn Chánh Thi, thường thường “đi ăn tại những cái quán nhỏ xíu, chúng tôi vừa ăn uống vừa bàn chuyện phiếm, trào lộng, thậm chí có lúc tiền túi sạch bách mà vẫn tui nhộn vô cùng”!

Căn cứ vào các tài liệu và lời kể của người đương thời, Trần Văn Đôn viết là khi đến Campuchia máy bay Nguyễn Văn Cử bị trúng đạn hỏng hóc nhiều “chỉ còn sử dụng được một bánh xe, mất thăng bằng” nên chao đảo, rất khó hạ cánh. Ông Cử phải “bay vòng cho hết xăng” và với “sự khéo léo tuyệt cùng” đưa chiếc máy bay tật nguyền đáp xuống an toàn trong tiếng vỗ tay của nhiều người Mỹ có mặt trên sân bay Po Cheng Tong.

Vụ ném bom nằm trong kế hoạc đảo chính bất khả thi do cụ Nguyễn Văn Lực, thân phụ phi công Nguyễn Văn Cử, chủ trương. Ông Đôn viết: “Vụ ném bom làm cho một người giúp việc của bà Nhu chết (…). Vài tháng sau phủ tổng thống gửi thông tư đến các nơi đề nghị yểm trợ xây cất lại dinh Độc Lập. Lần xây cất này trang bị tối tân, quy mô hơn dinh cũ nhưng cũng chính vì chuyện này mà Mỹ (…) cho người len lỏi vào đám chuyên viên để đặt đường dây truyền tin” khiến văn phòng CIA ở Sài Gòn, rồi Singapore, nghe hết những báo cáo tối mật bằng miệng cho Tổng thống Thiệu tại dinh Độc Lập suốt thời gian cầm quyền”.

Bên trong dinh là vậy. Nóc dinh cũng đụng chuyện, lần này dính đến… bà Thiệu. Khi ông Thiệu làm tổng thống, ông Kỳ phó tổng thống, cả hai được quyền ở trong dinh. Riêng ông Kỳ tiếp tục ở lại nhà cũ nằm trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Vợ ông, bà Tuyết Mai, nhất định không chịu rời mái nhà xưa. Bà bảo đó là tổ ấm bén hơi từ khi hai người lấy nhau, chẳng cần dời đi đâu.

Hằng ngày “tôi đi làm và trở về căn cứ không quân bằng máy bay lên thẳng thuộc quyền sử dụng của tôi”. Ông Kỳ kể tiếp, thời gian đầu mỗi sáng ông lái máy bay đáp xuống một bệ sân bay trực thăng được thiết lập trên mái nhà của dinh tổng thống và“không hề hay biết là sân bay nằm ngay bên trên phòng ngủ của Tổng thống Thiệu ở tầng thứ tư”. Ông Thiệu hay dậy muộn, rất khó chịu vì bị đánh thức bởi tiếng máy bay trực thăng đáp xuống vào mỗi sớm. Nhưng, Kỳ bảo “Thiệu không tự nêu lên vấn đề”,mà đi mượn bà vợ Nguyễn Thị Mai Anh của ông nói ra. Bà Mai Anh “nói với tôi (Kỳ) theo một kiểu nói quanh co, bà ta nói rằng bà ta đang thực hiện một vườn bông trên mái nhà để bà có thể lên hóng gió mát vào những đêm nóng nực”. Xong, bà tiếp một cách buồn rầu:

– Tôi e sợ sẽ khó mà thực hiện được. Luồng gió cuồn cuộn quá sức mạnh mỗi khi chiếc trực thăng của ông đáp trên mái sẽ quạt hư hết các cây cỏ tôi trồng!

Ông Kỳ: ?!!!!

28: Nguyễn Cao Kỳ và Trần Văn Đôn thuật lại cuộc tấn công mùa xuân 1968

Lính thủy đánh bộ Mỹ bị tấn công trong dịp Tết mậu thân 1968

Lính thủy đánh bộ Mỹ bị tấn công trong dịp Tết mậu thân 1968

Bà Mai Anh ( vợ ông Thiệu) nói bóng gió về sự bất tiện của việc máy bay Kỳ làm ồn cái “vườn địa đàng” của bà mỗi sớm. Vì nó đáp ngay trên mái phòng ngủ Tổng thống Thiệu tại tầng 4 dinh Độc Lập. Rồi ra cánh quạt không kiêng nể gì của nó sẽ khiến vườn hoa non nớt mà bà sắp trồng trên đó phải tả tơi vì gió!

Nghe chuyện, Kỳ làm thinh, hiểu chuyện và mấy bữa sau thôi không hạ cánh trên bệ trực thăng ở nóc dinh nữa. Ông đáp xuống bãi cỏ dưới đất, phía đại sảnh nhìn ra. Kỳ gọi “đây là trường hợp điển hình của Thiệu; dù cho tiếng ồn ào đã làm cho ông ấy thức giấc, ông đã không tự mình nêu lên” mà đùn vợ ra nói! Với Kỳ, từ “chuyện nhỏ” đó tới “chuyện lớn” ông Thiệu luôn là người đưa đẩy công việc khó khăn cho kẻ khác, bo bo lo lấy thân mình, như hồi 26.4.1975 đã chạy trước khỏi Sài Gòn và chấm dứt 9 năm cầm quyền ở dinh Độc Lập.
Dinh Độc Lập (Hội trường Thống Nhất ngày nay) từng bị tiến công bất ngờ lúc 1 giờ khuya mồng một rạng ngày mồng hai Tết Mậu Thân 1968. Cụm biệt động thành thuộc đơn vị F.100 bí mật di chuyển từ hướng khu vực đường Trần Quý Cáp (tức đường Võ Văn Tần, quận 3 hiện nay) về phía trung tâm trong đêm tối.
Đúng giờ nói trên, họ đột ngột xuất hiện trước cổng dinh Độc Lập phía trổ ra đường Nguyễn Du và nổ súng, bắn hạ ngay toán lính gác. Lực lượng phòng vệ phủ tổng thống sau phút đầu hoảng hốt, quay ra đánh trả. Hai bên giao tranh quyết liệt suốt đêm. Qua sáng mồng hai, quân Sài Gòn tăng cường từ các ngả vây đánh, có xe tăng yểm trợ. Hỏa lực từ trong dinh bủa ra càng mạnh. Thấy tình thế bất lợi, cụm biệt động rút vào các dãy lầu, cố thủ trên tầng cao nhà 56 đường Thủ Khoa Huân, tiếp tục chiến đấu đến khuya mồng hai Tết. Bắn hết đạn, 8 người hy sinh, đội biệt động còn lại 7 người, chuyền qua các mái nhà lân cận về khu chợ Bến Thành, nhưng họ bị bắt tại khu vực đường Gia Long cũ …

Khi cuộc tiến công nổ ra, Thiệu đang ở Mỹ Tho. Westmoreland ở Sài Gòn sửng sốt dẫu đoán biết chắc chắn “có cuộc tiến công quan trọng được địch trù tính mở trong dịp Tết”, nhưng một trong những vị tướng tài ba nhất này của nước Mỹ thật sự kinh hoàng trước quy mô toàn miền, khí tiết đương đầu cảm tử trong những trận đánh rung chuyển Sài Gòn để chiếm Tòa đại sứ Mỹ chẳng hạn. Tòa đại sứ Mỹ bị đánh vỗ mặt khiến dư luận nước Mỹ rúng động, Westmoreland có mặt tại chỗ sau khi trận đánh kết thúc và lính nhảy dù Mỹ được tung xuống nóc nhà đại sứ, đã kể lại trong hồi ký:

“Các nhà báo và các nhà quay phim vô tuyến truyền hình Mỹ hình như có mặt khắp mọi nơi. Nét mặt họ ánh lên nỗi buồn bực và tâm trạng không tin tưởng như thể giờ tận cùng của thế giới đã đến nơi rồi”.

Vào thời điểm đó, Westmoreland muốn che giấu tâm trạng đang có, thậm chí “nói trái ngược với tin đồn: không một Việt Cộng nào vào được trong sứ quán (!). Sứ quán chỉ hư hại nhẹ (!!)”. Những lời đó thật vô ích, bị dư luận công kích, như Don Oberdorfer báo Washington Post viết: “Cuộc tấn công vào sứ quán hình như đã bác bỏ những lời dự đoán có tình chất tô hồng và những lời khoe khoang thắng lợi mà Westmoreland và những người khác đã tung ra”.
Oberdorfer nói các nhà báo khó mà tin ở lỗ tai mình nữa. Westmoreland đã phải đứng trước cảnh đổ nát và nói mọi việc đao to búa lớn! Chính Westmoreland đưa nhận xét đó của Oberdorfer  vào hồi ký của mình sau này: “Thái độ của nhà báo Mỹ chắc chắn đã góp phần vào thắng lợi tâm lý mà địch đã giành được ở Mỹ”.
Không chỉ Tòa đại sứ Mỹ và Dinh Độc Lập, hai cơ quan đầu não của Mỹ nhà nhà cầm quyền Sài Gòn, mà còn 7 mục tiêu nữa tại nội thành được Bộ Chỉ huy Miền chỉ thị đánh chiếm, hoặc làm tê liệt một thời gian, chờ lực lượng mũi nhọn bên ngoài vào tiếp ứng.
Tất cả gồm 9 mục tiêu: 1/ Dinh Độc Lập, 2/ Đài Phát thanh, 3/ Bộ tổng tham mưu Sài Gòn, 4/ Đại sứ quán Mỹ, 5/ Sân bay Tân Sơn Nhất, 6/ Tổng nha Cảnh sát, 7/ Biệt khu thủ đô, 8/ Bộ tư lệnh Hải quân, 9/ Khám Chí Hòa. Các đội biệt động đồng loạt ra quân theo giờ quy định. Súng nổ khắp nơi, Nguyễn Cao Kỳ viết: “Khi đó ông Thiệu không có mặt ở Sài Gòn và với tư cách là phó tổng thống, tôi đã lãnh trách nhiệm đối phó với cuộc tấn công này. Vào 4 giờ sáng, chỉ huy trưởng căn cứ không quân đã báo cho tôi biết như sau: Bộ đội Cộng sản hiện đang có mặt ngay cả bên trong căn cứ. Tôi không nghĩ rằng tôi có thể ngăn chặn họ lâu hơn nữa; phó tổng thống và gia đình nên rời khỏi nơi đây”.

Kỳ lại càng luýnh quýnh hơn khi được báo: “Cộng quân đã nổ súng vào cổng Phi Long của Bộ tổng tham mưu từ lúc 2 giờ khuya” (31.1.1968). Theo tài liệu của ban nghiên cứu lịch sử Đảng TP. Hồ Chí Minh, 2 cánh quân biệt động thành đánh vào Bộ Tổng tham mưu do Ba Phong, Ba Tâm và Đức chỉ huy, gồm 27 người thuộc cụm số 679. Cả hai cụm lợi dụng địa hình khu vực đường Trương Quốc Dung, chiến đấu từ khuya mồng Tết tới sáng mồng hai. Không đẩy lùi cụm 679 ra khỏi khu vực nổi, Bộ tham mưu Sài Gòn điều lực lượng thiết giáp và tăng thêm bộ binh đến đánh. Hồi ký Trần Văn Đôn viết:

Mồng một Tết, lính Việt Cộng vào đến Bộ tổng tham mưu mà không ai hay. Ở Tổng tham mưu, cổng chính trước  là nơi dành cho sĩ quan ra vô. Việt Cộng đã tìm hiểu kỹ nên cho một toán vào cổng sau hô lớn: Đảo chánh! Đảo Chánh!”. Lính gác ở Tổng tham mưu tưởng thật, để lọt vào trong”.

Lọt vào trong cổng số 4 Bộ tổng tham mưu Sài Gòn lúc 7 giờ 5 phút sáng 1.2.1968 là một mũi tiến quân khác của tiểu đoàn bộ binh số 2 tức tiểu đoàn Gò – Môn (Gò Vấp – Hóc Môn) từ ngoại ô bôn tập ép sát mục tiêu từ 4 giờ sáng hôm đó. Mũi này khống chế ngay khu vực đã chiếm. Tới 9 giờ, Bộ tổng tham mưu Sài Gòn buộc phải tung tiểu đoàn 8 nhảy dù thuộc lực lượng tổng trù bị với thiết giáp xa yểm trợ mở cuộc phản công lấy lại cho được khu cổng số 4 vừa mất. Bộ binh quân giải phóng sử dụng ngay đại liên vừa tịch thu được và tựa vào thế phòng thủ từ các công sự đào sẵn, hất ngược các đợt phản kích trong ngày. Quân dù Sài Gòn không tiến lên nổi. Để chiếm ưu thế tỏa rộng tầm hỏa lực, tiểu đoàn số 2 Gò – Môn chế ngự các cao ốc đường Võ Di Nguy quét co cụm lại và bắn cháy một tăng M41 trên đường. Qua ngày hôm sau, tiểu đoàn 2 chiến đoàn B thủy quân lục chiến bổ sung từ Cai Lậy về tham chiến cũng bị quân giải phóng đánh bật. Lần này, Bộ tổng tham mưu  Sài Gòn tung thêm một tiểu đoàn nhảy dù nữa, tiểu đoàn 6 thuộc lực lượng tổng trù bị vào mặt trận! Westmoreland viết:

Đáng lo ngại về mặt quân sự hơn hết là các cuộc tấn công vào Tân Sơn Nhất, khu Bộ tổng tham mưu cạnh đó …”. Mặc dù trực thăng Mỹ tuôn đạn xối xả khu vực, cuộc tấn công vẫn tiếp tục “ngoài dự kiến” như nhận xét của Westmoreland.

29 – Westmoreland và vành đai phòng thủ Sài Gòn 1968

Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ngay trước khi biết được những gì đã xảy ra, chúng tôi phải chiến đấu cho mạng sống của chúng tôi trên các đường phố Sài Gòn, Huế tại khoảng 12 tỉnh khác”.

Theo cuốn Lịch sử Sài GònChợ LớnGia Định kháng chiến (1945-1975) do Ban Tổng kết chiến tranh Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh chđạo biên soạn (Trần Hải Phụng – Lưu Phương Thanh chủ biên). NXB TP. Hồ Chí Minh 1994, thì: “Giờ G ngày N trên toàn miền được qui định là 00 giờ đến 2 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1968 tức đêm mồng 1 sáng mồng 2 tết theo lịch cũ. Các tư lệnh quân khu, các chỉ huy các cụm biệt động đã được phổ biến 48 giờ trước giờ G. Một việc đáng tiếc là do đổi lịch ở miền Bắc, khu 5 và Tây nguyên nổ súng trước, theo lịch cũ (có nhận được lệnh hoãn nhưng quân đã ém nên xin đánh trước. B2 nhận được lệnh hoãn, nổ súng đúng lịch mới)” (trang 479).
 
Cuốn Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn – Gia Định của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, NXB TP. Hồ Chí Minh 1995, viết: “Do thời gian nổ súng tấn ng trên toàn miền không thông nhất (Khu 5, Tây nguyên tấn công trước)vì lịch ta và lịch Trung Quốc không thống nhất, có khác nhau (chệch đi một ngày). Vì vậy ở Sài Gòn địch tăng cường bố phòng chặt chẽ hơn” (trang31).
 
Từ Sài Gòn, tại Bộ Chỉ huy MACV của Mỹ, tướng Tư lệnh Westmoreland nhận tin cấp báo dồn dập điện về ngay đêm giao thừa. Westmoreland viết:
 
“Lúc 0 giờ 35 phút sáng 30.1.1968, nghĩa là hơn nửa giờ sau khi năm con khỉ (Mậu Thân) bắt đầu, các pháo thủ của Cộng sản đã bắn 6 phát súng cối vào trung tâm huấn luyện hải quân Việt Nam tại Nha Trang (…). Một giờ sau, lúc người ta đang còn dạo lễ Tết trên đường phố Buôn Ma Thut, đốt những tràng pháo dài, thì một loạt súng cối và rốc-kết nã vào thành phố mở màn cuộc tấn công bằng bộ binh. Cũng khoảng thời gian ấy, một tiểu đoàn địch đánh vào quận lỵ Tân Cảnh, kế cận Dakto.
Nửa giờ sau, ba tiểu đoàn Việt Cộng tiến đánh thị xã Kon Tum, trong khi đó một tiểu đoàn khác tấn công thành phố Nha Trang. Chưa đầy một giờ sau đó, một cuộc tấn công trên bộ diễn ra tại Hội An, một thành phố cổ nằm ở phía Nam Đà Nẵng. Ngay tại Đà Nẵng, Việt Cộng với một đại đội bất thần đánh vào doanh trại sở chỉ huy Quân đoàn I của Việt Nam. Đến 4 giờ 10 phút sáng (mồng một Tết), hai tiu đoàn Việt cộng tấn công vùng ngoại ô Qui Nhơn, ở đây nhờ đã có báo động trước đó hai ngày nên viên chhuy địa phương cấm đốt pháo, tuy nhiên quân thâm nhập vẫn nhanh chóng chiếm lĩnh đài phát thanh chính phủ tại địa phương…
Những tin tức chiến sự rối bời như trên liên tục báo về suốt đêm. Rạng sáng 31.1.1968, Westmoreland rã rời trước tin doanh trại cố vấn Bộ Chỉ huy MACV của mình tại Huế bị bao vây và “phần lớn Huế đã nằm trong tay địch, kể cả hầu hết khu vực thành nội! Lá cờ màu xanh và đỏ với ngôi sao vàng của Việt Cộng đã bay trên cột cờ thành Huế!”.
 
Westmoreland viết rằng đây là lần đầu tiên cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên kỳ đài cố đô trong cuộc chiến tranh. Và khắp nơi: “Quân địch đã vào Sài Gòn, Quảng Trị, Đà Nng, Nha Trang, Qui Nhơn, Kon Tum, Buôn Mê Thuột, Đà Lạt, Phan Thiết, Mỹ Tho, Cần Thơ, Bến Tre, … đánh vào 36 thành phố, thị xã của 44 tỉnh lỵ, 64 quận lỵ và 50 ấp…. Đó là cuộc tiến công trên một mặt trận rộng lớn!”.
 
Có thánh mới biết trước đích xác ngày giờ nổ súng ở từng nơi. Riêng “cuộc tấn công mà người ta chờ đợi từ lâu vào Pleiku” theo ghi nhận của Westmoreland trong hồi ký đã diễn ra ngay lúc 4 giờ 40 phút sáng mồng một Tết nhằm 30.1.1968 dương lịch. Khi ấy, tư lệnh cao nguyên không có mặt tại trận địa; mãi sau này nhắc đến giờ phút nguy ngập đó Westmoreland vẫn còn cay cú. Ông viết khi hay tin Pleiku bị tấn công “tướng Vĩnh Lộc từ Sài Gòn vội vã quay về (Pleiku), hình như để lo cho biệt thự của ông hơn là cho trận đánh đang diễn ra”.
 
Không chỉ Vĩnh Lộc, mà với hàng tướng tá Sài Gòn, kể cả Nguyễn Văn Thiệu, Westmoreland tỏ thái độ “kinh ngạc và thất vọng” vì họ có vẻ lo chuyện “ăn Tết” nhiều hơn là quan tâm đến lời cảnh báo. Trong khi ngược lại, thời điểm đó, những sĩ quan tình báo của ông nằm trong Bộ chỉ huy MACV như tướng Davidson luôn trong tâm trạng lo lắng.
 
Khoảng 10 ngày trước Tết, Davidson đã tự ý bỏ cuộc hẹn gặp với vợ, bà Jeanne, tại Hawaii như dự định để dán mắt dán mũi vào các dấu hiệu khả nghi về cuộc lui quân của đối phương quanh Sài Gòn. Gấp tới nỗi Davidson nhờ “ nói hộ cho Jeanne biếttôi không thể gặp bà ta. Nhờ giải thích, trong phạm vi bí mật, là tình hình trực chiến căng thẳng không cho phép tôi đến chỗ hẹn được. Xin cám ơn”.  
 
Vậy mà Thiệu và Cao Văn Viên không để tâm đúng mức đến các tin tình báo về khả năng Sài Gòn là mục tiêu quan trọng nhất của cuộc đại tấn công. Dường như, Bộ tổng tham mưu Sài Gòn quá tin vào ba tuyến vành đai ngăn chặn các lực lượng vũ trang cách mạng thâm nhập nội đô. Theo Ban tổng kết chiến tranh Thành ủy TP.HCM qua cuốn Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến 1945-1975 (do Trần Hải Phụng – Lưu Phương Thanh chủ biên) thì lực lượng bảo vệ Sài Gòn trước Tết Mậu Thân “tương đương 4 sư đoàn Mỹ, 4 sư đoàn ngụy, 8 tiểu đoàn dù và thủy quân lục chiến, 1tiểu đoàn an ninh thủ đô, 20 vạn biệt động quân, bảo an, dân vệ, cảnh sát…tại các tuyến phòng thủ Sài Gòn”.
 
Đó là tuyến bảo vệ vòng ngoài với căn cứ Đồng Dù, cách Sài Gòn 30 km có sư đoàn bộ sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới” Mỹ, thêm lữ 1 và 2 của sư đoàn này; cộng sư đoàn 25 bộ binh Sài Gòn cùng biệt động quân, bảo an. Ở hướng Bắc, sư đoàn 1 bộ binh Mỹ chốt Lai Khê; cạnh đó là sư đoàn 5 bộ binh, mấy chục tiểu đoàn biệt động quân, đại đội bảo an, dân vệ án ngữ; từ Bến Cát qua Ba Ri, Tân Quy đến Lái Thiêu, Tân Uyên. Hướng đó còn có trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ hoạt động ở Bến Cát cách Sài Gòn 50 km. Phía Đông và Đông Bắc có lực lượng quân Nam Triều Tiên chốt ở Dĩ An, lữ đoàn dù Mỹ ở Biên Hòa, quân Úc ở Long Bình, sư đoàn 18 đóng Xuân Lộc… Hướng Nam, hải quân với sự sẵn sàng chi viện của lực lượng tổng trù bị bao gồm sư đoàn thủy quân lục chiến và lữ đoàn dù Sài Gòn. Phía Tiền Giang và Bắc sông Hậu, sư đoàn 9 Mỹ sẵn sàng tiến về Long An bảo vệ phía Nam Sài Gòn.
 
Vào sâu nữa có tuyến phòng thủ bên trong gần lực lượng bảo vệ trị an lãnh thổ của Biệt khu thủ đô, cảnh sát dã chiến và biệt động quân. Phải kể thêm sư đoàn không quân số 7 Mỹ ở Tần Sơn Nhất và lực lượng đồn trú tại các yếu khu quân sự như trại Đống Đa, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Tô Hiến Thành… Các tuyến phòng thủ trên không ngăn chặn được sự thâm nhập của quân giải phóng như Westmoreland nêu trong hồi ký:

Khi thâm nhập, lính của Việt Cộng dùng căn cước giả giống dân thường không thphát hiện được trong đám người đông đúc đi chơi Tết”. Trong lúc đó, biệt động nội thành “mở những cuộc tấn công cảm to các mục tiêu như đài phát thanh, các khu doanh trại, các công sở của chính phủ, (…) hoặc ngôi nhà mới đồ sộ 6 tầng ở đườngThống Nhất – Sài Gòn: sứ quán Mỹ!”.

 Westmoreland viết gì về trận đánh đại sứ quán đó?
 30 – Tướng 4 sao kể lại hồi ức trận đánh Đại sứ quán Mỹ tết Mậu Thân 1968

Westmoreland viết: “Các cuộc tấn công mà chúng tôi đã dự kiến và một số cuộc mà chúng tôi không dự kiến đã xảy ra, kể cả cuộc tấn công của quân đặc công vào sứ quán Mỹ”.

