Nhà Nguyễn: Gia Long [30/6/1802-28/7/1802]

Hồ Bạch Thảo
Ngày mồng một tháng 6 năm Gia Long thứ nhất [30/6/1802] Vua mang đại quân ra Bắc, xa giá dừng ở dinh Hà Trung [huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh]. Thủy binh tiến vào cửa biển Hội Thống [huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh] , đánh tan quân Đổng lý Tây Sơn Nguyễn Văn Thận, bắt được thuyền ghe, súng ống, khí giới, lương hướng rất nhiều. Bộ binh tiến đến thành Nghệ An, bắt được Nguyễn Lân, con Vua cũ Nguyễn Nhạc.
Thừa thắng, ngày mồng hai [1/7/1802] đánh đồn Tiên Lý [huyện Diễn Châu, Nghệ An]; viên Đô đốc tên Y đem bộ khúc đến đầu hàng. Vua nghe tin, giục giã tiến lên; từ Kỳ Anh trở ra, dân đón đường rước mừng.
Ngày mồng 5 [4/7/1802], xa giá đến thành Nghệ An dừng lại. Duyệt các thuyền ghe, xét số quân, kiểm lương thực, đo dặm đường, trong khoảng vài ngày mọi việc đều xong. Bọn Thiếu úy giặc là Đặng Văn Đằng, Đô đốc là Đào Văn Hổ đem 7 thớt voi đực đến hành tại, lạy xin đầu hàng. Quân tiền đạo tiến lấy Thanh Hoa, bắt được con Vua Quang Trung là Đốc trấn Nguyễn Quang Bàn.
Triệu tán lý thượng đạo Đặng Trần Thường đến hành tại bàn việc binh. Sai Đô thống chế Phan Tiến Hoàng thay lãnh quân thượng đạo. Trần Thường đến, dâng những tù bắt được, có tên Thất con Vua Quang Trung, sai đem giết.
Bọn Hoàng Văn Toản rước xa giá Từ cung [mẹ Vua] từ Gia Định đến kinh thành, sai Phó đội Nội mã là Lê Văn Đặng đến hành tại tâu báo; Vua rất mừng, sai Sứ về thăm sức khỏe.
Ngày mồng 7 [6/7/1802] Phó đô thống chế Tả dinh Võ Doãn Văn và Chánh thống Tiền đồn Lê Đức Định bắt được Thiếu phó Tây Sơn Trần Quang Diệu ở miền thượng đạo Nghệ An. Diệu từ Quy Nhơn đem đồ đảng chạy trốn, chui rừng lội suối, gặp các sách Man ngăn giữ thì ra sức đánh gỡ mà qua, trong khoảng vài tháng lương thực cạn hết, quân lính hao tan. Đến sách Quy Hợp [huyện Hương Khê, Hà Tĩnh], chợt gặp quan quân, tướng sĩ địch đều mỏi, không thể đánh được, nên Diệu bị bắt. Ngoài ra còn bắt được đồ đảng là bọn Từ Văn Chiêu, Nguyễn Văn Giáp, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Mân và 76 thớt voi đực. Tin thắng trận báo lên; Vua sai Lê Văn Duyệt đóng xiềng giam lại, dặn không được tự tiện giết.
Ngày mồng 9 [8/7,1802], bộ binh tiến đánh đồn Tam Điệp [thị xã Tam Điệp, Ninh Bình], bọn Tư mã Tây Sơn Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Tứ chạy trốn.
Ngày mồng 10 [9/7/1802], bộ binh tiến đánh Thanh Hoa ngoại [Ninh Bình], Đô đốc Tài đầu hàng.
