
BRADLEY K. MARTIN
Trần Quang Nghĩa dịch
HAI MƯƠI HAI : Đăng nhập và đăng xuất
Trước những năm 1990, số người Triều Tiên đào tẩu sang Hàn Quốc rất hiếm, đến nỗi chính quyền Bình Nhưỡng và phe ủng hộ họ ở phương Tây có thể coi thường số công dân ít ỏi đã vượt biên thành công là những kẻ bất mãn – thường là tội phạm – mà lời khai của họ về tình hình ở quê nhà chỉ là những lời tuyên truyền ngụy tạo, bị thao túng thay mặt cho các nhà độc tài Hàn Quốc được quân đội hậu thuẫn bởi bọn ma quỉ nham hiểm của Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (KCIA).
Nhưng khi tình hình ở Triều Tiên xấu đi, số lượng người đào tẩu tăng lên đáng kể. Trong khi đó, Kim Young-sam, một nhân vật đối lập dân chủ lâu năm, đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Hàn Quốc vào tháng 12 năm 1992 và bắt đầu cải cách cơ quan tình báo. Chẳng mấy chốc, ở miền Nam đã có đủ số người đào tẩu, rõ ràng là họ được tự do bày tỏ quan điểm của mình, đến nỗi một người phỏng vấn sẵn lòng dành thời gian để tâm sự với họ qua những câu chuyện đời họ, người ta có thể bắt đầu nhận ra những mô hình kết hợp – ví dụ như tục lệ đánh nhau giữa các băng đảng trong giới trẻ, được đề cập trong chương 12 – và những biến thể nhỏ. Khi xem xét cùng nhau, những điều này cho thấy một sự chân thực thiết yếu trong những gì họ nói.
Lấy ví dụ những người đàn ông từng làm việc ở vùng Viễn Đông Nga tại các trại khai thác gỗ và trong một vài trường hợp là các trại khai thác mỏ. Tôi nhận thấy nhóm người này phần lớn bị các phóng viên và nhà bình luận phương Tây hiểu sai. Khá nhiều đồng nghiệp của tôi trong các phương tiện truyền thông đưa tin rằng hàng loạt đàn ông Triều Tiên đã bị ép buộc đến Siberia để làm việc trong các trại lao động nô lệ. Trên thực tế, như các cuộc phỏng vấn với một số người trong nhóm họ đã chứng minh cho tôi thấy, những người này đã tự nguyện đi. Thậm chí, họ đã cạnh tranh gay gắt, sử dụng hối lộ và bất kỳ phương tiện nào khác có thể, để gây đủ ảnh hưởng lên các quan chức Triều Tiên nhằm được ghi tên vào danh sách. Họ coi việc đến Nga là tấm vé thông hành đến với sự giàu có mà nếu không thì gần như không thể tưởng tượng được theo tiêu chuẩn Triều Tiên. Công việc vất vả gần như tương đương với những gì họ đã trải nghiệm ở quê nhà. Sự khác biệt lớn, ngoài việc tăng lương đáng kể, là việc họ có thể thỉnh thoảng rời khỏi trại và giao lưu với người Nga, người Hàn Quốc và người Hoa ở các cộng đồng lân cận. Nhiều người khai thác gỗ đã thay đổi nhờ trải nghiệm bầu không khí tương đối tự do ở Nga. Dưới đây là một số câu chuyện của họ.
Chang Ki-hong đào tẩu vào tháng 11 năm 1991, khi đang làm việc tại một trại khai thác gỗ của Triều Tiên ở miền đông nước Nga, không xa Khabarovsk. Khi tôi gặp anh ấy, Chang đang theo học chuyên ngành tiếng Nga tại Đại học Yonsei ở Seoul, một trong những trường đại học hàng đầu của Hàn Quốc, và đã kết hôn với một người bạn cùng lớp. Với khuôn mặt tròn, quai hàm mạnh mẽ, nước da hơi đỏ và mái tóc xoăn, anh ấy có vẻ ngoài điển hình của một người lính.
Chang sinh năm 1963 tại Yomju, tỉnh Bắc Pyongan. Chang kể với tôi rằng, không chỉ cha anh từng tham gia chiến tranh Triều Tiên, và “trước khi chế độ Kim lên nắm quyền, gia đình chúng tôi không phải là địa chủ hay chủ đất.” Gia đình chúng tôi thuộc tầng lớp tư sản. Vì vậy, chúng tôi được coi là có xuất thân gia đình khá giả. Mẹ tôi làm việc trong một nhà máy muối. Bố tôi không thể làm việc vì bị tàn tật và đi lại khó khăn. Ông ở nhà và làm công việc đốn củi. Mức sống của gia đình thuộc tầng lớp trung lưu đến khá giả.
