
BRADLEY K. MARTIN
Trần Quang Nghĩa dịch
HAI MƯƠI MỐT : Nếu não bạn được bôi trơn đúng cách
Sau mỗi lần viếng thăm, một câu hỏi lớn vẫn còn trong đầu tôi: Thực sự thì tất cả những nỗ lực nhồi sọ đó có hiệu quả đến mức nào? Liệu nó có tạo ra một dân số đầy rẫy những tấm gương cá nhân về “con người mới” lý tưởng của cộng sản, một công dân vị tha tận tụy vì phúc lợi của đồng bào mình không? Liệu mọi người có thực sự cuồng tín trong lòng trung thành của họ đối với—hay tôn thờ—các nhà lãnh đạo? Họ có sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh, bất kể điều gì xảy ra không? Ngay từ năm 1979, tôi đã biết, mọi người đã đói – nhưng họ đã nói dối một cách nhanh chóng với những người nước ngoài như tôi, khoe khoang về cái bụng no căng. “Đất nước tôi trước đây rất nghèo, nhưng nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Lãnh tụ Vĩ đại của chúng tôi, đất nước đã trở thành một quốc gia hùng mạnh”, một người quản lý nhà kính đã nói với tôi. “Bây giờ chúng tôi đang sống một cuộc sống hạnh phúc”.
Nỗi sợ hậu quả nếu họ không thể hoàn thành vai diễn của mình là một phần lý do khiến họ thể hiện bộ mặt như vậy. Nhưng tôi không tin đó là lý do duy nhất. Tôi nghĩ phần lớn mọi người thực sự tôn kính Kim Il-sung. Họ muốn ca ngợi ông ấy và các tác phẩm của ông. Họ đã mong đợi cuộc sống của họ sẽ cải thiện dựa trên chính sách và quyết định của ông. Nếu Bắc Hàn vẫn chưa phải là thiên đường như họ đã tìm cách thuyết phục tôi, nhiều người vẫn tin hoặc muốn tin vào viễn cảnh cuối cùng. Tôi đã đi đến kết luận đó sau khi phỏng vấn một số người đào thoát, họ nói với tôi rằng họ vẫn tôn kính Kim ngay cả sau khi đã chạy trốn sang Hàn Quốc. Khi đó, tôi nhận ra rằng vẻ bề ngoài của họ không hề hoàn toàn lừa dối. Những tuyên bố của người đào thoát khẳng định rằng cảm giác kính sợ như tôn giáo là có thật.
Hãy lấy Kim Jong-min làm ví dụ, người đã đào tị vào năm 1988 sau khi đạt được một chức vụ cao trong Bộ Công an. Trước khi tôi gặp ông, ông đã nói với một phỏng vấn viên Hàn Quốc rằng, ngay cả sau khi đến Seoul, ông thấy mình “không thể lên án Kim Il-sung trong năm đầu tiên”. Đúng vậy, một phần là vì “suy nghĩ rằng có ai đó có thể đang nghe trộm đã ăn sâu vào ý thức tôi”, ông thừa nhận. Nhưng “ngay cả khi tôi nghĩ đến việc căm ghét một người mà tôi chỉ biết tôn thờ trong bốn mươi năm, không có cách nào để thực sự diễn đạt điều đó.” Ông giải thích rằng “không có ai ở Bắc Triều Tiên nói rằng Kim Il-sung là xấu.” Người dân Bắc Triều Tiên được dạy để tin rằng “thông qua các hoạt động chống Nhật của ông, đất nước đã được giải cứu, và thông qua cải cách ruộng đất, một nhà nước lấy người dân làm trung tâm đã được thành lập. Ông đã thành lập một đảng chỉ đạo nhà nước và lãnh đạo đất nước giành chiến thắng trong cuộc chiến với Hoa Kỳ. Ông đã cải tổ chủ nghĩa xã hội. Hệ thống thuế và hệ thống phúc lợi xã hội đã được hiện thực hóa hoàn toàn dưới thời ông. Tất cả những điều này được cho là do Kim Il-sung, vậy ai dám gọi ông ấy là xấu?”
Kim Jong-min đã tìm ra lý do, nơi cuộc sống cá nhân của ông giao thoa với cuộc sống công cộng, để từ bỏ chế độ và không muốn cùng chung số phận với kẻ thù. Điều đó khiến lời tuyên bố trung thành của ông với Kim Il-sung càng đáng tin hơn. Rốt cuộc, chính quyền Hàn Quốc trong thời kỳ đó không yêu cầu ông và những người đào tị khác tỏ ra dễ dãi với Bình Nhưỡng trong các bình luận của họ để công bố. (Hình thức thao túng đó sẽ được dành cho chính quyền Kim Dae-jung, 1998-2003, và người kế nhiệm, những người đã cố gắng làm im bặt một số lời khai của người đào tị có thể thách thức “chính sách ánh dương” của chính phủ về sự hòa hoãn Bắc-Nam.) Cũng hãy cân nhắc rằng những người đào tị nằm trong số ít công dân thấy tình hình ở quê nhà quá sức không thể chịu đựng được nên họ đã liều mạng để trốn thoát. Phần lớn đã ở lại. Những người ở lại có xu hướng, nếu có, thậm chí còn trung thành hơn.
Andrew Holloway, một nhân viên xã hội người Anh và theo chủ nghĩa xã hội, đã sống ở đất nước này vào năm 1987-88 trong thời gian làm công việc duyệt xét bản dịch ra tiếng Anh các tài liệu tuyên truyền của chế độ. Trong cuốn Một năm ở Bình Nhưỡng, ông đã vẽ nên một bức tranh cảm động về một tinh thần xã hội chủ nghĩa chân thành mà ông nhân thấy được thể hiện trong cuộc sống và hành động của cư dân Bình Nhưỡng mà ông đã có dịp tiếp xúc. Có thể dễ dàng lập luận rằng những cư dân thủ đô đó là một nhóm tinh hoa chính thức, những người được sống ở Bình Nhưỡng một phần nhờ khả năng hành động như những tấm gương. Người ta cũng có thể lưu ý rằng họ có ít tự do tư tưởng (hầu như không có tự do nào về các vấn đề lớn hơn) và đã bị dẫn dắt sai lầm liên quan đến các hiệu quả các chính sách dài hạn của cha con Kim. Tuy nhiên, tôi nghĩ, những độc giả của cuốn sách của Holloway không bị ám ảnh bởi sự căm ghét chủ nghĩa xã hội một cách mù quáng có thể khó lòng mà phán xét là xấu xa không thể cứu vãn được một xã hội thành công đến vậy trong việc hun đúc các giá trị như lòng tốt và sự khiêm tốn.
Tuy nhiên, lòng vị tha và lòng trung thành không tồn tại trong chân không. Lòng nhiệt thành của những người Bắc Triều Tiên hoàn toàn tin tưởng vào hệ thống không thể không bị thử thách nghiêm trọng khi vấn đề lương thực trở nên phổ biến. Đối với chế độ, đó là một điều khoản của đức tin rằng không có tình trạng hoàn toàn cô lập, juche không thể không bị thách thức. Khi những tiếp xúc mở mang tầm mắt với thế giới bên ngoài trở nên thường xuyên hơn, kết quả đã chứng minh tính đúng đắn của sự tính toán đó.
Một người Bắc Triều Tiên đã chuyển từ kẻ cuồng tín sang người chỉ trích là Dong Young-jun, anh đã học kinh tế vận tải tại Ba Lan tại Đại học Gdansk cho đến khi anh ta đào thoát khỏi đó vào tháng 5 năm 1989. Khi tôi gặp anh, tôi thấy một anh chàng dễ mến với hàm dài – tôi muốn nói là khuôn mặt ngựa với tóc xoăn. Đã kết hôn, có một con trai, anh đang học kinh tế tại Đại học Hàn Quốc ở Seoul. Anh là người nói tiếng Anh và đã trình diện kiểu thời trang Tây phương khi mặc chiếc áo len Lacoste thêu logo cá sấu đến cuộc họp của chúng tôi. Anh mang theo một chiếc bật lửa mạ vàng có khảm da để châm thuốc lá Marlboros. Trong chương 12, chúng ta đã nghe Dong kể về những cuộc ẩu đả băng đảng trong những cuộc đấu đá thời trẻ mà anh đã tham gia, mặc dù con trai của một viên chức An ninh Nhà nước này khi còn là học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông theo mô tả thì anh là một người trung thành “cuồng tín” với chế độ.
Vào thời điểm tốt nghiệp, anh đã ổn định cuộc sống và trở thành một sinh viên đủ giỏi để vào thẳng đại học, với sáu tháng huấn luyện quân sự thay thế cho một thập kỷ phục vụ thông thường.
Dong kể với tôi về các khóa học chính trị mà anh đã học trong thời gian còn là sinh viên tại Cao đẳng Kỹ thuật Bình Nhưỡng. Các lớp học yêu cầu sinh viên phải ghi nhớ những ý tưởng chính của Kim Il-sung và sau đó “nghĩ ra cách tốt nhất để đưa chúng vào thực tế”. Những lớp học đó có thú vị không? Tôi hỏi anh. “Tôi thường khóc”, anh trả lời. “Tôi rất cảm động trước sự quan tâm mà Kim Il-sung đã dành cho người dân của mình.” Dong kể lại một ví dụ về mối quan tâm của Lãnh tụ Vĩ đại. “Kim Il-sung đi ngang qua một nơi làm việc vào một ngày lạnh giá và thấy những phụ nữ đang lóc trứng cá, miệng phà hơi ra hơi lạnh. Ông ấy liền cầm một con dao và bắt đầu tự mình moi ruột cá để lóc trứng, và ông ấy hỏi, ‘Đồng chí cho tôi biết tôi có thể làm gì để cải thiện cuộc sống của các đồng chí?’ Sau đó, Kim Il-sung đã gửi một lệnh đến trường đại học của chúng tôi, nói rằng, ‘Hãy chế tạo một chiếc máy có thể làm công việc lóc trứng cá này.’ Cho đến tận ngày nay, tôi thực sự xúc động khi nghĩ về điều đó và tôi cảm thấy muốn khóc. Khi tôi nghĩ đến cảnh mẹ tôi làm kim chi trong mùa đông lạnh giá, tôi chỉ dửng dưng. Nhưng khi tôi nghĩ đến cảnh Lãnh tụ Vĩ đại chạm vào con cá hôi thối bằng con dao nguy hiểm, điều đó khiến tôi rất xúc động.”
Dong được phân công làm thành viên của một nhóm sinh viên được lệnh biến máy làm trứng cá thành hiện thực. “Trong vòng một năm rưỡi, chúng tôi đã thành công. Chiếc máy chúng tôi làm ra rất tốt, hầu như không có khuyết điểm nào và không mắc lỗi nào. Chúng tôi làm ra nó với lòng tận tụy cuồng nhiệt. Khi đó, tôi nghe nói rằng, ‘Nếu tâm trí bạn ở trạng thái cao nhất, sản phẩm của bạn cũng ở trạng thái cao nhất.”
Kim Il-sung đã dừng lại ở khuôn viên trường để khen ngợi những sinh viên đã chế tạo ra chiếc máy này. Dong không phải là một trong những người được thông báo trước rằng họ sẽ được phép nói chuyện với Lãnh tụ Vĩ đại, nhưng anh ấy vẫn rất vui mừng. “Khi Kim Il-sung đến thăm chúng tôi tại trường đại học, lần đầu tiên tôi nhận ra rằng ông ấy đi trên một chiếc limousine Ford của Mỹ”, Dong nói. “Tôi rất tự hào. Có một câu chuyện thú vị về Kim Il-sung và những chiếc xe hơi nước ngoài. Vào giữa những năm 1970, ông đã gặp các phóng viên nước ngoài. Có người hỏi ông ấy, ‘Ông ghét Hoa Kỳ đến vậy, làm sao ông có thể đi xe Mỹ?’ Ông ấy trả lời, ‘Tôi không đi xe. Tôi lái xe.’ Chỉ cần nhìn thấy ông ấy ngồi trong xe là tôi thấy rất đỗi tự hào. Tôi đứng cách ông ấy ba hoặc bốn mét.” Tuy nhiên, Dong thú nhận, “Bây giờ tôi đã đến Hàn Quốc, tôi đã quen với tư duy tự do. Tôi cảm thấy có sự khập khiễng giữa chủ nghĩa juche và việc ông ấy đi ô tô nước ngoài.”
Tôi hỏi liệu anh có tin câu chuyện về việc Kim mổ cá và quyết định làm gì đó ngay tại chỗ cho công nhân không. “Ông ấy có thể đã làm thế để trình diễn, để gây ấn tượng, nhưng tôi vẫn tin rằng điều đó thực sự đã xảy ra”, Dong trả lời. “Có những người đã nhìn thấy Kim Il-sung làm điều này và viết sách về nó.”
Lòng trung thành của Dong đối với chế độ và các nhà lãnh đạo là một cảm giác phức tạp, không hoàn toàn tích cực, anh nhìn nhận.
“Có lần khi tôi còn là sinh viên năm 3 tại trường Đại học, tôi đã đến dự tiệc sinh nhật của một người bạn. Tại bữa tiệc, người bạn của tôi, chủ nhà, đã nói, ‘Có điều gì đó không ổn với chế độ Kim Il-sung.’ Tôi đã trả lời, ‘Làm sao bạn có thể nói như vậy?’ Bây giờ khi nghĩ về điều đó, phản ứng lúc đó của tôi không chỉ vì sự cuồng tín mà còn vì sợ hãi và lo lắng. Một lý do lớn khiến tôi cố gắng bắt anh ấy im mồm là tôi sợ anh ấy sẽ nói điều đó ở đâu đó, sẽ bị theo dõi, bị bắt và thú nhận rằng mình đã đưa ra nhận xét bị cáo buộc tại bữa tiệc sinh nhật của mình. Sau đó, họ sẽ hỏi, ‘Những ai khác cũng có mặt tại bữa tiệc sinh nhật?’ Rồi An ninh Nhà nước sẽ hỏi tôi tại sao tôi không khai báo. Tôi sợ bị trừng phạt. Tôi cũng lo lắng vì cứ ba tháng một lần, họ sẽ tổ chức một cuộc họp lớn với tất cả sinh viên. Ở đó, họ tiến hành một màn trình diễn trục xuất ít nhất một hoặc hai sinh viên dựa trên những phát hiện của An ninh Nhà nước.”
Dong giải thích rằng “khi bạn còn trẻ, tất cả những gì bạn nghĩ đến là lòng biết ơn đối với Kim Il-sung. Khi bạn lớn tuổi hơn, bạn nghĩ, ‘Ông ấy đã làm rất nhiều cho tôi, tôi không nên làm gì chống lại ông ấy.’ Và tôi cũng sợ bị trừng phạt nếu tôi làm bất cứ điều gì chống lại ông ấy. Không có cách nào để tôi có thể tiếp cận thông tin chống lại Kim Il-sung hoặc cho thấy sự khập khiễng.”