 Nghe súng nổ, một lính Mỹ trực chiến chụp điện thoại phát tín hiệu cấp cứu, bị bắn gục trên bàn. Ngoài đường, một xe tuần tra của quân cảnh Mỹ bắt được tín hiệu đó lúc 3 giờ 5 phút và phóng đến trước mũi súng giương đón. Hai quân cảnh Mỹ vừa xuống xe đã bị bắn gục.
Theo lời Westmoreland, đó là chuyên viên bậc 4 tên E.Mc Bust và thượng sĩ quân cảnh Johnny B. Thomas thuộc “đội tuần tiễu đi xe jeep”. Giờ ấy, Westmoreland kể lại là ông vừa trải qua trọn ngày mồng một Tết bận rộn vì “tôi phải đến gặp hoặc điện thoại cho từng tư lệnh cao cấp của Mỹ ở Việt Nam để thảo luận về khả năng xảy ra các cuộc tấn công rộng khắp trước mắt, rồi về nhà rất muộn và rất mệt mỏi”.
Ông muốn chợp mắt vài giờ nhưng cuộc tấn công bất ngờ vào Đại sứ quán Mỹ đã dựng ông dậy. Sĩ quan phụ tá Charles Sampson đánh thức ông vì cú điện thoại réo gấp về sở chỉ huy: “Tôi mặc quần áo và đứng canhcạnh máy điện thoại nhà. Cuộc tấn công vào sứ quán thật đáng tiếc…”.
Cũng còn hên là đêm đó Đại sứ Bunker không có mặt tại sứ quán – ông đang ở một cơ quan Mỹ trên đường Pasteur. Một số lính Mỹ trong tòa đại sứ bị bắt làm tù binh tại trận. Khi lực lượng tiếp viện thuộc tiểu đoàn 716 quân cảnh Mỹ nổ súng quanh đó, các tù binh này vội chạy lên lầu, bị biệt động Sài Gòn lùa hết vào một phòng, khóa cửa giam lại. Trên bầu trời tòa Đại sứ, trực thăng chở lính Mỹ sư đoàn nhảy dù 101 do tướng Frederic Weyand điều tới trong đêm tối đang quần quanh muốn đổ quân xuống nóc. Nhưng chiếc thứ nhất vừa sà thấp định đáp bị hỏa lực của đội biệt động bắn lên, phải dạt ra.
Trời sáng dần. Tất cả các hướng đường dẫn đến tòa Đại sứ đều bị phong tỏa, bốn mặt bị lính Mỹ bao vây. 7 giờ, cuộc chiến đấu không cân sức tiếp tục diễn ra và một số biệt động đã hy sinh. 7 giờ 20 phút, hãng tin Mỹ AP đưa tin nhanh do ký giả Peter Arnett từ Sài Gòn điện về New York: “Việt Cộng đã chiếm lĩnh bên trong tòa Đại sứ” gây choáng váng cho Lầu Năm Góc và dư luận Mỹ. Sau đó, tờ Tin hàng ngày Washington loan: “Cảnh sát quân sự Mỹ đã phải đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống nóc nhà sứ quán ở Sàỉ Gòn trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích” nhưng lại bị cộng sản chiếm trong hơn 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để buộc chính phủ Johnson dẹp bỏ những nhận định lạc quan của mình…”.
Sau hơn 6 giờ đánh chiếm và bị vây tứ phía, hứng chịu những đợt ném lựu đạn từng chùm từ tầng cao xuống và bị tấn công bởi lực lượng tiếp viện đáp trên nóc tòa Đại sứ bằng trực thăng, tất cả biệt động đội 11 bắn đến viên đạn cuối cùng…. Trừ Ba Đen bị thương nặng và bị bắt, 15 chiến sĩ còn lại đều hy sinh tại chỗ. Westmoreland kể:
“Ngay khi tôi biết quân dù đã đổ vào, tôi lái xe đến sứ quán. Lúc đó là 8 giờ 30 phút sáng. Cũng giống như bất cứ chiến trường nào, khu sứ quán thật là hỗn độn, xác người Mỹ và người Việt Nam vẫn nằm ngổn ngang. Nhưng không giống như hầu hết các chiến trường khác, các nhà báo và các nhà quay phim vô tuyến truyền hình Mỹ dường như có mặt khắp trong ngoài mọi nơi…”.
Sự xuất hiện năng nổ của các nhà báo và các phóng viên chiến trường – trong tòa Đại sứ làm Westmoreland thêm rối ruột, ông cho rằng họ đã bày tỏ “sự cảm phục quá đáng” đối với các cảm tử quân của Việt Cộng qua các bản tin và các bài thời luận:
Họ đã gửi những cuốn phim vô tuyến truyền hình chưa được kiểm tra bằng máy bay tới Tokyo để nhờ vệ tinh chuyển về Mỹtrong khi các sự kiện chưa được khẳng định. Chet Huntley thuộc hãng vô tuyến truyền hình NBC trong mục tin buổi chiều, nói rằng Việt Cộng đã vào bên trong sứ quán, còn quân bảo vệ thì bị đẩy ra ngoài”.
Westmoreland rất bực mình về nội dung tương tự mà báo chí đã đưa; ông viết tiếp:“Liệu lời nói của một quân nhân chịu trách nhiệm toàn bộ về mặt quân sự trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam và đã đích thân đến Đại sứ quán có đáng tin hơn những lời đồnđại không?”. Nhưng đồn đại điều gì?

Một số mẩu tin và bình luận mà Westmoreỉand gọi là “đồn đại” được trích dịch và in sau phần phụ lục cuốn Biệt động Sài Gòn (NXB Trẻ tái bản 1999) của đại tá Nguyên Đức Hùng (Tư Chu) nguyên Phó Tư lệnh – tham mưu trưởng Quân khu Sài Gòn – Gia Định kiêm chỉ huy trưởng lực lượng biệt động Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ. Trong bài này, chúng tôi có sử dụng tư liệu do đại tá Hùng ghi lại về diễn tiến các trận đánh của biệt động Sài Gòn Tết Mậu Thân 1968.

Các trận đánh diễn ra trong lúc một số tư lệnh quân đội và viên chức cao cấp của Sài Gòn vắng mặt, về với gia đình. Hồi ký Trần Văn Đôn kể: “Lúc đó, tôi là thượng nghị sĩ,đang ở ĐàLạt với gia đình và với thượng nghị Tôn Thất Đính. Nhà tôigần vùng ngoại ô vắng vẻ nên tôi đưa gia đình vào Trường Đại học quân sự…Mồng hai Tết ông Thiệu dùng trực thăng về Sài Gòn. Ông Cao Văn Viên về Tổng Tham mưu lo việc phản công, quân sĩ trở lại hàng ngũ”.
Riêng Nguyễn Cao Kỳ thay Thiệu trực chiến đã kêu ca: “Lúc cuộc tổng tấn công Tết vừa mới xảy ra, chúng tôi đã không tài nào tranh thủ được sự giúp đỡ ngay tức thì của phía Hoa Kỳ. Trước kia, bất cứ lúc nào xảy ra một trận đánh phía Hoa Kỳ cũng phản ứng với tốc độ rất nhanh, nhưng trong vụ Tết họ đã có thái độ “chờ xem” rất lạ lùng”.Phía Mỹ, sau trận bị đánh đau vào Đại sứ quán, hãng Reuters vào mồng 4 Tết 2.2.2968 đã bình luận: “Cuộc chiến tranh không thể thắng của Mỹ nay đã bị xem là cuộc chiến tranh có thể thua… ” và báo chí Mỹ mô tả không khí thủ đô Washington ảm đạm. Tổng thống Johnson vừa đau tim, vừa đau đầu, sự sửng sốt vì cuộc tổng tiến công ngày đầu ngấm dần thành nỗi rã rời, tê buốt.

Cuộc chiến vẫn tiếp diễn, ngoài Trung ….

31 – Huế xuân 1968

Lính Mỹ tại mặt trận cố đô Huế 1968

Lính Mỹ tại mặt trận cố đô Huế 1968

Trả lời phỏng vấn của Howard Tuckner thuộc hãng vô tuyến truyền hình ABC nhằm ngày “ông Táo về trời” 23 tháng Chạp, Westmoreland phản đối dữ dội những nhân vật hàng đầu chủ trương ngừng ném bom toàn bộ miền Bắc Việt Nam như hai thượng sĩ Fulbright và Robert Kennedy. Lý do gần nhất mà Westmoreland nêu ra là: “Càng sát ngày Tết, tôi càng lo lắng nhiều hơn trước việc địch tăng cường binh lực ở phía Bắc khu phi quân sự” nằm bên kia sông Bến Hải.

Bên này sông, phía Nam, theo Westmoreland là nơi tiếp nhận sự tăng cường binh lực đổ vào hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị để mở chiến trận mới dịp Tết. Ngay thời điểm có cuộc phỏng vấn trên, Westmoreland nóng lòng điện cho tướng E.Weeler vào 22.1.1968 nói:
“Địch có thể phát động một cuộc tấn công bằng nhiều tiểu đoàn vào Huế và đánh cả thị xã Quảng Trị”, vì vậy “nếu Mỹ ngừng ném bom nói chung thì vẫn phải tiếp tục ném bom ngay xuống phía Bắc khu phi quân sự là nơi đối phương đang tập trung quân” để ngăn chặn… Trước thái độ quyết liệt trên, đại sứ Bunker yêu cầu Washington chấp thuận những đề nghị từ “thực tế chiến trường” của Westmoreland luôn cả việc “hủy bỏ hoàn toàn lệnh ngưng bắn trong dịp Tết tại hai tỉnh phía Bắc là Quảng Trị và Thừa Thiên”.

Washington chuẩn y.

 Như vậy, Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam vẫn đặt hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế trong tình trạng chiến đấu và các cuộc ném bom của Mỹ ở vùng phi quân sự sát liền với hai tỉnh trên vẫn tiếp tục trong những ngày Tết. Nhưng hai biện pháp đó không sứt mẻ gì đến toàn bộ kế hoạch của chiến dịch khu Trị Thiên (mà trọng điểm là thành phố Huế) xuân Mậu Thân 1968 được giữ hoàn toàn bí mật cho đến lúc đó. Kỷ luật bảo mật ngay từ phòng họp, tất cả ghi chép, ghi lời phát biểu phải để lại:
 
–         Không đuợc mang theo một mảnh giấy, chỉ được ghi nhớ bằng bộ óc mà thôi.
Ngay cuộc họp đầu tiên tại Động Chuối, chánh văn phòng Khu ủy Hoàng Phương Thảo thu tất cả sổ tay bỏ vào hòm sắt khóa kỹ, Bí thư Thành ủy Huế bấy giờ là Lê Minh được chỉ định làm chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy chiến dịch toàn khu Trị – Thiên kể:
 
 Để bảo mật, các đơn vị tập dượt các mục tiêu ỏ Huế đều không chọn người địa phương ra, chỉ lấy người quê xa tới để họ không biết là mục tiêu gì, ở đâu; tuyệt nhiên không ai biết được rằng sắp “đánh Huế”. Tuy vậy, dần dần qua bài bản, có thể đoán chừng trong đầu, nhưng vẫn không biết là đánh ai, đánh cụ thể vào đâu, đánh lúc nào.
 
Tình báo Mỹ có thể nghe ngóng động tĩnh, dự đoán có cuộc tấn công, nhưng chi tiết quân sự thì chịu bí. Những tin tức có tính cách “dự báo thời tiết” chung chung lắm khi về đến Washington và biến mất trong núi hồ sơ lưu trữ; như Westmoreland nêu:
 
“Mặc dầu tôi đã báo cáo với Washington ngày 22.1.1968 (10 ngày trước khi cuộc tiến công mở màn) là dự kiến sẽ có nhiều tiểu đoàn Việt Cộng đánh vào Huế. Tôi được biết sau đó, vì lý do gì đấy (?), thông báo này không đến được với nhóm cvấn của MACV đóng ở một doanh trại nhỏ tại Huế”.
 
Trong lúc đó, Bộ chỉ huy chiến dịch với chính ủy Lê Chưởng, Phó tư lệnh Nam Long, tham mưu trưởng Đặng Kính… rà soát lại kế hoạch ra quân. Mặt trận thành phố Huế chia làm hai cánh. Cánh Nam do Thân Trọng Một làm chỉ huy trưởng. Ông Thân Trọng Một là vị chỉ huy nhiều huyền thoại trong trận đánh khách sạn Hương Giang cách đó hơn một năm, có người căng thẳng hỏi “địch dàv đặc như thế đánh được đã khó mà đánh xong lại không có đường rút ra làm thế nào?”. Ông Một bảo:
 
Rút ra à? Như con chí trên đầu, thấy đó còn chưa bắt được, huống chi cả thành phố, làng mạc, đuờng sá như vậy, làm sao bảo không ra được. Đi cả đoàn thì không được, nhưng đi từng người làm sao bắt?
 
Chỉ huy trưởng Lê Minh nhắc chuyện đó, cho biết: “Trung tâm chỉ huy lúc đó chỉ cách Huế 5 km mà địch không hề biết”. Khi mọi việc chuẩn bị hoàn tất, mặt trận xin thêm trung ương chuẩn bị 1 sư đoàn bộ binh, 500 tấn đạn, 1.000 tấn gạo dự bị. Giờ G ấn định lúc 2 giờ 30 ngày 31.1.1968 tức rạng sáng mồng 2 Tết Mậu Thân. Lịch chung cho toàn quân về Huế là ăn Tết ngày 30, sáng mồng 1 Tết: ngủ nhưng không ai ngủ được. Chiều mồng 1 Tết: thông báo chính thức tiến đánh “giải phóng Huế!”. Mọi người vỗ tay, reo hò. Ông Lê Minh ghi lại những giờ phút ra quân đó:
 
“7 giờ tối ngày mồng 1 Tết Mậu Thân, bắt đầu rời cửa rừng, quân đi lặng lẽ trong đêm tối, mưa lâm râm, sương mù đầy trời… Bộ chỉ huy chiến dịch đã lập một bộ phận tiền tiêu do anh Đặng Kính trực trên đỉnh núi Kim Phụng, nhìn thấy cả Phú Bài và Tử Hạ (…). Anh Kính báo về cứ 5 phút một: yên tĩnh!”.
 
Lúc đó, Bộ chỉ huy Sư đoàn 1 của Ngô Quang Trưởng vẫn chưa hay biết đích xác giờ G đã tới. Ông ta thấy Huế im lìm suốt ngày mồng 1 Tết như Westmoreland viết: “Trongngày đầu của năm mới âm lịch (30.1.1968), đã có những dấu hiệu rõ ràng của tình báo cung cấp cho thấy địch đang chuyển quân về Huế, nhưng tin đó trước hết phải được chuyển tới Bộ Chỉ huy lực lượng lính thủy đánh bộ III ở Đà Nẵng để phân tích. Sau đó mới chuyển cho nhóm cố vấn của Mỹ ở Huế, thì thời gian có ích đã qua mất rồi.
Tuy nhiên, sự báo động cũng được đưa ra vào phút cuối cùng. Các cuộc tấn công trước đó của địch ở các nơi khác (như Đà Nẵng, Nha Trang, Buôn Mê Thuột, Tân Cảnh, Kon Tum, Quy Nhơn, Pleiku vào đêm giao thừa) cộng với những tin tức lẻ tẻ khác, đã khiến cho người chịu trách nhiệm bảo vệ Huế – tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh Sư đoàn 1 của Nam Việt Nam thấy rằng “có chuyện gì đó” xảy ra.
Phần lớn quân của Trưởng đã ra ngoài thành phố nhưng bộ chỉ huy sư đoàn của ông vẫn ở Thành Nội. Trưởng đã báo động lệnh cho toàn bộ nhân viên của sư đoàn ông phải ở lại đêm tại sở chỉ huy. Những việc đề phòng đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc chiến đấu sắp diễn ra (vào sáng sớm mồng 2 Tết) và đảm bảo cho quân Nam Việt Nam giữ được một bộ phận của Thành Nội nhưng những việc đó không có giá trị gì nhiều đối với cuộc tấn công mở màn của địch. Địch đã vào Huế ban đêm”.

Đêm đó, 1 giờ sáng mồng 2, Trung đoàn 6 báo chiếm lĩnh trận địa đầu tiên, cánh Nam báo chiếm lĩnh 2 mục tiêu ưu tiên. Ông Lê Minh kể: “Đến 2 giờ 35 phút: tất cả đều nổ súng đồng loạt vang trời, đêm sáng rực lên như pháo hoa, đẹp vô cùng. Anh Quang điện về Bộ chỉ huy chúng tôi: “Chúc mừng thành công” (…). 6 giờ sáng: điện báo chiến thắng khắp nơi, 11 giờ sáng mồng 2, từ trên đỉnh Kim Phụng, có thể thấy lá cờ Mặt trận Giải phóng bay trên đỉnh kỳ đài Huế. Tất cả những ai đang ở cánh rừng phía Tây đều hướng về phía Huế reo hò. Đó là giây phút đẹp nhất của đợt tiến công. Tiếp đến là cuộc chiến đấu dài ngày ác liệt, giao tranh trên từng góc phố …

32: Paris và cuộc chiến trên tấm thảm xanh

Trưởng đoàn Xuân Thủy tại cuộc hòa đàm Paris năm 1968

Trưởng đoàn Xuân Thủy tại cuộc hòa đàm Paris năm 1968

Theo các tác giả cuốn “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris” thì 13.5.1968 là ngày đàm phán đầu tiên “chính thức bắt đầu cuộc chiến mới Việt Nam và Hoa Kỳ: Cuộc chiến tranh quanh tấm thảm xanh”. Với sự chứng kiến của hàng nghìn nhà báo, nhà hoạt động điện ảnh, nhiếp ảnh… đổ về Hội trường Kléber. Đông hơn bất kỳ hội nghị quốc tế nào từ nhiều năm trước đó…

Sau trận chiến Tết Mậu Thân 1968, theo con số do Westmoreland nêu trong hồi ký, có ngót 600.000 người tỵ nạn mới tràn vào các đô thị và vùng ngoại ô Nam Việt Nam.
 
Đây quả là “đội quân” không kèn không trống, không vũ khí nhưng đã khiến nhà cầm quyền Sài Gòn phải một phen vất vả vì nếu không nhanh chóng giải quyết đời sống cơm áo gạo tiền, bố trí chỗ ở, triển khai kiểm tra, lập sổ gia đình, nghĩa là “làm sống lại công tác bình định” mà cứ “bỏ mặc người tỵ nạn thì hậu quả nghiêm trọng tất yếu phải xảy ra”. Westmoreland viết là Việt Cộng đẩy “cuộc bình định nông thôn” về sát nách các thành phố và thị xã; những người mang trọng trách trong “chính phủ từ tổng thống Thiệu đến các bộ trưởng đều tỏ ra choáng váng”.
 
Ông Thiệu và các bộ trưởng dưới quyền được khuyến cáo đừng để những “sư đoàn” người tỵ nạn trở thành nhân tố của một cuộc khủng hoảng mới bao vây các thành thị miền Nam. Để tháo gỡ, Westmoreland thành lập lực lượng đặc biệt, giao tướng George Foraythe chỉ huy “cộng tác chặt chẽ với người Việt Nam” nhằm triển khai tức thời công tác bình định.
 
Tướng Foraythe lập một văn phòng riêng ngay trong dinh Độc Lập với sự đồng ý của Thiệu và giám sát kế hoạch của Bob Komer. Westmoreland đã “bố trí sẵn sàng công binh Mỹ cho phép họ sử dụng rộng rãi các kho vật liệu lấy tôn lợp nhà, xi măng sắt thép. Tướng Cao Văn Viên cũng làm như vậy và đưa công binh quân đội Nam VN tham gia”. Cạnh bóng mát của các dãy nhà trung tâm tỵ nạn được vội vã dựng lên là các lô-cốt, tháp canh và kẽm gai bọc quanh.
 
Một đợt thanh lọc quy mô hẳn nhiên mở ngay dưới những mái tôn còn mới. Các thành phần dân tỵ nạn được theo dõi, phân loại bởi những cơ quan an ninh tình báo Việt – Mỹ. Tại sao Westmoreland lại “chăm sóc đặc biệt” đến phần việc này? Có lẽ ngoài lý do không để vấn đề người tỵ nạn trở thành “nhân tố của cuộc khủng hoảng mới”; Westmoreland còn nhắm đến việc ổn định nhanh chóng hậu phương để “giáng” một đòn quân sự đầy tham vọng sau Tết 1968 nếu tổng thống Johnson cho phép. Ông ta lập luận một cách không tưởng: “Nếu tổng thống Johnson thay đổi chiến lược và lợi dụng thế suy yếu của địch (sau Tết Mậu Thân) cho phép tôi tiến hành các cuộc hành quân mà chúng tôi đã trù tính hai năm trước đánh sang Lào, Campuchia và phía Bắc khu phi quân sự (bên kia bờ Bắc sông Bến Hải), song song với việc ném bom và thả mìn cảng Hải Phòng thì chắc chắn Bắc VN sẽ bị đập tan (!). Nhưng tình hình đã không diễn ra như vậy ”.
 
Ngược với ý đồ của tướng Westmoreland, ngày 31.3.1968, tổng thống Johnson tuyên bố ngừng ném bom hạn chế ở miền Bắc VN từ vĩ tuyến 20 trở ra (đến ngày 1.11.1968 mới tuyên bố ngừng ném bom hoàn toàn và không điều kiện). Bốn ngày sau, 3.4, Hà Nội đáp ứng – thông báo: “Vỉệt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ cử đại biểu của mình tiến hành cuộc nói chuyện tay đôi với Mỹ”. Địa điểm họp được Mỹ và Việt Nam bàn định gần một tháng. Nguyễn Cao Kỳ viết:
 
“Định mệnh đã an bài… Người Mỹ đề nghị (địa điểm họp tay đôi với Bắc VN) tại Genève, Jakarta, New Delhi, Rangoon, hoặc Vientiane nhưng tất cả những nơi đó đều bị Bắc VN bác bỏ. Cuối cùng ngày 13 tháng 5, Mỹ chấp nhận đề nghị của Hà Nội chọn thủ đô Paris  (Pháp) làm nơi hội họp và đã cử ông Averell Harriman và Cyrus Vance (nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, sau này là Bộ trưởng Ngoại giao của Tổng thống Jimmy Carter) làm đại diện trong cuộc đàm phán. Bắc VN đã chỉ định ông Xuân Thủy (làm trưởng đoàn)”.
 
Đàm phán diễn ra tại Trung tâm các hội nghị quốc tế nằm trên đại lộ Kléber. Theo các tác giả cuốn “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris”  thì 13.5.1968 là ngày đàm phán đầu tiên đã “chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh mới giữa Việt Nam và Hoa Kỳ: Cuộc chiến tranh quanh tấm thảm xanh” với sự chứng kiến của hàng nghìn nhà báo, nhà hoạt động điện ảnh, nhiếp ảnh đổ về Hội trường Kléber đông hơn bất kỳ hội nghị quốc tế nào từ nhiều năm trước đó. Họ đã tường thuật, đưa tin nhanh chóng và nói đến cái bắt tay “lịch sử” giữa hai ông Xuân Thủy và Harriman trước giờ đàm phán. Nguyễn Cao Kỳ (và Thiệu) không thích thú gì với các bản tin truyền đi từ đại lộ Kléber:
 
“Chúng tôi đã chẳng hề muốn cùng ngồi vào bàn hội nghị với những người Cộng sản và chứng tôi lại càng không có ý định cùng ngồi với Mặt trận Dân tộc Giải phóng vì làm như vậy chẳng khác gì là công nhận họ. Tuy nhiên, Tổng thống Johnson đã vội vã gây sức ép với chúng tôi để hành động theo, ông và ứng cử viên đảng Dân chủ dự tranh ghế tổng thống là Humphrey mong muốn là cuộc đàm phán về hòa bình phải đạt được kết quả vì các cử tri Mỹ đang tỏ ra càng ngày càng chán ngán trận chiến tranh đang tiếp diễn ở nơi xa xôi này”.
 