Chang kể với tôi rằng anh ấy bắt đầu quá trình học tập của mình từ trường mẫu giáo và nhà trẻ. “Ở trường mẫu giáo, chúng tôi không được học nhiều. Quá trình học tập thực sự bắt đầu từ nhà trẻ. Khi chúng tôi chơi trò đánh giặc với các chú lính đồ chơi, chúng tôi sẽ luôn nói, ‘Vị tướng đó là Kim Il-sung.’ Chúng tôi sẽ học về gia đình ông ta, quá trình trưởng thành, nơi ông sinh ra, lòng dũng cảm của ông trong việc chống lại ách thống trị của đế chế Nhật Bản. Họ có một căn phòng trưng bày hình ảnh về cuộc đời của Kim Il-sung. Chúng tôi phải học thuộc lòng các bức ảnh và những câu chuyện đi kèm. Những học sinh làm tốt nhất sẽ được nhận sao đỏ vì thành tích xuất sắc. Và nếu bạn học giỏi về Kim Il-sung, bạn sẽ được ăn nhiều đồ ăn vặt hơn các học sinh khác. Tôi đã nhận được rất nhiều sao đỏ.”
Sau mẫu giáo, “giáo dục cơ bản kéo dài mười một năm,” Chang nói. “Nhưng khi tôi còn nhỏ thời đi học là chín năm – bốn năm tiểu học, tiếp theo là năm năm trung học cơ sở và trung học phổ thông. Bạn sẽ tốt nghiệp vào khoảng mười tám tuổi. Tôi nhớ mình lúc nào cũng đói. Một điều nữa: Ngay cả khi còn học tiểu học, tôi đã quen với việc là một phần của một hệ thống được tổ chức rất chặt chẽ. Khi lên lớp hai, tôi phải tham gia đội thiếu nhi. Ở trường trung học cơ sở, tôi chuyển sang Đoàn Thanh niên Xã hội chủ nghĩa. Bạn ở trong đó cho đến khi khoảng ba mươi tuổi. Sau đó, bạn hoặc là gia nhập đảng, điều đó tốt, hoặc trở thành một phần của một tổ chức khác dành cho người lớn. Bạn luôn là một phần của một tổ chức nào đó. Bạn không bao giờ đơn độc. Về cơ bản, tất cả các hệ thống con đều trong hệ thống gọi là đảng. Chúng làm cho mọi người dễ quản lý hơn.” (Vì người Triều Tiên khi còn ở trong nước được huấn luyện để tránh hỏi tại sao mọi thứ lại như vậy, như chính Chang đã nói sau đó trong cuộc trò chuyện của chúng tôi, tôi nghi ngờ rằng nhận xét cuối cùng về việc làm cho mọi người “dễ quản lý” hơn là một suy nghĩ nảy sinh sau đó, sản phẩm của sự suy ngẫm khá gần đây.)
“Điều cơ bản mà bạn học được trong các tổ chức thanh niên là bạn không thể là một cá nhân độc lập,” Chang tiếp tục. “Bạn là một phần của hệ thống. Bạn học được nhiều hơn về chế độ Kim, về Kim Il-sung và Kim Jong-il – rằng họ là những vị thần theo cách riêng của họ. Họ nói với chúng tôi rằng gia đình cũng là một tổ chức khác. Cha mẹ có thể nuôi bạn, họ đã sinh ra bạn. Nhưng đối với đảng và chính phủ, ngay cả sau khi bạn chết, họ vẫn có thể cho phép sự nghiệp chính trị của bạn tiếp tục mãi mãi. Chính vì sự tồn tại của đảng và chính phủ, gia đình mới có thể tồn tại. Kim Il-sung đến đầu tiên. Ngài là cha của tất cả mọi người.”