Ngày 12 [11/7/1802] tiến lấy được Châu Cầu [Phủ Lý, Hà Nam]. Thủy binh của Nguyễn Văn Trương thẳng tới Vị Hoàng [Nam Định] Sơn Nam hạ. Thủy quân địch là Thống binh Dương Thất Nguyên, Ngô Tam Đồng lên bộ để chống đánh. Văn Trương vẫy quân giáp đánh, bắt được; Đô đốc Thọ, Hiệp trấn Xuân nộp thành đầu hàng, sai Văn Trương ở lại trấn giữ.
Ngày 14 [13/7/1802], xa giá nhà Vua đến Thanh Hoa, dạo xem hình thế sông núi rồi vời những người già ở làng Bố Vệ [huyện Đông Sơn, Thanh Hóa] hỏi về sự tích cũ về miếu nhà Lê. Những người dòng dõi họ Lê tranh nhau đem trâu rượu đến lạy mừng; Vua yên ủi rồi cho về.
Bọn Phạm Ngọc Phác, Phạm Ngọc Thụy 19 người là dân làng Ngọ Xá [huyện Nông Cống, Thanh Hóa] bắt được Tư đồ Võ Văn Dũng và 3 người đồ đảng, giải đến hành tại; sai đóng xiềng giam lại.
Hoãn binh dịch tô thuế cho Thanh Hoa, ban chiếu rằng :
“Thanh Hoa là ấp thang mộc (1) của trẫm. Trước vì Tây Sơn tàn ngược, thuế nhiều dịch nặng, dân phần nhiều xiêu dạt. Nay mới khôi phục, nghĩ đất căn bản cần phải vỗ về nuôi nấng trước, nên đặc biệt chuẩn cho phàm binh dao tô thuế đều hoãn, gọi dân trở về để đều yên nghiệp làm ăn, cùng nhau hưởng phước thái bình”.
Ngày 16 [17/7/1802], Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản đến sông Xương Giang [sông Thương, Bắc Giang], đêm trú ở chùa Thọ Xương. Sau đó dân trong thôn bắt được Quang Toản cùng với bộ hạ Thái tể Quang Duy, Nguyên soái Quang Thiệu, Tư mã Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Tứ, rồi đem giải nộp; riêng con thứ Vua Quang Trung là Quang Thùy thì thắt cổ chết.
Trước đó vào ngày 15 [14/7/1802], Nguyễn Quang Toản sai em là Nguyễn Quang Thùy cùng Tư Mã Tứ đem quân vượt sông Hồng qua Kinh Bắc, sửa cung phủ, làm cầu phao tại sông Cầu và sông Thương, lấy đường đi Lạng Giang. Kế hoạch chưa thực hiện được, thì ngày 16 [15/7/1802] Quang Toản cùng em là Quang Thiệu phải đội mưa rời thành Thăng Long; tháp tùng có Tư mã Dụng đem quân Vũ Lâm, Đô đốc Di đem quân Dực Lâm, đều cầm gươm vàng, kích bạc. Tại trấn Kinh Bắc, nghe nói quân tiên phong nhà Nguyễn đã vào thành Thăng Long, bọn hào mục nỗi lên đón đánh, lòng quân lìa tan. Đến Thọ Xương cầu bị dân phá, Quang Toản ngó nhìn tả hữu than rằng:
“Lũ ngươi ngày thường tuyên dương đức hóa, không biết làm được việc gì, mà để nhân tình như thế!”
Bèn cửi voi sang sông, người đi theo chỉ còn vài trăm.
Bấy giờ tại làng Phương Độ [huyện Gia Bình, Bắc Ninh] có viên lái đò tên Điền, thấy thuyền Quang Toản có nhiều ngọc vàng châu báu. Bèn làm đắm thuyền giữa dòng. Sau đó cho mò lấy châu báu, trở nên giàu có; lúc chết vợ quyên tiền làm Hậu thần ở làng Phượng Độ.