Các cơ quan truyền thông vẫn phát đi các tin tức và bình luận mà Nguyễn Cao Kỳ và cả Westmoreland đều nhức nhối vì họ “chẳng hề muốn” nghe. Nhấn mạnh qua hồi ký của mình, Westmoreland nhiều lần tỏ ý không ưa giới báo chí. Ông ta “kết án” báo chí góp phần tuyên truyền cho Việt Cộng trong Tết Mậu Thân 1968, tác động đến dư luận Mỹ và ngay cả… Tổng thống Johnson trong quyết định ngừng ném bom tiến đến cuộc thương lượng tay đôi đó. Ông gọi thái độ của Johnson là “bỏ cuộc”:
 
“Báo chí và vô tuyến truyền hình đã tạo ra một vầng hào quang không phải thắng lợi mà là thất bại kết hợp với những phần tử chống chiến tranh to mồm nên đã ảnh hưởng sâu sắc đến các quan chức nhát gan ở Washington. Nó giống như hai võ sĩ quyền Anh trên võ đài, một võ sĩ đã đẩy võ sĩ kia tới đích, sắp hạ “nốc ao” thì anh võ sĩ rõ ràng sắp thắng này (!) bỗng nhiên bỏ cuộc…”.
 
Và người “nốc ao” trước mắt chưa phải Johnson mà là Westmoreland! Ông ta bị ngưng chức. Tướng Abrams sang thay..
 
33: “Chính là Huế” khiến tướng Westmoreland nổi giận
Tướng Westmoreland

Tướng Westmoreland

Tướng Westmoreland để tâm rà soát tìm xem điểm “tập trung chiến lược” của cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân nằm ở đâu? Rốt cuộc “chính là Huế”! Hàng ngày, thậm chí từng giờ, các hãng tin quốc tế dồn dập loan đi loan lại sự kiện “mất Huế”. Westmoreland đã nóng mặt và nổi giận thực sự. Ông ta ném quân Mỹ ồ ạt “tái chiếm” và nổ súng từ ngày thứ 7 của đợt tổng tiến công..

 Trở lại sự kiện Huế, từng làm tư lệnh không quân, Nguyễn Cao Kỳ thấy rõ mặt trái của thế mạnh không lực. Nó tạo nên tâm lý ỷ lại và phụ thuộc của bộ binh vào không quân: “nhớ lầnlực lượng hỗn hợp Việt Mỹ đang tiến quân thì bất ngờ gặp chống cự của địch. Phản ứng tức khắc của cấp chỉ huy Mỹ là ngưng tiến quân và đòi phải gọi không quân đến dội bom lên đầu đối phương. Chúng tôi phải điều động những máy bay đã được chđịnh đánh phá nơi khác đến tấn công mà về sau mới biết là chỉ có 6, 7 Việt Cộng chống giữ. y thế mà đã phải dùng tới hai chuyến bay Fantom (con ma), mỗi chuyến mang 6 quả bom. Và theo người ta nói với tôi thì mỗi quả giá 6.000 đô-la. Kết quả cuộc tấn công ấy, có cả súng đại liên yểm trợ, đã chẳng có bằng cớ nào cho thấy giết được lấy một Việt Cộng”. Điều tai hại là bom Mỹ bỏ trượt mục tiêu quân sự, gây đổ nát nhà cửa, trường học, công trình dân sự. Huế Tết Mậu Thân 1968 không tránh được tai họa đó và hồi ký Westmoreland tìm cách bào chữa:
 
Lúc trận đánh bắt đầu, quân Việt Nam (Sài Gòn) và lính thủy đánh bộ (Mỹ) chiến đấu không dùng xe tăng, pháo binh và không quân yểm trợ vì muốn bảo vệ thành phố giàu di sản quý báu này nhưng vì địch bám giữ một cách dai dẳng nên cứ theo cách đó thì mất quá nhiều sinh mạng người Mỹ và binh lính Nam Việt Nam. Tổng thống Thiệu bèn cho phép dùng bất kỳ phương tiện nào cần thiết để lấy thành ph Huế. Sự tàn phá không tránh khỏi đã xảy ra!…”.
 
Vậy là máy bay chiến lược B.52 cũng được trưng dụng. Trước ngày có lệnh oanh kích áp đảo, quân giải phóng đã tiến đánh hai mục tiêu ưu tiên dưới đất là E7 và Mang Cá. E7 tức lực lượng thiết giáp đóng ở Tam Thai gồm xe tăng M41, MI 13 lội nước, pháo tự hành… Cuối cùng E7 bị đánh lật ngay ngày đầu của cuộc tổng tiến công. Đến ngày thứ ba, trừ cơ sở chỉ huy của tướng Ngô Quang Trưởng đóng tại Mang Cá, toàn bộ căn cứ quân sự còn lại và 36 cơ quan cấp tỉnh, cấp miền (Trung phần) tại Huế rơi vào tay Quân giải phóng. Bấy giờ, mặt trận Khu 5 và cao nguyên lắng bớt nên Westmoreland để tâm rà soát tìm xem điểm “tập trung chiến lược” của cuộc tổng tiến công Tết toàn miền nằm ở đâu. Rốt cuộc “chính là Huế!”. Ngày ngày, thậm chí từng giờ, các hãng tin quốc tế dồn dập loan đi loan lại sự kiện “mất Huế”. Westmoreland nóng mặt và nổi giận thực sự. Ông ta ném quân Mỹ ồ ạt “tái chiếm” và nổ súng từ ngày thứ 7 của đợt tổng tiến công. 
 
Mở đầu với lực lượng kỵ binh bay và thủy quân lục chiến điều từ Chu Lai, Bình Định thẳng qua Phú Bài – Phú Lộc đánh chiếm đường 1. Pháo hạm ngoài khơi quay mũi súng vào bờ nhả đạn yểm trợ để bộ binh đổ bộ qua cửa Thuận An tiến đánh Huế. Nhưng không nhích được mấy: “Sau 4 ngày giao tranh, quân đồng minh (Mỹ) chỉ tiến được 180m. Giờ phút này lính thủy đánh bộ không thể di dịch được… Lá cờ của Việt Cộng vẫn bay ngạo nghễ trên cổng chính phía Nam thành ph Huế”. (UPI, 12 giờ trưa 10.2.1968). 
 
Cùng ngày, hãng AFP đưa tin: “Trong các trận đánh hàng nghìn quân nhân đã bị giết. Quân đội Hoa Kỳ và quân chính phủ (Sài Gòn) phải chôn những người chết của họ bất kỳ nơi nào và lúc nào có thể được. Còn lính dù Việt Nam thì chôn xác ngay trên trận địa”. Về phía Quân giải phóng, theo chỉ huy trưởng Lê Minh, để giữ ngọn cờ bay trên kỳ đài, đánh lùi các đợt phản kích, trong tuần đầu “thương vong trong nội thành đã lên tới ba trăm”. Nan giải nhất là đạn. Mở kho vũ khí thì tại chỗ súng đầy ắp nhưng đạn rất thiếu.
 
Đến ngày thứ 10, “Mỹ đã bắc một cầu nổi qua sông Hương để thay thế cầu Tràng Tiền và Bạch H đã bị ta đánh sập”. Tối đó, tướng Trần Văn Quang xuất trận. Theo đoạn hồi ký “Huế- Xuân 68* của Lê Minh, nhân đêm tối Quân giải phóng “tập trung cường tập bằng cả bộc phá, súng cối; gom nhặt hết lực lượng quyết đánh vỡ Mang Cá. Nhưng địch đã đủ thì giờ tổ chức Mang Cá thành một đề kháng lớn do chính Ngô Quang Trưởng chỉ huy. Ta đánh từ 9 đến 12 giờ đêm, thương vong nhiều nhưng trận đánh không mang hiệu quả, nhưng ta cứ ở tại chỗ đó”.
 
Như đã nói, nguồn đạn bị hụt hẫng sau 10 ngày giao chiến. Lệnh tất cả các đơn vị đánh Mỹ phải tiết kiệm đạn tối đa. Chốt chặt cửa An Hòa và Chánh Tây để thông đường liên lạc với hậu cứ; dồn nỗ lực tiếp tục vây Mang Cá. Bộ chỉ huy chiến dịch điện về bộ Tổng: Chúng tôi hết đạn, chỉ làm kế hoạch được từng buổi – Ký tên: Bảy – Tín – Minh (tức tướng Trần Văn Quang, chính ủy Lê Chưởng và chỉ huy trưởng chiến dịch toàn khu Trị Thiên – đương nhiệm Bí thư Thành ủy Huế lúc ấy: Lê Minh).
 
Khoảng 5 tiếng đồng hồ sau, Hà Nội trả lời mặt trận Huế: “Cấp trên sẽ chi viện đ cho các anh hoàn thành nhiệm vụ”. Ký tên: Văn – Dũng – Thảo (tức Võ Nguyên Giáp – Văn Tiến Dũng – Song Hào). Tiếp đó là bức điện chi tiết hơn do tướng Văn Tiến Dũng ký báo tin trung ương sẽ tiếp viện các trung đoàn bộ binh trợ chiến cùng các loại đạn dược khí tài từ đường 559 xuống Huế. 
 
Thời điểm đó, một trung đoàn bộ binh từ phía Bắc vượt vào tới Quảng Điền và đụng đầu ngay Sư đoàn 3 thủy quân lục chiến Mỹ trên sông Bồ…
 34: Tấn công Mậu Thân hay ‘thế trận Trân Châu Cảng’

Trong hồi ký của mình, Nguyễn Cao Kỳ đã viết về trận Mậu Thân: “Số thương vong lên rất cao: khoảng 4.000 quân Mỹ bị chết cùng 5.000 quân Nam Việt Nam. Tổn thất lớn nhất vẫn là niềm tự hào và uy tín nước Mỹ bị sa sút. Đối với người Mỹ, vụ tấn công Tết đã gây nỗi kinh hoàng của một vụ Trân Châu Cảng khác. Và lần đầu tiên người Mỹ đã nhận ra rằng họ sẽ không thể nào thắng…”

 Ông Mai Văn Bộ viết trong hồi ký “Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật” là vào tất niên 1967 tuy chưa biết sẽ bị đánh lúc nào và ở đâu, Westmoreland vội vã hủy bỏ kế hoạch phản công chiến lược lần thứ 3 
 
Bước sang ngày thứ 15, chịu sự phản kích dữ dội của 4 sư đoàn tinh nhuệ gồm 3 sư đoàn Mỹ, 3 lữ đoàn Sài Gòn, chưa kể sư đoàn 1, cuộc chiến đấu giữ Huế kéo dài hơn một tuần tiếp đó với tương quan lực lượng không ngang sức. Quân giải phóng thiếu đạn, thiếu viện binh, bị bom, pháo cấp tập, đã rút ra khỏi thành phố sau 26 ngày đêm làm chủ – tính đến 26.2.1968. Westmoreland ghi nhận: “Khi kéo được lá cờ của Việt Cộngxuống (khỏikỳ đài Huế) thì phần lớn Thành nội vàkhu nhà ở phía Nam sông Hương đều bị hư hại (…) Huế tượng trưng rõ nhất cho cảnh tàn phá của cuộc chiến đấu trên đường phố”.
 
Đến đây chúng ta hãy tạm lùi lại một chút vào thời điểm “sát nút” cuộc tổng tiến công toàn miền: tháng 12.1967 – mà đại sứ Mai Văn Bộ, thành viên phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris, gọi là “một thời điểm cực kỳ quan trọng”. Bởi những ngày đó diễn ra cuộc chạy đua quyết liệt giữa Mỹ và Việt Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh trong cuộc đọ sức “ngăn chặn” và “chống ngăn chặn”. Mặc dầu các phương tiện thám không hiện đại nhất thời đó của Mỹ soi tìm động tĩnh trên từng cây số “các phương tiện vận chuyển cơ giới, các sư đoàn chủ lực, các đơn vị xe tăng, pháo binh, công binh, thông tin… như trăm sông ngàn suối, cuồn cuộn đổ về một hướng mà Mỹ bằng bất cứ giá nào cũng không ngăn chặn nổi”. Ông Mai Văn Bộ viết trong hồi ký “Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật” là vào tất niên 1967 tuy chưa biết sẽ bị đánh lúc nào và ở đâu, Westmoreland vội vã hủy bỏ kế hoạch phản công chiến lược lần thứ 3 dự định vào mùa khô năm ấy để rảnh tay dồn sức cho việc đối phó với cơn lốc vận tải đang cuốn mù trời Nam:
 
Không quân Mỹ không ngừng thả chất độc hóa học hủydiệt từng cánh rừng dọc các tuyến đường, rải những “cây nhiệt đới” (máy thu và phát tiếng động, phát sóng cho máy bay đến ném bom) để dò xe, dò đường và đã ném khoảng 6 vạn trái bom đủ loại dọc các tuyến đường Trường Sơn. Mac Namaracho khởi công xây dựng một hàng rào điện tử ngay vùng giới tuyến. Nhưng Mỹ không làm sao ngăn chặn được dòng người và xe cộ mà mật độ mỗi ngày một tăng lên trên các tuyến đường ở cả phía Đông và Tây Trường Sơn, kéo dài đến tận vùng Châu Thành tnh Sông Bé của miền Nam. Trên thực tế chiến tranh ngăn chặn của Mỹ đã thất bại”.
 
Ngay lúc “không ngăn chặn” nổi đó, quá trình đếm ngược đến giờ G. ngày N. của trận tập kích chiến lược xuân 1968 đã bắt đầu! Đoạn “hồi ký tất niên” của ông Mai Văn Bộ ghi: “nhân buổi tiệc cuối năm vào ngày x chiêu đãi đoànđại biểu Đảng và Chính phủ Mông cổ, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên b: “Sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọihành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam DânchủCộng hòa, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ nói chuyện với Mỹ về những vấn đề có liên quan”.
Nhưng Mỹ đòi “chấm dứt ném bom có điều kiện” và Tổng thống Johnson tìm cách xoa dịu dư luận chống chiến tranh ở Mỹ bằng đủ lời hứa, bảo “đang chờ đợi một loại trả lời nào đó của Hà Nội”. Câu trả lời nổ ra bất ngờ vào giây phút kết thúc quá trình đếm ngược đến giờ G. và ngày N. khiến Tổng thống Johnson la lên: “44 đô thị và 24 căn cứ quân sự của Mỹ bị tấn công”. Hồi ký Mai Văn Bộ “tổng luận” rằng tuy cuộc tập kích chiến lược Tết Mậu Thân không đạt “tất cả các mục tiêu đề ra” nhưng đã gây nên “một chấn động chính trị và tâm lý lớn lao” trên thế giới và trong nội bộ nước Mỹ và qua cuộc tấn công quy mô, toàn diện này, theo cách nói của Dean Rusk và Mac Namara, Mỹ đã “ý thức được rằng họ chẳng những khôngthắng được Việt Nam mà còn có thể thua to. Do đó Mỹ không còn cách thoát thân nào tốt hơn xuống thang chiến tranh và đề nghị đàm phán”.
 
Điều đó cũng dội lại trong hồi ký Nguyễn Cao Kỳ:
 
“Sau năm, sáu ngày giao tranh vẫn còn khoảng 1.000 quân cộng sản chiến đấu trong thành phố Sài Gòn. Trong lúc tại Huế mãi đến 10.3.1968 mới giải phóng hoàn toàn thành phố này. S thương vong lên rất cao: khoảng 4.000 quân Mỹ bị chết cùng 5.000 quân Nam Việt Nam. Mặc dù sự việc trên thê thảm thế nào đi nữa, những tổn thất lớn lao nhất vẫn là niềm tự hào vàuy tín nước Mỹ bị sa sút. Đối với người Mỹ,vụ tấn công Tết đã gây nên tất cả những nỗi kinh hoàng của một vụ Trân Châu cảng khác và lần đầu tiên người Mỹ đã nhận ra rằng họ sẽ không thể nào thắng nổi trận chiến tranh. Đã có một sự tan v đến mất hết niềm tin”.  Điều tiếp đó làm Nguyễn Cao Kỳ và cả Nguyễn Văn Thiệu chua xót là trận tổng tiến công Tết Mậu Thân, Mỹ đã mặc kệ thái độ hiếu chiến của Westmoreland, Kỳ và Thiệu, để xuống nước đàm phán. 
 
Kỳ chua chát: “Chúng tôi đã phải đứng ngoài trong những bước đi giữaMỹ và Bắc Việt Nam’’. Riêng ông Kỳ thêm một vố đau vào chiều 2.6.1968. Chiều đó, lúc Sài Gòn còn đang nổ súng giao tranh Mậu Thân đợt 2, một số tướng tá thân cận, vây cánh của Kỳ tụ họp tại sở chỉ huy nằm trong khu vực Chợ Lớn. Bất thần một chiếc trực thăng Mỹ nhằm ngay ngôi nhà đặt sở chỉ huy đó nhào đến, bắn rốc-kết xối xả, giết chết một loạt người của Kỳ, như trung tá Nguyễn Văn Luân, Giám đốc Cảnh sát đô thành, trung tá Phó Quốc Chụ, giám đốc Cảng Sài Gòn, trung tá Đào Bá Phức, chỉ huy trưởng trung đoàn 5 biệt kích thuộc Quân đoàn thủ đô, thiếu tá Lê Ngọc Trụ, giám đốc Cảnh sát quận 5, thiếu tá Nguyễn Bảo Thúy, phụ tá đặc biệt Đô trưởng Sài Gòn. 
 
Tháng trước đó, tướng Nguyễn Ngọc Loan, tay chân thân cận ruột của Kỳ, nắm an ninh quân đội, nha tình báo và kiêm luôn tổng nha cảnh sát, bị bắn què giò trên đường phố Sài Gòn. Nay trong vụ máy bay Mỹ dội rốc-kết bí ẩn này em rể Loan là trung tá Văn Văn Của, làm Đô trưởng Sài Gòn bị bắn gãy tay mặt phải thôi chức. Rất nhanh chóng, Thiệu thay đại tá Trần Văn Hai làm giám đốc Tổng nha Cảnh sát vằ lần lượt 8 trong số 10 giám đốc cảnh sát các quận bị thay bằng người của Thiệu. Việc “trong nhà” đã yên tâm thêm, Nguyễn Văn Thiệu tỏ vẻ “cứng” với Mỹ. Ông ta nhất định không chấp nhận ngưng ném bom miền Bắc vô điều kiện. Mỹ chiều theo? Không đời nào. Đêm 30.10.1968, đoàn Mỹ gồm Harriman, C. Vance, Habib kéo đến nơi ở của đoàn Việt Nam tại nhà số 11 phố Darthé, vùng Choisy le Roi. Hai bên họp từ 1 giờ 35 đến 2 giờ rưỡi khuya. 
 
Harriman đọc lời tuyên bố trước Bộ trưởng Xuân Thủy:
 
“Tôiđược phép tuyên bvới ngài rằng tổng thống (Johnson) sắp sửa ra những mệnh lệnh vào buổi tối ngày 31.10, vào 7 giờ hoặc 8 giờ, giờ Washington… để chấmdứt mọi cuộc oanh tạc bằng không quân, hải quân và pháo binh và mọi hành động khác liên quan đến việc dùng vũ lực chống toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…”.
 
Vậy là từ trận chiến Tết Mậu Thân, một nền hòa bình bắt đầu ló dần sau khói súng. 
 
35: ‘Bồ câu trắng’ hay những cuộc tiếp xúc bí mật được ‘bật mí’
Bà Nguyễn Thị Bình tại Hòa đàm Paris

Bà Nguyễn Thị Bình tại Hòa đàm Paris

Đàm phán với cuộc “so gươm” hai trưởng đoàn Xuân Thủy và Harriman đúng một tháng từ phiên mở đầu từ 13/5 đến 12/6/1968. Tạm ngừng khi nhà ngoại giao W.Jordan có nhã ý mời ông Nguyễn Thành Lê, người phát ngôn của đoàn VN đi “ăn cơm”. Thế là món “bồ câu trắng” được bí mật ghi vào thực đơn hội đàm. Để 14 ngày sau, cuộc nói chuyện lặng lẽ khai thông ở nơi khác bên ngoài hội trường Kléber…

 Khi tướng Abrams (phụ tá của Westmoreland) được chỉ định thay Westmoreland làm tư lệnh lực lượng Mỹ ở Việt Nam, thì đàm phán ở phố Kléber vẫn đang tiếp tục với cuộc “so gươm” của hai trưởng đoàn: Xuân Thủy và Harriman. Xuân Thủy tố cáo “Mỹ xâm lược Việt Nam”, còn Harriman lặp đi lặp lại những lời lẽ đổ lỗi “miền Bắc xâm lượcmiền Nam”.
Hai ngón võ đó được hai bên thi triển đúng một tháng từ phiên họp mở đầu vào ngày 13.5.1968 đến 12.6.1968 rồi tạm ngừng khi nhà ngoại giao năng động W.Jordan (đang là người phát ngôn của phái đoàn Mỹ) có nhã ý mời ông Nguyễn Thành Lê (người phát ngôn của đoàn Việt Nam) đi “ăn cơm”. Ông Nguyễn Thành Lê nhận lời. Thế là món “bồ câu trắng” được ghi vào thực đơn hội đàm để 14 ngày sau, cuộc nói chuyện lặng lẽ khai thông ở một nơi khác nằm bên ngoài hội trường Kléber. 
 
Đó là căn nhà riêng của đoàn Việt Nam ở Vitry-sur-Seine. Phó trưởng đoàn Mỹ Cyrus Vance cùng chuyên gia kỳ cựu về vấn đề Việt Nam Philippe Habib đến đấy vào giữa khuya 26.6.1968. Vào giờ đó, Phó đoàn Việt Nam là đại sứ Hà Văn Lâu cùng ông Nguyễn Minh Vỹ thức đợi và tiếp đón hai đại diện của đoàn Mỹ. Phó đoàn Vance rút trong túi ra tờ giấy đánh máy sẵn và đọc: “Hoa Kỳ sẽ chấm dứt các cuộc ném bom trên toàn miền Bắc vào một ngày sẽ được thông báo cho phía Việt Nam biết trước. Trước ngày đó, hai bên sẽ thỏa thuận về “hoàn cảnh” (circonstances) sẽ được thực hiện sau khi chấm dứt ném bom…”. 
 
Vance nói thêm nội dung bàn đến quanh chữ “hoàn cảnh” nêu trên bao gồm chấm dứt việc bắn pháo và tấn công bằng bộ binh vào quân Mỹ và quân đồng minh qua khu phi quân sự… Kết quả thảo luận về “hoàn cảnh” sẽ được hai bên giữ bí mật, không công bố. Các tác giả cuốn “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Parisđã thuật lại điều đáng chú ý về cuộc trao đổi trên là “mặc dầu Hà Văn Lâu lên án mạnh mẽ việc Mỹ xâm lược, Vance không trả lời mà chỉ tập trung vào vấn đề chấm dứt ném bom miền Bắc”.
 
