Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Gia Long (Bài 9)

Nhà Nguyễn: Gia Long   [25/1/1811-12/2/1812]

Hồ Bạch Thảo

Tháng giêng năm Gia Long thứ 10 [25/1-22/2/1811], lấy Hữu tham tri bộ Binh Ngô Nhân Tĩnh làm Hiệp trấn Nghệ An. Nhân Tĩnh đến trấn, tâu rằng dân trong hạt đói kém, còn thiếu tô thuế tiền thóc kể tới 10 vạn. Vua dụ rằng:

Nhà nước để của ở dân, thì ở dân cũng như ở nhà nước, có cần gì. Đợi sang năm được mùa sẽ thu”.

Vệ úy Nguyễn Văn Như giữ đồn Tiên Lý [huyện Yên Thành, Nghệ An]; ban đêm đồn bốc cháy, cháy lan tới kho thóc mất hơn 9.000 hộc. Quan trấn Nghệ An tịch biên nhà Văn Như; sự việc tâu lên, Vua không nỡ bắt tội, chỉ cách chức quan. Gia sản đã tịch thu đều trả lại hết; những quân coi giữ bị đánh trượng rồi tha.

Sai các quan trong triều soạn bộ luật, lấy Nguyễn Văn Thành giữ chức Tổng tài.

Vùng Sơn Nam đói; dân các huyện Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Ý Yên, Thanh Liêm, họp nhau trộm cướp. Quan Bắc Thành sai Cai cơ Nguyễn Văn Tại, Phó quản cơ Nguyễn Văn Nhàn đem quân đi bắt.

Tháng 2 [23/2-23/3/1811], các địa phương thiếu nhiều thuế, quan Bắc Thành cho rằng các huyện thu đòi bất lực, xin trói Tri huyện để trị tội. Vua nói:

Huyện lệnh là quan thầy của dân, làm nhục là không phải đạo, dân còn coi ra gì”.

Không y lời xin.

Đắp đê mới ở huyện Yên Lãng [huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc] qua các xã Văn Quán, Hạ Lôi, Đông Cao, Trang Việt, Mạch Lũng, dài hơn 1.350 trượng [1 trượng = 4 mét].

Tướng giặc Đặng Trần Siêu và Võ Đình Lục lại họp đảng ở xã Kính Lão, huyện Mỹ Lương [huyện Quốc Oai, Hà Tây] hơn nghìn người, đi cướp bóc. Lê Chất đem binh đi bắt,  đóng đồn ở Ứng Thiên [huyện Ứng Hòa, Hà Tây], sai Phó thống chưởng cơ Đặng Đức Bính, Phó vệ úy Ngô Văn Dần, Cai đội Nguyễn Văn Chỉnh và Cai cơ Ngô Văn Tiến làm tiền du. Khi quân đến  xã Yến Vĩ thuộc huyện Hoài An [huyện Ứng Hòa, Hà Tây], phục binh bốn mặt nổi dậy. Tiến chạy trước; Bính cùng Dần và Chỉnh đánh nhau bị chết tại trận. Chất chém Tiến để răn quân; lại ủy cho Trấn thủ Sơn Nam thượng là Nguyễn Xuân, Phó vệ úy Mai Văn Châu tiến quân tới xã Thức Cốc, thuộc huyện Chương Đức [huyện Chương Mỹ, Hà Tây]. Quân giặc chống đánh; Xuân và Châu lùa đánh tan. Chém được 4 đầu giặc, bắt được hơn hai chục người. Việc tâu lên; thưởng cho quan và binh hơn 1.000 quan tiền, truy tặng Dần làm Vệ úy, Chỉnh làm Cai cơ.