Quang Toản và Quang Thiệu chạy đến Lạng Giang, đình Phương Lan; các viên Cai tổng Vũ Thám, Trần Huy Dao đem dân chúng 2 huyện Phượng Nhãn [Bắc Giang], Lục Ngạn [Bắc Giang] đến vây nhưng không bắt được. Chợt thấy đại quân đến, tướng sĩ Tây Sơn sợ quá, tản mác tan chạy; Quang Toản và Quang Thiệu cửi voi trốn vào rừng. Lúc đó có tên điên ở chợ (thị cuồng) hét voi dừng lại; Cai tổng Thám sấn vào bắt được Toản và Thiệu nạp cho đại quân. Vợ Quang Toản là Lê Thị Ngọc Bình [黎氏玉坪] được đưa vào cung. Bọn Cai tổng Thám, Huy Dao dâng tù, binh khí và của báu; đều được ban thưởng. Tên điên ở chợ, trước ngụ tại chợ Thượng cùng vài chục người ăn xin, sớm tối đánh kẻng cầm canh; bây giờ được thưởng 3 mẫu ruộng, nêu tên là trung nghĩa.
Riêng Nguyễn Quang Thùy thấy đất Trụ Hữu thuộc huyện Bảo Lộc [huyện Lạng Giang, Bắc Giang] núi sông hiểm trở, định đến đấy để cố thủ. Hào mục Bảo Lộc đốc suất quân dân đánh đuổi, đến cầu Quất Lâm thấy sự thế nguy cấp không thể cứu vãn được, Quang Thùy bèn giết vợ rồi thắt cổ tự tử. Hào mục là bọn Trần Huy Dao, lấy đầu dâng đại quân, bèn bêu lên ở phố Hàng Gà.
Ngày 17 [16/7/1802], xa giá nhà Vua đến trấn Thanh Hoa ngoại [Ninh Bình], phát tiền kho chia cho các quân, sai Phạm Văn Nhân ở lại trấn giữ.
Ngày 18 [17/7/1802], xa giá đến trấn Sơn Nam thượng [ Hà Nam], Đô đốc Tây Sơn Lê Văn Hòa, Hiệp trấn là Tín đến quân thứ đầu hàng. Sai phó tướng Tả quân là Nguyễn Đình Đắc ở lại trấn giữ. Cùng ngày Lê Văn Duyệt xua quân từ Sơn Nam Thượng tiến đến thành Thăng Long, các đồn huyện đều sợ oai trốn chạy, nên gươm không phải dính máu. Quan tướng Tây Sơn bọn Tư mã Tứ, Đốc trấn Bàn, Đổng lý Thận, Đô hộ [quan phụ trách việc hộ] Giáp, Thống tướng Đức đều bị bắt; giao cho ngục lại giam giữ.
Ngày 21 [20/7/1802], xa giá đến thành Thăng Long. Vua ngự tại điện Kính Thiên do nhà Lê dựng; xuống chiếu dụ dân Bắc Hà rằng :
“Từ khi giặc Tây Sơn nổi loạn, nhân dân lầm than đã lâu. Trẫm nay vâng làm lệnh phạt của trời, trên để trả thù cho tổ tiên đất nước, dưới để cởi bỏ đau khổ cho nhân dân. Nay đại binh tới đâu, chỉ giết những giặc đầu sỏ, còn người nào bị ép phải theo thì đều tha, nên cứ ở yên như cũ. Những kẻ có nhận quan chức của giặc ra thú thì được miễn tội, gần thì hạn 3 ngày, xa thì hạn 5 ngày. Nếu quá hạn mà không ra thú, bị người ta bắt được thì làm tội. Những tàn quân của giặc mang theo binh khí trốn về thì lập tức phải đến cửa quân trao nộp, nếu cất giấu thì xử theo quân pháp”.
Lê Văn Phong đem quân Tiên phong đến Lạng Sơn, Trấn thủ là Hoàng Văn Kim và Hiệp trấn là Trương Luyện nộp thành đầu hàng. Giữ Trương Luyện theo làm việc văn thư; đem công việc dẹp Tây Sơn báo với quan chức nhà Thanh tại ải Nam Quan.