Tôi kể với Dong rằng, vào một buổi chiều năm 1979, tôi đã đến Đại học Kim Il-sung nhưng thấy khuôn viên trường hoàn toàn vắng tanh và không tin lời giải thích của hướng dẫn viên rằng mọi người đều đang họp, tất cả 12.000 sinh viên. Dong đã làm tôi ngạc nhiên bằng cách nói rằng thực sự có những cuộc họp như vậy. “Mọi người đều đi. Nếu không, tại cuộc họp tiếp theo, bạn sẽ là người bị đuổi học. Chúng tôi sẽ họp tại khuôn viên trường. Hiệu trưởng trường đại học tham dự cùng với một quan chức An ninh Nhà nước, một nhân viên của An ninh Công cộng, một trưởng khoa thường trực và một trưởng khoa có liên hệ với đảng. Các giáo sư chỉ tham dự phiên họp thường niên rất nghiêm túc. Họ cũng tham dự các cuộc họp riêng của khoa ba tháng một lần.”
Dong kể cho tôi nghe một chút về cách các trường đại học giảng dạy. “Có một lợi thế đối với một trường đại học Bắc Triều Tiên”, anh nói. “Ngay cả các giáo sư học cùng sinh viên. Không có sự khác biệt giữa giáo sư và sinh viên. Nếu sinh viên xuất sắc đến mức giỏi hơn giáo sư, sinh viên sẽ được công nhận.” Nhưng sinh viên đó sẽ phải xuất sắc trong bối cảnh những gì Kim Il-sung đã nói và viết. “Ở Bắc Triều Tiên chỉ có thảo luận, không có tranh luận. Hầu hết các khóa học về ý thức hệ đều yêu cầu ghi nhớ các nguyên tắc, nhưng để xuất sắc trong lớp, bạn cần phải đưa ra một sự cải thiện. Tất nhiên bạn không thể thay đổi các nguyên tắc của Kim Il-sung, nhưng bạn có thể nghĩ ra cách tốt nhất để đưa chúng vào thực tế.”
Tôi hỏi quan điểm của Dong về sự kế thừa chế độ. “Tôi đánh giá rất cao Kim Il-sung”, anh trả lời. “Tôi tự hào và vinh dự được làm việc cho một người cao cả như vậy. Còn về Kim Jong-il, tôi nghĩ ông ấy là một con người. Tôi thích Kim Jong-il vì ông ấy trẻ và hiểu thế hệ trẻ. Tôi nghĩ ông ấy có thể mang lại nhiều thay đổi cho Bắc Triều Tiên. Hiểu thế hệ trẻ, Kim Jong-il cho phép nam thanh niên để tóc dài hơn và phụ nữ uốn tóc xoăn vĩnh viễn. Ông ấy thậm chí còn cho phép tiếp cận với những tác phẩm văn học nổi tiếng nước ngoài. Khi bạn xem lễ hội ở Bắc Triều Tiên, đôi khi bạn có thể thấy người Triều Tiên nhảy múa. Điều này được cho phép nhờ quyết định của Kim Jong-il. Tôi cũng tham gia vào điệu nhảy đó và rất biết ơn Kim Jong-il. Năm 1983, vào lễ kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Bắc Triều Tiên, tôi cũng tham gia vào điệu nhảy đó.”
Lời nhận xét của Dong nhắc tôi nhớ lại rằng tôi đã từng nhảy múa quanh một cây nêu vào Ngày Quốc tế Lao động năm 1979, tại Quảng trường Kim Nhật Thành ở Bình Nhưỡng, đội một chiếc mũ Lenin mới mua trong một cửa hàng bách hóa. Lúc đó tôi không nhận ra rằng thậm chí kiểu nhảy đó, dựa trên điệu nhảy dân gian và theo tôi là hoàn toàn không có yếu tố gợi dục, là một đặc ân mà tôi phải cảm ơn Lãnh tụ Kính yêu mới ban tặng.
Dong kể với tôi rằng anh đã giữ được sự trong sáng về mặt tư tưởng cho đến khi rời Bắc Triều Tiên để đi du học. “Hệ thống chính trị và kinh tế của chúng tôi dựa trên chế độ độc tài của Kim Il-sung”, anh nói. “Khi tôi ở Bắc Triều Tiên, tôi nghĩ Kim Il-sung là Chúa. Tôi làm mọi thứ theo lệnh của ông ấy. Tôi không nghi ngờ gì về chế độ này cho đến khi tôi đến Ba Lan vào năm 1985. Sau đó, trong năm năm, tôi nghe rất nhiều tin tức về phương Tây – Hoa Kỳ, Đức, Anh. Tôi nghĩ, ‘Hệ thống hoặc quốc gia nào tốt hơn về mặt chính trị hoặc kinh tế?’ Và tôi chứng kiến cuộc sống của người dân Ba Lan. Trong tâm trí tôi, tôi thấy rằng cuộc sống ở phương Tây và ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng tốt hơn cuộc sống ở Bắc Triều Tiên.
“Tôi đã xem Thế vận hội Seoul trên truyền hình—tất cả các trò thi đấu. Trên màn hình tivi, tôi thấy Seoul và các thành phố khác. Trước khi xem Thế vận hội 1988, tôi đã được dạy rằng Hàn Quốc rất nghèo. Nhiều, rất nhiều người đã chết ở đó, chiến đấu chống lại chế độ độc tài, tôi được kể như vậy. Nhưng tôi đã thấy một điều khác biệt trong Thế vận hội ’88. Tất nhiên là tôi cũng quan tâm đến các trò thi đấu, nhưng tôi chủ yếu quan tâm đến các cảnh đường phố được truyền hình, cách mọi người ăn mặc. Tôi nhận ra rằng mình đã nghĩ sai. Tôi luôn được dạy rằng Hàn Quốc là một thuộc địa nghèo đói của Hoa Kỳ không có tự do, nhưng khi tôi xem quyền anh và thấy người Hàn Quốc đánh bại người Mỹ, tôi nghĩ, ‘Có lẽ đó không phải là cách tôi đã từng được dạy dỗ. Cho đến lúc đó, tôi vẫn nghĩ rằng dân thuộc địa không thể đánh bại những tên thực dân. Khi thấy người Hàn Quốc giương cao lá cờ của họ và tham gia các trò chơi với tư cách là người Hàn Quốc, tôi đã rất ngạc nhiên khi họ có thể đánh bại Hoa Kỳ.”
Sau Thế vận hội Seoul, “người dân ở nhiều nước Đông Âu bao gồm cả Ba Lan háo hức tìm hiểu về Hàn Quốc”, Dong nói. “Có rất nhiều báo cáo đặc biệt trên các tạp chí tin tức, truyền hình, v.v. về cách Hàn Quốc có thể phát triển thành một quốc gia công nghiệp hóa như vậy, và về việc Hàn Quốc phải có bao nhiêu quyền lực để có thể đăng cai Thế vận hội. Đây là kênh tôi sử dụng để tìm hiểu về Hàn Quốc. Tôi nghĩ thật là bi kịch khi chúng tôi phải lấy thông tin theo cách đó. Khi tôi ở Bình Nhưỡng, chúng tôi không thể học được những điều như vậy.”
Dong lưu ý rằng radio, ví dụ, “là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản.” Ở Bắc Triều Tiên, “mọi người không thể tiếp cận với radio thông thường, vì điều đó sẽ cho phép họ nghe các chương trình phát sóng từ khắp nơi trên thế giới. Thật khó để mua radio ngoại trừ radio độc kênh Chính quyền trung ương gửi công an đến kiểm tra radio ba hoặc bốn tháng một lần, vì vậy chỉ cần có một chiếc radio cũng có thể khiến mọi người sợ hãi và lo lắng.”
Tôi hỏi Dong rằng anh nghĩ gì về các kế hoạch đang được thảo luận khi đó về các chương trình phát thanh của Hoa Kỳ tới Bắc Triều Tiên về tin tức Bắc Triều Tiên bằng tiếng Triều Tiên, thông qua Đài phát thanh Châu Á Tự do. “Đó là một ý tưởng rất hay nhưng không thực tế lắm”, là ý kiến của anh. “Không có đủ người Bắc Triều Tiên có thể tiếp cận radio để nhận các chương trình phát sóng này – có lẽ chỉ một phần trăm, gồm các quan chức cấp cao, một số ít người có quyền lực như những người trong Bộ An ninh Nhà nước. Các chương trình phát sóng sẽ không hề được biết đến trên phạm vi toàn quốc. Nhưng những người có quyền lực thay đổi mọi thứ có thể lắng nghe và suy nghĩ. Bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ Đài phát thanh Châu Á Tự do và các chương trình phát sóng của BBC.”
Không chỉ những gì anh nghe được trên radio và những tiết lộ trên truyền hình về Hàn Quốc đã làm rung chuyển thế giới quan của Dong. “Những thay đổi ở Ba Lan – đặc biệt là Công đoàn Đoàn kết – đã ảnh hưởng rất nhiều đến tôi”, anh nói. “Tôi có rất nhiều bạn bè người Ba Lan trong Công đoàn Đoàn kết. Họ liên tục nói với tôi, ‘Nếu não bạn được bôi trơn đúng cách, bạn sẽ không quay trở lại Bắc Triều Tiên.’ Tôi đã bị sốc khi một đại sứ quán Hàn Quốc được thành lập ở Hungary, nhưng tôi cảm thấy được khích lệ, bởi vì với hộ chiếu Triều Tiên, tôi không thể đến một quốc gia phương Tây hoặc trung lập nhưng tôi có thể đến Hungary.”
Chẳng bao lâu sau, một yếu tố khác nảy sinh khiến Dong cảm thấy anh chỉ có một cơ hội nhỏ nhoi nếu anh muốn trốn thoát. Khi đại sứ quán được thành lập tại Hungary, tất cả sinh viên Bắc Triều Tiên ở đó đều được gửi đến Ba Lan để họ không tiếp xúc với người miền Nam. “Khi tôi nghe nói về kế hoạch thành lập đại sứ quán Hàn Quốc tại Ba Lan, tôi cũng hình dung ra việc sinh viên Bắc Triều Tiên ở Ba Lan sẽ bị trục xuất.” Không còn nơi nào khác để đi ở châu Âu, “tôi sẽ bị gửi trở lại Bắc Triều Tiên. Đó là lý do khiến tôi đào tị. Tôi đi máy bay đến Hungary và tìm thấy đại sứ quán Hàn Quốc ở Budapest. Họ gửi tôi đến đại sứ quán Hàn Quốc ở Vienna.” Đó là vào tháng 5 năm 1989, sáu tháng trước khi đại sứ quán Hàn Quốc ở Ba Lan mở cửa. “Khi tôi đào thoát,” Dong nói với tôi, “điều chính khiến tôi lo lắng là gia đình tôi sẽ bị trừng phạt. Nhưng tôi cảm thấy mình là một người rất ích kỷ, để có thể đào thoát. Tôi đoán là mình đủ ích kỷ để vượt qua nỗi lo đó.”
Tôi hỏi Dong làm sao những thanh thiếu niên Bắc Triều Tiên có thể học được bất cứ điều gì có ý nghĩa ở trường, với tất cả các cuộc chiến băng đảng, lao động, giáo dục ý thức hệ, v.v. Anh ấy có cảm thấy mình tụt hậu xa so với các bạn học Ba Lan của mình không? “Tôi nghĩ mình ở trên họ, vì tôi vào Ba Lan với tư cách là sinh viên năm nhất đại học,” anh ấy trả lời. “Tất cả các bạn cùng lớp của tôi chỉ vừa tốt nghiệp trung học, nhưng tôi đã có ba năm học đại học. Vì vậy, tôi đã vượt lên trước họ. Tuy nhiên, nhìn chung, tôi nghĩ rằng Bắc Triều Tiên tụt hậu trong mọi lĩnh vực ngoại trừ toán học, khoa học cơ bản, vật lý và hóa học và tiếng Anh và tiếng Nga.”
Trước khi vào Đại học danh tiếng Hàn Quốc ở Seoul, Dong kể với tôi rằng anh đã thi tuyển sinh và trượt môn tiếng Hàn. (Điều đó không đáng ngạc nhiên như bạn nghĩ. Sau nhiều thập kỷ chia cắt, các phiên bản tiếng Hàn được sử dụng ở miền Bắc và miền Nam có nhiều điểm khác biệt về từ vựng. Về hệ thống chữ viết, mặc dù Bắc Triều Tiên đã ngừng sử dụng chữ Hán từ lâu, người Hàn Quốc vẫn tiếp tục sử dụng chúng song song với những gì đã trở thành hệ thống chữ viết duy nhất của miền Bắc, bảng chữ cái Hangul bản địa của Hàn Quốc.) Tuy nhiên, Dong cho biết, “Tôi đạt điểm rất cao ở các môn vật lý, hóa học và toán. Tôi hiện là sinh viên năm cuối. Khi tốt nghiệp, tôi sẽ vào Tập đoàn Daewoo và chuyên về thương mại Đông Âu. Tôi nói tiếng Ba Lan.”
Tôi hỏi Dong rằng anh có còn tôn thờ Kim Il-sung sau nhiều năm đào tẩu không. Anh ngập ngừng. “Khó trả lời lắm”, anh nói. “Khi tôi nghĩ về Kim Il-sung, ông ấy đã làm những điều rất tàn ác và sai trái. Tuy nhiên, khi bạn suy ngẫm về điều đó, mức độ sai quấy của ông ấy giảm đi. Từ khi đến Hàn Quốc, tôi nhận ra rằng phần lớn lịch sử của ông ta là bịa đặt, nhưng tôi vẫn cảm động trước sự lãnh đạo của Kim Il-sung.” Kim Il-sung, Dong lưu ý, trước đây đã mặc “quần áo của nhân dân” – inmin-pok (người Mỹ gọi là bộ đồ Mao mặc dù người Trung Quốc thực sự gọi chúng là bộ đồ Tôn Dật Tiên, người sáng lập nước cộng hòa Trung Hoa năm 1911, đầu tiên đã mặc bộ đồ này trước cả Mao hoặc người Bắc Triều Tiên) – với một chiếc mũ Lenin. “Bây giờ ông ấy mặc bộ đồ theo phong cách phương Tây. Điều đó tượng trưng cho sức khỏe của ông ấy tốt và ông ấy có ý định hợp tác với phương Tây. Biểu tượng sức khỏe, dành cho người dân của ông; ý đinh dành cho thế giới bên ngoài.”
Vào thời điểm tôi nói chuyện với Dong, Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên đã vướng vào cuộc tranh chấp đầu tiên về chương trình vũ khí hạt nhân của Bình Nhưỡng. Dong đã đọc được một nhận xét thú vị về sức mạnh bền bỉ của chế độ này. “Tôi không tin rằng Bắc Triều Tiên sẽ sụp đổ đột ngột”, anh nói. “Có thể có cuộc xung đột này với Hoa Kỳ có nghĩa là Kim Il-sung có điều gì đó để dựa vào: sự ủng hộ của người dân”. Tôi hỏi liệu điều này có thực sự đúng không hay không hơn một sự ủng hộ giả tạo hoặc tưởng tượng. “Tôi tin rằng ông ấy có sự ủng hộ của nhân dân”, Dong nói. “Đây là bằng chứng. Bây giờ họ ăn hai bữa một ngày, họ làm việc quá sức, nhưng vẫn không có cuộc nổi loạn nào. Điều đó chứng tỏ ông ấy có sự ủng hộ của nhân dân. Mọi người hiện hiểu rằng Bắc Triều Tiên không phải là quốc gia hùng mạnh nhất. Nhưng họ vẫn tin rằng đây là một trong những quốc gia phát triển nhất trên thế giới. Đối với tôi, khi tôi rời đi Ba Lan, tôi nghĩ rằng, ‘Bắc Triều Tiên là quốc gia tốt nhất. Khi tôi đến thăm Bắc Triều Tiên trước Thế vận hội Olympic 1988, tôi đã gặp những người nhận ra rằng Bắc Triều Tiên không phải là quốc gia tốt nhất, nhưng họ nghĩ rằng nó chắc chắn nằm trong số những quốc gia có thứ hạng cao.”