Tháng 2 nhuần [24/3-22/4/1811], nước Xiêm La sai bọn Phi Nhã Phi Phật đến dâng thư và sản vật địa phương. Trong thư nói đến tội trạng của Nặc Chăn tự tiện giết bọn Cao La Hâm Mang Trà Tri Biện. Vua sai Nguyễn Văn Thành bẻ rằng:

Cao La Hâm Mang Trà Tri Biện âm mưu phản nghịch, Nặc Chăn là vua giết đi, cũng như bề tôi ở biên cương giết một kẻ lại phạm pháp, thì có tội gì? Huống nước Xiêm phong mà không có bằng sắc, để gây hiềm khích, há nên chỉ trách một mình Nặc Chăn sao?”.

Sứ giả lại xin bảo vua nước Chân Lạp thân sang nước Xiêm để hội táng Phật vương; Vua lại sai dụ rằng:

 “Chân Lạp từ khi có nước tới nay, chưa từng có lễ vua thân đi mừng viếng bao giờ. Nếu có lầm lỗi, đưa thư răn bảo là được, hay sai sứ đến trách cũng được, sao lại bắt bỏ nước mà đi? Lấy nước lớn vỗ về nước nhỏ, đó là thuận theo lẽ trời. Nếu nước ngươi làm trái lẽ trời thì hành động của Nặc Chăn biết làm sao được?”.

Sứ giả không nói thêm được nữa.

Trước đây Nặc Chăn cùng nước Xiêm gây ác, chỉ trông nhờ vào ta. Đến khi nghe sứ Xiêm lại chầu, cho rằng ta vui vẻ với Xiêm, Nặc Chăn rất sợ. Vua sai đình thần biên thư bảo cho biết những lời hỏi đáp với sứ Xiêm khiến cho họ yên lòng. Lại dụ rằng:

Nước ngươi hãy còn suy yếu, thế chưa thể tranh với người Xiêm được. Nay nước Xiêm có tang Phật vương, Vương tuy không thể thân hành đi được, nhưng cũng nhân lúc này sai sứ sang hội táng, để tỏ tình giao hiếu”.

Nặc Chăn được thư vui mừng, dâng biểu tạ ơn.

Ngày mồng 4 tháng 3 [26/4/1811], duyệt các quân ở trước điện Càn Nguyên, dẫn sứ Xiêm đến xem. Thưởng cho các quân 2.500 quan tiền. Ngày hôm sau thao diễn chiến thuyền ở sông Hương; cùng bọn Tống Phước Lương bàn về thao lược dùng binh, Vua bảo rằng:

Côn Lôn, Phú Quốc, Thị Nại, Cù Mông, trẫm cùng tướng sĩ các ngươi đã trăm trận đánh vất vả mới có ngày nay. Lúc yên đừng quên lúc nguy, đó thực là đạo giữ nước yên dân”.

Năm ngoái Thượng thư bộ Hộ Lê Quang Định được kiêm nhiệm Khâm thiên giám; nay xin điều bổ Hữu tham tri Lại bộ Nguyễn Hữu Thận giữ chức Hữu tham tri Hộ bộ; chắc Khâm thiên giám muốn dùng Hữu Thận giúp vào việc soạn lịch mới.

Sai bọn Chưởng cơ Tống Phước Ngoạn, Phó vệ úy Trần Văn Trinh, Thiêm sự Phạm Văn Toán sung Chánh phó sứ sang Xiêm. Tặng Phật vương 120 tấm lụa trắng, 100 tấm vải trắng, 2.000 cân đường cát, đường phổi, đường phèn đều 500 cân. Cho vua thứ hai 80 tấm lụa trắng, 80 tấm vải trắng, 1.000 cân đường cát, đường phổi đường phèn đều 300 cân.