Có hơn 10 chiếc thuyền hiệu chữ Gia của thủy quân từ cửa Eo [Thuận An, Thừa Thiên] ra khơi gặp bão lạc mất. Vua nói :
“Các tướng sĩ theo ta khó nhọc, không may gặp phải tai nạn gió bão như thế, ta rất thương. Vậy nên hạ lệnh cho khổn thần (2) ở Lạng Sơn gửi thư sang nước Thanh hỏi dò tin tức”.
Dẹp yên Tây Sơn; lấy hết đất An Nam từ miền bắc Trung Phần trở ra, tất cả gồm 14 trấn, 47 phủ, 187 huyện, 40 châu, liệt kê như sau:
| Trấn, Thành | Phủ | Huyện, Châu |
| 1. Trấn Nghệ An | 9 phủ: Đức Quang, Diễn Châu,
Hà Hoa, Anh Đô, Trà Lân, Quỳ Châu, Trấn Ninh, Lâm An, Ngọc Ma.
|
18 huyện: Hương Sơn, Nghi Xuân, Thanh Chương, La Sơn, Chân Lộc, Thiên Lộc, Đông Thành, Quỳnh Lưu, Kỳ Hoa, Thạch Hà, Nam Đường, Hưng Nguyên, Tương Dương, Vĩnh Hòa, Hội Nguyên, Kỳ Sơn, Thúy Vân, Trung Sơn. |
| 2. Trấn Thanh Hoa | 4 phủ: Hà Trung, Tĩnh Gia, Thanh Đô, Thiệu Thiên | 16 huyện: Tống Sơn, Hoằng Hóa, Phong Lộc, Nga Sơn, Nông Cống, Ngọc Sơn, Quảng Xương, Thọ Xuân, Đông Sơn, Yên Định, Quảng Bình, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc, Lôi Dương, Thụy Nguyên.
3 châu: Quan Da, Lang Chánh, Tàm. |
| 3. Trấn Thanh Hoa ngoại | 2 phủ: Trường Yên, Thiên Quan. | 6 huyện: Yên Khang, Yên Mô, Gia Viễn, Yên Hóa, Phụng Hóa, Lạc Thổ |
| 4. Trấn Sơn Nam thượng | 4 phủ: Thường Tín, Ứng Thiên, Khoái Châu, Lỵ Nhân. | 17 huyện: Thanh Trì, Thượng Phước, Phú Xuyên, Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh, Hoài An, Đông Yên, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Dung, Thiên Thi, Kim Bảng, Duy Tiên, Nam Xang, Bình Lục, Thanh Liêm. |
| 5Trấn Sơn Nam hạ | 5 phủ: Thiên Trường, Tiên Hưng, Thái Ninh, Kiến Xương, Nghĩa Hưng | 19 huyện: Mỹ Lộc, Thượng Nguyên, Nam Chân, Giao Thủy, Thần Khê, Ngự Thiên, Thanh Quan, Diên Hà, Đông Quan, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Thụy Anh, Thư Trì, Vũ Tiên, Chân Định, Thiên Bản, ý Yên, Đại An, Vọng Doanh. |
| 6.Trấn Kinh Bắc | 4 phủ: Thuận An, Từ Sơn, Lạng Giang, Bắc Hà | 20 huyện: Gia Lâm, Văn Giang, Gia Định, Siêu Loại, Lang Tài, Đông Ngàn, Yên Phong, Tiên Du, Quế Dương, Võ Giàng, Yên Dũng, Yên Thế, Bảo Lộc, Phượng Nhãn, Lục Ngạn, Hữu Lũng, Kim Hoa, Yên Việt, Hiệp Hòa, Thiên Phước. |
| 7. Trấn Hải Dương
|
4 phủ: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn | 18 huyện: Đường An, Đường Hào, Cẩm Giàng, Thanh Miện, Gia Lộc, Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Thanh Lâm, Thanh Hà, Tiên Minh, Chí Linh, Kim Thành, Giáp Sơn, Đông Triều, Thủy Đường, An Lão, An Dương, Nghi Dương. |
| 8.Trấn Sơn Tây | 5 phủ: Quốc Oai, Tam Đới, Quảng Oai, Lâm Thao, Đoan Hùng. | 24 huyện: Từ Liêm, Yên Sơn, Đan Phượng, Thạch Thất, Mỹ Lương, Yên Lạc, Yên Lãng, Bạch Hạc, Phù Khang, Lập Thạch, Tiên Phong, Phước Lộc, Minh Nghĩa, Bất Bạt, Sơn Vi, Hạ Hoa, Thanh Ba, Hoa Khê, Tam Nông, Sơn Dương, Tam Dương, Đông Quan, Tây Quan, Đương Đạo. |
| 9:Trấn Tuyên Quang. | 1 phủ: Yên Bình. | 1 huyện: Phước Yên.