Dong lưu ý rằng “Kim Il-sung đã già” và nói rằng “mọi người nhận ra rằng ông ấy sẽ sớm chết. Cho đến khi Kim Il-sung chết, chế độ sẽ vẫn như vậy. Sau khi ông qua đời, Kim Jong-il sẽ kế nhiệm ông. Mọi người không tin tưởng Kim Jong-il nhiều như Kim Il-sung, vì vậy họ sẽ hơi bối rối. Nhưng vẫn còn sự ủng hộ, và chế độ sẽ không sụp đổ đột ngột như vậy. Từ đó trở đi sẽ có rất nhiều thay đổi ở Bắc Triều Tiên – thay đổi giống như ở Trung Quốc, duy trì chế độ xã hội chủ nghĩa nhưng điều chỉnh hệ thống thị trường tự do. Nhưng vấn đề là, sẽ có sự hỗn loạn do những người muốn trả thù cho tất cả những khó khăn mà họ đã trải qua. Tôi tin rằng Kim Jong-il không có khả năng lãnh đạo như Kim Il-sung. Vì vậy, những người bị áp bức sẽ nổi dậy và trả thù.”
Tôi hỏi Dong rằng anh nghĩ Hàn Quốc và Hoa Kỳ nên làm gì. “Tôi muốn thấy Hoa Kỳ gây thêm áp lực lên Bắc Triều Tiên”, anh nói. “Các biện pháp trừng phạt, yêu cầu kiểm tra tình hình nhân quyền. Trong khi đó, Hàn Quốc nên đóng vai cảnh sát tốt và nói với Hoa Kỳ rằng, ‘Đừng gây sức ép quá mức.’ Do đó, có thể có một kênh tốt cho các cuộc đàm phán Bắc-Nam. Nhưng Hoa Kỳ vẫn phải duy trì áp lực. Ngay cả khi có các cuộc đàm phán Bắc-Nam, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, Liên Hợp Quốc và Hoa Kỳ vẫn có thể tăng cường áp lực nếu các cuộc đàm phán không diễn ra tốt đẹp. Nhưng tôi tin rằng việc đạt được mối quan hệ bình thường giữa Bắc và Nam sẽ rất khó khăn. Sẽ dễ dàng hơn nếu bình thường hóa quan hệ giữa Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên hoặc giữa Nhật Bản và Bắc Triều Tiên.”
Chung Seong-san, một quân nhân cho đến khi đào tị vào tháng 1 năm 1995, đã trả lời “vâng, nhưng…” cho câu hỏi của tôi liệu con người mới cộng sản có thực sự tồn tại ở Bắc Triều Tiên hay không. Chung nói với tôi rằng ông đã mắc bệnh bại liệt khi còn nhỏ và bị “cứng” chân. Một người đàn ông có phong thái và trang phục rất giản dị, mặc áo gió trắng, quần dài kẻ caro nhẹ và giày lười, Chung không biểu hiện triệu chứng vật lý rõ ràng nào khác ngoài các đốt ngón tay sưng tấy. (Những triệu chứng này không phải là hiếm gặp trong số cựu chiến binh Bắc Triều Tiên, được đào tạo công phu đập vỡ gạch bằng các đốt ngón tay.) Rõ ràng là Chung bị bệnh bại liệt nhẹ hoặc chẩn đoán sai.
Vào một thời điểm trong cuộc trò chuyện của chúng tôi, Chung nói với tôi: “Tôi đã gặp rất nhiều chuyên gia về lý thuyết của Bắc Triều Tiên. Họ biết nhiều về Bắc Triều Tiên hơn tôi, nhưng họ không biết trái tim của người Bắc Triều Tiên.” Câu chuyện về trái tim của Chung đôi khi phức tạp, tự mâu thuẫn, hóa ra là vậy. “Tôi hói đầu cho đến khi tôi mười một hoặc mười hai tuổi,” anh ấy nói với tôi. “Tôi được đối xử đặc biệt vì căn bệnh của mình, vì lòng nhân từ của đảng.”
Nghe Chung nói vậy, tôi nhớ rằng tôi và các du khách không ai nhìn thấy người khuyết tật nào ở Bình Nhưỡng. Lee Woongpyong, phi công lái MIG19 đã trốn thoát bằng máy bay của mình đến miền Nam đã nói với tôi rằng, trong Bình Nhưỡng, “trước những năm 1970 bạn có thể tìm thấy nhiều người ăn xin và bị tàn tật bởi chiến tranh. Sau đó họ đã bị gom đến các vùng nông thôn các tỉnh. Lý do chính quyền đưa ra là Bình Nhưỡng là một thành phố văn hóa, với rất nhiều du khách nước ngoài và không nên có hình ảnh làm tổn hại đến cảnh quan.” Ahn Choong-hak, một cựu chiến binh và công nhân trại khai thác gỗ, người đã trở thành nhân viên bán ô tô Kia khi anh ta đến miền Nam, đã kể với tôi rằng, “Vào đầu những năm 1980, họ đã tập hợp tất cả những người lùn ở Bắc Triều Tiên và đưa họ đến Maemu-ri. Người thân bắt đầu phàn nàn, vì vậy vào khoảng năm 1989 hoặc 1990, chính quyền đã thả họ ra.”
Tôi nói với Chung rằng tôi ngạc nhiên trước những lời nhận xét của ông ấy; tôi đã biết rằng chế độ đối xử với người khuyết tật rất tệ. “Mỗi nhóm có cách đối xử khác nhau, nhưng về cơ bản, xã hội Bắc Triều Tiên dành cho người khuyết tật”, ông ấy trả lời. “Họ có một chính sách cụ thể về người khuyết tật. Nhóm được đối xử tốt nhất là những người bị tàn tật khi đang trong quân ngũ – ví dụ như người cụt chân tay và người mất thị lực. Kim Shi-kwon, người bị liệt trong Chiến tranh Triều Tiên, là biểu tượng của người khuyết tật. Ông ấy được hưởng nhiều nhất từ chế độ này. Luôn có một chiếc xe chờ để đưa ông ấy đi bất cứ đâu; bác sĩ đến nhà khám cho ông ấy.”
Khi tôi nói chuyện với Chung, ông ấy đã ở Hàn Quốc chưa đầy nửa năm kể từ khi đào tẩu – ông ấy vẫn bị cơ quan tình báo giam giữ trong khi chờ đủ điều kiện cấp quyền công dân-nhưng ông cảm thấy sẵn sàng để so sánh. “Người Hàn Quốc không có lòng trắc ẩn như người Bắc Triều Tiên,” ông khẳng định. “Ở Bắc Triều Tiên, một người bạn đã mất một chân khi một quả lựu đạn phát nổ. Anh ấy bất lực trong thời gian đó, nhưng một nữ công nhân nhà máy rất hấp dẫn đã tình nguyện sống cùng anh ấy. Đây là kết quả của việc rèn luyện lòng vị tha.”
Chung cho biết, ở mỗi tỉnh của Bắc Triều Tiên, “có hai trường học đặc biệt dành cho người khuyết tật. Họ gọi đó là ‘trường học dành cho người mù’ – ngay cả khi vấn đề là bại não. Họ có tất cả những điều cơ bản để giải quyết các vấn đề như khiếm thị và khiếm thính: chữ nổi, ngôn ngữ ký hiệu, v.v. Có những nhà máy đặc biệt dành cho người khuyết tật làm việc. Chế độ Bắc Triều Tiên nói rằng, miễn là bạn có tinh thần cách mạng cháy bỏng bên trong mình, bạn sẽ nhận được cách đối xử đặc biệt này.”
Tuy nhiên, lịch sử gần đây đã không tử tế với người khuyết tật cũng như mọi người khác. “Đúng là sự khác biệt đang phát triển ở các nước xã hội chủ nghĩa”, Chung nói. “Họ không có nguồn lực cho những người bình thường, vậy làm sao họ có thể cung cấp đầy đủ cho người khuyết tật?” Ông cho biết, các trường học đặc biệt của Triều Tiên “không có đủ nguồn lực để cải thiện”. Tuy nhiên, “mặc dù người dân Triều Tiên có thể không có bác sĩ và thuốc men, nhưng họ vẫn đang cố gắng”.
Cho đến thời điểm này, Chung vẫn tích cực trong hồi ức của mình. Nhưng ông đột ngột thay đổi giọng điệu khi tôi yêu cầu ông ước tính tỷ lệ phần trăm những người đã tiếp thu được thái độ chính thức khuyến khích lòng yêu thương và giúp đỡ người khác – đã trở thành ví dụ về “con người mới” của Bắc Triều Tiên, tương tự như người theo đạo Thiên chúa lý tưởng. “Mặc dù hệ thống cung cấp đặc quyền dành cho người khuyết tật, bạn không thể đánh lừa bản chất con người”, ông trả lời. “Mọi người không phải ai cũng tử tế với người khuyết tật. Vào những năm 1960, Pang Hwa-su, một học sinh tiểu học, bị bỏng cấp độ ba khắp cơ thể. Các bác sĩ thực sự đã lột da của chính họ để ghép vào người cậu bé. Bây giờ cậu ấy đã là một người đàn ông trưởng thành. Nhưng các bác sĩ ngày nay giống như ma cà rồng. Họ không vì người dân. Trường hợp người phụ nữ tình nguyện sống với người cụt chân – điều đó hầu như không bao giờ xảy ra. Ở Bắc Triều Tiên, có khoảng hai mươi lăm người bị liệt nặng mỗi năm. Đối với mỗi người trong số họ, chế độ chọn một người phụ nữ và ép buộc kết hôn. Về cơ bản, những phụ nữ có thể trải qua loại thử thách đó vì họ được chính phủ khen thưởng và vì lệnh triệu tập giống như lời của Chúa. Họ nhận được tivi màu, tiền bạc, v.v., nếu họ đồng ý, nhưng nếu họ từ chối, họ sẽ bị đưa đến trại tù. Tôi hỏi liệu có một bước ngoặt nào đó khi lòng vị tha phổ biến bắt đầu suy giảm không. “Khó nói lắm”, Chung trả lời. “Có thể là sau năm 1985, có thể là do tình trạng thiếu lương thực. Nguyên nhân chính thứ hai có thể là sự đàn áp, nhưng có lẽ họ thậm chí không nhận ra điều đó. Tôi nhận ra điều đó khi tôi làm việc ở đó, đến thăm các trường dành cho người mù để nghiên cứu.”
Chung sinh năm 1969 tại Bình Nhưỡng, thủ đô. Cha anh là nhân viên kho. Mẹ anh ở nhà lo việc nội trợ. Ông kể với tôi rằng mình đã học tại Trường tiểu học Chanhyun và Trường trung học cơ sở và phổ thông Songbuk. Điều đó khiến tôi bắt đầu đặt một loạt câu hỏi về những trường hàng đầu ở Bình Nhưỡng. Ông kể với tôi rằng những người ưu tú thực sự đã học tại Trường cách mạng Mangyongdae và Trường trung học cấp 2-cấp 3 Namsan. “Trường Namsan được gọi là Trường tiểu học Đệ nhất Bình Nhưỡng vào năm 1948. Sau Chiến tranh Triều Tiên, họ gọi trường là Trường tiểu học cơ sở Namsan và trường dành riêng cho con cháu của các anh hùng Chiến tranh Triều Tiên và các viên chức đảng cấp cao.” Trong nhiều thập kỷ, Chung cho biết, chế độ này—không hài lòng với chất lượng của khóa năm 1958 tại Đại học Kim Il-sung—đã thử nghiệm nhiều chiến lược khác nhau để mở rộng nhóm ứng viên Namsan nhằm thu hút những thanh thiếu niên sáng giá hơn. Con cái của những viên chức có địa vị thấp hơn cũng được nhận vào học nếu chúng có năng khiếu trí tuệ tương đối. “Vào năm 1984, họ đã thay đổi hệ thống tuyển chọn. Trước năm 1984, 100 phần trăm những người được nhận vào học là con em của các viên chức cấp cao, nhưng sau năm 1985, cứ năm người thì có hai người không xuất thân từ hoàn cảnh đó nhưng lại là những thiên tài—mặc dù họ vẫn phải có xuất thân giai cấp thích hợp. Sau năm 1985, cuộc cạnh tranh là khoảng 300 chọi một, và bạn có thể tham gia từ bất kỳ nơi nào trên đất nước.” Tôi hỏi về sự khác biệt giữa Trường Trung học cấp 2-3 Namsan và Trường Cách mạng Mangyongdae.
“Mangyongdae là một trại trẻ mồ côi dành cho con cái của các liệt sĩ chiến tranh Triều Tiên, và nó cũng thu nhận con cái của những thành viên đặc biệt trung thành với chế độ – ví dụ như gián điệp làm việc ở Hàn Quốc,” Chung nói. “Có những trường hợp đặc biệt, các sĩ quan quân đội cấp cao gửi con cái hoặc cháu của họ đến đó để được huấn luyện cho quân đội. Bạn không thể gọi đây là một trường học bình thường, trung bình. Nhiều học sinh được gửi đến quân đội và trở thành những thành viên chủ chốt của quân đội.”
Sau khi tốt nghiệp trường Songbuk Senior (ít danh tiếng hơn) năm 1986, Chung đã gia nhập quân đội. “Tôi là một nhà văn trong quân đội, viết tuyên truyền cho chế độ,” ông kể với tôi. “Triều Tiên có mười quân đoàn. Tôi thuộc Quân đoàn 2, Sư đoàn 9. Đồng thời, tôi theo học khóa sản xuất phim từ xa tại Trường Cao đẳng Nghiên cứu Điện ảnh Bình Nhưỡng và là thành viên của Hội Nhà văn quốc gia. Trong Sư đoàn 9, tôi thuộc đơn vị tuyên truyền lưu động. Tôi vừa học vừa đóng quân và thỉnh thoảng đến trường đại học để thi. Công việc của tôi là đi khắp nơi để nâng cao tinh thần cho các đồng đội. Chúng tôi dàn dựng các chương trình sân khấu, hài kịch, ca hát và nhảy múa. Tôi vừa làm sản xuất vừa viết kịch bản. Từ năm 1988 cho đến khi đào tẩu, tôi làm nhà sản xuất. Ban đầu, tôi có một mục tiêu, điều đó đã thúc đẩy tôi. Mục tiêu là làm việc chăm chỉ, gia nhập đảng và học đại học.”