Vua sai bộ Lại viết thư cho nước Xiêm, nhắm thu xếp cho nước Chân Lạp thống nhất một nước, một Vua, trung thành với hai nước lớn Việt Nam và Xiêm La, thư như sau:

 “Nước Chân Lạp là một nước phiên nhỏ, người thưa đất hẹp, trước đây các vua ta phong cho ông cha Nặc Chăn một nước một vua, chính quyền về một mối, cho nên có thể nắm được giềng mối để giữ gìn vô sự; nay vì nước loạn ly đã lâu, sức người mòn mỏi, Nặc Chăn đã làm quốc vương mà em là Nặc Nguyên lại làm vua thứ hai, Năm Yêm làm vua thứ ba, một nước ba vua, nhân dân do đó mang hai lòng. Mới đây nghe dân Man không yên, cho nên hạ lệnh cho khổn thần ở Gia Định đem quân trấn giữ, đấy là nghĩa yêu nước nhỏ không thể không được, chứ không phải vì lợi, cũng không phải thích dụng binh. Huống chi Nặc Chăn đem thần dân trong nước để thờ hai nước lớn cũng chỉ là mong nhờ uy đức để giữ bờ cõi toàn vẹn mà thôi. Trong khi Nặc Chăn có việc, mà nước Xiêm trong thì có quốc tang, ngoài thì có việc quân, thế ấy không thể trông coi cả được; nước ta đưa quân đi tuần ngoài biển để nhân giữ cho yên, chẳng những là giúp cho Nặc Chăn mà cũng giúp cả cho nước Xiêm nữa. Đường sá xa cách e vương không suốt được ý ấy, nên nói rõ ra”.

Sứ giả nước Xiêm  xin về nước, thưởng cho rất hậu, sai cùng đi với sứ ta.

Khai mỏ sắt La Bôn ở Biên Hòa. Bọn lái buôn người Thanh là Lâm Úc Tam và Lý Kinh lãnh trưng, mộ dân địa phương và người Thanh lập làm đội Thiết trường, mỗi năm nộp thuế sắt mỗi người 50 cân.

Nguyễn Văn Tồn đóng đồn ở La Bích [Longvek, Cambodia], quân nhiều người bị bệnh vì nước độc. Nguyễn Văn Nhân tâu xin rút và mộ người Việt ngụ ở Chân Lạp lập thành ba đội, tùy tiện đóng giữ; Vua theo lời. Chiếu dụ vua nước Chân Lạp rằng:

Nay trong nước yên tĩnh, không cần để quân lại nữa, nếu có sự cần kíp sẽ phát quân cũng chưa muộn”.

Tháng 4 [22/5-20/6/1811] Tham hiệp Hà Tiên là Dương Văn Châu cùng Hiệp trấn Nguyễn Đức Hội vốn có hiềm khích với nhau. Hội hay mưu lợi, sai riêng người đi Chân Lạp. Châu biết được việc, bèn sai bắt giữ để làm chứng. Hội sai người kêu ở Gia Định, Châu đón chặn đường, lại họp quân dân vây dinh thự của Hội. Hội cũng lệnh cho quân tự vệ, khiến cả trấn rối động. Trấn thần bắt trói cả hai người, đem việc hặc tâu lên. Khi án tâu lên, Châu bị tội trảm quyết, Hội bị tội trảm giam hậu, các viên biền thuộc trấn a tòng đều bị xử đánh trượng và lưu đày.

Tháng 5 [21/6-19/7/1811] Đặng Trần Thường và Nguyễn Gia Cát có tội, đều bị bỏ ngục. Trước đây Thanh Nghệ và Bắc Thành tâu xin ban sắc phong cho bách thần. Vua sai Gia Cát bàn xét rồi tâu lên. Gia Cát ủy cho Thiêm sự Vũ Quý Dĩnh chủ trương việc ấy và sai con là Nguyễn Dục, em vợ là Cống sĩ Tô Văn Dâu ngầm giúp đỡ. Quý Dĩnh làm sắc giả, phong cho ông cha và bố mẹ vợ mình làm phúc thần. Bọn Dục cũng dựa nhau làm gian, đến nay Bắc Thành thần hạch tâu hơn 560 đạo sắc. Vua sai đình thần tra xét; bọn Quý Dĩnh đều xin chịu tội.