Đó là cuộc trao đổi hậu trường đầu tiên thoát hẳn sự theo dõi tò mò của các ống kính thâu hình và kéo dài hai giờ đồng hồ đến quá nửa đêm về sáng. Từ một nơi rất xa, tận Hà Nội, Bộ Chính trị theo dõi và có chỉ thị cho đoàn Việt Nam trước đó hãy “vừa nói chuyện công khai (tại hội trường Kléber) vừa nói chuyện hậu trường (như nhà riêng của đoàn ở Vitry- sur-Seine trên)”. Và: “Nói chuyện hậu trường khác với nói chuyện bí mật của Mỹ”. Vậy Mỹ đã nói chuyện bí mật như thế nào? Ở đâu?
 
Xin tạm lùi lại khoảng thời gian trước đó với sự xuất hiện của Kissinger tại miền Nam qua cuốn hồi ký Việt Nam nhân chứng của Trần Văn Đôn: 
 
Cũng như phần đông các giáo sư Mỹ đến Sài Gòn (1965), Kissinger được Tòa đại sứ Hoa Kỳ cung cấp danh sách những nhân vật thuộc ngành, nghề mà họ muốn tiếp xúc để biết những vấn đề cần thiết. Kissinger đến gặp các ông Phan Huy Quát, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ. Lúc đó Kissinger chỉ là một giáosư, dù là của Đại học Harvard (song chưa có chức vụ quan trọng trong chính phủ Mỹ) nên có lẽ hai ông Thiệu – Kỳ tiếp đón thiếu niềm nở. Kissinger phật ý. 
 
Thời gian đó nhằm sau cuộc chỉnh lý, tôi sng ở Đà Lạt(…). Sau chuyến qua Sài Gòn đầu tiên đó, trở về Mỹ Kissinger đưa ra kết luận: “Miền Nam không thể tồn tại được”. Năm 1966, Kissinger đến Sài Gòn lần thứ hai, liên kết với Tòa Bạch c nghiên cứu tình hình Việt Nam và báo cáo lần này: “Các tướng trẻ chưa đủ khả năng lãnh đạo miền Nam trong chiến tranh”. Đến năm 1967, lúc Johnson đang làm Tổng thống Hoa Kỳ, Kissinger có quen với một người Pháp, người này tên là Raymond Aubrac cùng đi Hà Nội với một người thân là Herbert Marcovich…”. Thật ra, hai người đó là “hai sứ giả” được Mỹ bí mật cử đi Hà Nội tiếp xúc…
 
Vị thứ nhất: Raymond Aubrac được Kissinger cất công tìm kiếm là người quen biết với Bác Hồ trong thời gian họp hội nghị Fontainebleau. Theo đại sứ Mai Văn Bộ “có lúc Hồ Chủ tịch đã ngụ tại nhà Aubrac và một cháu gái, con của ông, là con đỡ đầu của Hồ Chủ tịch. Cho nên ông Aubrac có đầy đủ lý do để tin rằng ông sẽ  được tiếp một cách ân cần và trọng thị”.
 
 Vị thứ hai mà Trần Văn Đôn nêu tên là giáo sư Herbert Marcovich thuộc viện Pasteur Paris, Tổng thư ký của Tổ chức chống chiến tranh hạt nhân Pugwash. Đứng chân ở hai nơi: Viện Pasteur và tổ chức Pugwash nên Marcovich được che đậy bằng “sứ mạng công khai” khi đến Hà Nội là: liên hệ với viện Pasteur Viễn Đông, “làm việc” với Viện Vệ sinh phòng bệnh và vi trùng học tại Hà Nội… 
 
Cần đến những “lý do” trên vì Mỹ muốn che mắt dư luận, giữ bí mật chuyến đi, tránh bị cho là đã nhượng bộ Hà Nội. Ông Marcovich cùng Cao ủy năng lượng Pháp và hai giáo sư đại học Harvard họp ròng rã 3 ngày 16, 17 và 18.6.1967 tại Paris để thảo luận về chuyến đi cùng những điều cần làm để “đánh lạc hướng các nhà quan sát quốc tế và báo chí thế giới” với sự chủ trì của Kissinger “nhân danh Tổng thống Mỹ” vì Trần Văn Đôn viết Kissinger được Johnson giao phó việc dàn xếp chiến tranh Việt Nam cho sớm kết thúc”. Một đoạn hồi ký của Kissinger (được trích dẫn bởi đại sứ Mai Văn Bộ) xác nhận:
“Từ tháng 7 đến tháng 10.1967, chính phủ Johnson yêu cầu tôi làm trung gian trong một c gắng đ đàm phán tiến triển. Tôi nhờ chuyển thông điệp qua hai nhà trí thức Pháp mà tôi quen biết: một người trong đó có quan hệ với Chủ tịch Hồ Chí Minh vào những năm 1940 và đã qiúp chỗ ở khi đến Paris, đàm phán với người Pháp. Tôi được phép gợi ý những bạn của tôi đi Hà Nội nhằm đề nghị những điều kiệnđ Mỹ tạm ngừng ném bom, coi đó là việc dọn đường cho hội đàm…”
 
Hai sứ giả rời Paris ngày 18.7.1967 để lên đường đi Hà Nội với tư cách những nhà khoa học. Họ gặp ai? Diễn tiến những ngày tiếp đó được Kissinger yêu cầu hai sứ giả hoàn toàn giữ kín và xếp vào loại “tuyệt mật”. Nhưng dường như lời đồn đại “đã có đàm phán bí mật” đang đánh động Sài Gòn?…

36: ‘Cái bàn kỳ quái’ hay đàm phán ‘hai phía’ và ‘bốn bên’

Đàm phán “bốn bên” – cách gọi của đoàn VN, hoặc “hai phía” – cách gọi của Mỹ, sẽ diễn ra trên bàn tròn, bàn vuông hoặc bàn hình thoi là đề tài cãi nhau mất… 2 tháng cuối năm 1968. Đoàn VN đề nghị chọn bàn hình vuông, bốn đoàn ngồi bốn cạnh mới thể hiện tính độc lập, bình đẳng. Phía Mỹ muốn làm rõ khái niệm “hai phía” nên đưa ý kiến chọn bàn hình chữ nhật để Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngồi một bên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng ngồi một bên. Không bên nào chịu bên nào…

Trong chuyến đi 10 ngày đến Hà Nội, ông Aubrac được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp – và cùng Marcovich, được Thủ tướng Phạm Vãn Đồng tiếp.

Về lại Pháp, trong nhiều buổi “tiếp xúc bí mật” khác với đại sứ Mai Văn Bộ tại Paris, có lần giáo sư Marcovich trăn trở:
 
“Sứ mạng của tôi là đạt được sự gặp gỡ giữa những người đại diện có thẩm quyền của hai chính phủ, trước hoặc sau việc chấm dứt ném bom. Sau đó hai bên có điều gì để nói với nhau và việc gì sẽ xảy ra, tất cả những cái đó sẽ không liên quan đến tôi nữa. Cho nên chúng tôi gọi đó là một “mục tiêu hạn chế”. Thế mà đến nay, “mục tiêu hạn chế” đó vẫn chưa đạt được”.
Đại sứ Mai Vãn Bộ mời giáo sư uống chén trà mong ông dịu cơn xúc động và lựa dịp mời cả Aubrac đến, ngỏ lời “xin cảm ơn hai ông. Có những cái ta làm, kết quả thấy được ngay. Nhưng cũng có cái ta làm, phải chờ một thời gian mới thấy được kết quả. Phải thế không, ông Marcovich?”.
Marcovich đáp: “Vâng! Lập trường của hai bên đã rõ ràng nhưng chưa có điểm hội tụ. Chắc là còn phải chờ”.
 “Phải chờ” Mỹ thay đổi trò hai mặt: vừa “tiếp xúc bí mật”, vừa “công khai ném bom” cầu Long Biên, trục giao thông Hà Nội – Lạng Sơn, đường xe lửa Hải Phòng… nhằm tìm kiếm thương lượng trên thế mạnh. Nhưng Mỹ hoài công vì không thấy đối phương xuống thang “tấn công ngoại giao” mấy tý.
Đến tháng 5.1968, như đề cập ở các phần trước, Mỹ đình chỉ ném bom hạn chế miền Bắc, họp tay đôi với Hà Nội tại phố Kléber (Paris), rồi tiến đến ngừng ném bom hoàn toàn và không điều kiện vào 31.10, thì việc họp “bốn bên” (có thêm đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và đại diện chính quyền Sài Gòn dự) được rục rịch chuẩn bị.
Ban đầu Nguyễn Văn Thiệu vẫn giữ thái độ “đóng băng”, hục hặc, không theo quyết định của Tổng thống Johnson. Không chịu ký vào thông cáo chung với Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, tiếp đó lại trì hoãn chưa chịu cử đoàn Sài Gòn dự “phiên họp mở rộng” bốn bên, vì, như Nguyễn Cao Kỳ viết: “Chúng tôi kịch liệt phản đối việc tiến hành đàm phán ở Paris”. Nhưng được bao lâu?

“Mi tuần qua đi chúng tôi càng cảm thấy không thể tiếp tục chng đi vô hạn định. Ngoài nỗi mệt mỏi của chính tôi ra (Nguyễn Cao Kỳ), càng ngày người Mỹ càng lộ rõ quyết tâm chấm dứt cuộc chiến. Vì vậy, cuối năm 1968 tôi đến Paris, cầm đầu phái đoàn miền Nam Việt Nam chính quyền Sài Gòntham dự đàm phán hòa bình”.

Đàm phán “bốn bên” – cách gọi của đoàn Việt Nam, hoặc “hai phía” – cách gọi của Mỹ, sẽ diễn ra trên bàn tròn, bàn vuông hoặc bàn hình thoi là đề tài cãi nhau mất… 2 tháng cuối năm 1968.

Đoàn Việt Nam đề nghị chọn bàn hình vuông, bốn đoàn ngồi bốn cạnh mới thể hiện tính độc lập, bình đẳng, vai trò và vị trí của mỗi bên. Phía Mỹ muốn làm rõ khái niệm “hai phía” của họ nên đưa ý kiến chọn bàn hình chữ nhật để Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngồi một bên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng ngồi một bên.

Không bên nào chịu bên nào, Nguyễn Cao Kỳ kêu lên:

“Ôi, cái bàn ấy. Đó là cái bàn kỳ quái. Nhưng đối với chúng tôi nó là điều quan trọng cơ bản, tiên quyết. Hình thù của nó phải làm sao để chúng tôi có thể thảo luận mà vẫn – thể hiện lập trường –  không công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng. Vì thế chúng tôi khăng khăng đòi được thể hiện từng ly từng tí…”. 
 
37 – Kissinger: “Đường lên mặt trăng ít trở ngại hơn đường chúng ta đi!”
Kissinger thích cách cố vấn Lê Đức Thọ đón tiếp hơn là nội các của ông Nguyễn Văn Thiệu

Kissinger thích cách cố vấn Lê Đức Thọ đón tiếp hơn là nội các của ông Nguyễn Văn Thiệu

Hội nghị bốn bên mở tại Paris, André Trần Văn Đôn được Thiệu “nhờ” đến đó để theo dõi diễn tiến và liên lạc với một số chính khách ngoại quốc quen biết.

 Ông Đôn viết: “Em tôi là Robert Trần Văn Đôn phụ trách báo chí trong phái đoàn miền Nam Việt Nam (tức đoàn chính quyền Sài Gòn do ông Phạm Đăng Lâm làm trưởng đoàn), cho tôi biết phái đoàn miền Bắc và Mặt trận Giải phóng miền Nam đã đem những câu tôi chỉ trích chính quyền Nguyễn Văn Thiệu khi trước ra khai thác có lợi cho họ. Vì vậy nên tôi không chỉ trích, phê bình, chống đối (Thiệu) nữa”.
Xem ra cái cớ “không chỉ trích phê bình, chống đối” Thiệu của ông Đôn trong giai đoạn đó chưa thật thuyết phục. Song bầu khí ngoại giao được ghi lại khá hóm hỉnh ở nhiều nút thời sự qua hồi ký. Như lúc Kissinger thông báo cho Sài Gòn biết Mỹ đã thỏa thuận“để Bắc Việt sẽ gửi vào miền Nam 10.000 cán bộ lo việc hành chính” thì Thiệu hết hồn. Đến lượt “bí thư đặc biệt của tổng thống Thiệu” là Hoàng Đức Nhã đòi Kissinger giải thích “những điểm mập mờ mà Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (Sài Gòn) cần biết thật rõ hơn” trong các điều khoản dự thảo ngầm giữa Mỹ với “phía bên kia”.
Thật rùng rợn đối với Thiệu và Nhã khi hay tin – hàng vạn cán bộ Cộng sản sẽ công khai ngồi vào bàn giấy giữa Sài Gòn với sự tồn tại “ba phía của Việt Nam” trong đó có “Việt Cộng”! Hoàng Đức Nhã, người em con chú họ của ông Thiệu, nói “như vậy là đầu hàng” và đến nước đó chẳng đè nén gì nữa, đã tỏ bất bình với Kissinger trong chuyến Kissinger đến dinh Độc Lập với tướng Abrams, tướng Frederick Weyand, đô đốc Taylor, cố vấn chính trị phái đoàn Mỹ tại Hội nghị Paris là Philip Habib và đại sứ Bunker.
Nhã vốn bị nhiều người trong chính quyền Thiệu không ưa. Vì như tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng từng làm “phụ tá đặc biệt cho tổng thống Thiệu” thì tuy được đào tạo khá “chính quy” tại Đại học Mỹ, cao lớn, đẹp trai, có duyên, có tài nhưng “đối với các chính trị gia và các nhà ngoại giao Mỹ, Nhã còn thiếu kinh nghiệm, ngạo mạn và thường lạm dụng quyền hạn của mình. Họ cho rằng Nhã lên được vị trí này (bổ nhiệm làm thư ký riêng cho Thiệu lúc chưa đầy 30 tuổi) là nhờ có họ hàng với Thiệu và sự xấc xược của Nhã, một lối xử sự học được ở người Mỹ, đã bị chỉ trích nặng nề.
Nhã lái một chiếc Mustang mui xếp và sau đó là chiếc Mercedes kín mui chạy khắp đường phố Sài Gòn thời kỳ chiến tranh, một biểu hiện khoe khoang hợm hĩnh, chứng tỏ ta có đặc quyền”. Theo tiến sĩ Hưng, Nhã không thèm xem lại ý kiến của mình có được Mỹ ủng hộ không, cũng không nghe theo các cấp trên trong hội đồng nội các, tệ hơn nữa cho ý kiến của họ là “ngu xuẩn”.
Hồi ký Trần Văn Đôn viết: “Riêng Kissinger bực mình hơn bị một thanh niên trẻ tuổi như Hoàng Đức Nhã bác bỏ một công trình (các dự thảođiều khoản của hiệp định Paris) mà ông đã công lao nhọc mới thực hiện được lại còn cho rằng công trình đó có nhiều điểm sai lầm”. Ông Đôn nhận xét:
“Sở dĩ Kissinger thích Lê Đức Thọ là vì ông Thọ luôn khôn khéo, lúc nào cũng vui vẻ…Trái lại ở Sài Gòn lúc ban đầu Kissinger đến với tư cách một giáo sư đi tìm hiểu sự việc (trước những năm họp hội nghị Paris) nên không ai tiếp đón niềm nở. Những lần sau (trong thời gian họp hội nghị Paris) ông đến để đặt áp lực với chính quyền miền Nam nên không khí không được thân thiện. Những lần dùng cơm với chính quyền VN (Sài Gòn) đều nằm trong phạm vi dinh Độc Lập với những người hầu bàn già cả, trong bầu không khí khách sáo khô khan. Trong khi đó Lê Đức Thọ và Xuân Thủy mời Kissinger dùng cơm ở những ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô Ba Lê có sân cỏ, có vườn hoa nhỏ nhắn thanh lịch với các nữ tiếp viên trẻ trung vui vẻ, không khí thân mật ấm cúng”.

Cần nhắc lại, ông Đôn là “quan sát viên đặc biệt” của Thiệu tại Paris, phóng tầm mắt đến cả chi tiết những “nữ tiếp viên trẻ trung vui vẻ” trong vườn người, hợp với tiếng đồn đào hoa về ông. Ông cũng ghi nhận, đại diện đoàn Mỹ Cabot Lodge và Bộ trưởng Xuân Thủy “gặp nhau đến lần thứ 11” sau ngày khai mạc, hội nghị bốn bên, nhưng vẫn “đối chọi” chứ chưa đối thoại có thực chất. Mãi hơn 6 tháng, vào giữa 1969, theo ông Đôn, từ sau hậu trường chính trị, Kissinger xuất hiện qua đường dây liên lạc của “một người Pháp thân cận với các viên chức cao cấp trong chính quyền Hà Nội gần 30 năm trời là Jean Sainteny” để gặp riêng Xuân Thủy. Vợ chồng Jean Sainteny đã thu xếp cho hai người gặp nhau tại tư gia số 204 đường Rivoli ở Paris. Kissinger từ Luân Đôn bí mật đến Paris.

Khoảng đó, tháng 7.1969, thế giới hồi hộp hướng về đường bay của con tàu vũ trụ Apollo 11 và qua màn ảnh truyền hình theo dõi sự kiện con người thứ nhất của quả đất là phi hành gia Neil Amstrong đặt bước chân đầu tiên lên bề mặt mặt trăng. Khi quay về mặt đất, Amstrong đổ bộ xuống vùng biển thuộc khu vực Nam Thái Bình Dương và Tổng thống Mỹ Nixon đã tới đó đón ông. Luôn tiện Nixon thăm một loạt nước như Pakistan, Indonesia, Ấn Độ, Romania, Anh Quốc và ông Kissinger nhân dịp ấy từ Luân Đôn qua Pháp gặp Xuân Thủy vào một buổi chiều đầu tháng 8.1969 tại địa chỉ nói trên.

Theo tài liệu các ông Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ, cùng đi với Kissinger có Anthony Lake, người phụ tá thân cận, và tướng Vernon Walters – tùy viên quân sự Mỹ. Bộ trưởng Xuân Thủy đến cùng Mai Văn Bộ và Nguyễn Đình Phương. Tại cuộc gặp đầu tiên này, Xuân Thủy đã đặt câu hỏi với Kissinger: Tại sao Mỹ đưa quân đến Việt Nam nhanh mà khi rút quân lại nhỏ giọt “rút 25.000 so với 54 vạn quân Mỹ hiện có (1969)” không nghĩa lý gì!

Hai bên tranh luận… Kissinger nhấn mạnh “Việc tôi tham gia là bí mật!” và có gì mới sẽ thông báo riêng cho nhau. Về sau trong cuộc hẹn khác, Kissinger có đưa ra một số tài liệu công khai về việc Mỹ phóng tàu vũ trụ Apollo lên mặt trăng. Hôm đó, Kissinger đến trễ, Xuân Thủy cười bảo:

–         Dù có lên được mặt trăng cũng có khi đi chậm.

Một lát, Kissinger:

–         Con đường lên mặt trăng ít trở ngại hơn con đường chúng ta đi.

Đúng, bởi cuộc đánh cắt đẫm máu đường mòn Hồ Chí Minh đoạn Hạ Lào lúc đó đã chất cao thêm xác chết trên đường đến Paris.

38 – Trận đánh mưu cắt đường mòn Hồ Chí Minh

lam_son_719_EKWX

Ba năm sau Tết 1968, Thiệu lại cho phép đốt pháo vào dịp Nguyên đán 1971. Cũng như lần trước, Thiệu muốn tỏ “bản lĩnh”, làm ra vẻ tình hình miền Nam yên ắng lắm. Và rồi, lần này, xui xẻo lại đến với quân đội Sài Gòn sau những loạt pháo đầu năm.

Mặt trận không nổ ra tại thành phố mà chuyển lên vùng rừng núi hạ Lào. Tiếng dội của nó vẫn có sức rung chuyển đến tận tòa Bạch Ốc báo hiệu sự phá sản hoàn toàn chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh” của Nixon tiến hành từ 2 năm trước. Bấy giờ theo hồi ký của Nguyễn Cao Kỳ, quân Sài Gòn đã thêm 400.000 người sau lệnh tổng động viên 18 đến 38 tuổi (1968-1969), nâng tổng số quân lên 1.000.000 người (cuối năm 1970) và trong vòng trên dưới 3 năm Mỹ chuyển giao Sài Gòn 1.000.000 vũ khí, 46.000 quân xa, 1.100 máy bay gồm cả trực thăng…

Sau quá trình “chuyển giao” trên, Mỹ và Sài Gòn muốn chứng tỏ sự “trưởng thành của quân đội Việt Nam Cộng hòa” đã mở cuộc hành quân quy mô do binh lính Sài Gòn đảm nhiệm “nhằm đánh cắt đường mòn Hồ Chí Minh và tiêu diệt đất thánh cộng sản ở Lào”! Mỹ cay cú đường vận chuyển chiến lược thường gọi “đường mòn Hồ Chí Minh” mà chỉ riêng sát thời điểm mở cuộc hành quân trên có đến 40.000 tấn hàng chảy vào Nam trong năm 1970. So với hoàn cảnh thời đó, con số ấy có ý nghĩa lớn, nó gấp 10 lần năm 1969!