Vậy nên tôi hỏi, liệu ông ta ấy có phải tranh thủ cơ hội để thăng tiến mà không thực sự tin vào những gì mình tuyên truyền? “Vâng,” ông ấy trả lời. Tôi hỏi khi nào ông ấy ngừng tin tưởng. “Tôi không thể cho bạn biết một bước ngoặt cụ thể,” ông ấy nói. “Đó là sự thay đổi dần dần trong quá trình tôi lớn lên. Vì tôi biết nhiều về chế độ, tôi bắt đầu nhận ra những điểm bất cập. Đó là lúc trái tim tôi thay đổi. Tại tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc, năm 1938, Kim Il-sung thành lập một ‘xô viết’ và có bài phát biểu: ‘Mục tiêu cuối cùng của tôi là người dân được ăn cơm với canh thịt, sống dưới mái ngói và mặc quần áo lụa.’ Trong nhiều thập kỷ, ông ấy chưa từng làm bất cứ điều gì trong số đó. Có một sự việc tôi nhớ đến: Lễ cưới của anh trai tôi năm 1990. Theo truyền thống, người ta thường bày bánh gạo và hạt dẻ lên bàn. Nhưng “bánh gạo” trong đám cưới của anh ấy lại được làm từ củ cải và “hạt dẻ” thì làm từ đất.
Theo Chung, một bước ngoặt cụ thể hơn đối với ông đến vào năm 1991 – “sau khi tôi nghe các chương trình phát thanh của Hàn Quốc. Hàn Quốc đã gửi bóng bay tuyên truyền. Tôi nhận được một chiếc radio từ một quả bóng bay và bắt đầu nghe các chương trình phát thanh của Hàn Quốc – MBC, [Hệ thống Phát thanh Cơ đốc giáo], KBS.”
Khi tôi có được chiếc radio, tôi đã phải vật lộn với những mâu thuẫn nội tâm do chính mình tạo ra. Tôi nghe những lời tuyên truyền của Triều Tiên nói rằng mọi người đều sống tốt và có đủ ăn. Tôi cảm thấy sự mâu thuẫn đó. Tôi đã nghe các chương trình của KBS dành riêng cho người Triều Tiên. Lúc đầu tôi không tin, nhưng sau đó tôi thừa nhận một số điều họ nói. Ngay cả đến bây giờ, tôi vẫn không tin tất cả.
Tôi hỏi ông ấy nghĩ gì về kế hoạch của Mỹ phát sóng chương trình Radio Free Asia (Đài Á châu Tự do) tới Triều Tiên. “Nó sẽ thất bại,” là phản ứng đầu tiên của ông ấy. “Người dân không có radio. Các tần số sẽ bị chặn. Để điều đó khả thi, để cố gắng tác động đến xã hội Triều Tiên thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, trước tiên bạn phải cung cấp được radio. Những ai trung thành mới được chọn để thu hồi những quả bóng bay do Hàn Quốc thả xuống. Tôi là một phần trong số đó. Đó là chính sách của chính phủ, phải thu giữ chúng tất cả. Việc này khó khăn vì chúng thường rơi xuống khu dân cư. Tôi nghĩ chiến lược thả bóng bay rất hiệu quả. Chúng thường rơi vào tháng 7 hoặc tháng 8. Người Triều Tiên luôn ngước nhìn lên bầu trời lúc đó: ‘Có lẽ hôm nay mình sẽ may mắn.’ Khi bóng bay rơi xuống, chó sẽ chạy hướng về phía những quả bóng bay để lấy thức ăn. Nếu điều này thành công đến vậy, bạn có thể hỏi, tại sao nó không làm thay đổi xã hội Triều Tiên? Câu trả lời là thường chỉ có một hoặc hai radio trên mỗi quả bóng bay – không đủ.”
Việc buôn bán radio đã ảnh hưởng đến quyết định đào tẩu của Chung. “Năm ngoái tôi gia nhập đảng và có cơ hội vào đại học, nhưng tôi bị bắt vì buôn bán radio,” ông ấy kể với tôi. “Tôi có thể thoát tội và vào đại học vì quen biết nhiều người, nhưng điều đó sẽ để lại vết nhơ trong suốt sự nghiệp của tôi. Nhưng lý do chính khiến tôi đào tẩu là vì nghệ thuật.Ở Triều Tiên, tôi chỉ có thể sản xuất những gì chính phủ yêu cầu. Tôi muốn thể hiện bản thân một cách sáng tạo. Tôi muốn học tập để trở thành nhà sản xuất ở Hàn Quốc.”
Tôi hỏi ông ấy liệu binh lính Triều Tiên có muốn chiến tranh không. “Bất kỳ người lính bình thường nào cũng muốn chiến đấu,” Chung nói. “Họ chưa từng nếm trải thảm bại. Sự ngu dốt khiến họ muốn chiến đấu.”
Mặc dù Chung cho rằng phong trào “con người mới” đã suy thoái, đặc biệt là trong giới bác sĩ, nhưng tôi lại nghe được một quan điểm hơi khác từ Stephen Linton. Linton, một người Mỹ, lớn lên ở Hàn Quốc là con trai của các nhà truyền giáo và đã thành lập một quỹ từ thiện tập trung vào Triều Tiên, đặt tên theo một tổ tiên truyền giáo, Mục sư Eugene Bell. Tôi gặp Linton lần đầu khi ông làm phiên dịch cho đội bóng bàn Hoa Kỳ tại Bình Nhưỡng năm 1979. Tôi tin tưởng ông và tổ chức của ông sẽ sử dụng hiệu quả những khoản đóng góp định kỳ, khiêm tốn của tôi. Anh trai của ông, John, là một bác sĩ y khoa làm việc tại Seoul, và một trong những chuyên ngành của Quỹ Eugene Bell là cung cấp dịch vụ y tế, thiết bị và thuốc men để giúp các bệnh viện Triều Tiên đối phó với sự gia tăng đáng báo động các trường hợp mắc bệnh lao. “Tôi không biết gì về việc bác sĩ hiến tặng da thịt cho bệnh nhân,” Steve Linton nói với tôi, “nhưng hãy xem máy soi huỳnh quang – anh có thể nhìn xuyên qua người và sử dụng màn hình thay vì phim. Có một loại máy soi huỳnh quang thô sơ yêu cầu nguồn bức xạ ở một bên, bệnh nhân ở giữa và bác sĩ ở bên kia, để chẩn đoán bệnh lao. Họ biết điều đó khó khăn đối với bác sĩ. Đục thủy tinh thể là tác dụng đầu tiên. Nếu may mắn, đó là tất cả. Nếu không thì sẽ bị tổn thương não. Tôi không thể không kính trọng một bác sĩ người dám ngồi xem xét máy X-quang.”
Ngay cả khi những chủ nhà ở Bình Nhưỡng năm 1989 đảm bảo với tôi rằng mọi thứ đều ổn ở thiên đường, Triều Tiên thực chất đang gặp rắc rối. Một du khách, bị hạn chế nghiêm ngặt về những gì được phép thấy khi ở trong nước, chỉ có thể cảm nhận được rằng có điều gì đó không ổn. Nhưng bằng chứng bên ngoài ngày càng cho thấy chế độ này đang thất bại trong nhiệm vụ cơ bản là nuôi sống người dân. Sự thất bại đó đe dọa những nỗ lực đơn thuần của Bình Nhưỡng nhằm duy trì lòng trung thành với Kim Il-sung và Kim Jong-il lên đến đỉnh điểm. Ngày càng nhiều thần dân của nhà Kim bắt đầu nhận ra mối liên hệ, giống như Chung Seong-san, giữa sự lạc hậu về kinh tế và các chính sách của các nhà lãnh đạo hàng đầu. Mối liên hệ này dễ dàng xuất hiện nhất trong tâm trí những người Triều Tiên, giống như Dong Young-jun, đang du học ở nước ngoài, và do đó được tiếp xúc với thông tin và quan điểm mà những người đồng hương ở trong nước không có được. Tình trạng thiếu lương thực trở nên tồi tệ đến mức ngay cả một số người xa xứ thuộc tầng lớp thượng lưu cũng lo sợ cho sinh kế của mình nếu họ trở về quê hương. Kang Myongdo, con rể của một thủ tướng, Kang Song-san, nói với tờ báo Seoul, JoongAng Ilbo, cho biết các điệp viên Bắc Triều Tiên tại Trung Quốc, không muốn bị gọi về nước, đã ngụy tạo và nộp các báo cáo đưa ra nhu cầu buộc họ phải ở lại Trung Quốc. Lừa đảo cụ thể của họ là nói với các xếp lớn của mình ở Bình Nhưỡng rằng các lực lượng đặc nhiệm của của Hàn Quốc đã được gửi tới nhằm bắt cóc người Triều Tiên ở Trung Quốc và đưa họ về phía nam.
“Kim Jong-il và Kang Song-san vẫn còn tin điều đó,” Kang Myong-do bảo với tờ báo.
Câu chuyện minh họa cho thực tế là Trung Quốc đã trở nên thịnh vượng hơn Triều Tiên. Người dân Triều Tiên sống ngay bên kia biên giới đối diện vùng Yanbian của Trung Quốc có lẽ là những người ở vị trí tốt nhất để nhận thấy sự thay đổi đó. “Người Triều Tiên sống tốt hơn người dân ở Trung Quốc, kể cả Yanbian, cho đến đầu những năm 1970,” một giáo sư người Hàn Quốc tại Học viện Khoa học Xã hội Yanbian, nói với tôi. “Trong những năm 1960, rất nhiều người Hàn Quốc từ Trung Quốc đã sang Triều Tiên vì cuộc sống ở đó tốt hơn nhiều so với ở Trung Quốc. Có rất nhiều xung đột nội bộ ở Trung Quốc trong những năm 1960. Từ những năm 1970, tình hình ở Triều Tiên bắt đầu xấu đi vì chính phủ chi tiêu quá nhiều cho quân sự sau cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962 và chiến tranh Việt Nam. Dần dần, Trung Quốc, bao gồm cả Yanbian, đã vượt lên qua mặt. Sự khác biệt là người dân Trung Quốc không chỉ có tiền mà còn có thứ để tiêu. Người Triều Tiên nhận được lương nhưng không có gì để mua bằng tiền của họ.”
Vị giáo sư, phát biểu vào năm 1992, nói rằng người dân ở Triều Tiên đã “đói, mặc dù không thực sự chết đói, kể từ giữa những năm 1970. Ngoại lệ là Bình Nhưỡng. Tôi có một người dì ở Bình Nhưỡng là góa phụ của một liệt sĩ trong cuộc đấu tranh chống Nhật những năm 1930. Tôi đã đến thăm dì và thấy dì có rất nhiều thứ. Dì được chăm sóc rất tốt. Dì có rất nhiều bao gạo. Đối với những người khác, chính phủ đã cố gắng cải thiện tình hình nhưng không có sự cải thiện đáng kể nào kể từ những năm 1970. Công nhân lao động được nhận 18 kg ngũ cốc mỗi tháng; nhân viên văn phòng, 15 kg. Cả Trung Quốc và Triều Tiên đều phân phối thực phẩm trực tiếp cho người dân như một cách để đối phó với tình trạng khan hiếm. Nguyên tắc cơ bản là: Nếu khan hiếm, nhà nước phải phân phối theo định mức. Nếu dư thừa, hãy để người dân mua ở cửa hàng. Ở Trung Quốc có nhiều món ăn kèm hơn, và thịt hiện nay rất phổ biến ở Trung Quốc. Người Trung Quốc có thể mua thịt ở cửa hàng. Ở Triều Tiên, nguồn cung ở các cửa hàng rất hạn chế. Thịt và các sản phẩm từ sữa ở đó vẫn được nhà nước phân phối theo định mức vì sự khan hiếm của chúng.
Tuy nhiên, giáo sư nói với tôi rằng, sẽ là một sai lầm nếu cho rằng những lời phàn nàn tự nhiên của mọi người có thể chuyển hóa thành sự phản đối tích cực đáng kể. “Tôi không thể đánh giá mức độ phàn nàn, vì nó bị kìm nén,” ông nói, “nhưng người dân ở đâu cũng phàn nàn. Chính phủ không dung thứ cho sự bất đồng chính kiến. Người đó sẽ bị hành quyết. Vì vậy, một cuộc nổi dậy gần như là không thể. Điều quan trọng cần lưu ý là, dù chuyện gì xảy ra, người dân vẫn tuân thủ các quy tắc và quy định. Họ tin vào hệ tư tưởng đó.”
Dù vậy, không phải ai cũng tin. Có những người hoài nghi như Ko Chung-song, người từng là nhân viên của một văn phòng quận chuyên bảo tồn các di tích lịch sử cách mạng trước khi đào tẩu vào tháng sáu 1993. Văn phòng lúc đó toàn là về ý thức hệ, nhưng công việc của Ko lại liên quan đến thực phẩm, nhiên liệu và những nhu yếu phẩm khác của cuộc sống. Ngày tôi gặp anh ấy năm 1994, Ko đeo kính không gọng hình chữ nhật, mặc bộ vest và cà vạt đẹp, đeo đồng hồ vàng. Nói chung, anh ấy trông giống như một viên chức trẻ điển hình của Hàn Quốc hoặc một quan chức doanh nghiệp.
Ko kể với tôi rằng hồi còn là một học sinh ở tỉnh Bắc Hwanghae, anh ấy “về cơ bản tin rằng Kim Il-sung là một vị thần, một vị cứu tinh. Thời trung học, tôi nghĩ rằng đồng phục của mình là do Kim Il-sung tặng. ‘Ông ấy đang dạy dỗ tôi để có một cuộc sống tốt đẹp,’ tôi tin như vậy. Vì vậy, tôi rất kính trọng ông ấy.”
Toàn bộ nền giáo dục đều xoay quanh Kim Il-sung. Câu đầu tiên bạn nói khi thức dậy là, “Ôi, Lãnh tụ Vĩ đại Kim Il-sung.” Câu đầu tiên bạn học nói khi còn bé cũng là “Kim Il-sung.” Vậy làm sao bạn không tôn thờ ông ấy được? Ở nhà trẻ có ảnh chân dung Kim Il-sung. Trước khi ăn, bạn cũng nói “Cảm ơn ngài, Kim Il-sung Vĩ đại.”
Ở trường, “nếu không đạt 100% bài kiểm tra tư tưởng thì coi như thất bại.” Tất cả những bài giảng về tư tưởng, kết hợp với công việc “tự nguyện”, khiến tôi hầu như không có thời gian học các môn khác hoặc vui chơi. “Tôi lao động thời đi học nhiều hơn sau khi tôi bước vào xã hội,” Ko kể với tôi. “Trong một năm, có đến bốn tháng tôi phải làm việc. Tất cả những gì tôi nhớ là những ngày tháng lao động cực nhọc. Nếu được trả lương, hẳn tôi đã kiếm được rất nhiều tiền. Chúng tôi học buổi sáng và lao động buổi chiều.”
Có là một sự việc cụ thể sau khi anh ấy đã hoàn tất trung học đã thực sự châm ngòi cho nỗi hoài nghi của Ko. “Có lần đảng huyện nói với tôi: ‘Chúng tôi muốn đồng chí tình nguyện cho một việc rất đặc biệt, một sứ mệnh cấp cao.’ Tôi nghĩ rằng đó là một loại phần thưởng, nhưng sau khi tôi đồng ý trở thành tình nguyện viên, tôi được yêu cầu làm việc ở các mỏ than. Tôi là một người siêng năng, chăm chỉ, nên họ đã lợi dụng tôi. Tôi đã tin họ, và tôi cảm thấy thực sự bị phản bội.” Tôi nói với anh ấy rằng, điều đó nghe rất giống với chiêu trò kinh điển của bộ phận tuyển quân trong quân đội Mỹ, họ thường dán áp phích kêu gọi thanh niên hãy đăng kí đi khám phá thế giới và học được một nghề mới tuyệt vời — mà hóa ra lại chỉ là dọn dẹp nhà vệ sinh và gọt khoai tây.