Lại có tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc năm Giáp Ngọ [11/2/1774-30/1/1775] vào đánh phương Nam, khi về bị chết đường, họ Trịnh phong làm phúc thần. Trần Thường trước ở Bắc Thành  giấu việc ấy đi, vẫn liệt vào điển thờ, Gia Cát theo mà gia tặng là “Thanh danh văn võ thánh thần đại vương”. Đến khi sự việc phát giác, Trần Thường sợ hãi, xin chịu tội. Vua nói:

Đăng trật cho bách thần là điển lễ lớn ở buổi đầu của nhà nước. Bọn ngươi làm gian trá, dối người khinh thần, không tội nào lớn bằng. Vả cuộc biến loạn năm Giáp ngọ Hoàng Ngũ Phúc chính là thủ ác, nay lại cất lên mà cho là thần, thế chẳng phải là bán tước sao? Việc ấy còn nỡ làm thì việc gì lại chẳng nỡ!”.

Giao xuống bộ Hình bộ nghị tội. Phạm Như Đăng cho là tội Trần Thường nên cách chức, tội Gia Cát nên xử tử. Lê Bá Phẩm cho rằng Trần Thường và Gia Cát tội cũng như nhau, cùng tội mà phạt khác, thì không đúng hình, đều xử tội chết. Nghị ấy tâu lên, vua sai đình thần xét lại. Nguyễn Văn Thành nói dầu rằng Trần Thường, Gia Cát vẫn là có tội, nhưng lấy công giảm lỗi theo bát nghị (1); bọn Lê Quang Định, Nguyễn Đức Huyên, Nguyễn Hữu Thận đều chủ trương theo lời nghị ấy; bọn Trịnh Hoài Đức, Trần Văn Trạc lại theo lời nghị của Như Đăng. Bàn mãi không quyết định được, khi tâu lên, vua nói:

Bá Phẩm nói phải”.

Vua theo lời Phẩm xử Quý Dĩnh bị tội trảm; Trần Thường và Gia Cát đều giam hậu; bọn Dục bị tội đồ, những người khác đều giáng và phạt khác nhau. Nhân đó hạ chiếu thu lại thần sắc, rồi sai quan Lễ bộ bàn lại việc phong tặng.

Tháng 6 [20/7-18/8/1811], bàn định soạn sách Quốc Triều Thực Lục. Triệu Thị trung học sĩ Phạm Thích, Đốc học Sơn Nam thượng Nguyễn Đường, Đốc học Hoài Đức là Trần Toản về kinh đô, sung chức Biên tu ở sử cục. Lại thấy Lê Duy Thanh là người Duyên Hà [huyện Hưng Hà, Thái Bình] có văn học, cũng triệu về Kinh, ban chức Đông các học sĩ.

Xuống chiếu tìm sách sử điển tích; từ đấy những sách cất ở nhà dân dần dần đưa ra.

Bộ Hộ tâu rằng:

 “Trước kia trong hai phủ Thăng Hoa, Điện Bàn thuộc Quảng Nam, một mẫu ruộng công chỉ đánh thuế 8 phần, còn 2 phần, trừ làm nương mạ. Nay tính mẫu mà đánh thuế cả, dân lại viện lệ cũ xin miễn”.

Vua nói:

Vương giả rất công bằng, không riêng tây, gần xa như một. Nay cư dân ở đâu thổ trạch đều có thuế cả, sao chỉ ruộng mạ hai phủ ấy không nộp thuế?”.  Quyết định không cho.

Tháng 7 [19/8-17/9/1811], người đất Diên Khánh [tỉnh lỵ Khánh Hòa] là Mạc Văn Diên dâng sách Hồng Đức Luật Lệ đời Lê; Tri huyện Thủy Đường [Hải Dương] là Nhữ Công Quý dâng sách Hoàng Việt Thống Chí; người Sơn Nam Thượng là Hoàng Quý Chi, người Sơn Tây là Cao Văn Tình, người Kinh Bắc là Lê Doãn Khản dâng các sách quan chế và điều luật triều Lê trước; đều thưởng tiền khác nhau.