5 châu: Đại Man, Thu Vật, Vị Xuyên, Bảo Lạc, Lục Yên. |
| 10.Trấn Hưng Hóa | 3 phủ: Quy Hóa, Gia Hưng, An Tây | 4 huyện: Văn Chấn, Yên Lập, Trấn Yên, Thanh Xuyên.
16 châu: Thủy Vĩ, Văn Bàn,Sơn La, Thuận Châu, Tuần Giáo, Mai Sơn, Việt Châu, Ninh Biên, Mộc Châu, Đà Bắc, Mai Châu, Phù Hoa, Chiêu Tấn, Luân Châu, Lai Châu, Quỳnh Nhai. |
| 11.Trấn Cao Bằng | 1 phủ: Cao Bằng | 4 châu: Thạch Lâm, Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang. |
| 12.Trấn Lạng Sơn | phủ: Trường Khánh | 7 châu: Văn Quan, Thất Tuyền, Văn Uyên, An Bắc, Lộc Bình, Thoát Lãng, Ôn Châu |
| 13.Trấn Thái Nguyên | 2 phủ: Phú Bình, Thông Hóa | 9 huyện Tư Nông, Bình Tuyền, Phổ An, Động Hỉ, Phú Lương, Đại Từ, Văn Lãng, Võ Nhai, Cảm Hóa.
2 châu: Định Hóa, Bạch Thông. |
| 14.Trấn Quảng Yên | 1 phủ: Hải Đông | 3 huyện: Hoành Bồ, Yên Hưng, Hoa Phong.
3 châu: Vạn Ninh, Tiên Yên, Vân Đồn.
|
| Thành: Bắc Thành | 1 phủ: Phụng Thiên | 2 huyện: Thọ Xương, Quảng Đức. |
Sau đó cho đổi tên một số phủ, châu, huyện như sau:
| Tên cũ | Tên mới |
| Đức Quang | Đức Thọ |
| Hà Hoa | Hà Thanh |
| Anh Đô | Anh Sơn |
| Trà Lân | Tương Dương |
| Lâm An | Trấn Tĩnh |
| Ngọc Ma | Trấn Định |
| Kỳ Hoa | Kỳ Anh |
| Trung Sơn | Quế Phong |
| Thanh Đô | Thọ Xuân |
| Thiệu Thiên | Thiệu Hóa |
| Phong Lộc | Hậu Lộc |
| Quảng Bình | Quảng Địa |
| Thọ Xuân và Lang Chính | Lang Chánh |
| Tầm Châu và Quan Da | Quan Hóa |
| Trường Yên | Yên Khánh |
| Phụng Thiên | Hoài Đức |
| Quảng Đức | Vĩnh Thuận |
| Ứng Thiên | Ứng Hòa |
| Lỵ Nhân | Lý Nhân |
| Phù Dung | Phù Cừ |
| Thái Ninh | Thái Bình |
| Ngự Thiên | Hưng Nhân |
| Vọng Doanh | Phong Doanh |
| Bắc Hà | Thiên Phước |
| Gia Định | Gia Bình |
| Kim Hoa | Kim Anh |
| Yên Việt | Việt Yên |
| Thượng Hồng | Bình Giang |
| Hạ Hồng | Ninh Giang |
| Tam Đới | Vĩnh Tường |
| Phù Khang | Phù Ninh |
| Phước Lộc | Phước Thọ |
| Hạ Hoa | Hạ Hòa |