“Huyết áp cao đã khiến tôi không thể nhập ngũ,” Ko nói. “Tôi đã nhờ anh trai giúp tôi xin miễn nghĩa vụ quân sự vào thời điểm xảy ra vụ thảm sát bằng rìu ngày 8 tháng 8 [năm 1976] tại Khu phi quân sự.” Sau đó mắc bẫy chiêu trò “nhiệm vụ đặc biệt”, Ko nói, “Tôi đã phản kháng suốt một năm, từ chối làm việc trong hầm mỏ, và sau đó bị đưa đi lao động cưỡng bức tại một trang trại gần Bình Nhưỡng”.
Tôi rất ngạc nhiên khi nghe nói anh ấy đã cầm cự được lâu đến vậy trước khi bị trừng phạt. “May mắn là tôi có mối quan hệ gia đình tốt,” Ko giải thích. “Tôi thoát khỏi cảnh lao động cưỡng bức nhanh chóng nhờ chú tôi. Khi bị đưa đi lao động, bạn cần có giấy phép của đảng munkwan. Một khi bị đưa đi lao động cưỡng bức, nếu không có người bảo lãnh vững chắc thì bạn không thể thoát ra được. Nhưng chú tôi đã đổi được munkwan cho tôi. Tôi đi làm ở văn phòng thủy lợi Hwangju, rồi từ năm 1984 đến năm 1987, tôi làm việc ở Nhà máy Quân sự Kanggye số 26, chuyên sản xuất tên lửa chống tàu ngầm và hoả tiễn. Nhà máy này có tên giả là “Công ty Máy kéo Kanggye”.
Nhưng Ko nói với tôi rằng anh ấy “vẫn cảm thấy muốn nổi loạn. Nhiều người thân của tôi là quan chức cấp cao, và tôi đã học trường chuyên. Vì vậy, cho đến khi bị chính phủ phản bội bằng thủ đoạn ‘nhiệm vụ đặc biệt’ đó, tôi đã đặt nhiều hy vọng vào sự nghiệp của mình. Giờ thì việc bị cưỡng bức lao động có ghi trong hồ sơ của tôi, và điều đó chống lại bạn. Tôi không bao giờ tin tưởng chính quyền nữa. Tôi chán ngấy việc bị tẩy não và bắt đầu nghe các chương trình phát thanh của Hàn Quốc.
“Năm 1987, tôi đến làm việc cho Cục Cung ứng Thực phẩm Kangggye. Tình trạng thiếu lương thực lúc đó tồi tệ hơn bình thường. Khi tôi đến, mọi thứ đã ở trong tình trạng đáng thương, nhưng đến năm 1989, tình hình còn bắt đầu trở nên tồi tệ hơn nhiều. Mỗi năm nó càng tệ hơn. Để đáp ứng nhu cầu lương thực của người dân Triều Tiên, cần khoảng 6 triệu tấn gạo. Nhưng chỉ có khoảng 4 triệu tấn gạo được sản xuất. Điều đó có nghĩa là 2 triệu tấn phải được nhập khẩu. Ở Kanggye có 400.000 người. Kanggye là một vùng núi không thể tự trồng lúa. Chúng tôi nhận được tất cả lương thực từ tỉnh Bắc Pyongan, hoặc là nhập khẩu – ví dụ như từ Trung Quốc. Chúng tôi luôn chậm trễ khoảng hai tháng trong việc phân phối. Theo quy định, một người lao động bình thường được hưởng 700 gram mỗi ngày. Đối với người thất nghiệp, con số này là 300 gram. Nhưng chính quyền nói rằng họ cần tích trữ gạo để sử dụng trong trường hợp chiến tranh, vì vậy chúng tôi phải bị lấy bớt một phần khẩu phần. Vì vậy, thực tế lượng lương thực cung cấp khoảng 530 gram. Khoảng năm 1989 và 1990, khi tôi ở đó, chúng tôi cung cấp khoảng 530 gram.” Công việc cung cấp lương thực đó, Ko nói với tôi, đã đưa anh ấy đến nơi có quyền lực vào thời điểm mà người dân bình thường bắt đầu phải trộm cắp và nhặt nhạnh để kiếm sống. “Ở Triều Tiên hiện nay, lương thực tương đương với tiền. Ở vùng nông thôn, nếu bạn muốn mua những thứ như thiết bị gia dụng, bạn phải trả bằng lương thực thay vì tiền. Tôi chưa bao giờ ăn cắp, nhưng nói chung để duy trì sự sống ở Triều Tiên, bạn phải ăn cắp. Nếu bạn làm việc trong một nhà máy sản xuất bút chì, bạn phải ăn cắp bút chì, sau đó, bạn phải buôn bán ở chợ đen để đổi lấy lương thực. Tôi không cần phải ăn cắp vì tôi có thể làm giả giấy tờ để có đủ lương thực cho mình. Ở Triều Tiên, bất kỳ công việc nào liên quan đến lương thực đều là ở vị trí cao. Con trai và con gái của các quan chức cấp cao thích làm việc ở đó.”
Tôi kể với Ko về người phụ giúp lễ hội thanh niên đã xin tôi 100 đô la để mua hàng ở cửa hàng đặc sản chuyên bán hàng ngoại. “Để kiếm được 100 đô la, một người Triều Tiên phải làm việc 10 năm. Người hướng dẫn đó chắc hẳn rất giàu có. Lương một tháng khoảng 60 won, trong khi 100 đô la tương đương khoảng 7.500 won. Bạn đã khiến một người trở nên giàu có ở đó.” Tôi hỏi Ko liệu người đàn ông đó có được chính quyền chỉ đạo xin ngoại tệ hay không. “Tất nhiên là y tự minh làm rồi,” Ko trả lời. “Chính phủ Triều Tiên quá kiêu hãnh để bắt những nhân viẻn đó phải xin tiền người Mỹ.” (Tôi nói với Ko rằng chính quyền không hề quá kiêu hãnh để bắt các nhà ngoại giao của mình buôn lậu ma túy và sử dụng tiền giả để đổi lấy ngoại tệ mạnh.)
Khi Ko rời khỏi Bộ phận Cung ứng Thực phẩm Kanggye, anh vẫn tiếp tục tham gia vào lĩnh vực thực phẩm. Công việc mới của anh là cung cấp thực phẩm, than đá, v.v. dành cho 45 người – công nhân và quản lý – tại Văn phòng Bảo tồn Di tích Lịch sử tỉnh Chagang, thành phố Kanggye. Tỉnh Chagang nằm gần Mãn Châu – phía Đông Bắc Trung Quốc – và bao gồm phần lớn tuyến đường hành trình học tập thời thơ ấu đầy huyền thoại của Kim Il-sung. Ví dụ, có một quán trọ mà chủ quán năm 1923 đã tặng Kim Il-sung thêm một chiếc chăn miễn phí. Bộ chỉ huy tối cao trong Chiến tranh Triều Tiên đóng tại khu vực sau này trở thành tỉnh Chagang, và Kim Jong-il đã từng sống một phần thời thơ ấu của ông ở Kanggye.
Văn phòng bảo tồn chịu trách nhiệm về các di tích lịch sử, bao gồm cả “gốc cây khẩu hiệu”. “Trên núi trong cuộc đấu tranh chống lại ách thống trị của Nhật Bản, một số người đã bóc vỏ cây và khắc những lời ca ngợi ‘đại tướng Kim Il-sung’ lên thân cây. Một vài cây khắc chữ đó là thật, nhưng những cây giả hiệu khác sau này mọc lên khắp Triều Tiên – do chính quyền dàn dựng ở đó. Tôi chưa tận mắt chứng kiến việc này, nhưng tôi đã thấy bằng chứng về công việc của họ. Một ủy ban do đảng thành lập tuyên bố: “Chúng ta hoàn toàn trung thành với Kim Il-sung, vì vậy chúng ta sẽ lên núi để tìm những cây có dòng chữ khắc.” Họ báo cáo về những dòng chữ mà họ đã “tìm thấy” và tôi đã đến xem. Tôi có thể nhận ra rằng họ chỉ mới khắc lên thân cây vài ngày trước đó – chứ không phải hàng chục năm trước. Đó là tuyên truyền để khiến mọi người tôn thờ Kim Il-sung.”
Ko cho biết, câu chuyện tương tự cũng xảy ra với các di tích “lịch sử” khác. “Kim Jong-il sinh ra ở Liên Xô, nhưng họ lại dựng một tượng đài trên núi Paektu nói rằng y sinh ra ở đó. Ở Mangyongdae, quê hương của Kim Il-sung, bạn có thể tìm thấy những dấu mốc đánh dấu nơi Kim từng học, nơi y từng chơi đùa, vân vân. Chính quyền cũng đã dựng những tượng đài tương tự cho Kim Jong-il ở Kanggye. “Đây là nơi ông ấy suy nghĩ về cuộc cách mạng. Điều này cho thấy tại sao ông ấy phải là người lãnh đạo.” “Đây là nơi ông ấy từng chơi đùa.” Thực tế, Kim Jong-il chỉ ở Kanggye khoảng ba tháng, sau đó sang Trung Quốc cùng em gái, Kim Kyong-hui. Nhưng họ vẫn dựng tượng đài. Toàn bộ khu Hankye-ri ở thành phố Kanggye là một tượng đài “lịch sử” khổng lồ.
Ko làm việc tại văn phòng lịch sử từ giữa năm 1991 cho đến khi đào tẩu vào tháng 6 năm 1993. “Ngay từ khi bắt đầu làm việc ở đó, tôi đã cảm thấy tất cả đều là giả dối,” anh nói với tôi. “Không ai nói về điều đó. Bạn có thể có cảm nhận riêng về nó, nhưng bạn không thể công khai nói ra. Tôi khá chắc chắn rằng nhiều người cũng cảm thấy như vậy, nhưng họ không dám bày tỏ ra lời.” Về phản ứng của công chúng, “Trước đây, tất cả những di tích lịch sử đó đều có tác động rất lớn,” Ko nói. “Mọi người đến những nơi đó và nghiên cứu các dòng chữ khắc. Nhưng bây giờ họ không còn chú ý nữa. Mọi thứ đã thay đổi cách đây hai hoặc ba năm [1991 hoặc 1992], đặc biệt là trong giới thượng lưu. Sinh viên đại học bắt đầu xôn xao. Với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô, người ta bắt đầu nghĩ, ‘Có lẽ chủ nghĩa cộng sản có gì đó không ổn.’ Thêm vào đó, không còn viện trợ từ Nga nữa. Vì vậy, nền kinh tế suy thoái nghiêm trọng. Ngày nay, người ta không còn quan tâm đến hệ tư tưởng nữa – họ chỉ quan tâm đến sự sống còn của mình. Người ta nghĩ rằng điều gì đó chắc chắn sẽ xảy ra ở Triều Tiên. Ý tôi muốn nói là sinh viên đã bắt đầu xôn xao. Các thành viên của giới tinh hoa tin rằng Triều Tiên sẽ chịu ảnh hưởng bởi những biến động quốc tế.”
Ko kể với tôi rằng anh ấy “đã cảm nhận được điều này trước khi bắt đầu làm việc tại văn phòng bảo tồn di tích. Tôi bắt đầu nghe đài KBS của Hàn Quốc, đài phát thanh Moscow bằng tiếng Hàn phát từ Yanbian. Từ khoảng 11 giờ đêm đến sáng sớm, bạn có thể dễ dàng bắt sóng đài giáo dục xã hội của KBS. Tôi bắt đầu nghe từ năm 1985 và bắt đầu nghi ngờ chế độ vào năm 1989. Nhà nước không biết rằng người dân vẫn tìm cách nghe lén từ những chiếc đài nhập khẩu.” Anh đã mua chiếc đài của mình, một kiểu đài sóng ngắn Sony, từ một người anh gặp trong một chuyến công tác. Anh ước tính rằng vào thời điểm anh rời đi, có lẽ chỉ có 5 đến 6% dân số sở hữu đài có khả năng thu sóng AM (sóng trung). Ông đoán rằng một phần ba số người có thiết bị đó – có lẽ khoảng 2% dân số – thường nghe các đài nước ngoài.
“Tôi và bạn bè thậm chí còn tụ tập lại để nghe các chương trình phát thanh của Hàn Quốc và tranh luận về những gì chúng tôi đã nghe được,” Ko nói. “Kim Il-sung đã nói trong những bài phát biểu của mình rằng để có cuộc sống sung túc và thịnh vượng, chúng ta phải tiến hành thống nhất. Tôi muốn tìm hiểu triển vọng thống nhất. Trên đài phát thanh, tôi nghe về sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nước ngoài và về chủ nghĩa tư bản thực sự đang hoành hành ở Trung Quốc. Tôi muốn tìm hiểu triển vọng của TriềuTiên. Cuối cùng tôi đào tẩu vì tôi tin rằng chế độ đó không thể tồn tại lâu dài. Nó chắc chắn sẽ sụp đổ. Mọi người đều tin rằng điều gì đó sẽ xảy ra trong vài năm tới. Khi bạn bè tụ họp, họ bàn tán xem Triều Tiên sẽ thay đổi thế nào. Có người sẽ nói, ‘Các cậu nghĩ gì về sự sụp đổ của Liên Xô? Theo các cậu, chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội tốt hơn? Còn chủ nghĩa xã hội thị trường tự do kiểu Trung Quốc thì sao?’ Tuyên truyền của chế độ phản tác dụng. Trên các bản tin của Triều Tiên, họ chiếu cảnh sinh viên biểu tình ở Hàn Quốc. Người dân bình thường nói, ‘Ồ, xã hội ở đó chắc hẳn rất hà khắc.’ Người có học thức thì nghĩ, ‘Để có những cuộc biểu tình như vậy, họ hẳn phải có một xã hội rất dân chủ.’ Những vấn đề khác mà mọi người bàn tán trong những cuộc trò chuyện riêng tư này bao gồm dầu mỏ. Nguồn cung dầu mà Liên Xô trước đây luôn cung cấp hiện đã bị cắt giảm và lượng dầu nhập khẩu từ Trung Quốc giảm mạnh. Vậy tương lai của Triều Tiên sẽ ra sao?
Tôi hỏi anh ấy mọi người nghĩ sẽ trả lời cho câu hỏi đó như thế nào. “Ai cũng tin rằng sớm muộn gì chiến tranh cũng sẽ nổ ra,” anh ấy nói. “Một trăm phần trăm muốn chiến tranh xảy ra. Tình trạng thiếu lương thực rất khủng khiếp. Việc phân phối bị gián đoạn, vì vậy mọi người cho rằng họ sẽ chết vì đói hoặc chết trong chiến tranh. Họ thậm chí còn chuẩn bị sẵn sàng chết trong một cuộc chiến tranh hạt nhân. Một trăm phần trăm tin rằng Triều Tiên sẽ thắng, vì vậy họ ủng hộ chiến tranh. Họ được nuôi dạy để tôn thờ Kim Il-sung. Bất kể những thay đổi có thể xảy ra, họ vẫn luôn tôn thờ Kim Il-sung. Họ đã bị tẩy não từ nhỏ đến mức sẵn sàng chết vì đất nước.”