Làm xong hai điện Trung Hòa và Cần Chánh, thưởng cho lính và thợ 7.500 quan tiền, quan thì thưởng tiền bổng hai tháng.

Tháng 8 [18/9-16/10/1811] kinh sư bị bão từ giờ mùi [7-9 giờ sáng] đến giờ sửu [1-3 giờ sáng hôm sau]. Nước lụt so với lúc thường hơn 8 thước [3.2 mét]; nhiều nhà ở của quan dân sụp đổ. Sai đội Tiểu sai cùng với dinh Quảng Đức [Thừa Thiên] chia đi các huyện xét hỏi sự đau khổ của dân gian. Thuyền vận tải và thuyền buôn bị lật đắm thì cho tiền cấp tuất. Các hạt Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng bị nạn bão. Xuống chiếu rằng tiền thóc còn thiếu, tạp dịch, kiện vặt và việc xây dựng không gấp, đều bãi cả.

Cửa biển Tư Dung [cửa Tư Hiền, Thừa Thiên] bị vỡ, mở thành cửa lạch rộng 7 trượng 5 thước [30 mét], sâu 7 thước [2.8 mét].

Thuyền Hải Nam của Phan Nguyên Ký đến buôn. Thủ ngự Sa Kỳ [huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi] là Lâm Ấn riêng nhận đút lót giấu hàng hóa để mong giảm thuế. Việc phát giác, Vua sai giết. Nhân đó dụ các Thủ ngự cửa biển phàm thuyền buôn giấu bớt đều tịch thu hàng hóa.

Lấy Quản đạo Kiên Giang Trương Phước Giáo làm Trấn thủ Hà Tiên, Ký lục Định Tường Bùi Đức Miên làm Hiệp trấn. Vua thấy Hà Tiên là nơi trọng yếu ngoài biên, hai người đã biết rõ tình hình biên cương cho nên  sai đi. Bọn Giáo đến trấn, chính sự chuộng rộng rãi giản dị, không làm phiền nhiễu, sửa sang trại quân, chiêu tập dân xiêu dạt, đặt trường học, khẩn ruộng hoang, vạch định phố chợ, ngăn riêng khu vực cho người Việt, người Thanh, người Chân Lạp, người Chà Và [Java]; làm cho Hà Tiên lại trở thành một nơi đô hội ở biên thùy phương nam.

Ngày 14 tháng 9 [30/10/1811] Hoàng thái hậu mất, thọ 74 tuổi; Vua thương khóc không thôi. Triệu các quan vào để bàn việc tang; các quan xin từ tam phẩm trở lên đều để tang một năm, Vua dụ rằng:

Nhà vua lấy Tôn miếu xã tắc làm trọng. Nay trẫm đã để tang 3 năm, các ngươi lại để tang 1 năm, nếu trong một năm có việc ở Tôn miếu xã tắc thì lấy ai làm lễ? Nên cho để tang 3 tháng”.

Tháng 10 [16/11-15/12/1811]; nước Chân Lạp sai sứ đến cống, và xin đổi quốc hiệu là Ân Di Bắc Phủ Lài. Vua cho vào yết kiến, hỏi về việc nước, biết được anh em không hòa mục; bèn  viết thư cho Vua Chân Lạp Nặc Chăn rằng:

Xem biểu của Vương, khen lòng thành thực. Vừa đây hỏi sứ thần mới biết rõ việc hai em của Vương. Vả tổ tiên của Vương đều nhờ Tiên triều che chở; tiên phụ của Vương là bề tôi trước của trẫm, mà anh em của Vương đều là người con mồ côi của tiên phụ Vương, nay Vương là anh cả được chịu tước phong, hai em cũng là ruột thịt rất thân, tình ý há nên chia rẽ. Vương nên thể theo lòng trẫm, nghĩ đến đạo trời, bảo cho hai em nghĩ đến tình cùng gốc, chớ lấy thế vị mà khuynh loát nhau, chớ lấy hình tích mà ngờ ghét nhau, làm sao cho luân thường được hậu, nhà nước yên hòa, để không làm đổ cơ nghiệp của tổ tiên của Vương, để xứng ý dựng nước phên dậu của trẫm. Còn quốc hiệu của Vương, tự tổ phụ Vương dựng nước đã định danh rồi, không cần thay đổi làm gì. Vương nên tuân theo”.