Trước ngày hành quân, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird đã có chuyến đi điều tra mật về tình hình miền Nam Việt Nam. Ông báo cáo kết quả tại cuộc họp do Tổng thống Nixon triệu tập, với sự có mặt của Kissinger, Rogers, Alexander Haig, Đô đốc Thomas H.Moorer, Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ, và Helms, Giám đốc CIA.
Liền đó Nixon cho phép đưa “kế hoạch hành quân tuyệt vời trên giấy” (như Kissinger gọi) vào thực tế chiến trường. Hồi ký Nixon giải thích để tránh dư luận Mỹ chỉ trích và để tỏ sự “thành công” của Việt Nam hóa chiến tranh nên Mỹ không đóng vai trò chủ lực trong cuộc tấn công; Mỹ chỉ đạo nhưng “đứng đằng sau” yểm trợ bằng pháo đài bay B.52, các máy bay chiến đấu khác, đảm nhiệm chuyển vận, rót trọng pháo và ngay cả tên cuộc hành quân vẫn là Việt Nam: Lam Sơn 719!
Để lót đuờng “xuất hành” cho quân Sài Gòn, từ mồng 3 Tết Tân Hợi, nhằm 30.1.1971, lực lượng Mỹ ở phía Nam sông Bến Hải lặng lẽ triển khai, tạo một bàn đạp vững chắc phóng sang Lào. Suốt 7 ngày sau đó những vị trí chiến thuật then chốt ở Quảng Trị nhanh chóng được chiếm lĩnh để ba cánh quân Sài Gòn gồm bộ binh, lính nhảy dù và thiết giáp sẵn sàng vượt biên giới.
Thiệu, với danh nghĩa tổng thống kiêm tổng tư lệnh quân đội Sài Gòn, xuất hiện nói chuyện với số đông quân thiện chiến đội nón sắt đang sắp hàng ngoài trời trước giờ ra trận. Ông đã tung vào cuộc 2 sư đoàn tinh nhuệ nhất của “quân lực Việt Nam Cộng hòa” trong đó có sư đoàn thủy quân lục chiến. Họ đã bỏ sau lưng dư hương ngày Tết và dấn thân vào tử địa sau lệnh xuất phát ngày 8.2.1971 tiến về Tchépone qua đường 9 Nam Lào. Một chảo lửa đang chực cháy chờ họ.
Theo thuật lại của cố vấn tổng thống Thiệu, “tướng Võ Nguyên Giáp huy động lực lượng (…) gồm cả thiết giáp được trang bị xe tăng Liên Xô” đón đánh. Ngày tiến quân đầu tiên trận địa không đến nỗi kinh hoàng như 4 ngày tiếp đó, hễ “bất kỳ nơi nào quân lính Nam Việt Nam tấn công đều thấy quân đội Bắc Việt dường như đã có ở đó và sẵn sàng đợi họ”. Mới non một tuần, con số thương vong của quân Sài Gòn lên đến 3.000.
Càng hoảng hốt, mục tiêu Tchépone càng xa tầm súng. Từ Mỹ, Lầu Năm Góc điện hỏi tới tấp đại sứ Bunker và bộ chỉ huy lực lượng Mỹ ở Sài Gòn. Thiệu sốt ruột lệnh tướng Hoàng Xuân Lãm bằng mọi giá “chiếm lấy Tchépone nhưng không cần cố giữ lấy nó”. Miễn sao tin tức loan đi “chiếm Tchépone” thôi, còn ngay sau đấy rút liền cũng được.Nhưng ngót nửa tháng tiến đánh, đội quân tinh nhuệ nhất vẫn mắc kẹt trên đường, số tử thương tăng lên từng ngày, việc tải xác chết khỏi mặt trận không làm xuể và “ma sự” bắt đầu ám ảnh mạnh đến tinh thần binh lính.
Qua ngày thứ 15, thời hạn chiếm Tchépone như dự định “tuyệt vời trên giấy” vụt qua. Cựu tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn, tướng Westmoreland được Kissinger tham vấn ngay về tình hình chiến trận khi đó, đã nhận định ít nhất phải có 4 sư đoàn Mỹ mới tiến chiếm và giữ được Tchépone, chứ 2 sư đoàn Sài Gòn dù là “tinh nhuệ nhất” vẫn chịu chết. Điều đó thấy rõ vào ngày thứ 25 của cuộc hành quân lúc đại binh Sài Gòn bị đánh tan nát trong các đợt đổ quân liều lĩnh gần Tchépone, để rồi:

Chiến dịch kết thúc sau 44 ngày. Con số thương vong cao: 8.000 người, là một yếu tố làm suy nhược ý chí chiến đấu của Nam Việt Nam”.

Số liệu và nhận xét trên được ghi lại bởi “cố vấn đặc biệt của Tổng thống Thiệu” qua cuốn Từ tòa Bạch Ôc đến dinh Độc Lập (Nguyên tác: The Palace File – TS Nguyễn Tiến Hưng – Jerrold Schecter, nhiều người dịch, NXB Trẻ). Cuốn sách viết là đối với Thiệu sự thiếu hụt số trực thăng Mỹ cần thiết cho trận đánh ảnh hưởng đến cuộc hành quân:

“Ba ngày sau khi bắt đầu chiến dịch số phi công trực thăng Mỹ bị thương vong quá nhiều (…). Các phi công rất miễn cưỡng trong việc tiếp tục tải xác chết đúng lúc và đúng cách. Chính điều ấy gây chướng ngại cho binh lính Nam Việt Nam. Chúng tôi không làm cách nào để chở khỏi trận địa số binh sĩ tử thương hoặc bị thương, khiến ảnh hưởng không những đến tinh thần chiến đấu mà còn kềm hãm tiến trình chung của chiến dịch (…). Niềm tin đầu năm mới tiêu tan vì số thương binh của chiến dịch Lam Sơn đã lấp đầy các giường bệnh ”. Chứng kiến cảnh trực thăng tải thương bay như chuồn chuồn sa mưa từ Lào về, dân miền Trung thời đó có câu ca truyền khẩu:

Ai Lao đi dễ khó về

Khi đi áo giáp, khi về áo quan

Ai Lao đi dễ khó sang

Khi đi áo giáp, áo quan khi về!

Đường mòn Hồ Chí Minh vẫn thông xe. Chiến trường xa nhất của Nam bộ nhận được 4.000 tấn hàng năm 1971, tăng gấp đôi trước ngày có “cuộc chơi” Lam Sơn 719 vơi cái giá mà Sài Gòn phải trả cho hư không hơn 8.000 mạng sống. Nguyễn Cao Kỳ kêu: “Làm sao có thể khác được?”

39 – Một ngày cùng Tuyết Mai hạ cánh

Ông Nguyễn Cao Kỳ và bà Tuyết Mai, ảnh chụp năm 1967

Ông Nguyễn Cao Kỳ và bà Tuyết Mai, ảnh chụp năm 1967

“Làm sao có thể khác được” vì, theo Nguyễn Cao Kỳ, đem một đội quân quen “lệ thuộc phần lớn vào quân đội khác (Mỹ) về chỉ huy, vũ khí và ngay cả chiến lược” để nhào nặn thành “mới” và tách ra độc lập tác chiến như kiểu chiến dịch Lam Sơn 719 rất khó mà địch nổi đối phương.”.

Về mức sống cũng vậy, sự chung đụng lâu ngày với lính Mỹ tạo thói quen mong ngóng một số sinh hoạt ưu đãi không thể có được khi vắng mặt “người bạn” Mỹ bên cạnh, dẫn đến tâm lý so sánh, bứt rứt, thiếu hụt nơi lính Sài Gòn. Kỳ phân tích:

“Khi chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh chớm tiến hành, chúng tôi phải hướng dẫn lại cách suy nghĩ của những người lính đã từng sát cánh chiến đấu bên các bạn đồng minh nước ngoài có mức sinh hoạt quá cách biệt. Sự khác biệt đó đẻ ra vô số chuyện không mấy hay ho mà giờ đây chúng tôi phải “thừa hưởng”. Không ai lại đi trách người lính Mỹ ăn ngon, mua thả cửa các loại hàng hóa miễn thuế ở cửa hàng quân đội dành cho họ. Nhưng khi một đơn vị lính Nam Việt Nam hành quân sát bên một đơn vị lính Mỹ thì điều chắc chắn xảy ra là người Mỹ với tính hào phóng vốn có đem phân phát kem và thuốc lá không giới hạn cho các bạn đồng minh. Kết quả là mỗi đơn vị Việt Nam đều muốn tận lực hoạt động sát bên các đơn vị Mỹ và khi các đơn vị Việt Nam đột nhiên phải hoạt động độc lập thì họ cảm thấy thiếu nhớ những đồ xa xỉ của Mỹ”.

Đó chỉ mới lướt qua chung chung, sâu vào chi tiết ông Kỳ nêu trong hồi ký:

“Một lần tôi đã chứng kiến cảnh lính Mỹ tắm vòi nước gương sen tại một tiền đồn nằm chơ vơ giữa rừng rậm. Ít nhất trong vòng 20 dặm quanh đó không thể đặt buồng tắm bằng vòi nước gương sen nhưng với phương tiện sẵn có, Mỹ làm được chẳng khó nhọc mấy. Thoạt đầu, cả trăm lính Mỹ cởi hết quần áo đứng quây thành một nhóm dưới đất. Trên không, một chiếc máy bay lên thẳng lượn tới và phun nước xuống người họ. Tiếp đó, một chiếc máy bay lên thẳng thứ hai tới phun xà-phòng nước (để họ xoa người, kỳ gội) rồi chừng 5 phút sau khi tất cả kỳ cọ xong đâu đó thì chiếc máy bay thứ nhất quay trở lại phun nước lần nữa cho sạch”.

Đến cái ăn cũng được chăm sóc ngon lành hơn lính Việt một trời. Ngoài các loại thịt heo ba lát, thịt bằm, thịt xay hoặc nấu đậu với kỹ nghệ đóng hộp tân tiến, lính Mỹ còn có thể nếm các món tươi xào nấu tại chỗ như Kỳ thuật lại trong một chuyến cùng Tuyết Mai hạ cánh xuống một tiền đồn hẻo lánh:

“Lần khác, vợ tôi và tôi thăm một đồn sát biên giới Lào. Đó là căn cứ pháo binh Mỹ đóng tít tận đỉnh núi đá để yểm trợ cho lực lượng đồn trú phía bên dưới. Khi tôi vừa nhảy ra khỏi chiếc máy bay lên thẳng để bắt tay viên quan chỉ huy thì đã ngửi thấy mùi xào nấu thơm phức. Ở bất cứ nơi nào, dù xa xôi hẻo lánh cách mấy, vẫn có một người đầu bếp Mỹ mặc tạp dề trắng, đội mũ trắng, nấu nướng những miếng thịt bò chất từng đống, thơm ngon và đều đặn cứ như bữa ăn ở các nhà phú hộ.

Tất nhiên người Mỹ có quyền dùng máy bay lên thẳng để tiếp tế thịt bò tươi cho lính của họ, song hai quân đội Việt và Mỹ nằm sát bên nhau mà lại sống trong hai thế giới cách biệt nhau quá là điều đáng  nói”.

Còn khi họ cùng phối hợp chiến đấu thì “điều đáng nói” là lính Sài Gòn phải thích nghi với chiến thuật Mỹ. Mà bộ binh Mỹ cứ vừa tiến tới vừa ngửa mặt trông trời, chờ sự yểm trợ của không quân như “một phản xạ tự nhiên”. Do đó, so với đối phương (Việt Cộng), họ giảm tự tin khi chưa nghe thấy tiếng gầm rú của máy bay trên không trung nơi lâm trận.

Kỳ nêu rõ sự lệ thuộc vào không quân, vào phi pháo Mỹ đã “‘đưa các tướng lãnh của chúng tôi đến những thói quen xấu”. Vì không quân chỉ có thể phụ giúp thôi, chỉ đóng vai trò yểm trợ, chính lực lượng bộ binh “mới là người tiến chiếm đất đai” làm chủ trận địa. Kỳ viết: “Về sau người Mỹ thường chỉ tríchkịch liệt bộ binh Việt Nam (quân Sài Gòn) không chịu tiếnđánh nếu không có không quân yểm trợ. Nhưng họ có biếtđâu rằng chính cách sử dụng lãng phí không quân của họ đãdạy cho binh sĩ chúng tôi ỷ lại vào sự yểm trợ đó”. Có ngày phải tiến hành đến 5.000 phi xuất yểm trợ cho bộ binh Nam Việt Nam, một con số không nhỏ đối với “một nước nghèo”, trong lúc như Kỳ bảo ‘‘không quân Mỹ với ngân sách lớn nên họ chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện đó” cứ phung phí vung vãi bom đạn. Các phụ tùng cũng thế. Khi Mỹ rút, linh kiện máy móc theo chủ trương ‘‘Việt Nam hóa” trút vào “chất cao như núi”, tha hồ sử dụng. Kỳ kể:

“Tôi còn nhớ mãi một anh chuyên viên Mỹ mang lon trung sĩ có hơi cố chấp nhưng tốt bụng, một bữa bước vào trong nhà để máy bay đã há hốc mồm khi thấy thợ máy bay Việt Nam đang dùng dao díp cạo một cái bu-ji cho sạch. Anh ta la lên nửa đùa nửa thật: Trời đất ơi! nếu ai cũng làm như anh thì còn gì là nền kinh tế nước Mỹ (người ta sản xuất đồ mới để bán cho ai?). Thôi, quăng nó quách đi, anh! Chúng tôi có cả triệu cái bu-ji mới ngoài kia kìa!”.

Những điều trông thấy trong căn cứ không quân và qua các chuyến hạ cánh cùng vợ là Tuyết Mai xuống thăm nhiều tiền đồn đã bổ sung thêm một số chi tiết về “nỗi đau” Việt Nam hóa trong hồi ký của Kỳ. Song đáng nhớ nhất sau chiến dịch Lam Sơn 719, đốỉ với Kỳ, có lẽ là chiến dịch vận động tranh cử tổng thống của Thiệu vào giữa năm 1971, vì nó đẩy đường bay của Kỳ chệch khỏi quỹ đạo của chính trường Sài Gòn từ đó. Cuộc bầu cử diễn ra vào tháng 10, nhưng từ lâu, Thiệu đã làm đủ điều ngăn cản các đối thủ, trong đó có tướng Dương Văn Minh. Ông ta nặn ra đạo luật mới với nhiều điểm lạ đời, mà Kỳ nhắc:

“Người muốn ứng cử phải đại diện cho một đảng lớn (tôi- Nguyễn Cao Kỳ – không phải là đảng viên của một đảng nào), hoặc phải được 40 nghị sĩ, dân biểu giới thiệu và bảo đảm. Nhưng Thiệu đã kiểm soát tất cả…”.

Đoạn chót của “cuộc đấu” là Thiệu tranh cử “một mình với nhau”; độc diễn! Nguyễn Cao Kỳ hạ bút:

Thế là, sau hai năm làm thủ tướng(1965-1967) và bốn năm làm phó tổng thống (1967- 1971), tôi “ngồi chơi xơi nước”. Tôi vẫn giữ quân hàm thiếu tướng không quân, vẫn ở căn nhà trong căn cứ không quân…

Ông đi đi, về về đồn điền riêng ở Khánh Dương bằng máy bay lên thẳng của mình và tự lái lấy, dĩ nhiên, nhiều chuyến có cả Tuyết Mai ngồi bên. Họ còn có chỗ để “hạ cánh” an toàn!
 

40 – Đại sứ Bunker và toan tính đảo chính ở Sài Gòn 1971

Tiến thân (lên tướng) từ cuộc đảo chính năm 1963, Thiệu bị ám ảnh dai dẳng bởi cái chết của hai anh em ông Diệm. Ông ta nói với cố vấn của mình là không thể quên được cảnh tượng thi thể Diệm và Nhu nằm trên sàn thép nhầy máu của chiếc M.113 mà chính ông ra lệnh cho lái xe mở cửa hậu để nhìn vào: Tôi đã ngả mũ cúi chào xác hai ông ấy rồi quay đi mà chưa hết bàng hoàng .

 
Nguyễn Văn Thiệu kể là ngày 2.11.63 ông được lệnh cầm quân đánh chiếm dinh Gia Long và nếu hôm ấy hai ông Diệm – Nhu còn ở lại đó chứ chưa chạy vào nhà thờ cha Tam trong Chợ Lớn thì “Tôi sẽ đưa họ về trụ sở Bộ Tổng tham mưu trên một chiếc xe jeep mui trần”.
Nhưng khi lọt vào dinh, không thấy Diệm – Nhu, lính của Thiệu sục sạo các căn phòng vắng chủ bợ đi một số đồ quý cùng các thứ trang trí nội thất đắt tiền đem ra ngoài bán chác hoặc giữ làm của riêng. Cảnh đó được quay vào ống kính và bà Ngô Đình Nhu ở nước ngoài xem biết, mới điện ngay cho tướng Trần Văn Đôn phàn nàn “đám cao bồi” lấy hết đồ riêng của bà trong dinh và đòi được bảo vệ (!).
Thiệu bắt những binh lính đã tẩu tán đồ vật dinh Gia Long phải chịu kỷ luật, phạt đánh bằng roi da. Hết thảy mọi điều diễn ra đó đọng lại nơi Thiệu nỗi sợ hãi sẽ bị sát hại qua một cuộc đảo chính như ông Diệm. Ông nói nhiều lần với các cố vấn thân cận rằng người Mỹ có thể trừ khử ông ta nếu thấy lợi cho họ. Ngón sở trường Mỹ thường dùng là sử dụng bàn tay của các tướng tá cật ruột với “đối tượng” để hạ thủ “đối tượng”. Do vậy, Thiệu vẫn thường quán xét người chung quanh. Và sinh đa nghi, tẩn mẩn.
Ngay hồi bị khủng hoảng sau Tết Mậu Thân 68, Thiệu lên ruột khi Trần Văn Đôn tổ chức đại hội thành lập “Mặt trận nhân dân cứu nguy dân tộc” tại rạp Rex với các cố vấn như luật sư “Nguyễn Văn Huyền (chủ tịch Thượng viện Sài Gòn), Nguyễn Bá Lương (Chủ tịch Hạ viện Sài Gòn), linh mục Hoàng Quỳnh, ông Cao Hoài Sang (Cao Đài), ông Lương Trọng Tường (Hòa Hảo)…Trước đó không lâu, Thiệu đã dùng “viễn vọng kính” của nha tình báo trung ương chiếu thấy danh tánh của một số đại diện đoàn thể của “mặt trận” trên họp nhau sơ bộ tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn mà Thiệu cho rằng sự đứng chung “thành khối” của họ là bất lợi, như các ông Phan Khắc Sửu, Hà Thúc Ký, Thích Tâm Giác, Huỳnh Văn Nhiệm, Trần Văn Tuyên, Trần Văn Lộc, Trương Xuân Vĩnh…Ông ta nghi Trần Văn Đôn hậu thuẫn Nguyễn Cao Kỳ (đang là Phó Tổng thống) tập hợp lực lượng trên để tìm cách “hất” ông. Nên một lần, Thiệu gặp Trần Văn Đôn, trước mặt ông Đôn, Thiệu không còn là viên đại tá chỉ huy trưởng Sư đoàn 5 ngày nào được chính tay Đôn gắn sao thăng lên tướng sau cuộc đảo chính Diệm nữa; mà nay đã là tổng thống và nghiêm giọng hỏi:

–         Trung tướng hoạt động nhiều vậy để làm Thủ tướng phải không?

–         Nếu tôi muốn làm Thủ tướng thì tôi xin tổng thống cho tôi ghế đó! Tôi với anh em nghị sĩ dân biểu và một số anh em đủ giới ngồi lại trong một tổ chức nhân dân để yểm trợ chính quyền…

Hồi ký Trần Văn Đôn viết tiếp: “Ông Thiệu không hỏi thêm nhưng không tin điều tôi nói. Tôi thấy hơi buồn vì ông Thiệu đang làm tổng thống mà còn ganh tị với một sinh hoạt chính trị có thể tạo ảnh hưởng cho Phó tổng thống Kỳ…”

Phần Phó tổng thống Kỳ, cho đến cuộc bầu cử tháng 10.1971, muốn tách riêng một liên danh tranh chức tổng thống với Thiệu, chứ không làm “phó” cho Thiệu nữa. Phía Thiệu, lấy ông Trần Văn Hương làm ứng cử viên phó tổng thống thay Kỳ. Ông Dương Văn Minh cũng ra tranh cử nhưng …như Trần Văn Đôn viết: “Luật bầu cử tổng thống và phó tổng thống lúc đó (do Thiệu khống chế, khuynh loát lập ra nhằm loại bỏ đối thủ) có điều khoản ứng cử viên phải được một số đại diện dân cử ký tên ủng hộ. Nguyễn Văn Thiệu cho thâu hầu hết các chữ ký này cho mình nên Dương Văn Minh và Nguyễn Cao Kỳ không còn đủ số chữ ký cần thiết, cuối cùng phải rút lui không thể ứng cử nữa”.

Tức tối, Kỳ cũng chưa chịu buông ngay, tìm cách phản ứng mạnh, đảo chánh? Kỳ đã tính tới nước đó:

–         “Trong một nước mà đảo chính (có dạo) đã trở thành cơm bữa thì chúng tôi thảo luận về khả năng đảo chính để lật đổ Thiệu là điều không mấy ngạc nhiên. Tôi biết mình có thể hoàn toàn tin tưởng ở không quân và đa số tướng lãnh trong quân đội…”. Thật ra, cánh tướng tá của Kỳ, như đã nói, bị rocket Mỹ “bắn lầm” chết khá bộn. So với Thiệu, thực lực Kỳ yếu hơn nhiều. Song điều lo lắng của Kỳ không nằm ở đó mà ở phía …người Mỹ! Và đại sứ Bunker đã đến. Không cần hẹn, người ta bảo hễ nhà nào bàn chuyện đảo chính, dường như có bóng các đại sứ Mỹ trên thềm. Hoặc “thăm xã giao”, hoặc “hỏi thăm sức khỏe”…Và lần này, đại sứ Bunker đến tận nhà Kỳ để “khuyến phát tranh cử”. Chẳng lẽ họ không biết Thiệu đã “thắng” trong việc ngăn chặn hết mọi lối vào phòng phiếu? Đã loại hết các liên doanh? Kỳ tỏ vẻ lấy làm lạ vì lý do này nữa:

–         Mặc dầu người Mỹ nói để tôi biết rằng họ không chấp nhận một cuộc xung đột công khai giữa Thiệu và tôi (hay bất kỳ việc gì tương tự như một cuộc đảo chính) song họ lại rất muốn tôi nhảy ra tranh cử để đối mặt với Thiệu. Họ nghĩ rằng việc ấy sẽ làm cho cuộc bầu cư có vẻ dân chủ hơn. Một buổi chiều, đại sứ Bunker đến nhà tôi trong căn cứ không quân và nói: “Bầu cử mà độc diễn (chỉ Thiệu) thì không phải là tấm gương tốt cho thế giới”.

Đại sứ Bunker không dừng ở nhận định đó, mà còn ngỏ lời tử tế tới nỗi “xung phong kiếm tiền cho tôi (Kỳ) vận động bầu cử. Chắc hẳn ông ta thừa biết tôi chẳng có hy vọng gì trúng cử, nhưng có lẽ người Mỹ nghĩ rằng nếu phải tốn phí mà tạo ra được một cái vẻ bề ngoài bầu cử tự do thì cũng đáng đồng tiền. CIA cũng làm áp lực với tôi…Rốt cuộc cả Dương Văn Minh và tôi đều rút lui và cuộc bầu cử được tiến hành với một tên ứng cử viên tổng thống duy nhất: Nguyễn Văn Thiệu”.

Thâm tâm người Mỹ và đại sứ Bunker đến đó dường như vẫn chưa yên. Họ đang cần một không khí chính trị an toàn cho cuộc rút quân và nghị hòa, nên họ muốn không có đảo chính hoặc xáo trộn tại Sài Gòn. Phải chăng họ đã phái nhiều nhân viên mật vụ đến nhắn nhe Kỳ? Kỳ viết: “Thật thế, đại tá Châu Văn Tiên nắm quyền tại Gia Định đến thăm căn cứ không quân nhằm lúc tôi đi vắng và nói với binh sĩ:

–         Chúng tôi nghe tướng Kỳ có kế hoạch đảo chính. Nếu chuyện ấy xảy ra, chúng tôi sẽ sẵn sàng đập tan. Chúng tôi có máy bay Mỹ ủng hộ và đảo chính sẽ thất bại!”.

Nếu Mỹ và Thiệu không mớm, viên đại tá kia dám nói? Cạch mặt Kỳ, nhưng Thiệu (và cả Mỹ) lại rất thích dùng một viên tướng khác dám tuyên bố trung thành với ông Diệm vào giờ phút chắc thắng của cuộc đảo chính 1.11.1963: Cao Văn Viên.

41 – Tướng Cao Văn Viên: Tổng tham mưu trưởng kỳ lạ nhất Sài Gòn

Ông Cao Văn Viên - vị đại tướng tổng tham mưu nhiều lần xin từ chức nhưng không được tổng thống Thiệu chấp thuận

Ông Cao Văn Viên – vị đại tướng tổng tham mưu nhiều lần xin từ chức nhưng không được tổng thống Thiệu chấp thuận

Năm 1971, choáng váng bởi tổn thất nặng sau chiến dịch Lam Sơn 719, ông Thiệu nhờ Trần Văn Đôn nói với đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, hãy quét tầm nhìn chiến lược đến các quân khu, chịu khó tiếp xúc với các tư lệnh vùng để tăng cường quân lực, chứ đừng ở mãi trong văn phòng riêng như ông Viên vẫn làm.