| Hoa Khê | Cẩm Khê |
| Đông Quan | Hùng Quan, |
| Đại Man | Chiêm Hóa |
| Thu Vật | Thu Châu |
| Việt Châu | Yên Châu |
| Phù Hoa | Phù Yên |
| Thất Tuyền | Thất Khê |
| Bình Tuyền | Bình Xuyên |
| Định Hóa | Định Châu |
| Hoa Phong | Nghiêu Phong |
| Bảo Lạc | Hai huyện Để Định và Vĩnh Điện |
| Thanh Xuyên | Hai huyện Thanh Sơn và Thanh Thủy |
| Cao Bằng | Hai phủ Hòa An và Trùng Khánh |
| Hải Đông | hai phủ Hải Ninh và Sơn Định |
Rồi sai các quan văn võ, chia trị các trấn Bắc Thành. Mỗi trấn đặt một Trấn thủ, dùng chức Thống chế, Chưởng cơ, Cai cơ cho làm; và một Hiệp trấn, một Tham trấn, dùng chức Thiêm sự, Tham quân, Hàn lâm, Thị thư . Nhân sự bổ nhiệm tại 11 trấn Bắc Thành như sau:
1.Nguyễn Đình Đắc làm Chưởng dinh lãnh chức Trấn thủ Sơn Nam thượng, Nguyễn Khắc Khoan làm Hiệp trấn, Nguyễn Công Viên làm Tham hiệp.
2.Trấn Công Lại làm Trấn thủ Sơn Nam hạ, Nguyễn Văn Đảng làm Hiệp trấn, Nguyễn Đăng Cơ làm Tham hiệp.
3.Trương Phước Phượng làm Trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Văn Quang làm Hiệp trấn, Dương Công Tòng làm Tham hiệp.
4.Ngô Văn Ngữ làm Trấn thủ Kinh Bắc, Nguyễn Văn Lê làm Hiệp trấn, Nguyễn Văn Hoàng làm Tham hiệp.
5Trần Công Hiến làm Trấn thủ Hải Dương, Ngô Đức Tuấn làm Hiệp trấn, Nguyễn Văn Công làm Tham hiệp.
6.Lê Đình Chính làm Trấn thủ Lạng Sơn, Ngô Văn Uyển làm Hiệp trấn, Lê Minh Huy làm Tham hiệp.
7.Lê Văn Niệm làm Trấn thủ Thái Nguyên, Nguyễn Đức Tư làm Hiệp trấn, Hoàng Đường làm Tham hiệp.
8.Nguyễn Văn Kiên làm Trấn thủ Hưng Hóa, Lê Nguyên làm Hiệp trấn, Nguyễn Thế Trung làm Tham hiệp ;
9.Nguyễn Hữu Đạo làm Trấn thủ Yên Quảng, Nguyễn Viết Cơ là Hiệp trấn, Nguyễn Văn Kim làm Tham hiệp.
10.Lê Văn Tiến làm Trấn thủ Cao Bằng, Lê Văn Chính làm Hiệp trấn, Nguyễn Văn Nghi làm Tham hiệp.
11.Lê Văn Thái làm Trấn thủ Tuyên Quang, Nguyễn Trí Hòa làm Hiệp trấn, Nguyễn Văn Triển làm Tham hiệp.