 Nặc Chăn được thư, bèn cảm tạ.

Lấy Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai chưởng Trung quân, Chưởng Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức làm Khâm sai chưởng Tiền quân, Chưởng Thần võ  quân Phạm Văn Nhân làm Khâm sai chưởng Hữu quân.

Bình Định và Phú Yên bị lụt, nhà cửa của quân dân trôi mất nhiều, có người chết đuối. Vua sai Vệ úy Tôn Thất Bính và Tham tri Nguyễn Hữu Thận đi phát chẩn. Dụ rằng:

Nhà nước tích trữ đều là ở dân ra, chẩn cấp cho dân bị tai nạn không thể tiếc phí được”.

 Bọn Bính đến nơi phát gạo ở Phú Yên hơn 19.000 phương, ở Bình Định hơn 4.800 phương, chia hạng để chẩn cấp. Khi bọn Bính chưa đến, trấn thần Bình Định là bọn Vương Văn Học trước đã tùy tiện phát gạo muối chẩn cấp cho dân, dâng sớ xin chịu tội. Vua nói:

Giữ chức chăn nuôi dân phải nên như thế chứ có tội gì”.

Tháng 11 [16/12/1811-13/1/1812] Bọn Tống Phước Ngoạn, Trần Văn Trinh và Phạm Văn Toán từ nước Xiêm về. Vua hỏi về Xiêm La và Chân Lạp; bọn Ngoạn thưa rằng: “Nặc Chăn ơn ta mà thù Xiêm, nước Xiêm chưa hết giận, việc Chân Lạp hẳn là chưa xong được”.

Lục xét tù tội, bèn thả thân thuộc tù phạm trốn; Vua ban chiếu rằng:

Cấm kẻ gian răn kẻ ác là lệ công của phép nước; thương tù ngục, hoãn hình phạt là việc lớn của vương chính. Gần đây các nha môn xét hình, đặt phép bắt trộm cướp; trộm cướp có trốn thì bắt giam vợ con, trải qua năm không cho ra. Nhưng can phạm điều cấm là tội một người, vợ con có tội gì, nếu nhất khái bắt giam, cho ở lẫn trong nhà tù, ngày dồn tháng chứa, nỗi u uất không bày tỏ được, thực không phải là ý thương xót. Vậy hạ lệnh cho các quan địa phương lục xét tù tội, phàm vợ con phạm trốn, không đáng giam giữ thì thả cho về để yên nghiệp làm ăn”.

Sông Nhĩ Hà lở, nhà cửa dân huyện Hoài Đức hư hỏng nhiều, quan Bắc Thành  xin sai dân các phố tự đem gạch đá và cây gỗ làm  thêm kè đá để ngăn giữ. Vua cho là không nên bắt dân làm; bèn sai xuất tiền kho 47.000 quan, thuê dân đắp đê mới từ phường Đông Hà đến cửa ô Ông Tượng dài 108 trượng để bảo vệ.

Tháng chạp [14/1-12/2/1812] Võ Trinh dâng bản phàm lệ soạn sử. Sai Nguyễn Văn Thành sung chức Tổng tài, Phạm Như Đăng làm Phó.

Nguyễn Văn Thành dâng sách Võ bị chí và sách Tứ di loại chí; sai Thị thư viện thu cất.