Tại sao ông Thiệu không trực tiếp nói với Cao Văn Viên mà phải nhờ Trần Văn Đôn? Bởi Thiệu có nói nhưng đại tướng Viên vẫn không nhúc nhích, cứ ngồi một chỗ để chỉ huy ngót một triệu quân qua…điện đàm là chính. Ông Đôn gặp Cao Văn Viên hỏi lý do. Ông Viên bảo:

“Tôi đã xin từ chức mấy lần mà ông Thiệu không chấp thuận nên tôi cứ ở văn phòng làm việc mà thôi!

Trong khi đất nước có chiến tranh, nhất là năm 1972 chiến trường sôi động, mà ông Tổng tham mưu trưởng chỉ “ngồi văn phòng làm việc miễn cưỡng” làm sao các sĩ quan binh lính ngoài mặt trận khỏi dị nghị được? Ông Đôn viết trong hồi ký như thế và thêm:

Tôi hỏi ông Thiệu:

–        Nếu tổng thống không bằng lòng…thì sao không đổi người khác để làm việc hữu hiệu hơn?

–        Hai người này (kể thêm Trần Thiện Khiêm, thủ tướng) là người của Mỹ chọn, nếu tôi đổi hai người này thì Mỹ sẽ phản đối, tôi sẽ gặp nhiều khó khăn. Cái khó khăn của tôi âu cũng nghĩ chỉ là (chỉ) đối đầu với Cộng sản. Thật ra trở ngại và khó khăn cho tôi là Mỹ. Ví dụ như việc bổ nhiệm người trong nội các, người nào Mỹ không phản đối thì được, còn phản đối thì khó mà làm việc”.

Rõ vậy! Ngay Cao Văn Viên có lần ngán ngẩm buột miệng sổ toẹt về tính chất “tầm gửi” của đội quân Sài Gòn vào Mỹ khi phái đoàn nghị sĩ và dân biểu đến gặp để hỏi “về chiến lược quân sự của Bộ Tổng tham mưu”:

–        Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh (!). Trách nhiệm chiến đấu ở đây là người Mỹ. Chính sách đó do họ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi!

Câu trả lời quá rõ. Xin miễn bàn.
 
Cứ như thế, ông Viên tà tà đến bàn giấy làm việc hệt cung cách công chức. Vềnhà, theo người thân kể lại, ông quẳng những ưu tư ven đường, dường như không nghĩ tới tấm bản đồ hành quân, hoặc cục diện chiến trường, mà suy tưởng đến những chuyện đâu đâu ngoài cõi thực. Nhưng oái ăm, chính một phần vì thái độ đó mà đại sứ Mỹ… yên tâm! Trần Văn Đôn kể:
 
“Mỗi khi Mỹ đề nghị điều gì khó khăn, nếu về hành chính thì Tổng thống Thiệu giao cho Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, còn về quân sự thì giao cho Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên. Dĩ nhiên hai ông này sẽ làm theo đường lối của Mỹ. Hai ông này không hẳn thích Mỹ nhưng trải qua kinh nghim của những người đi trước họ hiểu rằng muốn sống yên trên địa vị cao sang của mình thì phải chiều theo ý của Mỹ. Vì vậy mà Mỹ thích hai ông đó nắm trọn lực lượng quân sự và chính trị trong nước. Đó cũng là cách hay nhất để nắm luôn Tổng thống Thiệu bởi vì nếu cần thì… hai người đó sẽ đảo chính dễ dàng!”
 
Thiệu hẳn nhiên dùng nhiều biện pháp đề phòng những người quanh mình. Ông đặt máy truyền tin trong phòng làm việc để khi cần liên lạc nói chuyện thẳng với tư lệnh 4 vùng chiến thuật, hoặc trực tiếp điều động các sư đoàn cứu viện. Cẩn thận hơn, ông Thiệu đặt Phòng hành quân sát phòng mình và giao sĩ quan trực đảm nhiệm theo dõi, ghi chép hướng di chuyển của các đơn vị lớn thuộc các binh chủng. 
 
Vào mỗi sáng, ngoài việc nắm tình hình qua báo cáo, ông còn nghe ngóng động tĩnh tại các quân khu bằng hệ thống truyền tin riêng không nhất thiết phải qua trung gian của Bộ Tổng tham mưu. Hệ thống đó cũng cho phép Thiệu gọi đến tận các địa phương để trực tiếp ra lệnh cho các tỉnh trưởng, thị trưởng trong trường hợp cấp bách. Dẫu hết sức cảnh giác, đảo mắt quan sát các tướng tá thân cận, nhưng Thiệu lại không mặn mà lắm với ý kiến của cố vấn Hoàng Đức Nhã khi Nhã thúc hãy thay gấp hai ông Trần Thiện Khiêm và Cao Văn Viên.
 
Vì theo Thiệu, đó là hai viên tướng ăn cánh “lâu đời” với ông ta, không dễ gì trở mặt phản phé được. Nếu họ không làm việc tốt so với trọng trách đã giao thì ít ra họ cũng án ngữ giùm ông hai cánh cổng quyền lực của chế độ mà nhiều đối thủ dòm ngó. Huống gì ông Thiệu rất mực tin tưởng vào “lòng trung thành” của Cao Văn Viên vốn từng biểu lộ trong phút lâm chung của Ngô triều.
 
Theo hồi ký Đỗ Mậu, đêm xảy ra đảo chính Diệm 1.11.1963: “tại văn phòng của tướng Khiêm, nơi được chọn làm bộ ch huy, tướng Dương Văn Minh, hỏi từng người “ai theo cách mạng” (phe đảo chính) và ai còn theo ông Diệm”? Tất cả đều hoan h trả lời: “Theo cách mạng!” trừ đại tá Cao Văn Viên, tư lệnh quân nhảy dù, trả lời:
 
Tôi là một quân nhân kỷ luật. Tôi không làm chính trị, tôi chỉ biết tuân lệnh Tổng thng Diệm”.
 
Thời còn cấp bậc trung úy vào năm 1953, Đỗ Mậu cùng Cao Vãn Viên và Nguyễn Văn Thiệu gặp nhau tại Hưng Yên. Ông Mậu cho biết: “Chúng tôi coi nhau như bạn thân. Cao Văn Viên là người ít nói trong lúc Thiệu và tôi hay thảo luận chính trị, thời thế”.Năm 1958, Ngô Đình Diệm đưa Cao Văn Viên về dinh Độc Lập giữ chức Tham mưu trưởng biệt bộ. 
 
Khi Nguyễn Chánh Thi đem lữ đoàn nhảy dù tấn công dinh Độc Lập mưu đảo chính Diệm nhưng thất bại phải chạy qua Campuchia tỵ nạn; ông Diệm giao Cao Văn Viên chỉ huy lữ đoàn nhảy dù thay ông Thi – đồng thời thăng cấp cho ông Viên lên đại tá. Trong lúc ông Viên gắng giữ trách nhiệm ở phạm vi được giao thì vợ ông lại là một “phu nhân” hiếu động cộng tác đắc lực với bà Nhu trong “phong trào phụ nữ liên đới”. 
 
Người đương thời cho là dưới trào ông Diệm có ba “bà tướng”. Bà Thái Quang Hoàng dám đấu khẩu với bà Ngô Đình Nhu về vụ đảo chính hụt của quân nhảy dù. Bà Nguyễn Văn Là “thiện xạ số hai” sau “thiện xạ số một” Ngô Đình Lệ Thủy (con bà cố vấn Nhu) xuất hiện đêm đêm trên màn ảnh xi-nê để thi nhau tác xạ vào… bong bóng, hoặc bò qua các lỗ châu mai giả định tại “chiến trường Thị Nghè”! Bà Cao Văn Viên thích nổi tiếng tương tự. Trở lại chuyện mấy ông chồng, hồi ký Trần Văn Đôn kể hai tướng Trần Thiện Khiêm và Cao

Văn Viên “là đôi bạn thân nhau” nhưng lúc lật đổ chế độ Diệm lại tỏ ra lập trường khác nhau:

 
“Ngày đo chính 1.11.1963, thiếu tướng Khiêm sốt sắng tham gia còn đại tá Viên thì trung thành với ông Diệm nên buộc lòng chúng tôi phải giữ lại chung với các sĩ quan cấp tá như Chỉ huy trưởng lực lượng đặc biệt, Chỉ huy trưởng lữ đoàn phòng vệ Phủ tổng thống… Lúc đó từ Bộ Tư lệnh Quân đoàn III (bao gồm Sài Gòn), ông Đính (trung tướng Tôn Thất Đính) điện thoại cho tôi ngỏ ý muốn nói chuyện với đại tá Cao Văn Viên… Tôi cho người đưa ông Viên đến… Ông Viên phân trần (qua điện thoại với Tôn Thất Đính):
 

–                    Anh phải hiểu cho tôi, tôi không thể làm việc này được. Tôi không thể theo ủy ban để đảo chính ông cụ được!

 
Rồi ông Viên trao trả máy cho tôi nói chuyện với ông Đính. Ông Đính nói:
 
–                    Nó không chịu theo tụi mình, nhưng anh giữ nó bên cạnh đừng nhốt nó tội nghiệp!
 
Tôi để Viên ngồi trong văn phòng tôi, từ lúc tôi điều động lính đảo chính cho đến 8 giờ 
sáng ngày 2.11.1963, mọi việc xong xuôi tôi cho Viên về nhà”.
 
Theo tài liệu khác, ban đầu phía đảo chính định khử Viên, nhưng tướng Đính cứu ông, bảo Viên “là người vô hại” nên thôi. Sau Viên được giao chỉ huy sư đoàn dù Sài Gòn. Năm 1975, với cấp bậc đại tướng, Tổng tham mưu trưởng, ông vẫn không nảy sáng kiến mới lạ gì hơn trong việc điều quân khiển tướng mà giữ đúng nội dung “những chỉ thị” của Thiệu về rút lui chiến thuật và dần đến thua trắng miền Nam. 
Ngày 28.4.1975, sau khi sắp xếp nội vụ Tổng tham mưu, giao tướng Đồng Văn Khuyên xử lý thường vụ, ông Viên mặc thường phục với áo sơ-mi, quần jean, đáp máy bay sang Bangkok – Thái Lan, với sự hỗ trợ của cơ quan lo việc tản cư của Mỹ DAO. 
Tại đó, ông lấy vé hàng không dân sự bay thẳng tới Washington như một du khách. Hồi chế độ Sài Gòn sắp “tàn cuộc hoa này”, nghe nói đại tướng Viên thực tế đã tự về vườn, thường tĩnh tâm trong am nhỏ. 
Ở đó ông không ngẫm nghĩ ngày đêm để “chắp tay sau lưng mà vẫn quyết định sự thắng bại ngoài nghìn dặm” theo luật làm tướng ghi trong binh pháp. Mà để trốn khỏi rối rắm và gánh nặng chức trách của người đứng đầu đội quân đông ngót một triệu người! Thời cuộc vẫn để ông ngồi ở vị trí liên quan tới sự sống chết của cả triệu sinh linh một cách hững hờ và miễn cưỡng! 
Ở khía cạnh này, tướng Cao Văn Viên là một tổng tham mưu trưởng kỳ lạ nhất của quân đội Sài Gòn “năm xưa”.
 

42: Nguyễn Cao Kỳ cũng sợ “Anh Cả đỏ“! Vì sao?

Đã nhiều lần ông Cao Văn Viên bày tỏ ý không muốn giữ chức vụ Tổng tham mưu trưởng quân đội nữa và xin từ chức. Hồi ký Trần Văn Đôn ghi nhận đến “ba lần ông Nguyễn Cao Kỳ xin đảo chính Nguyễn Văn Thiệu nhưng ông Viên không chấp nhận”. Kỳ vừa giận vừa lo nhưng chưa dám động tới Viên, mệnh danh “Anh Cả đỏ”. Vì sao?…

 
Biết Cao Văn Viên không hợp tác đảo chính theo tính toán của Kỳ nên “ông Thiệu càng thích hơn, cho dù chức vụ Tổng tham mưu trưởng quân đội, ông Viên làm miễn cưỡng lơ là chăng nữa, cũng còn hơn đặt người khác vào có thể đảo chính. Đã nhiều lần ông Viên bày tỏ ý không muốn giữ chức vụ đó nữa, xin từ chức hoài nhưng ông Thiệu không chấp nhận”.
Hồi ký của Trần Văn Đôn ghi nhận đến “ba lần ông Nguyễn Cao Kỳ xin đảo chính (Thiệu) nhưng ông Viên không chấp nhận”. Kỳ vừa giận vừa lo nhưng chưa dám động tới Viên. Vì ngoài “cái tướng oai vệ, biết lái trực thăng”, từng làm tư lệnh “anh cả đỏ”, một binh chủng mà Kỳ nể mặt, mà qua nhiều năm đứng đầu bộ tham mưu, Viên còn tạo dựng sẵn nhóm tay chân em út không dễ gì Kỳ đương cự nổi. 
Rõ ràng Thiệu sợ nguy cơ bị mất hậu thuẫn khi thay người. Cứ để Viên trấn trị, bày quân bố trận khắp 4 vùng chiến thuật như cũ mà đỡ lo hơn! Dù các sư đoàn lá chắn đã bị đánh vỡ và chọc thủng vào giai đoạn hấp hối của chế độ cũng mặc.
Tới nước đó, một trưa giữa tháng tư 1975, 5 tướng tá Sài Gòn tìm đến nhà ông Đôn trên đường Alexandre de Rhodes nằm trước dinh Độc Lập để chỉ trích tổng tham mưu trưởng của họ:

– Cấp chỉ huy quân đội từ mấy năm nay quá yếu. Đại tướng Cao Văn Viên không đủ khả năng, không làm đúng bổn phận, làm việc không hữu hiệu mà lại ngồi chỉ huy suốt 9 năm trời!

Những người đưa ra lời phê bình muộn màng đó gồm trung tướng Vĩnh Lộc, chỉ huy trưởng Trường Cao đẳng Quốc phòng: trung tướng Nguyễn Bảo Trị, phụ trách các trường huấn luyện quân sự; và các đại tá Nguyễn Huy Lợi, Vũ Quang, Trần Ngọc Huyến…Ông Đôn đã nói gì trước những lời công kích ông Viên? 
Trần Văn Đôn viết: “Theo tôi biết, ông Cao Văn Viên nhảy dù giỏi, tham mưu giỏi, nhưng ông ta làm việc không hăng say, không tự quyết, tự quản. Ông làm việc theo lịnh của tổng thống, vì tổng thống là Tổng tư lệnh, hoặc làm việc theo lệnh của Tổng trưởng quốc phòng hoặc Thủ tướng. Không bao giờ ông Viên đề nghị, phê bình hoặc từ chối một chỉ thị nào của thượng cấp nên Mỹ, ông Thiệu, ông Khiêm đều thích một ông Tổng tham mưu trưởng như ông Viên. Trong quân đội, ông Viên không hề khích lệ tinh thần cho anh em hăng say chiến đấu. Sau năm 1970, tôi gặp ông Viên nên biết ông bận lo thi lấy bằng cao học văn chương Pháp, chú trọng đến thiền học. Chiều tối nào ông cũng leo trên mái tôn cao sau nhà để hành thiền và ngủ luôn ở đó. Dầu có xảy ra việc gì cũng không ai được quấy rầy ông!…”.
Một Tổng tham mưu trưởng quân đội có xu hướng đi sâu vào thế giới tư duy “trừu tượng” như vậy khó mà quyết định cấp thời những chiến thuật  “cụ thể”. 
Song muốn thay Cao Văn Viên phải dòm tới dòm lui như trung tướng Trần Văn Minh, Tư lệnh không quân, trung tướng Chung Tấn Cang, Tư lệnh hải quân, trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh biệt khu thủ đô, kế là chuẩn tướng Thọ, trưởng phòng III hành quân, hoặc đại tá Lung, trưởng phòng II tình báo Bộ tổng tham mưu…Lúc dầu sôi lửa bỏng, việc thay Tổng tham mưu trưởng tuy cần nhanh chóng song không thể làm bừa. Những ai trong họ từng được Cao Văn Viên cất nhắc hoặc có công chuyện gì đó liên hệ mật thiết với Viên trong quá khứ hẳn phải gợn nhiều lo nghĩ.

Chần chừ mãi đến tuần lễ cuối cùng của chế độ vẫn chưa thay được Viên. Ông Đôn hỏi:

– Ai có thể thay thế đại tướng Viên?

Trung tướng Nguyễn Bảo Trị đáp:

– Trung tướng Nguyễn Đức Thắng, gần hai năm nay ông ấy không có việc làm.

Tôi (Đôn) biết khả năng ông Thắng, đã gợi ý nhưng ông ấy từ chối…

Viên “có số” làm to; mãi ngày ông Thiệu nhường ghế cho “tân tổng thống” Trần Văn Hương, ông Viên vẫn giữ chức vụ cũ. Thậm chí, “tân tổng thống” Hương còn “tín nhiệm” Viên tới mức đề bạt lên cao hơn nữa, tới Tổng tư lệnh quân đội (trước do ông Thiệu giữ)!
Trần Văn Đôn kể một cách rõ ràng trong hồi ký: 
“Tân tổng thống Hương định đưa ông Viên lên làm Tổng tư lệnh (!), là cấp bậc cao hơn Tổng tham mưu trưởng. Lúc ông Hương nói với tôi tại dinh Độc Lập ngày 25.4.1975 (có ông Viên ở đó), ông Viên nhìn tôi có vẻ không hứng thú. Ông Viên đã không thích nhận trọng trách điều khiển quân đội, huống chi bây giờ ông Thiệu và ông Khiêm đã từ chức (thì ông Hương khó mà “năn nỉ” Viên làm Tổng tư lệnh được!)”.

Số Viên còn đỏ. Khi “tân tổng thống” Trần Văn Hương sắp trao quyền cho Dương Văn Minh, Dương Văn Minh điện thoại dặn Trần Văn Đôn phải “cố giữ ông Viên ở lại chức vụ tổng tham mưu trưởng, đừng cho ông Viên đi”. Nhưng sáng sớm 29.4, Đôn trả lời:

– Viên đã đi rồi!

Như vậy, từ anh em ông Ngô Đình Diệm đến Mỹ – Thiệu, Kỳ, Khiêm, Trần Văn Hương, và cuối cùng là Dương Văn Minh đều muốn dùng và giữ Cao Văn Viên. Chẳng phải vì ông là vị tướng quá giỏi không ai thay thế nổi mà trước hết bởi ông là con người của sự “thực thi mệnh lệnh” và “trung thành” với tổng tư lệnh của mình.

Ra nước ngoài, Cao Văn Viên viết hồi ký, có đoạn: “Binh sĩ miền Nam Việt Nam (Sài Gòn) trong những năm 1972-1975 ra trận nhưng quá sức lo lắng về việc tiếp tế đạn dược không được nhanh như yêu cầu và nếu bị thương phải chờ khá lâu mới được bốc khỏi mặt trận, thời tiếp liệu thừa thãi và không vận nhanh đã qua rồi…” 
Cao Văn Viên xin Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Schlesinger, tướng tham mưu trưởng Creighton Abrams, thiếu tướng phụ tá quân sự Bộ Quốc phòng John Wickham tăng quân viện nhưng bị từ chối vì quyết định “không viện trợ vũ khí nữa” của Quốc hội Mỹ. Chính quyết định đó báo trước ngày tàn của quân đội Sài Gòn, mà theo Harry Thurk, đông đến hơn 1.300.000 người với hàng nghìn máy bay “thường nằm dưới đất nhiều hơn là tung cánh lên trời”…
 
43: Mỹ gắn điện đài bí mật cho tướng Kỳ liên lạc Nhà Trắng như thế nào?
Bộ trưởng Quốc phòng McNamara cùng một nhóm binh sĩ đi thị sát vùng ven Sài Gòn

Bộ trưởng Quốc phòng McNamara cùng một nhóm binh sĩ đi thị sát vùng ven Sài Gòn

Có lời đồn Mỹ âm thầm nuôi Nguyễn Cao Kỳ để “làm con bài” dự phòng canh bạc chính trị nóng lạnh ở Sài Gòn. Nghi vấn trên đã được chính tướng Kỳ nhắc tới khá chi tiết qua đoạn cuối hồi ký:“Mỹ nói với tôi rằng họ đồng cảm với quan niệm chính trị của tôi và rất buồn thấy tôi ra đi. Cho nên họ ngỏ ý muốn dựng cho tôi một trung tâm truyền tin. Và họ đã làm thật…”

 Không được Cao Văn Viên tán đồng đảo chính Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ đã lui về đồn điền Khánh Dương. Ông ta vẫn giữ liên lạc trực tiếp với các viên chức tình báo cao cấp của Nhà Trắng qua hệ thống điện đài bí mật do chuyên viên Mỹ thiết lập trong một khu rừng vắng (?). Có lời đồn đại Mỹ âm thầm “nuôi Nguyễn Cao Kỳ” để “làm con bài” dự phòng canh bạc chính trị nóng lạnh bất thường ở Sài Gòn. Tướng Kỳ nhắc tới nghi vấn trên khá chi tiết qua đoạn cuối hồi ký:

“Lúc tôi quyết định xây dựng đồn điền, các bạn người Mỹ của tôi nói với tôi rằng họ đồng cảm với quan niệm chính trị của tôi và rất buồn thấy tôi ra đi, cho nên họ ngỏ ý muốn dựng cho tôi một trung tâm truyền tin. Họ đã làm thật. Cách lytrong rừng rậm, hệ thống điện đài của tôi mạnh tới nỗi không những tôi có th nói chuyện với vợ con tôi ở Sài Gòn mà còn có thể nói chuyện với người nước ngoài”.

Những lúc ông rời ngôi nhà nằm trong sân bay Tân Sơn Nhất để đến cánh rừng vắng sống những phút giây yên tĩnh xa hẳn thành phố ông vẫn có thể “liên lạc thường xuyên với gia đình vì tói có một đài vô tuyến truyền tin dân sự tốt nhất miền Nam (…). Khi biết chuyện người Mỹ dựng cho tôi cái đài truyền tin đó, người ta đâm ra suy đoán lung tung.
 
 Vào dịp tôi về Sài Gòn, một anh bạn thân đến thăm tôi tại căn cứ không quân đã hỏi:
 – Nhà Trắng nghĩ thế nào về khó khăn của chúng ta (chế độ Sài Gòn) hiện nay?
 
Tôi ngạc nhiên nhìn anh ta và hỏi lại:

Làm thế nào tôi có thế biết được?

Đến lượt anh ta ngạc nhiên:

Người ta bảo tôi là anh vẫn liên lạc thẳng với Nhà Trắng qua điện đài trong rừng ca anh mà!”

 Nói về ông Thiệu, sau cuộc “bầu cử độc diễn” năm 1971 hợp thức hóa việc ông tiếp tục ngồi ghế tổng thống thêm nhiệm kỳ nữa, ông ta luôn phải đốì phó với tình hình chiến sự cam go trong nước và mặc cảm bị Mỹ hất đứng bên lề hội nghị Paris, cũng như sẵn sàng thay ông bằng người khác nếu thấy cần thiết. Thiệu hết sức lo sợ “bị ám sát”, nhất là mỗi khi ông chưa đáp ứng kịp hoặc trù trừ do dự trước các ý kiến một chiều của phía Mỹ. Cố vấn của ông viết:

“Ông ta thường lo lắng rằng người Mỹ đang chuẩn bị cho việc trừ khử ông (…) mỗi khi rời dinh Độc Lập lên xe đến trụ sở Quốc Hội ở đường Tự Do. Thiệu lại cảm thấy lo rằng CIA có thể đặt kế hoạch khử ông ta và đổ lỗi cho Việt Cộng. Ông ta biết rằng những phòng làm việc của mình đều bị Mỹ đặt máy nghe trộm và sống trong trạng thái lo sợ cho tính mạng”.