Vậy có phải người dân không nhận thấy mối liên hệ giữa lối cai trị của Kim Jong-il với các vấn đề của họ? “Họ không đổ lỗi cho Kim Il-sung, nhưng họ đổ lỗi cho Kim Jong-il,” Ko nói. “Họ nghĩ rằng, ngay khi Kim Jong-il lên nắm quyền, các vấn đề đã bắt đầu. Tất cả người Triều Tiên đều tin rằng Kim Il-sung là một anh hùng chiến tranh, người đã mang lại độc lập cho Triều Tiên. Họ tôn thờ ông ta. Mặc dù tôi đã phản bội Triều Tiên, tôi vẫn rất tôn kính Kim Il-sung, đánh giá rất cao ông ấy. Có lẽ tất cả những người đào tẩu ở đây đều nghĩ như vậy. Xã hội đó khép kín như vậy.”
Ko cho biết mình nhận thấy rằng “người dân Hàn Quốc không đủ cảnh giác. Tôi biết Kim Jong-il đủ tàn bạo để gây chiến. Hầu hết người dân Triều Tiên tin rằng lý do Bắc và Nam không thể thống nhất là do quân đội Mỹ đóng quân ở đây. Và nếu Mỹ rút quân, họ nghĩ rằng việc thống nhất chỉ là vấn đề thời gian. Nhưng việc rút quân Mỹ sẽ không mang lại sự thống nhất. Kim Il-sung biết rằng nếu thị trường tự do và những ảnh hưởng từ nước ngoài bước vào, chế độ của ông ta sẽ sụp đổ. Tôi ủng hộ các biện pháp trừng phạt kinh tế. Nhưng để các biện pháp trừng phạt kinh tế có hiệu quả, Trung Quốc phải từ bỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa của mình. Nếu không có sự thay đổi đó, chúng tôi không thể có sự thay đổi ở Triều Tiên, bởi vì chế độ này được sự ủng hộ của Trung Quốc.”
Tôi kể với Ko về kế hoạch của Washington đối với các chương trình phát thanh tiếng Hàn của Đài Phát thanh Châu Á Tự do và hỏi liệu anh ấy có nghĩ rằng điều đó có thể giúp mở cửa xã hội hay không. “Đó là một ý tưởng thú vị!” anh ấy nói. “Rất nhiều người nghe đài nên nó có khả năng cao làm xáo trộn chế độ hiệu quả. Hầu hết người Triều Tiên không biết chuyện gì đang xảy ra ở Hàn Quốc. Khi tôi sống ở đó, tôi vẫn hằng chờ đợi ai đó nói cho tôi biết tôi nên làm gì. Nhưng không ai làm vậy cả. Trên các chương trình phát thanh đó, những người đào thoát nên nói chuyện và thuyết phục bạn bè của mình ở Triều Tiên – hãy cho họ biết chúng tôi vẫn còn sống. Có lẽ điều đó sẽ truyền cảm hứng cho họ. Hãy nói bằng những từ ngữ mà họ có thể hiểu. Thay vì để ai đó nói rằng Hàn Quốc đang trải qua thời kỳ bùng nổ kinh tế, hãy để những người đào thoát lên đài phát thanh đưa ra những ví dụ cụ thể về những gì có thể mua được ở đây.” Xét theo tỷ lệ phần trăm thu nhập bình quân tương ứng, “ví dụ, giá của một chiếc Hyundai Sonata II ở đây tương đương với giá một bộ vest ở Triều Tiên.”
Tôi hỏi anh ấy về những tờ rơi mà người Hàn Quốc thả bằng khinh khí cầu. “Tôi đã đọc chúng rồi,” anh ấy trả lời, “mặc dù việc đọc chúng bị cấm. Nếu tin tức về việc thả tờ rơi bị lộ ra ngoài, lực lượng an ninh nhà nước sẽ cử rất nhiều người đi theo dõi. Nếu ai đó bị phát hiện nhặt một trong những tờ rơi đó lên để đọc, sẽ có người mách lẻo và người đọc sẽ bị tống vào tù.”
Một người Triều Tiên khác kể với tôi về sự chỉ trích ngày càng tăng đối với Kim Jong-il trong những năm 1980 là Kim Nam-joon, người đã đào tẩu sang Hàn Quốc vào tháng 8 năm 1989 khi đang phục vụ với tư cách là trung úy trong Quân đội Nhân dân. “Tình trạng thiếu lương thực trở nên tồi tệ hơn vào đầu những năm 1980,” Kim Nam-joon nói với tôi. “Hầu hết mọi người đều cho rằng điều đó có liên quan đến sự xuất hiện của Kim Jong-il trên chính trường. Kim Jong-il là một người rất xui xẻo. Ông tốt nghiệp Đại học Kim Il-sung năm 1964. Cho đến cuối những năm 1970, ông hoạt động âm thầm trong đảng. Vào những năm 1980, ông bắt đầu xuất hiện trước công chúng. Mọi thất bại đều quy cho ông ta. Năm 1984, khi Hàn Quốc bị lũ lụt, Triều Tiên đã viện trợ cho Hàn Quốc. Mỗi tháng, tại một bệnh viện quân sự trong khu vực của tôi, một chiếc xe tải hai tấn rưỡi chở đầy hàng tiếp tế đến. Sau khi chúng tôi bắt đầu viện trợ cho Hàn Quốc, chiếc xe tải chỉ còn chở khoảng hai kilôgam hàng tiếp tế mỗi tháng. Khẩu phần lương thực cho công nhân là 700 gram mỗi ngày. Chính quyền sẽ trừ đi 20 gram để dự trữ phòng trường hợp chiến tranh. Sau đó, họ lại bắt đầu lấy thêm 20 gram nữa để viện trợ cho Hàn Quốc.” Binh lính nhận được khẩu phần ăn lớn hơn – 800 gram là tiêu chuẩn – nhưng ngay cả khi bị cắt giảm, “tôi vẫn cảm nhận được điều đó,” Kim nói.
Kim Nam-joon kể với tôi rằng năm 1989, “khẩu phần ngũ cốc bị cắt giảm thêm 15 gram để dành cho lễ hội thanh niên, nên mỗi ngày chúng tôi chỉ còn 645 gram.” Tôi hỏi về những món ăn mà người châu Á gọi là “món ăn kèm,” một thuật ngữ chung cho phần còn lại trong khẩu phần ăn của họ ngoài ngũ cốc. Anh ấy cười cay đắng. “Nếu đó là mùa cải thảo, thì chúng tôi sẽ ăn cải thảo. Có thể chỉ là cải muối. Hoặc nếu là củ cải trắng thì cũng là củ cải muối. Để cố gắng làm cho chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi đang được ăn nhiều món khác nhau,” họ sẽ cắt rau thành nhiều hình dạng khác nhau: một bát đựng rau cắt thành khối vuông, một bát khác đựng rau thái lát – cùng một loại rau. Canh chỉ là nước vo gạo, thêm một chút muối. Thực ra, Kim Nam-joon nói với tôi rằng, đổ lỗi cho Kim Jong-il trong trường hợp đó là không công bằng vì tình trạng thiếu lương thực những năm 1980 có thể bắt nguồn trực tiếp từ đầu những năm 1970 “khi Kim Il-sung tuyên bố về nền nông nghiệp quốc gia. Đó là điều vô lý. Ông ta làm vậy vì không đủ than, nên người dân phải lên núi chặt cây để lấy củi đốt. Vì vậy, các ngọn núi trơ trụi. Kim Il-sung nói rằng vì không có cây trên núi nên chúng ta sẽ dùng chúng làm đất nông nghiệp. Được thôi, các anh, hãy chặt cây đi, chúng ta sẽ canh tác ở đó. “Khôi phục thêm đất đai” là khẩu hiệu, nhưng không thể chống lại tự nhiên. Sau vài năm, các ngọn núi bắt đầu bị xói mòn do mưa, và nước chảy tràn làm tắc nghẽn các con sông. Nguồn nước không thể đến được các khu vực canh tác khác.”
Điều đó khiến tôi thấy đúng là một phân tích chính sách nông nghiệp khá tinh tế đối với một sĩ quan cấp dưới trong quân đội, vì vậy tôi hỏi Kim Nam-joon liệu mọi người thực sự có nói bằng những lời lẽ như vậy về những thất bại trong chính sách của Lãnh tụ Vĩ đại. “Họ quá ngây thơ nên không phàn nàn,” anh ấy đáp lại. “Họ chỉ nhìn thấy những gì trước mắt.” Những gì anh ấy nói với tôi là “điều tôi đã nhận ra sau khi đến Seoul. Tôi chỉ suy đoán về điều đó khi còn ở Triều Tiên. Nhưng tôi có một cái máy tính bỏ túi vào năm 1987 hoặc 1988. Tôi đã từng tính toán một chút. Tất cả mọi người đều đói, nhưng truyền thông nói rằng mỗi năm Triều Tiên thu hoạch được 8,8 triệu tấn ngũ cốc. Tôi đã tính toán, ngay cả khi giả định có khoảng 30 triệu người ở Triều Tiên” – dân số thực tế chỉ hơn một nửa con số đó – “và áp dụng khẩu phần ngũ cốc tiêu chuẩn để tính toán lượng ngũ cốc cần thiết. Tôi tính ra được 4,5 triệu tấn. Vậy nên tôi tự hỏi 4,3 triệu tấn còn lại đã đi đâu. Tôi nhận ra đó lại là một lời nói dối khác.”
Nghĩ đến việc chế độ đã nói dối mình, Kim Nam-joon đã nổi cơn thịnh nộ. “Kim Il-sung đúng là một kẻ nói dối, một tên đạo đức giả, một kẻ bắt chước,” anh ta giận dữ nói. Chính Kim Nam-joon là người đã kể cho tôi nghe về vụ ăn cắp khẩu hiệu được đề cập trong chương 13. “Ở nhà dân thường treo khẩu hiệu, “Cá không thể sống thiếu nước. Nhân dân không thể sống thiếu Quân đội Nhân dân – Kim Il-sung.” Khi tôi đến Hàn Quốc, tôi mới biết thực ra Mao Trạch Đông mới là người nói câu đó. Kim chỉ là kẻ bắt chước. Y thật ngu ngốc. Đầu những năm 70, y nói, “Tìm đất.” Đến những năm 80, y nói, “Tìm nước,” sau khi tất cả các con sông đã bị tắc nghẽn do xói mòn núi. Y nói rằng để canh tác, chúng ta phải tìm nguồn nước ngầm. Tất nhiên, nước ngầm không đủ. Tất cả những điều này đã dẫn đến sự suy tàn của nông nghiệp Triều Tiên.”
Kim Nam-joon nhớ lại rằng mình từng là một tín đồ trung thành điển hình suốt thời trung học. Cha mẹ ông là người Triều Tiên, từng sống ở vùng Viễn Đông Nga, gần Khabarovsk, nơi cha ông phục vụ trong Hải quân Liên Xô. Năm 1959, ba năm trước khi Nam-joon ra đời, cha ông nghỉ hưu và gia đình chuyển đến Chongjin, một cảng lớn trên bờ biển phía đông của Triều Tiên.
“Gia đình tôi chuyển đi vì cha tôi từng là đảng viên của Đảng Cộng sản Triều Tiên trước khi sang Liên Xô năm 1945, sau giải phóng,” Kim Nam-joon cho biết.
Anh ấy kể với tôi: “Cha tôi 60 tuổi, đã nghỉ hưu và muốn về nước. Ông nghĩ rằng mình sẽ được hưởng đặc quyền nhờ quá khứ chính trị. Chongjin là nơi nhiều người hồi hương được đưa đến tái định cư – đặc biệt là những người từ Nhật Bản. Chính phủ bảo họ đến đó. Mẹ tôi phản đối việc trở về. Cuối cùng, cuộc sống của họ ở Bắc Triều Tiên quá thiếu thốn đến nỗi họ ước gì mình có thể quay lại Liên Xô. Lớn lên, tôi nghe họ than phiền suốt. Khi sống ở Liên Xô, họ có radio, xe đạp – tất cả mọi thứ xa xỉ. Nhiều người đến Chongjin từ Liên Xô đã kết hôn với phụ nữ Nga. Họ được phép quay trở lại Liên Xô nếu muốn. Nhưng bố mẹ tôi đều là người Hàn Quốc nên họ không được phép rời đi một khi đã trở về Triều Tiên.”
Bất chấp những lời phàn nàn của cha mẹ, Kim nói rằng mình không cảm thấy có sự mâu thuẫn nào giữa thực tế và những gì anh được dạy ở các trường học Triều Tiên. Đó là “vì cha tôi là một người cộng sản tận tụy. Tất nhiên mẹ tôi không quen với nếp sống ở Triều Tiên, nhưng tôi thực sự không cảm thấy mâu thuẫn nào cho đến khi tốt nghiệp trung học. Tôi nghĩ mọi người trên thế giới đều sống như tôi. Tâm lý chung ở Triều Tiên là, nếu họ bảo nó màu đỏ, bạn phải nói nó màu đỏ ngay cả khi thực tế nó màu xanh.
“Tuy nhiên, vào năm 1983, tôi vào Học viện Quân sự Bình Nhưỡng và trở nên quốc tế hóa hơn. Học viện là một trường cao đẳng quân sự hai năm ở Bình Nhưỡng, nơi họ đào tạo sĩ quan. Tôi vào học sau ba năm phục vụ trong quân đội. Khi bạn vào học viện, bạn được cho là sẽ bắt đầu làm quen với thế giới bên ngoài. Để có thể dạy cấp dưới cách đối phó với thực tế, các sĩ quan tương lai phải tiếp xúc với thực tế. Chúng tôi cần được đọc báo nước ngoài. Thực ra không hoàn toàn cởi mở – chúng tôi chỉ được nếm thử một chút. Nhưng họ đã cho chúng tôi một cái nhìn thoáng qua về thế giới thực. Triều Tiên dạy rằng chủ nghĩa tư bản đang trên bờ vực sụp đổ, nhưng qua tất cả những gì tôi đọc ở học viện, tôi nhận ra chủ nghĩa tư bản có tương lai tốt hơn chủ nghĩa xã hội. Lấy ví dụ Hungary, quốc gia đang bắt đầu thịnh vượng vào thời điểm đó. Lúc đầu tôi nghĩ người Hungary giàu có vì những tư tưởng xã hội chủ nghĩa và hệ thống cộng sản. Sau đó, tôi nhận ra rằng họ đã trở nên thịnh vượng nhờ những tư tưởng tư bản chủ nghĩa. Điều quan trọng nhất ảnh hưởng đến tôi là kiến thức tôi có được về Hàn Quốc. Tôi từng nghĩ Hàn Quốc là một quốc gia tham nhũng và cai trị yếu kém. Nhưng ở học viện quân sự, họ có một danh mục vũ khí của Hàn Quốc. Tôi nhận ra họ có vũ khí công nghệ cao và nhiều phương tiện quân sự hơn Triều Tiên. Trước khi vào học viện, tôi nghĩ tất cả người Hàn Quốc đều nghèo. Tôi tin rằng nhà cửa của họ giống như các trại tị nạn. Nhưng ở học viện, họ dạy một khóa học về Cộng hòa Hàn Quốc, kể cho chúng tôi nghe về lối sống và những thứ tương tự. Tôi bắt đầu nghĩ có lẽ người dân ở Hàn Quốc không khổ sở như tôi từng nghĩ.