Vua gọi họ đến trước mặt, dụ rằng :
“Hiện nay nước mới được yên, dân đương ngửa trông đức mới. Bọn ngươi đều nên tuyên dương đức hóa, vỗ yên nhân dân điêu hao (3), khiến dân ta đều được yên nghiệp, để cho xứng sự ủy thác”.
Ngoài ra lấy Ngô Văn Sở làm Trấn thủ Thanh Hoa ngoại [Ninh Bình], Nguyễn Danh Xán làm Tham hiệp.
Mỗi trấn có Trấn Thủ, Hiệp trấn, Tham hiệp, coi 1.000 quân; mỗi phủ có Tri phủ, Đốc phủ, coi 500 quân; huyện có Tri huyện, huyện nào gần phủ thì do phủ kiêm lý.
Vương lo xếp đặt công việc ở Bắc Thành, bèn triệu Nguyễn Văn Thành đến. Trong hàng các tướng hiệu, Thành là người có học thức và biết thể thức chính trị, nên đặc biệt triệu đến.
Người dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Đạt cùng 400 bộ thuộc đem khí giới nộp ở trấn Thanh Hoa nội [Thanh Hóa]. Trấn thủ Nguyễn Đức Xuyên đem sự việc tâu lên; bèn triệu Duy Đạt đến hành tại, còn bộ thuộc thì cho về.
Các Thượng thư Tây Sơn là Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Gia Phan, Phan Huy ích đến hành tại chịu tội. Vua cho là sắp có cuộc bang giao, mà bọn Nhậm vốn là bầy tôi cũ của triều Lê đã quen công việc, Huy Ích lại từng làm sứ thần đi sang nhà Thanh, bèn hạ lệnh cho ở ngoài để phòng hỏi đến.
Vua nước Nam Chưởng là Chiêu Ôn Mãnh đến mừng. Ôn Mãnh năm mới lên 3 tuổi bị người bác là Chiêu Xà Vinh chiếm giữ nước, đến khi lớn chạy sang Vân Nam, tố cáo với nhà Thanh, vua Thanh ban cho sắc và ấn, phong làm vua nước Nam Chưởng. Ôn Mãnh đương lúc bôn bá, không có viện trợ, chưa dám về nước, cùng với bộ thuộc đi lại ở khoảng Mường Mân, Mường Lự [tỉnh Vân Nam], không có nơi ở nhất định. Sau lại tự mang sắc ấn dời ngụ ở châu Chiêu Tấn [phủ An Tây, Hưng Hóa]. Đến nay nghe đại binh đã lấy thành Thăng Long, bèn do trấn mục Hưng Hóa dẫn tới hành tại lạy mừng. Vua cho rằng trong nước mới yên chưa rỗi xử trí, lại khiến cho về ngụ ở châu Chiêu Tấn.
Nước Chân Lạp sai Ốc Nha Thư Triệu Bồn Nha Diệt đến hiến phẩm vật địa phương; Vua cho tiền gạo rồi sai về.
Sai Binh bộ Phạm Ngọc Uẩn kiêm bộ Hộ. Vua thấy nước mới yên định, sổ sách tản mát, tô dung thuế khóa chưa có định chuẩn; biết viên Tư mã Tây Sơn là Nguyễn Văn Dạng từng coi việc Hộ, bèn sai tường kê các ngạch thuế, do bộ Hộ tâu lên từng điều để tham chước thi hành.
Sai Nguyễn Văn Trương điều khiển thủy binh chở tiền kho ở hai trấn Hải Dương và Sơn Nam Hạ [Nam Định] đến Bắc thành để chi phát.
Chú thích:
1.Ấp Thang mộc: Thang là nước nóng, mộc là tắm; ấp thang mộc chỉ nơi được ban nhiều ơn phước, tắm gội ơn mưa móc.
2.Khổn thần: Quan lại tại cửa khổn, tức nơi biên giới.
3.Điêu hao: Điêu linh, hao tổn.