Ông ta từng nói với tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng chỉ tạm thấy đôi chút yên ả chóng qua trong lòng mỗi lần chơi quần vợt, nhưng hễ bỏ vợt xuống cứ như phải gánh lên nỗi ám ảnh không rời về một cuộc “đảo chính tưởng tượng” đang đến sát nách “rồi trong đầu Thiệu lóe lên chiếc xe bọc thép MA 13 với hai cái xác bị bắn lỗ chỗ đạn của Diệm và Nhu”.
 
Tâm bệnh đó khiến tóc ông càng trắng. Để khuây khỏa, theo giới nghệ sĩ kể, ông giao du rồi dan díu với một hai “bóng hồng” nho nhỏ, đáng nhớ là sau một bữa tiệc “văn nghệ” ở dinh Độc Lập, ông đã ép một nữ ca sĩ trẻ ăn nằm với mình. Chuyện lộ ra, người làm báo ở Sài Gòn mới gọi ông là “F.M – đầu bạc”. Biệt danh đó thấy nhắc đến trên sách báo người Việt xuất bản ở nước ngoài sau năm 1975.
Nhớ lại khoảng tháng 3.1972 lúc quân giải phóng miền Nam mở cuộc tân công lớn chiếm Quảng Trị, đánh Tây Nguyên và Đông Nam bộ, Thiệu phải điều trung tướng Ngô Quang Trưởng đang chỉ huy Quân đoàn 4 miền Tây ra ngoài Trung thay thế Hoàng Xuân Lãm chỉ huy Quân đoàn I. Đối với quân đội Sài Gòn, tướng Trưởng được ca ngợi là một tư lệnh có tiếng bản lĩnh nhưng ông vẫn bó tay không chiếm lại được thị trấn Đông Hà và sân bay Ái Tử. 
Hai nơi đó nằm gọn trong tay quân giải phóng cho đến ngày ông Trưởng gạt nước mắt lùi khỏi Huế, nằm ở núi Sơn Trà cùng tướng Bùi Thế Lân và phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (anh ruột của Hồ Văn Kỳ Tường, chỉ huy trưởng Hải khu Đà Nẵng)… Trở lại chuyện 1972, bản đồ ở phòng hành quân của Thiệu trong dinh Độc Lập bị “thủng nhiều lỗ” bởi làn đạn bắn từ chiến trường miền Trung trong “mùa hè đỏ lửa”.

Một “làn đạn” khác, vô hình, xuất phát từ Paris vào tháng 10.1972 khi đoàn Việt Nam đưa ra dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình”. Sau đó vài ngày Kissinger đến Sài Gòn cùng phái đoàn cao cấp Mỹ thông báo cho Thiệu biết về dự thảo đã thỏa thuận. Thiệu chưng hửng. Là người được Thiệu cử theo dõi diễn tiến Hội nghị Paris, Trần Văn Đôn kể:

“Sau 2 tháng thương nghị (8 đến 10.1972), Mỹ đồng ý chấm dứt ném bom miền Bắc, vớt thủy lôi và chấp thuận trên nguyên tắc dự thảo hòa ước do Lê Đức Thọ và Kissinger soạn (…). Kissinger đến Sài Gòn trình Thiệu dự thảo đó (…). Phái đoàn Mỹ (Kissinger) đến họp vào lúc 11 giờ trưa tại Phòng hành quân trong dinh Độc Lập. Ngoài Tổng thống Thiệu, còn có Phó tổng thống Trần Văn Hương, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Tống tham mưu trưởng Cao Văn Viên, Đại sứ Phạm Đăng Lâm, Trưởng phái đoàn Việt NamCộng hòa tại hòa đàm Ba Lê, ông Trần Kim Phượng, Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ, Hoàng Đức Nhã, bí thư đặc biệt của tổng thống Thiệu, ông Trần Văn Lắm, Tổng trưởng ngoại giao, ông Nguyễn Phú Đức, Phụ tá ngoại giao phủ tổng thống (…). Kissinger đưa cho Tổng thống Thiệu bản dự thảo hiệp ước 5 điểm bng Anh văn mà không nói thêm về những điều đã thỏa thuận với ông Lê Đức Thọ. Nguyễn Văn Thiệu bực mình vì không được hỏi ý kiến trước… ”.

 Ông Đôn kể tiếp, vì Thiệu dùng dằng nên Kissinger ở lại Sài Gòn họp thêm phiên khác. Khi Thiệu xoay lưng rà lại bản đồ, Kissinger nói cho người bên cạnh đủ nghe: 

Tổng thống của ông nghĩ rằng mình là“thần tượng ”, thật ra ông ta không phi là “thần tượng” gì hết!

 Rồi Kissinger dọa:

Mỹ có thể ký hiệp định riêng với Hà Nội (không cần Sài Gòn). Tôi không bao giờ trở lại Sài Gòn nữa.

 Nghe Kissinger nói, Nguyễn Văn Thiệu xoay lại chỉ mấy tấm bản đồ bảo:

 -(…) Nếu Mỹ không tiếp tục chiến đấu ở đây thì chúng tôi chiến đấu một mình cho đến khi hết phương tiện rồi chúng tôi chết. Nếu tôi ký hiệp định là tôi tự sát.

 Nhưng Thiệu đã đồng ý ký hiệp định Paris 1973 và ông ta vẫn sống đến ngày chạy khỏi miền Nam tháng 4.1975, sang ngoại ô Luân Đôn nước Anh sống yên ổn với vợ và cô con gái. Riêng sưu tập kim cương của vợ ông, bà Mai Anh, góp từ các “quà tặng” ngót 10 năm cầm quyền đủ để ông thư thả làm vườn, quên đi những cánh rừng cháy đỏ vấy máu và bom lửa.

45: Hội đồng an ninh quốc gia “mất an ninh”

rước ngày đám cưới con gái mình 3 hôm, ông Thiệu triệu tập Hội đồng An ninh quốc gia trưng cầu ý kiến về bức thư “bốc lửa” (14.1) của Nixon. Thủ tướng Trần Thiện Khiêm: “ủng hộ bất kỳ quyết định gì của tổng thống”. Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên: “luôn luôn đặt quân đội dưới mệnh lệnh của tổng thống”. Một cố vấn bảo “nếu Mỹ muốn, hãy nên ký Hiệp định…”.

Ông Thiệu nghe nhiều ý kiến chung chung, không thấy ai trong hội đồng nêu giải pháp hành động. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng nhận xét qua “sự cố” đó. Thiệu phải “tự hỏi tại sao ông ta lại chọn những đồng sự (thiếu nhạy bén, thiếu phán đoán, thiếu đảm lược) như vậy để giao nắm giữ vị trí then chốt trong chính phủ”. Tại cuộc họp, Hoàng Đức Nhã nói: “Còn nước còn tát…” cứ tiếp tục trì hoãn với Nixon thử coi. Và Thiệu viết thư yêu cầu giải thích rõ những điểm mập mờ, xác định các cam kết của Mỹ đối với sự tồn tại của chế độ Sài Gòn.
Như hạn định Nixon nêu, Thiệu trả lời trước đêm 17.1, nhưng không trực tiếp trao đổi với đại tướng Haig mà đưa Haig bức thư niêm phong chuyển tổng thống Mỹ. Tiên đoán “bức thư gay cấn” ấy không hay ho lắm như mình muốn, Haig mở ngay nó ra khi về sứ quán…
 
Từ Washington, Tổng thống Nixon nhận thư Thiệu do Haig chuyển và trả lời ngay là Hoa Kỳ công nhận chính quyền Thiệu là “chính quyền hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam” (hứa hẹn – MN) và mặt khác “nếu các ông từ chối ký Hiệp định Paris thì Chính phủ Việt Nam (Sài Gòn) phải chịu mọi trách nhiệm về các hậu quả sau này” (đe dọa – MN). Vừa hứa hẹn, vừa đe dọa, Nixon không để Thiệu chần chừ thêm nữa, vì theo thỏa thuận giữa Lê Đức Thọ và Kissinger trong cuộc họp riêng cuối cùng hôm 13.1, thì sau khi thông báo cho chủ nhà Pháp (biết về kết quả hội nghị) vào 19.1; tiếp đó sẽ:
 

– 23.1.1973: ký tắt Hiệp định.

– 24.1: công bố tin Hiệp định đã được ký tắt. Công bố toàn văn Hiệp định và các nghị định thư.

– 27.1: Lễ ký kết chính thức tại Trung tâm Kléber.

– 29.1: Ban Liên hợp quân sự bốn bên họp tại Sài Gòn. Ủy ban Quốc tế bắt đầu hoạt động.
 
Để bảo đảm đúng thời biểu thỏa thuận trên, ngày 20.1 Nixon đòi Thiệu trả lời trước 12 giờ Washington ngày 21.1 và cảnh cáo nếu Thiệu “lắc đầu” Nixon sẽ ủy quyền để Kissinger ký Hiệp định không cần có sự đồng ý của Thiệu.
 
Đây mới thật là tốì hậu thư, Thiệu lập tức triệu tập Hội đồng An ninh quốc gia lần nữa. Lần này, như tiến sĩ Hưng thuật lại: “Không ai đưa ra đề nghị có nên hòa hoãn với Nixon hay không. Thay vì nhận được những đề nghị, những dự đoán về tình hình, Thiệu chí nhận được “những cái vuốt ve” như Hoàng Đức Nhã nhận xét… Họ ca ngợi Thiệu”. Những ca ngợi thời điểm đó chẳng ích gì mấy cho Thiệu. Ngày hôm sau 21.1 theo giới hạn của Nixon nêu ra. Thiệu “nói lời cuối cùng” mà Nixon và đại sứ Bunker mong đợi: Đồng ý!
 
Hai ngày sau, theo đúng thời biểu, 9 giờ 35 sáng 23.1.1973, Lê Đức Thọ và Xuân Thủy gặp lại Kissinger tại Hội trường Kléber trong bầu khí rỡ ràng. Cố vấn tổng thống Thiệu: TS Nguyễn Tiến Hưng (và Jerrold L.Schecter) thuật quang cảnh lễ ký tắt:
 
“Trong cơn mưa lất phất và cái lạnh cắt da lúc 12 giờ 45 trưa thứ ba 23.1 sau một hồi trao đổi một số vấn đề, so sánh các điều khoản, Kissinger và Lê Đức Thọ tiến hành ký Hiệp định Paris, thực hiện các nghi lễ ngoại giao ở trung tâm hội nghị quốc tế tại khách sạn Hoàng Gia trên đại lộ Kléber. Kissinger ký liền nhau hai chữ H. và K., còn phía Bắc Việt Nam ký chữ Thọ như chữ tiếng Anh (không dấu). Kissinger dùng một loạt viết, ngòi màu đen và trao mỗi thành viên trong ban tham mưu một cây. Lê Đức Thọ trao viết mình cho Kissinger “đế nhắc phía Mỹ phải thực hiện đúng Hiệp định”. Cả Lê Đức Thọ và Kissinger đọc hai bài diễn văn trên tinh thần hòa giải. Giờ dây cuộc chiến tranh xem như đã chm dứt”. (Sđd., nhiều người dịch)
 
Cùng ngày, Tổng thống Nixon thông báo trên truyền hình rằng “Tổng trưởng Ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn) là ông Trần Văn Lắm đích thân tham gia vào giai đoạn cuối của các cuộc đàm phán”. Đối với Lắm, người không bao giờ lưu tâm đến bất cứ điều gì ngoài những chi tiết kỹ thuật, lời tuyên bố” trên (của Nixon) thật lố bịch (huỵch toẹt trước dư luận quốc tế là ông Lắm chỉ “đích thân” tham gia vào “giai đoạn cuối”, còn đầu dây múi nhợ mọi diễn tiến hòa đàm với “phía bên kia” đều do Mỹ).
 
Nixon lưu ý rằng “ngài Kissinger sẽ bàn bạc chi tiết vấn đề và làm việc với ngoại trưởng Lắm khi họ gặp nhau ở Paris” (Sđd).
 
Một tài liệu khác viết: Ông Thiệu cử Tổng trưởng Ngoại giao Trần Văn Lắm sang Paris để nắm tình hình đợt đàm phán chót, một hình thức giữ th diện”.
 
Và 4 ngày sau ký tắt, lễ ký kết chính thức Hiệp định Paris diễn ra tại Hội trường Kléber, cùng ký các văn bản có ông Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Bộ ngoại giao, thay mặt chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thay mặt chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; ông William P.Rogers, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thay mặt chính phủ Hoa Kỳ; ông Trần Văn Lắm, Tổng trưởng Ngoại giao, thay mặt Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
 
Như vậy ý đồ lớn của Washington và Sài Gòn là không ghi tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời trên bất cứ văn bản nào, không muốn thừa nhận miền Nam có hai chính quyền, 2 quân đội, 2 vùng kiểm soát, muốn “đẩy quân miền Bắc trở về miền Bắc”… đều không thực hiện được qua Hiệp định Paris. Do vậy, Thiệu cứ dùng dằng như trên.
 
Trước lễ ký chính thức 5 ngày, Thiệu yêu cầu Trần Văn Đôn qua lại Paris theo dõi việc ký kết và ông Đôn ghi lại những dòng thiểu não:
“Hiệp ước ký xong, tôi trở về Việt Nam. Không còn mun tìm hiểu thêm gì nữa. Trên chuyến máy bay có phái đoàn Mặt trận Giải phóng miền Nam giờ đây họ về thẳng Sài Gòn để thực thi hiệp định. Tôi đi chỉ một mình nên họ chẳng biết tôi là ai. Trên máy bay còn có đại sứ Ba Lan thuộc y hội quốc tế kiểm soát đình chiến. Phái đoàn y hội có 8 người, trưởng phái đoàn là một đại tá từ 55 đến 60 tuổi, nói tiếng Pháp rành, mặc yphục giản dị, còn 7 người kia đều mặc quần áo mới toanh. Có một trung tá Mỹ theo đhướng dẫn. Tại Bangkok, chính quyền Thái Lan cho một phái đoàn ra phi trường đón. Còn Việt Nam Cộng hòa cho một máy bay Dakota của không quân loại VIP chờ sn để đưa phái đoàn này từ Bangkok về Sài Gòn”.
 
Trần Văn Đôn thở dài: Ngày 27.1 là “ngày buồn” của chính quyền Sài Gòn. Còn anh em Marvin Kalb và Bernard Kalb bảo một cách hóm hỉnh là với việc Hiệp định Paris:
 
“Nixon được tù binh trở về. Lê Đức Thọ được Mỹ rút ra. Thiệu được giữ lại chính quyền và Chính phủ Việt Cộng (Chính phủ Cách mạng Lâm thời) được một mức độ hợp pháp chính trị ở Nam Việt Nam. Mỗi người được một cái gì đó nhưng không có ai được tất cả mọi cái”.
 
Với tham vọng “được tất cả”, Thiệu và Hội đồng An ninh quốc gia quyết định mở cuộc đại tấn công “tràn ngập lãnh thổ”, nổ súng vào giờ Hiệp định Paris bắt đầu có hiệu lực. “Mất an ninh” quá

46: Cuộc lấn chiếm và vẽ cờ sau hiệp định Paris

Vào 7 giờ sáng 28.1.1973, đúng lúc phải thực hiện ngừng bắn theo Hiệp định Paris, thì ngược lại, Thiệu xua bộ binh và xe tăng tấn công Cửa Việt, một căn cứ do quân giải phóng kiểm soát nằm gần bờ Nam khu phi quân sự, tỉnh Quảng Trị. Sa Huỳnh và nhiều nơi ở miền Trung súng vẫn nổ do các đợt đánh, lấn chiếm khác. Chiến trận do quân Sài Gòn phát động nóng bỏng như hồi chưa ký hiệp định Paris đã diễn ra ở đồng bằng sông Cửu Long, phần lớn vùng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN tại đây bị lấn chiếm. Lấn được xã nào, ấp nào, đội quân bình định của Thiệu áp dụng chiến thuật “mũi súng đi trước, cờ phướn theo sau” dùng sơn vàng sơn đỏ kẻ hình lá cờ ba sọc trên tường nhà dân, mặt tiền đình chợ, quán xá… Hình lá cờ kẻ đậm trên cả mái tôn với kích thước to dị thường để máy bay dòm xuống thấy ngay. Thiệu làm thế để “đánh dấu” vùng “quốc gia kiểm soát” dẫu những nơi đó bị Thiệu tạm chiếm bởi hành động quân sự vi phạm hiệp định. Người ta sơn cơ man hình lá cờ ba sọc đỏ chẳng buồn biết đến lai lịch của nó. Hỏi thì “cán bộ nông thôn” của Thiệu trả lời tiếng được tiếng mất. Ai vẽ ra lá cờ đó? Từ bao giờ?

 
Đỗ Mậu, trong cuốn Tâm thư (Hòa Trân và Thân Hữu xuất bản, Houston, Mỹ, 1995) trích bài của ông Vũ Hoàng Anh Bốn Phương nhan đề Thử nhìn lại vn đề quốc kỳ, quốc ca (quốc kỳ: lá cờ ba sọc, quốc ca: lấy bài hát của Lưu Hữu Phước – MN) đăng trên Ngàn lau, Người dân và báo Ngày nay ở Houston viết: “Bản quốc ca, lá quốc kỳ được người dân miền Nam biểu quyết qua người đại diện dân cử của mình ” vì vậy “có tính pháp lý, tính dân chủ của nó”. Ông Mậu không đồng ý về “tính dân chủ” thông qua biểu quyết của quốc hội như ông Phương nêu. Mặc dầu “Tôi biết ông Phương là người chững chạc đàng hoàng, nhưng còn trẻ (…). trong Nam, thời Đệ nhất cộng hòa (chế độ ông Diệm) nếu mun ra tranh cử để thắng thì ông phải được đảng Cần Lao hay Phong trào Cách mạng quốc gia đỡ đầu. Ngoài ra ông phải được ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn, Đức cha Thục, bà Nhu…. giới thiệu mới hòng đắc cử. Còn ông mà thân cô, thế cô mà mun ra (tranh cử quốc hội) thì cứ đóng tiền để mua lấv thất cử thì ra! Còn mánh lới như thế nào thì ông tìm hỏi mấy người lớn tuổi có liên quan đến tranh cử sẽ rõ”.
 
Nói về “bộ máy dân chủ”, về các “đại diện dân cử” quốc hội thực tế là vậy. Đến chuyện các “đại diện dân cử” đó biểu quyết chọn quốc kỳ ba sọc đỏ thì Đỗ Mậu bảo “tôi đi tìm tòi lục lọi mà KHÔNG THY văn kiện nào của Tổng thống Diệm ký hợp thức hóa lá cờ và quốc ca cả. Cũng chẳng thấy văn kiện nào của quốc hội biếu quyết về lá cờ đó”.
 
Chỉ có một việc liên quan, ông Mậu tiếp, là thời Ngô Đình Diệm “dự định thay lá cờ và bài quốc ca của Lưu Hữu Phước. Quốc hội đã tuyển 350 mẫu cờ của 350 người dự thi mà không chọn được mẫu cờ nào cả, chắc quý vị đã hiểu không có mẫu cờ nào “đẹp hơn” lá cờ cũ nên “ngày 17.10.1956, sau nhiều tháng bàn thảo, lựa chọn, quốc hội tuyên bố không chọn được bản quốc ca hay mẫu quốc kỳ nào mà thôi!”. Vậy lá cờ ba sọc có sẵn trước thời ông Diệm cầm quyền và ai đã ký pháp quy tạm thời chọn lá cờ đó làm “quốc kỳ”?
 
Hồi ký ‘Việt Nam nhân chứng“của Trần Văn Đôn ghi năm 1948 khi Bảo Đại muốn thành lập chính phủ mới:
“Bảo Đại mời Nguyễn Văn Xuân. Nguyễn Văn Xuân nói tiếng Việt không được nhưng hiểu và biết việc, nên được Bảo Đại mời làm thủ tướng chính phủ lâm thời trung ương ba miền chứ không phải riêng một mình Nam phần…. Ngày 24.4.1948, Nguyễn Văn Xuân trở về Sài Gòn để tổ chức một đại hội quy tụ khoảng 40 đại biểu. Đại hội do ông Lê Văn Kim và tôi (Trần Văn Đôn) t chức. Chính trong hội nghị này chúng tôi đề nghị thay lá cờ vàng chữ Ly có từ chính phủ Trần Trọng Kim ra cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng dòng máu dân của ba miền và lấy bài “Thanh niên hành khúc” của Lưu Hữu Phước làm quốc ca vì lời ca hùng hồn”.
 
Ớ đoạn hồi ký khác ông Đôn nhắc lần nữa chi tiết “Nguyễn Văn Xuân có tài nhưng nói tiếng Việt không được” và chính ông Xuân ngày 2.6.1948 đã “ban hành một hiến chương lâm thời, gọi là Pháp quy tạm thời (Statut Provisoire) trong đó ghi quốc kỳ, quốc ca và thành phần nội các. Quc kỳ: cờ màu vàng với ba sọc đỏ. Quốc ca: Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước”.
 
Vậy người ký “giấy khai sinh” cho lá cờ ba sọc mà chế độ ông Diệm, rồi Thiệu, dùng làm “quốc kỳ” lại là người không nói được “tiếng nước tôi”!
 
Cũng trong sách đã dẫn, Đỗ Mậu viết tình cờ đọc “một tác phẩm của Tiziano Terzani cho biết linh mục Thanh là tác giả đã vẽ nên lá cờ ba sọc tượng trưng “ba miền ” –nhưng “cũng là ba ngôi (Trinity, Tam vị nhất thể, Chúa cha, Chúa con và thánh thần) như “ông (linh mục Thanh) đã có lần giải nghĩa cho tôi (Terzani) nghe thế”.

Đỗ Mậu viết:“Như vậy, người vẽ ra lá cờ vàng ba sọc đỏ là Linh mục dòng Tên: Trần Hữu Thanh, người chấp nhận là quốc trưởng Bảo Đại… người ký pháp quy tạm thời cho thi hành treo quốc kỳ vàng ba sọc đỏ và bài quốc ca của Lưu Hữu Phước vào ngày 1.6.1948 là thủ tướng dân Tây Nguyễn Văn Xuân có vợ đầm, có đổng lý văn phòng phủ thủ tướng của mình là ông Tây André Bauvais. Người đề nghị lấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thay lá cờ quẻ Ly là André Trần Văn Đôn… Tôi chẳng thấy có chỗ nào là có tính dân chủ, chỗ nào là biểu quyết cả (…) và cũng chẳng thấy chỗ nào là biểu tượng quốc gia”.Ông cũng nêu tên ông Nguyễn Văn Tam, “hùm xám Cai Lậy” tự nhận “tác quyền” cờ ba sọc đỏ để làm gì khi mà, như Đỗ Mậu viết: “đối với quốc tế lá cờ đó đã là dĩ vãng, không còn nữa ”!
 
Như trên, Nguyễn Văn Xuân ký văn bản lưu hành luôn bài Tiêng gọi thanh niên của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm “quốc ca” (cùng lúc với lệnh dùng lá cờ ba sọc đỏ làm “quốc kỳ”). Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước lúc còn sống đã phản đối việc tiếm dụng nhạc phẩm của ông để làm “quốc ca” cho các chế độ ở Sài Gòn trước 1975.
 