Tôi hỏi anh ấy liệu cha mẹ có bao giờ phản đối việc đặt Kim Il-sung, đảng và nhà nước lên trên gia đình hay không. “Họ nghĩ rằng mọi người trên thế giới chắc đều đang sống như vậy, nên chẳng có gì để phản đối cả,” Chang trả lời. “Tất nhiên, họ có một vài lời phàn nàn nhỏ nhặt về chế độ Kim, như tình trạng thiếu lương thực, v.v., nhưng không có gì đáng để họ lên tiếng. Để đảm bảo chúng tôi không phàn nàn, trong mỗi bài phát biểu năm mới, Kim Il-sung đều nhắc nhở chúng tôi rằng ‘chúng ta đều phải chịu hy sinh chừng nào chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại trong thế giới này, Hoa Kỳ và Hàn Quốc đang chuẩn bị gây chiến với chúng ta.’” Ông ta đọc bài phát biểu này vào mỗi dịp năm mới cho đến năm 1991.
“Về cơ bản, quá trình tư duy của người Triều Tiên không quá phức tạp,” Chang tiếp tục. “Họ thừa nhận mình nghèo. Ngay cả những người không trao đổi thông tin với người thân ở Nhật Bản và Trung Quốc cũng nhận ra cuộc sống của họ nghèo khó. Có lẽ 80% nghĩ rằng người Hàn Quốc sống tốt hơn. Nhưng tư duy của họ tách biệt giữa lối sống và chính trị. Họ không liên kết hai điều đó và đổ lỗi cho chính phủ vì sự nghèo đói của họ.” Một lần nữa, tôi nghĩ đây là điều mà Chang đã tự mình rút ra kết luận khá muộn trong đời, sau khi anh đến và được các quan chức chính phủ ở miền Nam thẩm vấn – mặc dù điều đó không làm cho lời nói của anh là không đúng sự thật.
Khi Chang còn nhỏ, “hầu hết mọi người trong thị trấn tôi đều làm việc trong các nhà máy hoặc nông trường tập thể,” anh nói. “Ngoài những công việc thường xuyên đó, có một đạo luật được thông qua vào năm 1985 cho phép thành lập ‘cộng đồng hợp tác hộ gia đình’. Những người thất nghiệp có thể ở nhà hoặc ở trong khu phố, mọi người tham gia vào các ngành nghề thủ công nhỏ và đến chợ để bán những sản phẩm mình làm ra, chẳng hạn như thuốc lá. Trước năm 1985, cứ mười ngày lại có một phiên chợ, nơi mọi người có thể bán nông sản hoặc sản phẩm công nghiệp của mình. Sau năm 1985, các mặt hàng tiêu dùng nhỏ như thuốc lá cũng có thể được bán ở đó, và bạn có thể đến bờ biển để bắt nghêu bán. Nếu muốn tham gia vào cộng đồng hợp tác xã hộ gia đình, bạn cần phải xin phép chính phủ.”
Tôi hỏi Chang về hệ thống phân phối lương thực thường xuyên. “Các hệ thống phân phối lương thực khác nhau đối với công nhân và nông dân,” anh nói. “Nông dân nhận được nguồn cung cấp gạo cho cả năm sau vụ thu hoạch. Công nhân nhận được nguồn cung cấp của họ mười lăm ngày một lần, từ 700 gram đến một kilogram mỗi người tùy thuộc vào công việc của họ. Người thất nghiệp nhận được khoảng 300 gram; trẻ em, từ 400 đến 600 gram tùy theo độ tuổi. Ngay cả khi bạn ăn rất ít, bạn cũng chỉ có thể sống với khẩu phần đó trong 12 ngày. Vì vậy, trong 3 ngày bạn sẽ phải nhịn đói hoặc đi tìm rễ cây để ăn.”
Giống như tất cả những người Triều Tiên khác mà tôi đã phỏng vấn, Chang có thể nhớ lại khá chính xác về cơn biến động trong nguồn cung cấp thực phẩm cho người dân nơi anh sống. “Mọi thứ luôn khó khăn và dường như ngày càng tồi tệ hơn,” anh nói. “Cho đến những năm 1970, có lẽ mọi chuyện vẫn ổn. Đầu những năm 70, khi tôi còn học tiểu học, chúng tôi vẫn có thể tìm thấy mứt trong các cửa hàng và mua ăn. Sau đó, từ khoảng năm 1975, chúng không còn nữa. Từ giữa những năm 80, mọi thứ bắt đầu trở nên tồi tệ hơn rất nhiều. Năm 1988, tôi vẫn nhận được toàn bộ lượng ngũ cốc phân phối thường xuyên của mình. Tôi rời Triều Tiên năm 1989, đến Nga và bắt đầu nhận được thư từ người thân nói rằng trung tâm phân phối đã ngừng hoạt động.