“Ở học viện, mặc dù tôi bắt đầu hơi nghi hoặc chế độ nhưng tôi vẫn chưa thực sự có nhiều ngờ vực. Và tôi không nói chuyện với mọi người ở học viện về những nghi ngờ của mình. Chỉ sau khi tốt nghiệp, nhận quân hàm và được điều động đến Khu Phi Quân sự (DMZ) thì tôi mới bắt đầu thực sự đối mặt với thực tế. Chúng tôi có ống nhòm và có thể so sánh thực tế bên kia khu phi quân sự với những gì chúng tôi được kể. Gần khu phi quân sự có một thị trấn của Hàn Quốc. Tôi nhận ra ở đó có những ngôi nhà rất đẹp. Tôi thấy rất nhiều trực thăng và các phương tiện khác. Tôi nghĩ rằng chỉ một quốc gia thịnh vượng mới có thể duy trì được điều đó.
“Một động lực lớn thúc đẩy tôi đào tẩu là vào tháng 7 năm 1987 khi tôi xem các chương trình truyền hình của Hàn Quốc. Tôi là trưởng đơn vị biên phòng, điều này cho tôi rất nhiều quyền hạn mặc dù cấp bậc thấp. Tôi có thể vào phòng của chỉ huy trại. Trong đó có một chiếc tivi Nhật Bản với nhiều kênh bị chặn. Một ngày nọ, tôi vô tình thấy mặt sau của chiếc tivi mở và tôi gạt một công tắc. Tôi đã xem được kênh Mạng lưới Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ tại Hàn Quốc (AFKN), điều này hoàn toàn bất ngờ. Tôi lấy hết can đảm và chuyển kênh sang KBS, nơi đang phát chương trình Tranh luận Nửa đêm. Thỉnh thoảng tôi xem chương trình đó sau này. Ngay cả chiếc tivi chất lượng cao nhất được bán ở Triều Tiên cũng là loại có núm xoay. Họ xoay núm đến kênh số chín và hàn cố định nó lại. Nhưng từ phía sau, bạn vẫn có thể chuyển kênh. Tôi thích xem chương trình Tranh luận Nửa đêm. May là hàng tuần đều có cuộc hành quân 25 dặm diễn ra từ 10 giờ tối thứ Sáu đến 6 giờ sáng thứ Bảy, lúc đó mọi người đều ra khỏi trại và tôi bật chương trình đó mỗi tuần. Tôi thực sự không hiểu họ đang nói gì. Tôi chỉ quan sát mọi người. Hàn Quốc được cho là nghèo và xấu xí, nhưng họ ăn mặc sang trọng và có chút mỡ thừa. Tất cả sinh viên trong khán giả trường quay đều đeo đồng hồ – điều đó gần như là một phép màu nếu đó là Triều Tiên.
“Tôi chỉ xem một lần mỗi tuần trong bốn tuần trước khi bị bắt. Tôi sợ mình sẽ bị tống vào tù. Nhưng để được gia nhập lữ đoàn biên phòng này, bạn phải có gia thế tốt. Ngay cả con trai của Thủ tưởng Yon Hyon-muk cũng từng phục vụ trong lực lượng biên phòng. Tôi có quen biết nên chỉ bị giáng cấp và điều đến một lữ đoàn bộ binh tiền tuyến. Đó là vào tháng 8 năm 1987. Trong hai năm, tôi luôn giằng xé trong lòng. Liệu tôi có nên tự tử? Hay đào ngũ? Không có triển vọng thăng chức nào cho người đã bị giáng cấp và điều đến bộ binh. Nếu sau này tôi có con, chúng sẽ mang theo lý lịch gia đình tồi tệ là do tôi gây ra.”
Năm 1988, Kim Nam-joon cảm nhận được tác động của một tuyên bố trọng đại từ Tổng thống Hàn Quốc Roh Tae-woo. Ngày 7 tháng 7 năm đó, noi theo chính sách Ostpolitik của Tây Đức, hay chính sách hướng tới Đông Đức, ông Roh đã đưa ra đề xuất Nordpolitik (Chính sách về Bắc) sáu điểm của riêng mình nhằm cải thiện mối quan hệ Bắc-Nam, bao gồm cả trao đổi kinh tế và nhân sự. “Một quả bóng bay thả xuống mang theo một bản sao của tờ Saenal [Ngày Mới],” Kim kể với tôi. “Một trong những bài báo đề cập đến tuyên bố tháng 7 của ông Roh Tae-woo. Sau khi đọc xong, tôi quyết định mình phải đến Hàn Quốc. Suốt 25 năm, tôi vẫn luôn nghe những lời tuyên bố năm mới của Kim Il-sung. Mỗi lần nghe, tôi đều nghĩ: “Toàn là lời dối trá, nhưng chắc đó là điều các nhà lãnh đạo bắt buộc phải nói.” Nhưng khi đọc lời tuyên bố ngày 7 tháng 7 của Roh, tôi đã dành 40 phút để phân tích, gạch chân những đoạn quan trọng và quyết định: “Đây mới là sự thật.” Ngay cả về vấn đề Bắc-Nam, Roh cũng thể hiện ý định thực sự. Kim Il-sung luôn nói: “Chúng ta phải thống nhất một cách hòa bình.” Nhưng trong lời tuyên bố của Roh, tôi thấy được khát vọng mãnh liệt.
“Hai người khác cũng đọc nó. Kim Kwang-choon đã đào tẩu cùng tôi và người kia cũng định đào tẩu nhưng không thể. Tôi cho rằng anh ta chắc đã bị bắt. Hầu hết những người đào tẩu khác đều làm vậy một cách bốc đồng, nhưng tôi đã cân nhắc suốt cả năm trời. Sau khi lên kế hoạch tám tháng, hai người kia xuất hiện bốn tháng trước khi cuộc đào tẩu thực sự diễn ra. Tôi nghe nói lữ đoàn của tôi đã bị giải tán. Có lẽ những người thân cận với tôi đang gặp rắc rối lớn.”
Ko Young-hwan là một trong những người Triều Tiên phải ra nước ngoài trước khi bắt đầu nhận ra những gì thực sự đang xảy ra ở quê nhà. Sinh năm 1953, năm kết thúc Chiến tranh Triều Tiên, Ko đã học bảy năm tại một viện ngoại ngữ trước khi ghi danh vào Đại học Ngoại ngữ Bình Nhưỡng. Sau khi tốt nghiệp, anh gia nhập Bộ Ngoại giao. Anh được bổ nhiệm làm nhà ngoại giao tại Geneva trong một năm, tại Zaire hai lần với tổng cộng năm năm, sau đó tại Congo. Anh là bí thư thứ nhất tại đại sứ quán Triều Tiên ở Congo khi anh đào tẩu vào năm 1991. Sau đó, Hàn Quốc cử anh làm nghiên cứu viên tại Viện Nghiên cứu Bắc Triều Tiên ở Seoul. Gầy gò với cặp kính gọng vàng, khi tôi phỏng vấn anh vào năm 1993, anh toát lên vẻ chăm chỉ khiến tôi tin chắc rằng anh sẽ thích nghi tốt với cuộc sống ở thủ đô Hàn Quốc.
“Hầu hết người dân Bắc Triều Tiên tin rằng khi Kim Il-sung nắm quyền lực tối cao thì nền kinh tế tốt hơn,” Ko nói với tôi. “Họ tin rằng nền kinh tế đã suy giảm kể từ cuối những năm 1970 khi Kim Jong-il bắt đầu xuất hiện trên chính trường.” Nhưng Ko, giống như Kim Nam-joon, cảm thấy rằng sự suy thoái trong giai đoạn đó là do chính sách của người cha, chứ không phải của người con. “Đây là lời bàn tán ở Triều Tiên: ‘Khi Kim Il-sung nắm quyền, mọi thứ đều hoàn hảo, nhưng giờ Kim Jong-il lên nắm quyền thì mọi chuyện có thể rất tồi tệ.’ Sự thật là, vào những năm 1950 và 1960, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ nhờ sự hỗ trợ từ các nước cộng sản – Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu – đã tạo nên một nền kinh tế ổn định. Nhưng vào cuối những năm 1960, đất nước bắt đầu sử dụng một nửa tổng sản phẩm quốc nội của mình dành cho quân đội. Đó là lý do tại sao cuộc sống của người dân trở nên tồi tệ hơn. Sự thay đổi này gần như trùng khớp với thời điểm Kim Jong-il lên nắm quyền. Vì vậy, những sai lầm của Kim Il-sung bị đổ lỗi cho Kim Jong-il.”
Tôi hỏi Ko về nguồn gốc quyết định đào tẩu của anh ấy. “Ba sự kiện thực sự đã làm tôi chấn động về hệ tư tưởng cộng sản,” anh ấy nói với tôi. “Thứ nhất, tôi nghe bài phát biểu của Gorbachev về cải cách perestroika năm 1987. Tôi muốn tìm hiểu thêm. Thứ hai là sự kiện Đông và Tây Đức thống nhất. Thứ ba là tình trạng hỗn loạn chính trị ở Albania. Bài phát biểu của Gorbachev là lần đầu tiên tôi nghi ngờ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, nhưng trước đó, khi tôi ở Zaire từ năm 1981 đến năm 1983, tôi đã trải qua những lo ngại và nghi ngờ đầu tiên về nền giáo dục mà tôi nhận được ở Triều Tiên. Tôi nghe kể về Hàn Quốc từ những người khác và biết rằng những gì tôi được dạy không phải là sự thật. Đó là lúc những ý tưởng của tôi bắt đầu lung lay. Sau năm 1987, tôi tin rằng chủ nghĩa xã hội không thể thành công ở Triều Tiên.”
Chúng tôi đã thảo luận về những nhận xét của tôi liên quan đến chủ nghĩa cuồng tín, một phẩm chất dường như đạt đến đỉnh điểm khi tôi đến thăm lần đầu Bình Nhưỡng năm 1979. Ko đồng ý, nói rằng mọi thứ đang thay đổi. “Thế hệ trẻ cuối những năm 1970 và ngày nay hoàn toàn khác nhau,” anh nói. “Tôi là một trong những người cuồng tín cho đến năm 1987. Cho đến khoảng năm 1985, hầu hết mọi người đều như vậy. Nhưng đến cuối những năm 80, người ta bắt đầu nghi ngờ về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, và về việc liệu chúng tôi có thực sự đánh bại được Hàn Quốc trong chiến tranh hay không. Sự khác biệt là thế hệ trẻ hiện nay là những người hoài nghi, chứ không phải là những kẻ cuồng tín. Thế hệ trẻ trước đây vào cuối những năm 70 – những người đó giờ đây đã trở thành những người đàn ông của gia đình, chủ yếu là quan tâm đến sự ổn định.” Ko nói rằng mọi người thường nảy sinh nghi ngờ trong độ tuổi từ 22 đến 29.
Thách thức đối với những người nghi ngờ là phải giữ im lặng. Về Kim Jong-il, “điều duy nhất họ có thể nói đến là việc y là con trai của Kim Il-sung,” Ko nói. “Họ không dám bàn luận về việc y kết hôn với ai, anh em cùng cha khác mẹ của y là ai, hay việc y thấp bé – bất kỳ điều nào trong số này cũng có thể khiến họ vào tù. Sự đàn áp hiện nay gấp đôi so với thời Kim Il-sung nắm quyền. Sau cuối những năm 70, tình hình trở nên tồi tệ đến mức nếu bạn đến một cửa hàng, hỏi mua kem đánh răng, được bảo là không có và nếu phàn nàn, ‘Đây là loại cửa hàng gì vậy?’, bạn có thể bị bỏ tù vì tội bất đồng chính kiến. Khi tôi còn học đại học, có khoảng 1.000 sinh viên. Mỗi năm có khoảng 10 sinh viên biến mất vì những vi phạm như vậy – thậm chí chỉ vì nói rằng có hiềm khích giữa Kim Jong-il và Kim Pyong-il,” em trai cùng cha khác mẹ của y.
Tôi hỏi Ko rằng, nếu mọi người không thể nói chuyện tự do, thì làm sao anh ấy biết được người dân nghĩ gì về Kim Jong-il. “Ở bên trong Triều Tiên, bạn không thể nghe được kiểu phàn nàn đó,” cựu nhà cựu ngoại giao nói với tôi. “Nhưng khi người ta đến thăm đại sứ quán ở nước ngoài và uống nước, họ lại nói những điều như ‘Có lẽ Kim Jong-il nên dành nhiều thời gian hơn cho mảng khoa học và kỹ thuật’ – những lời nói rất gián tiếp, để nếu có hậu quả gì xảy ra thì họ có thể thoát tội. Một lối trò chuyện gián tiếp khác mà bạn có thể nghe thấy giữa các quan chức cấp cao liên quan đến cải cách của Trung Quốc. Họ sẽ nói, ‘Trung Quốc đang làm rất tốt hiện nay.’ Họ không trực tiếp nói rằng Triều Tiên nên giống như Trung Quốc.”
Một người Triều Tiên khác trải qua khoảnh khắc nhận ra sự thật khi ở nước ngoài là Kim Ji-il, người đã học vật lý ở Kharkov, Ukraina (khi đó là một bang của Liên Xô) từ năm 1984. (Trong chương 15, chúng ta đã gặp Kim khi còn là lớp trưởng tiểu học, người trong các buổi phê bình đã vấp phải cách phát âm của một từ tiếng Triều Tiên dài ngoằng có nghĩa là “lính xung kích tiên phong”, keunuidaekyeolsade.) Anh đào tẩu sang Seoul năm 1990. Một người đàn ông điển trai với cặp lông mày rậm, Kim – không giống như hàng chục người đào thoát khác mà tôi có dịp nói chuyện, không đeo đồng hồ vàng. Đồng hồ của anh ấy là một mẫu đồng hồ thể thao kỹ thuật số màu đen, bằng nhựa. “Vợ tôi bảo tôi nên đeo đồng hồ trang trọng, giống như những doanh nhân khác, nhưng tôi thích kiểu giản dị,” anh giải thích khi tôi nhận xét về phong cách thời trang không theo khuôn mẫu đó. Về công việc kinh doanh, anh làm việc tại Tập đoàn Sunkyong trong bộ phận thương mại quốc tế, phát triển các dự án trao đổi với các quốc gia. Anh nói với tôi rằng mình cũng hy vọng sẽ tham gia vào hoạt động thương mại với Triều Tiên trong tương lai, nhưng hiện tại thì chưa theo đuổi bất kỳ thỏa thuận nào với Bình Nhưỡng.
Sinh năm 1964, Kim Ji-il lớn lên ở Bình Nhưỡng, nơi cha ông là kỹ sư xây dựng, chuyên thiết kế và thi công các nhà máy và dự án năng lượng. Mẹ ông là giáo sư tiếng Nga tại Đại học Ngoại ngữ. Thời gian nghỉ thai sản là 77 ngày, vì vậy Kim được gửi đến nhà trẻ khi mới khoảng hai tháng tuổi. Sau này, “ở trường mẫu giáo, khi họ cho chúng tôi ăn nhẹ, họ sẽ nói, ‘Nhà lãnh đạo vĩ đại của chúng ta đã cho chúng ta những thứ này.’ Các bạn nhỏ phải nói, ‘Cảm ơn, Nhà lãnh đạo vĩ đại kính yêu.'” Tôi tự hỏi mối quan hệ gia đình ở một đất nước mà Lãnh tụ Vĩ đại là người cha của tất cả mọi người sẽ ra sao. Tôi hỏi Kim Ji-il rằng, bất chấp việc liên tục bị ảnh hưởng bởi tuyên truyền tập trung vào Kim Il-sung, liệu anh có thân thiết với cha mẹ mình không. “Rất thân thiết,” anh trả lời. “Khi cha tôi trở về từ chuyến công tác, ông ấy thường mang đồ ăn vặt cho tôi. Ông ấy giúp tôi làm bài tập về nhà. Tôi nhớ mình thường đi dạo cùng cha mẹ, dành khá nhiều thời gian bên họ.”