Ông Diệm xót ruột bàn với quốc hội đương thời mở cuộc thi sáng tác quốc ca mới. Sàng đi lọc lại lên danh mục 50 bài dự thi. Sau chọn Việt Nam, minh châu trời Đôngcủa nhạc sĩ Hùng Lân với các câu mở đầu: “Việt Nam minh châu trời Đông. Việt Nam nước thiêng Tiên Rồng. Non sông như gấm hoa, uy linh một phương… ”. Đang hào hứng thì bị bác bỏ vì bài ca trên bị đảng Đại Việt hớt trớt, lấy làm “đảng ca” của họ, nên thôi. Rốt cuộc không đạt kết quả, chẳng có bài nào chọn thay Tiếng gọi thanh niên cả. Tới thời Thiệu vẫn “quốc ca” đó. Chừng ra nước ngoài sau 1975, một số” người Việt “đặt lại vấn đề quốc ca” dùng riêng cho họ và nảy sinh tranh luận trên báo chí với nhiều bài của các tác giả Thái Chính Châu, Nông Anh Ngọc, Vũ Trung Hiền, Phạm Kim Vinh… cả một số  người có tên tuổi trước đây ở Sài Gòn như bác sĩ Phan Quang Đán, tướng Nguyễn Chánh Thi, đại tá Phạm Văn Liễu, cựu phát ngôn viên báo chí Vũ Trung Hiền, soạn giả Đỗ Đức Thái… cũng tham gia. Họ mơ tưởng xa xăm đến ngày hồi sinh của chế độ Sài Gòn cũ với “quốc ca” mới. Đỗ Mậu đăng lại “bản tin tham khảo” từ San Francisco:
“Trong bầu không khí m cúng tại biệt thự Hương Tâm trên đại lộ Hoàng Hôn (Sunset Boulevard) thành ph Cựu Kim Sơn, khoảng 50 người gồm các giới văn nghệ sĩ, kỹ thuật gia, thương gia, cựu quân nhân các quân binh chủng với đủ lớp tuổi đã họp mặt sinh hoạt văn hóa văn nghệ vào chiều tối thứ bảy ngày 5.12.1987. Trong buổi sinh hoạt này một vấn đề đang nóng bỏng (…) là vấn đề quốc ca đã được đem ra bàn luận (…) và chọn bài “Việt Nam – Việt Nam” làm bài ca chính thức. Nhưng rồi sau đó không lâu “kết quả là tình trạng vẫn như cũ, nghĩa là bản nhạc của Lưu Hữu Phước vẫn được đứng dậy trang nghiêm hát trong những buổi họp của người Việt (…). Ở nước ngoài thì quý vị tranh luận với nhau, rồi coi nhau như kẻ thù, còn ở trong nước Trần Bạch Đằng mỉa mai viết trong “Tiếng hát những người đi tớinhư sau:“Ta nhớ chính ph “Nam kỳ quốcNguyễn Văn Thinh chọn không xong bài “quốc ca” đành dùng bài phổ nhạc Chinh phụ ngâm của Võ Văn Lúa. Các chế độ bù nhìn từ năm 1950, không còn con đường nào khác, dùng bài Tiếng gọi thanh niên của tên “Việt minh”, tên“Việt cộng” Lưu Hữu Phước làm “quốc ca”. (Sđd)
 
Cuộc tranh luận về “quốc ca” nổi đình đám đã cách đây hơn 12 năm. Hồi ấy ông Nguyễn Chánh Thi ghi trong hồi ký Một trời tâm sự là ông ta còn “hy vọng rất mong manh” vào người Mỹ để “phục quốc”. Nhưng sau ngày Mỹ chính thức thiết lập quan hệ bình thường với Việt Nam thì bài Tiến quân ca với quốc kỳ cờ đỏ sao vàng được chính người Mỹ nghiêm chào trong lễ tiết ngoại giao. Những hy vọng mong manh như ông Thi chỉ còn là giấc mơ hoa bên cầu biên giới…
 
47: Tổng thống một tuần Trần Văn Hương “liên hiệp” với hoàng hôn
Tổng thống

Tổng thống “một tuần” Trần Văn Hương, người cầm gậy

Đó là một trong những cố gắng cuối cùng trước ngày tan rã. Chỉ 6 hôm sau, ông Trần Văn Hương “đăng quang”, thay Thiệu làm tổng thống tô đậm thêm hình ảnh tàn tạ của buổi hoàng hôn chế độ: “Lúc đó ông Hương đã 71 tuổi, không khí buổi lễ (trao quyền tổng thống) hôm ấy buồn tẻ, ông Hương lọm khọm nói không rõ ràng mạch lạc… ”.

 
Khi các đội quân lấn chiếm của Thiệu triển khai các mũi đánh phá thì Trần Văn Đôn đã từ Paris về đến Sài Gòn và trao ông Thiệu danh sách các chính khách đối lập đang sống tại miền Nam, đề nghị liên hiệp “thành lập nội các có những người từ hữu cho đến tả và trung lập để làm việc với nhau” theo tình hình mới sau hiệp định. Thiệu dò xét:
Ông Đôn, tôi thấy người đứng ra lập nội các đó được chính là trung tướng!
 
Đôn chột dạ, bảo:
 – Tôi đưa ra nguyên tắc, chứ không đưa ra cá nhân tôi.
Hồi năm 1967, lúc Đôn bị nhóm tướng trẻ hất ra khỏi quân đội, ông “thoát hiểm” bằng cách ứng cử vào thượng viện Sài Gòn với sự hỗ trợ vận động của một hiệp hội chiến sĩ do chính Đôn làm chủ tịch. Hiệp hội này gồm các tướng tá tên tuổi, các nhân vật giao tiếp rộng của Sài Gòn như: Thái Quang Hoàng (đệ nhất phó chủ tịch), Lê Quang Vinh (đệ nhị phó chủ tịch), Lê Văn Nghiêm (tổng thư ký), Nguyễn Văn Chuân (phó tổng thư ký), Huỳnh Hữu Hiền, Trần Tử Oai, Phan Đình Ngọc, Trịnh Văn Thanh, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính, Hồng Sơn Đông và nhiều cố vấn: Lâm Văn Tết, Vông A Sáng, Nguyễn Khắc Tân, Trịnh Khánh Vàng, Nguyễn Gia Thu.
Để tạo thế “hai chân” vững chắc, Trần Văn Đôn gia nhập Hội liên trường Pétrus Ký, Mỹ Tho, Cần Thơ, Chasseloup Laubat và có niên khóa được bầu làm hội trưởng, với 2 phó hội: nha sĩ Ngô Quang Doãn và bác sĩ Trương Ngọc Hơn, tổng thư ký: luật sư Nguyễn Văn Lộc, phó tổng thư ký: kỹ sư Vũ Văn Nhung, cùng kỹ sư Ngô Văn Hoài, kỹ sư Bùi Quang Phương, kỹ sư Lê Văn Danh, cố vấn: thạc sĩ Trần Quang Đệ, kỹ nghệ gia Trần Văn Văn, luật sư Trần Văn Liêm, tham sự Võ Văn Để… Ông thừa nhận qua hồi ký, hai hội trên ủng hộ ông trong vận động tranh cử quôc hội. Cộng mối quan hệ tăng thêm sau nhiều năm làm nghị sĩ, dân biểu, Trần Văn Đôn có thể trở thành nhân vật “khó tính” đốì với Thiệu khi “nội các có cả tả và hữu” mà Đôn nói tới được hình thành. Ông Đôn viết là đã bàn với giáo sư Bùi Anh Tuân, tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh, bác sĩ Trần Văn Du, giáo sư Phạm Văn Diêu về “giải pháp phi liên kết” và trình bày với ông Thiệu những thuận lợi của giải pháp đó tại dinh Độc Lập ngày 31.1.1973 nhưng Thiệu ừ è, rồi bỏ qua.
Lình xình, nghi kỵ, chần chừ mãi đến hơn 2 năm sau khi quân giải phóng tiến sát Sài Gòn. Thiệu mới giao Trần Văn Đôn giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng ngày 14.4.1975 trong chính phủ do ông Nguyễn Bá Cẩn làm Thủ tướng. Ông Đôn nhắc lại việc “thành lập một nội các liên hiệp mà năm 1973 tôi đã từng đề nghị. Tôi vừa nói đến đó thì ông Thiệu lắc đầu…

Mà liên hiệp thế nào? Bây giờ liên hiệp mình ở thế yếu. Năm 1973 mình ở thế mạnh hơn (!) ”.

Không được thực hiện “giải pháp chính trị” do mình đề ra, Trần Văn Đôn bay ra chiến trường. Bấy giờ áp lực của cuộc tổng tiến công làm vỡ tuyến phòng ngự của quân đội Sài Gòn ở mặt trận cực nam Trung bộ. Trần Văn Đôn thuật:

Đêm 18.4, Phan Rang mất, ở đó có nhiều đơn vị chiến đấu giỏi, nhưng có lẽ binh lính mất tinh thần và cấp chỉ huy bi rối. Tưng Nguyễn Vĩnh Nghi bị Việt Cộng bắt. Tối hôm sau 19.4, Phan Thiết bị mất vì binh sĩ không còn tinh thần chiến dấu, dù đại tá tỉnh trưởng Ngô Tấn Nghĩa bố trí binh sĩ khắp các nơi có tính cách chiến lược, nhưng nghe tiếng đoàn xe tăng Việt Cộng vào thành phố là lính bỏ súng chạy thoát thân. Trong lúcđi thăm tình hình chiến sự ở các nơi thì nhiều sĩ quan than phiền với tôi:

Những ông tướng tá làm mất các tnh Cao nguvên và miền Trung, bây giờ nhởn nhơđi chơi ở Sài Gòn, có xe hộ tống đi ăn uống trong khi chúng tôi ở đây nhận chịu hậu quả các việc làm của họ…
 
Trung tướng Lê Nguyên Khang điều tra và ngày 18.4 đã trao Thiệu danh sách các tướng tá cần quản thúc vì làm mất miền Trung, gồm trung tướng Lâm Quang Thi, trung tướng Phạm Quốc Thuần, thiếu tướng Phạm Văn Phú, thiếu tướng Lâm Quang Thơ và chuẩn tướng không quân Nguyễn Đức Khánh, cùng đại tá tỉnh trưởng thuộc các tỉnh và thành phố bị rơi vào tay quân giải phóng như Quảng Tín, Đà Lạt, Nha Trang, Phan Rang…
 
Những tướng tá trên đều bị quản thúc, trừ Ngô Quang Trưởng, lý do “đang phụ tá hành quân cho đại tướng Cao Văn Viên” theo lời Thiệu thông báo. Nhưng ông Trưởng vẫn tự đến gia nhập vào “nhóm sĩ quan bỏ mất miền Trung”.
 
Trong khi quân đội tan rã thì ông Đôn lấy làm “tiếc là ông thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn không phải là người của tình thế, cũng không phải là người dốc tâm dốc sức để giải quyết cơn bệnh đến lúc ngặt nghèo của Việt Nam Cộng hòa”. Ông Cẩn đứng đầu nội các có nhiều chuyên viên và chính trị gia, được xem là “mạnh” nhiều lần hơn so với các nội các của Sài Gòn trước đó với tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo (Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng canh nông và kỹ nghệ), kỹ sư Dương Kích Nhưỡng (Phó thủ tướng đặc trách cứu trợ và định cư); các quốc vụ khanh gồm: luật sư Lê Trọng Quát, giáo sư Phạm Thái, ông Nguyễn Xuân Phong, luật sư Vương Văn Bắc (Tổng trưởng ngoại giao), luật sư Ngô Khắc Tịnh (Tổng trưởng tư pháp), ông Bửu Viên (Tổng trưởng nội vụ), tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng (Tổng trưởng kế hoạch), giáo sư Trần Văn Mãi (Tổng trưởng xã hội), nghị sĩ Tôn Thất Niệm (Tổng trưởng y tế), kỹ sư Nguyễn Xuân Đức (Tổng trưởng công chánh giao thông), giáo sư Nguyễn Duy Xuân (Tổng trưởng văn hóa) và nhiều tổng trưởng, thứ trưởng, cố vấn khác như thẩm phán Huỳnh Đức Bửu, giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, kỹ sư Đoàn Minh Quan, kỹ sư Nguyền Hữu Tân, ông Nguyễn Quang Diệp, Lê Quang Trường, Nguyễn Long Châu…
 
Đó là một trong những cố gắng cuối cùng trước ngày tan rã.
 
Chỉ 6 hôm sau, ông Trần Văn Hương “đăng quang”, thay Thiệu làm tổng thống tô đậm thêm hình ảnh tàn tạ của buổi hoàng hôn chế độ: “Lúc đó ông Hương đã 71 tuổi, không khí buổi lễ (trao quyền tổng thống) hôm ấy buồn tẻ, ông Hương lọm khọm nói không rõ ràng mạch lạc…”.
 
48: Đoạn cuối Sài Gòn qua hồi ký Nguyễn Cao Kỳ

images3275224_AMFI

Trước khi chợp mắt, Nguyễn Cao Kỳ còn thấy đại sứ Martin cũng xuống tàu Blue – Ridge. Vậy là ông đại sứ không thể rời Sài Gòn và di tản hết những người ghi trong danh sách đã hứa theo đường Tân Sơn Nhất vì sân bay đã bị quân giải phóng khống chế. Từ ngoài biển, tất cả lắng nghe diễn tiến ngày 30.4 qua làn sóng phát thanh…

 
Nguyễn Cao Kỳ phóng xe jeep đến dinh Độc Lập để gặp Trần Văn Hương và viết trongHồi ký “phải mất hơn một tiếng đồng hồ mới đến được trung tâm”, cảnh hoảng loạn trên đường phố làm cản trở giao thông. Kỳ viết: “Tôi thấy một anh lính xắn cao tay áo, lấy làm hãnh diện khoe hai cánh tay ra với người bạn. Hai cánh tay của anh ta… đeo đầy đồng hồ lên đến tận khuỷu tay! Vòng qua một góc phố, tôi phải ngưng xe lại một lát và thấy một đứa trẻ ngồi trên xe ba gác, cổ đeo lủng lẳng một vật gì trông giống cái máy ảnh. Song đáng để ý là nó còn có một thứ khác nữa: một khẩu súng ngắn và một cây tiểu liên bên cạnh. Quanh tòa đại sứ Mỹ, những người hôi của đang khiêng đi những tấm thảm, bồn tắm bằng sứ, trường kỷ và cả những tủ đựng hồ sơ. Khắp nơi mùi hôi thối xông lên, mùi nước sông, trộn lẫn với mùi cống rãnh lộ thiên không ai vét sạch, mùi cá khô, cả mùi của những thùng rượu whisky bị vỡ…”.
 
Ngay khi tới dinh Độc Lập, Kỳ được đưa vào gặp Trần Văn Hương. “Ôi, ông già Hương chân tình, người đã tặng tôi 200.000 đồng làm quà cưới vợ (đủ để trang trải chi phí nặng nề của lễ cưới tại khách sạn Caravelle…). Lúc này mắt ông ta đã kém đến nỗi gần như không thấy chữ nữa…” và Kỳ “quyết gắng sức lần chót” bằng cách yêu cầu Hương bổ nhiệm chính Kỳ chỉ huy quân đội. Ông Hương trả lời:
 
– Không thể được. Song tôi có thể để thiếu tướng làm phụ tá quân sự đặc biệt cho tôi vào vài ngày nữa…
 
Nhưng lúc 5 giờ chiều hôm đó 28.4.1975, tại phòng họp dinh Độc Lập, ông Trần Văn Hương trao quyền lại cho Dương Văn Minh thay làm tổng thống – Phó tổng thống là ông Nguyễn Văn Huyền và thủ tướng là ông Vũ Văn Mẫu. Trung tướng Vĩnh Lộc được chỉ định làm tổng tham mưu trưởng (thay Cao Văn Viên). 11 giờ 30 trưa 29.4, bàn giao phủ thủ tướng, Trần Văn Đôn thuật: “Ông Mầu đến đúng nghi lễ, đi bằng xe Mercedes dành cho thủ tướng… Ông Mẫu nói chuyện với mấy ông tổng trưởng:
– Tôi vừa lên đài phát thanh tuyên bố, yêu cầu Mỹ phải rút khỏi Nam Việt Nam trong vòng 24 giờ đồng hồ kể từ 5 giờ sáng nay.

Nghe ông Mẫu nói, tôi (Trần Văn Đôn) dùng điện thoại màu xanh lá cây dành riêng cho thủ tướng và phó thủ tướng để liên lạc với tòa đại sứ Mỹ:

  • Chuyện gì xảy ra đó? Tôi vừa nghe ông tân thủ tưởng (Vũ Văn Mẫu) yêu cầu DAO rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ?
  • Không phải riêng DAO mà tất cả những người Mỹ sẽ rút. Nếu ông muốn đi thì lên Tòa đại sứ Mỹ trước 2 giờ trưa này.
Tôi chào mọi người và ra về lúc 12 giờ. ”
 
Đến 7 giờ 30 tối hôm đó (29.4), Trần Văn Đôn cùng đại tá Khấu lên chuyến trực thăng bốc khỏi sân thượng tầng 9 của tòa nhà dùng làm cơ sở CIA trên đường Gia Long và đáp xuống chiến hạm Hancock vào ban đêm.

Những người khác? Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm trong lúc vội vã đã “bỏ quên’’ Đặng Văn Quang (đứng đầu cơ quan an ninh phủ tổng thống). Quang đã gây oán với khá nhiều người nên khi bị kẹt lại Sài Gòn, em út Nguyễn Cao Kỳ đòi bắn Quang:

– Quang hiện ở Bộ tổng tham mưu và người ta bảo là hắn ta tức giận điên cuồng vì Thiệu đã hứa cho hắn đi theo nhưng rồi lại ra đi mà không cho hắn biết. Thưa thiếu tướng (Kỳ), chúng tôi có thể bắt hắn đem hành hình được không?…”
 Kỳ  bảo: “Hãy bắt hắn nhưng đừng hành hình”.
 
Số hên giúp Quang thoát khỏi vòng lùng bắt và ra được chiến hạm Hancock ở đó có tướng Ngô Dzu và 2000 người di tản.
Sáng sớm 30.4. trung tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng, trung tướng Trần Văn Trung. Tổng giám đốc Nha chiến tranh chính trị, đại tá Trần Ngọc Huyến và một số sĩ quan khác lên đoàn xe rời Bộ Tổng tham mưu đến công xưởng hải quân, dùng một chiếc tàu hư duy nhất còn để ở xưởng vượt sông Sài Gòn. Đến cửa biển, tàu chỉ chạy một máy, bị hỏng hóc ngừng hẳn. Nhờ máy truyền tin kêu cứu, đề đốc Chung Tấn Cang và phó đề đốc Diệp Quang Thụy phái tàu tới vớt.
 
Nguyễn Cao Kỳ thì đã “đưa Mai và các con tôi đi Honolulu trên chiếc máy bay quân sự cuối cùng cửa Mỹ cất cánh rời căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Vợ tôi chỉ có 20 phút để xếp va-li sau bữa điểm tâm và tôi cũng không có mặt để mà chia tay”.
 
Kỳ kể vậy và bảo trong tuyệt vọng ông bay đến bộ tổng tham mưu thấy “khu nhà này trước kia tấp nập hàng nghìn sĩ quan và binh sĩ giờ đây vắng ngắt… lúc bước xuống cầu thang tôi gặp tướng Ngô Quang Trưởng, tôi hỏi: “Anh làm gì ở đây?”. Trưởng đáp:
– Tôi không biết phải làm gì nữa!
Gia đình Trưởng đã di tản từ nhiều ngày trước vì thế tôi bảo ông ta “vậy thì hãy đi với tôi”.
Tập hợp 6, 7 phi công khác trên chiếc máy bay lên thẳng. Kỳ tự lái rời Sài Gòn đáp xuống tàu sân bay Midway ngoài khơi. Đô đốc Harris đưa tất cả sang tàu chỉ huy Blue-Ridge bằng trực thăng Mỹ:
“Khi 14 người chúng tôi, toàn là sĩ quan cao cấp, bước ra khỏi máy bay thì một đại tá Mỹ của tàu Blue-Ridge mở miệng chào đón chúng tôi bằng một tiếng quát lớn:”Tất cả các ông hãy lại đây!”. Ông ta dẫn chúng tôi đến một cái bàn và nói “Các ông cảm phiền cho chúng tôi khám người”. Khám được nửa chừng thì có người nói thầm gì đó, ông ta thấp giọng bảo tôi: “Xin ông đi theo tôi”. Ông ta dẫn vào một buồng ngủ nhỏ, hỏi: “Ông từ đâu tới? Sài Gòn phải không?”. Tôi gật đầu. Cuối cùng: “Ông là ông Kỳ?”. Tôi lại gật đầu. Đêm ấy sau khi tôi gặp viên chỉ huy tàu, ông đại tá Mỹ đến xin lỗi tôi. Tôi nói rằng tôi biết rõ là hiện nay ở mọi nơi đều có sự lẫn lộn và ngay cả nghi ngờ. Nhưng không sao nhịn được, tôi lại nói thêm:
– Điều mà tôi không sao hiểu được là tại sao ông ta lại đối xử với tôi và các sĩ quan đi cùng tôi như ông đã làm? Chúng tôi có thể đã thua, nhưng không phải chỉ riêng chúng tôi thua – người Mỹ các ông cũng thua!”..
Sau những lời cay đắng đó, Kỳ xin vài viên thuốc ngủ. Viên sĩ quan quân y Mỹ chỉ đưa đúng một viên, với một cốc nước, chờ ông uống xong mới chịu quay đi.
 
Trước khi chợp mắt, Kỳ còn thấy đại sứ Martin cũng xuống tàu Blue – Ridge. Vậy là ông đại sứ không thể rời Sài Gòn và di tản hết những người ghi trong danh sách đã hứa theo đường Tân Sơn Nhất vì sân bay đã bị quân giải phóng khống chế. Từ ngoài biển, tất cả lắng nghe diễn tiến ngày 30.4 qua làn sóng phát thanh…
 
 
Advertisements

2 thoughts on “Đọc hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại

  1. Nói chung,hồi ký không phải là lịch sử và những sự kiện có thật trong đó thiên
    về chủ quan,cảm tính v.v.do đó phải đối chiếu sự kiện từ những tác giả khác,
    nếu muốn trung thực.Phần nhiều người Việt có thói quen dùng hồi ký để đổ tội
    cho người khác,nhằm nâng cao mình (đánh bóng chính mình),hơn nữa mấy
    tướng này nhờ người khác viết,chứ khả năng viết của họ nói chung rất thấp
    (vì viết không phải là sở trường của họ).Theo thiển ý của tôi,hồi ký của Vua
    Bảo Đại “Con rồng An Nam” (Le dragon d’Annam) là tương đối trung thực nhất,
    so với tất cả các hồi ký của người Việt ở nước ngoài.
    Bài này tiếng là đọc hồi ký nhưng tác giả chỉ tập trung chĩa mũi dùi vào những
    chi tiết vớ vẩn rồi phóng đại,kể cả bịa đặt nhằm tuyên truyền “chính nghĩa” như
    thời hai phe người Việt chém giết lẫn nhau trước 1975 !
    Hôm nay tác giả vẫn hạ nhục đối phương như thế để làm gì ? Chẳng lẽ vẫn
    muốn đạt những yêu cầu như tính đảng,tính nhân dân,tính xã hội chủ nghĩa
    ư ? Néu thế thi tác giả… thành công,thành công,đại thành công !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s