Thổ phỉ ở Lạng Sơn cướp đồn Bình Gia [huyện Văn Quan]; Cai đội Trần Văn Long đánh giặc bị chết, truy tặng Cai cơ.

Thổ phỉ ở Tuyên Quang là Hoàng Văn Thái họp đảng đánh bảo Tụ Long (2); quan trấn sai tuyên úy là Ma Sĩ Trạch đem quân đi đánh, bắt được đồ đảng và khí giới rất nhiều. Thưởng cho Sĩ Trạch mũ áo và 100 lạng bạc, 200 quan tiền.

Nước Vạn Tượng sai sứ đến cống, lại đưa trả về hơn ba chục người lính trốn. Vua bảo Nguyễn Văn Thành và Phạm Như Đăng rằng:

Vạn Tượng đã nộp lễ cống hằng năm lại trả lính trốn về, đủ thấy lòng thành thực. Nên nhân đấy ban chiếu khen ngợi để cho yên lòng….”.

Em quốc vương Chân Lạp Nặc Chăn là Nặc Nguyên trốn đến Phủ Lật [Pursat, Cambodia], nhiều tội nhân bỏ trốn của nước ấy đi theo, sửa sang binh khí để tự giữ, xin cắt đất ba phủ  Ca Khu, phủ Lòng, phủ Trung, lại sai người cầu viện với Xiêm, Xiêm sai tướng là Phi Nhã Nhâm Ba Lạc đóng quân ở Bắc Tầm Bôn [Battambang, Cambodia], thế rất hung dữ. Nặc Chăn sợ, báo gấp Gia Định; Tổng trấn Nguyễn Văn Nhân đem sự việc tâu lên.

Vua triệu bầy tôi bàn. Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt tâu nói:

 “Xiêm La cùng ta kết nghĩa hòa hiếu, nếu gây binh đao thì lợi hại thực không nhỏ. Vả anh em Nặc Chăn không hòa với nhau, trước đã không có cớ gì mà xin quân, làm nhọc triều đình phải một phen thu xếp, nay tờ biểu ấy chưa thể tin được. Xin hạ lệnh cho thành thần [Gia Định] hịch cho một tướng ngoài biên đem quân đi tuần ở biên giới để xem hư thực, rồi sau sẽ cất quân”.

Vua cho là phải.

Chiếu báo cho Nguyễn Văn Nhân rằng:

Trước kia quân Xiêm đã lui, nay lại trở lại, chưa biết ý ra sao. Nặc Chăn là phên giậu của ta, nếu có sự hoãn cấp thì không lẽ ngồi nhìn, nhưng việc binh cũng không thể khinh động. Nên sai trấn thủ Định Tường là Nguyễn Văn Thụy đem quân đến La Bích [Longvek, Cambodia], nói phao là đi lấy gỗ, để viện trợ ngầm”.

Quân Văn Thụy chưa đến thì Nặc Chăn lại dâng biểu xin quân. Bèn hạ chiếu cho Văn Nhân lấy quân đồn Uy Viễn [huyện Trà Ôn, Vĩnh Long] chuẩn bị xuất phát và căn dặn rằng:

 “Phàm việc ngoài biên phải bình tĩnh mà trấn giữ, thong thả xem biến chuyển, cẩn thận chớ nên gây hấn trước”.

 

Chú thích:

1.Bát nghị: Theo hình luật xưa có 8 trường hợp được giảm tội gọi là Bát nghị, gồm nghị thân [người thân thích của nhà Vua], nghị cố [quen thân nhà Vua], nghị hiền [người có đức hạnh lớn. ], nghị năng [người có tài năng], nghị công [người có công lao lớn], nghị quý [dành cho những quan viên có chức từ tam phẩm trở lên] và nghị cần [người cần cù chăm chỉ trong công việc].

2.Tụ Long: Đất hiện nay giáp với tỉnh Hà Giang, đã cắt cho nhà Thanh, do Hiệp ước Pháp Thanh năm 1887.

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này