Kim Ji-il dường như đã có một tuổi thơ hạnh phúc khác thường. Ngay cả việc gia đình phải chuyển đi khỏi Bình Nhưỡng bất đắc dĩ khi cậu bé mười hai tuổi là một trải nghiệm tích cực đối với cậu. “Vì vụ án mạng bằng rìu năm 1976, người ta lo sợ chiến tranh sẽ xảy ra, nên tất cả mọi người ở nơi làm việc của cha tôi đã chuyển đến huyện Kujan, tỉnh Bắc Pyongan. Đó là lần đầu tiên tôi thực sự được tiếp xúc với thiên nhiên. Tôi có thể nhìn xuống sông, có thể nhảy từ vách đá xuống sông. Tôi đã đi bộ đường dài lên núi, săn thỏ và các loài thú khác.”
Tôi hỏi liệu anh ấy có yêu mến Lãnh tụ Vĩ đại không. Anh ấy trả lời: “Tôi không thể nói là tôi yêu mến Kim Il-sung. Tôi không quen biết ông ấy. Nhưng chúng tôi được nuôi dạy để thần tượng Kim Il-sung. Đó là một thói quen. Ai cũng thần tượng Kim Il-sung. Đó là điều phải làm.” Tôi nói với anh ấy rằng điều đó làm tôi nhớ đến tình hình ở một thị trấn nhỏ phía Nam nước Mỹ, nơi hầu hết mọi người đều là tín đồ Tin Lành và người ta hoặc tin vào đức tin đó hoặc ít nhất chỉ nói suông. Anh ấy đã xa Triều Tiên đủ lâu để hiểu được sự so sánh đó. “Cơ chế hoạt động của hệ tư tưởng của Kim Il-sung và tôn giáo là giống nhau,” anh ấy nói. “Trong xã hội Cơ đốc giáo, nếu bạn nói ‘Tôi là người vô thần’, họ sẽ chỉ trích bạn. Ở Triều Tiên cũng vậy. Nếu bạn nói ‘Tôi không tin vào Kim Il-sung’, bạn sẽ gặp rắc rối. Tuy nhiên, trong tôn giáo, Chúa là vô hình. Ở Triều Tiên, Kim Il-sung vẫn còn sống và bạn có thể nhìn thấy ông ta.”
Tuy nhiên, Kim Ji-il lại khá thoải mái về mặt tư tưởng. Và anh có ấn tượng là cách tiếp cận của ông ta được người dân trong nước đón nhận rộng rãi. “Mức độ sùng bái Kim Il-sung là như nhau đối với mọi người,” anh khẳng định. “Trong tôn giáo có thể có những kẻ cuồng tín, nhưng ở Triều Tiên không ai là cuồng tín cả.” Tôi nhấn mạnh: Còn đám người trẻ tuổi khóc lóc thảm thiết vì quá cảm động trước lòng nhân từ của Lãnh tụ Vĩ đại thì sao? “Tôi đã thấy điều đó ở các cuộc gặp gỡ chính thức, nhưng bình thường thì bạn sẽ không bao giờ thấy,” anh ấy nói. “Tôi nghĩ đó là diễn xuất.” (Hãy nói điều đó với Dong Young-jun, người đã khẳng định với tôi rằng những giọt nước mắt của anh ấy là hoàn toàn thật.)
Tôi kể cho Kim Ji-il nghe câu chuyện về chuyến đi đầu tiên của tôi đến Triều Tiên năm 1979, khi người phiên dịch đã giật lấy máy ảnh của tôi để ngăn tôi chụp ảnh những đứa trẻ đang chạy nhảy trên sân trường. Lập luận nhiếp ảnh được đưa ra là những bức ảnh như vậy không thể hiện được sự đoàn kết, sự nhất trí của người dân Triều Tiên. “Đó là điều mà những người ở cấp cao muốn người nước ngoài thấy: sự đoàn kết,” Kim bình luận. “Nhưng như tôi đã nói, tất cả sự sùng bái thần tượng mà các bạn thấy trong trường học chỉ là hành vi theo thói quen. Khi không có ai để ý, chúng tôi cũng sẽ quậy phá như bất kỳ đứa trẻ nào trên thế giới.”
Kim theo học đại học tại Đại học Il-sung từ năm 1980 đến năm 1984. Chính vào thời điểm đó, anh bắt đầu nảy sinh những nghi ngờ thực sự về chế độ. “Khi tôi còn nhỏ, họ nói đồng phục của chúng tôi do Kim Il-sung tặng, tôi nghĩ, ‘Chà, miễn phí sao? Thật là một người tốt bụng và hào phóng!’ Nhưng sau khi vào đại học, suy nghĩ của tôi bắt đầu thay đổi. Khi họ tặng quà cho chúng tôi, tôi tự hỏi, ‘Kim Il-sung lấy tiền ở đâu ra để mua tất cả những món quà này?’ Tôi biết có một quỹ Kim Il-sung, nhưng ông ấy lấy tiền ở đâu? Đó là khởi đầu cho những nghi ngờ của tôi. Hai lần một năm, họ sẽ tặng ‘quà’ cho tất cả sinh viên trên cả nước, vì vậy tôi bắt đầu tự hỏi quỹ đó lớn đến mức nào.” Việc bày tỏ những nghi ngờ như vậy có thể rất nguy hiểm.
“Cứ 30 người ở trường đại học thì có hai hoặc ba gián điệp được cử đến – một người từ đảng, một người từ cơ quan an ninh quốc gia, một người từ cơ quan an ninh công cộng. Hầu hết mọi người đều có thể đoán được gián điệp là ai. Chỉ cần cẩn thận đề phòng thôi.”
Tôi tự hỏi liệu có phải vì xuất thân từ tầng lớp thượng lưu mà Kim Ji-il cho rằng sự cuồng tín của những người Triều Tiên khác mà anh từng gặp là giả tạo hay không. Liệu người dân thường có nhiều khả năng cuồng tín thực sự hơn không? “Tôi không nghĩ mình thuộc tầng lớp thượng lưu,” anh nói với tôi. “Ở trường đại học có rất nhiều người có địa vị cao hơn tôi.” Anh thừa nhận rằng mình khác biệt, về mặt đặc quyền, so với đại đa số người dân Triều Tiên, nhưng anh nói rằng mình không tin có sự khác biệt lớn về lòng nhiệt thành tư tưởng. “Người dân thường làm việc quá sức và đói khổ,” Kim nói. “Có lẽ bề ngoài họ sẽ tuyên bố tin tưởng vào chế độ, nhưng sau lưng các quan chức, tôi nghĩ họ sẽ phàn nàn nhiều hơn giới tinh hoa.”
Bản thân anh, khi sống ở Triều Tiên, “không bao giờ cảm thấy no đủ, nhưng cũng không đến nỗi phải ăn cỏ dại. Trở lại những năm 1970, tôi không nhớ mình từng nghĩ, ‘Chúng ta không có đủ thức ăn.’ Bạn không hề cảm nhận là có quá nhiều, nhưng nó không tệ như những năm 80.” Sau khi bắt đầu du học, anh ấy có kỳ nghỉ phép hai tháng vào năm 1987 và nhận thấy mọi thứ bắt đầu trở nên tồi tệ hơn.
Tôi hỏi anh ấy làm thế nào mà đi du học được. “Từ đầu những năm 1950 đến cuối những năm 1960, rất nhiều sinh viên được gửi đến Đông Âu để học tập,” anh nói. “Bố tôi đã đến Đông Đức. Từ cuối những năm 1960 đến đầu những năm 1980 thì không còn sinh viên nào được gửi đi nữa. Nhưng rồi, vào khoảng năm 1984, Kim Il-Sung đã đến Đông Âu. Ông nhận ra Triều Tiên tụt hậu rất xa, vì vậy ông nói rằng chúng ta nên cử một số sinh viên đi học. Đó là cách cơ hội đã đến với tôi. Những người được gửi ra nước ngoài đều là sinh viên khoa học và kỹ thuật. Họ chọn những sinh viên vẫn đang học đại học, những người mà họ tin rằng có tư tưởng vững vàng, sẽ không bị lung lay khi tiếp xúc với chủ nghĩa tư bản. Nhóm tuyển chọn là các quan chức được đảng cử đến làm việc tại một bộ phận đặc biệt của trường đại học, nơi họ kiểm tra đời sống sinh viên. Quy trình đầu tiên là chọn ra những sinh viên ‘có tư tưởng vững vàng’, sau đó kiểm tra kiến thức chuyên ngành của họ để tìm ra những người phù hợp gửi đi du học.”
Với những nghi ngờ về chế độ mà anh ấy từng nói với tôi rằng anh ấy đã ấp ủ ngay từ khi còn là sinh viên đại học, tôi tự hỏi làm thế nào Kim Ji-il lại vượt qua được sự kiểm tra nghiêm ngặt của ủy ban tuyển sinh du học. Có phải là diễn xuất không? “Lúc đó tôi cũng có một số nghi ngờ nhưng tôi không phản đối chế độ nên tôi không thực sự phải giả vờ hay diễn kịch,” anh ấy trả lời. “Ở Triều Tiên, ngay cả khi bạn có nghi ngờ, bạn cũng không thể thỏa mãn sự tò mò của mình vì bạn không có cách nào để nghe được sự thật.”
Tuy nhiên, Kim tiếp tục, “Ngay khi đặt chân đến Liên Xô, tôi đã thay đổi. Mọi người đều nhìn nhận tôi theo một cách khác. Các đảng viên không bị bắt buộc phải tham dự mọi cuộc họp mà có thể bỏ qua một số cuộc họp. Tôi thích cách thức hoạt động của các cửa hàng: Nếu bạn có tiền, bạn có thể mua, không giống như hệ thống phân phối theo định mức ở Triều Tiên. Đó là một thế giới hoàn toàn khác. Tôi đã hiểu rõ hơn về mọi thứ bằng cách kết bạn và trò chuyện với người Nga. Về cơ bản, tôi nghĩ tâm lý của người Nga và người Mỹ là giống nhau. Tôi đến đó vào thời điểm đó Konstantin Chernenko nắm giữ chức vụ cao nhất, nhưng ông nhanh chóng bị Gorbachev thay thế. Tôi đã chứng kiến cải cách Perestroika đang diễn ra và chính sách cởi mở Glasnost. Tôi trở thành người chống chế độ sau khoảng một năm ở Liên Xô. Tôi trở về Triều Tiên vào mùa hè năm 1987 để nghỉ phép hai tháng. Ý định của tôi không phải là nói gì ngay mà là chờ đến khi trở lại đây lâu hơn trước khi cố gắng thay đổi suy nghĩ của mọi người.”
Năm 1988, Kim Ji-il bắt đầu nghĩ rằng anh thực sự không muốn trở về Triều Tiên. “Nhưng tôi không hề nghĩ đến việc đào tẩu sang Hàn Quốc cho đến lúc tôi bỏ trốn,” anh ấy nói với tôi. “Nếu chỉ là vấn đề thay đổi tư tưởng, thì tất cả mọi người ở Triều Tiên nên đào tẩu.” Đối với bất kỳ ai có thể thực sự đi xa đến mức đào tẩu, “luôn có một lợi thế. Lợi thế của tôi là vợ và con gái tôi. Tôi đã gặp vợ mình, một công dân Liên Xô, trong khuôn viên trường đại học. Cô ấy sẵn sàng đi cùng tôi đến bất cứ nơi nào trên thế giới. Triều Tiên sẽ không thành vấn đề đối với cô ấy. Nhưng xã hội Triều Tiên sẽ không chấp nhận cô ấy. Một cuộc hôn nhân quốc tế là điều không thể tưởng tượng được ở đó. Đó là một cuộc hôn nhân bí mật. Con gái tôi sinh năm 1989 và tôi không báo cho chính phủ biết.” Tôi tự hỏi: Làm sao anh ấy có thể giữ kín cuộc hôn nhân của mình? “Điều đó cho thấy chúng tôi tự do hơn nhiều ở Liên Xô so với ở Triều Tiên,” Kim trả lời.
Ban đầu, vợ của Kim khuyên anh: “Hãy quay về Triều Tiên. Đào tẩu sẽ ảnh hưởng đến bố mẹ anh.” Kim nói với tôi rằng anh “đang ở trong tình thế khó xử”. “Đã đến lúc trở về Triều Tiên và tôi phải lựa chọn giữa gia đình tôi ở Triều Tiên và vợ con tôi, những người mà tôi không thể đưa về cùng. Tôi đã chọn vợ con. Tôi không muốn con gái mình lớn lên không có cha.” Sau khi đưa ra quyết định, anh đào tẩu bằng cách đến Đông Âu và trình diện tại một đại sứ quán Hàn Quốc.
Vào thời điểm Kim đào thoát, cha anh đang ở Đức để đàm phán với một công ty Đức. Mẹ anh ở Bình Nhưỡng làm việc trong lĩnh vực phát thanh truyền hình với vai trò là người viết bài bình luận. Một người em gái làm việc tại Viện Dinh dưỡng Yongseong, nơi có một nhà máy đóng gói thực phẩm chất lượng cao dành cho giới thượng lưu. Một người em trai đang theo học tại Đại học Công nghệ Kim Chaek. Anh ấy nói với tôi, đầy hy vọng: “Đến Hàn Quốc không có nghĩa là tôi sẽ mất cha mẹ. Tôi tin họ vẫn còn sống. Có thể họ đã phải chịu đựng, nhưng tôi tin họ vẫn còn sống. Xu hướng hiện nay là để Triều Tiên tồn tại, họ phải thích nghi với hệ thống kinh tế thị trường tự do như Trung Quốc đã làm. Tôi tin Triều Tiên sẽ làm được điều đó. Điều đó sẽ mang lại sự cởi mở và nhiều ảnh hưởng văn hóa nước ngoài.”
Tôi đã đề cập đến những kế hoạch đang được ấp ủ vào thời điểm đó ở Washington nhằm phát sóng tin tức của cho người dân Triều Tiên bằng chính ngôn ngữ của họ qua Đài Phát thanh Châu Á Tự do “Đó là một ý kiến hay,” Kim nói. “Tôi đã nghe Đài Phát thanh Châu Âu Tự do và Đài Tiếng nói Hoa Kỳ bằng tiếng Nga. Chúng rất thành công ở Liên Xô. Chúng đưa tin về những câu chuyện mà báo chí Liên Xô không đăng tải. Gia đình vợ tôi cũng nghe.” Trong số các đài mà người Triều Tiên sở hữu, “một số đài nhập khẩu từ Nhật Bản là đài sóng ngắn. Tại hải quan, chúng bị khóa ở một kênh cố định. Nhưng các quan chức cấp cao dân sự và quân sự đều có đài sóng ngắn không bị cố định ở một kênh.”