Vì không có gạo hoặc các loại ngũ cốc khác, trung tâm đã phát cho mọi người tem phiếu thay vì ngũ cốc. Sau đó, nếu thức ăn đến, họ có thể đổi tem phiếu lấy thức ăn.”
Mặc dù cư dân Bình Nhưỡng được hưởng những đặc quyền nhất định, Chang nói với tôi, những người như gia đình anh sống bên ngoài Bình Nhưỡng “không hề ghen tị như bạn nghĩ. Đại đa số người dân thậm chí không nghĩ đến việc sống ở thủ đô. Nếu bạn đạt đến một vị trí nhất định, bạn có thể nhận được cuộc gọi từ Tòa thị chính Bình Nhưỡng. Dân số luôn được kiểm soát ở mức hai triệu người. Thỉnh thoảng nếu họ đạt đến mức dân số quá đông, họ phải di dời một số dân đi nơi khác.”
Tôi hỏi Chang hồi nhỏ anh ấy đã làm gì để giải trí và vui chơi. “Dĩ nhiên, các hoạt động thời thơ ấu của trẻ em ở Bình Nhưỡng và các tỉnh khác thì khác nhau,” anh ấy nói. “Tôi không có nhiều thời gian để chơi. Tôi phải làm công việc lao động xã hội ngoài đồng sau giờ học – ngay cả khi còn học tiểu học. Vào mùa đông, trường học thường không có than nên chúng tôi phải đi nhặt vỏ ngô và phơi khô để làm nhiên liệu. Tôi nhớ là mình vẫn chơi vào mùa hè. Chúng tôi đến một vườn táo, ăn táo và chạy nhảy xung quanh.”
Chang đã được nhận vào đại học ngay sau khi tốt nghiệp trung học, điều này khá hiếm hoi, và do đó anh không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự kéo dài mười năm như thường lệ. “Nếu vào đại học, bạn sẽ được miễn quân dịch, mà chỉ tham gia khóa huấn luyện quân sự sáu tháng,” anh ấy nói với tôi. “Tôi học tại Đại học Sinuiju và học ngành sư phạm. Ở Triều Tiên, nghề giáo không được coi là một nghề tốt. Rất khó để duy trì một cuộc sống bình thường với tư cách là một giáo viên. Và hình ảnh cơ bản về một giáo viên cũng không được tích cực lắm. Nghe có vẻ hơi yếu đuối. Nhiều phụ nữ làm giáo viên. Vì vậy, sau khi tốt nghiệp, tôi đi làm cho ngành đường sắt, phụ trách việc điều khiển đường ray, nối và tháo rời các đoàn tàu. Đó là công việc rất nguy hiểm. Tôi làm việc trong ngành đường sắt cho đến năm 1987. Từ đó đến năm 1988, tôi nộp đơn và chuẩn bị cho nhiệm vụ ở Nga của mình.”
Sự cạnh tranh để được đi Nga gay gắt lắm, Chang giải thích. “Đối với người dân miền Bắc, để có thể đến được Nga là cơ hội cả đời. Bạn có thể kiếm được rất nhiều tiền. Thu nhập bình quân ở Triều Tiên, con số này vào khoảng 60 won. Ở Nga tôi kiếm được 900 won một tháng. Thực ra tôi đáng lẽ được 3.000 won một tháng, nhưng chính phủ Triều Tiên đã giữ lại 2.100 won. Một ủy ban đặc biệt đã chọn tôi. Bạn phải có gia thế tốt. Các anh trai tôi đều là quan chức cấp cao trong đảng và người anh thứ ba của tôi là diễn viên ở Bình Nhưỡng. Tám mươi phần trăm những người được chọn là đảng viên. Tôi không phải là đảng viên, nhưng họ đã kiểm tra để đảm bảo tôi có tư tưởng ổn định – không dễ bị ảnh hưởng bởi các thế lực lật đổ. Ở mỗi nơi làm việc đều có một bí thư đảng. Bí thư đảng của tôi ở công ty đường sắt đã giới thiệu tôi.”
Khi đến nơi vào năm 1988, Chang nhận thấy rằng “lối sống trong trại về cơ bản là giống hệt, một phiên bản thu nhỏ của Bắc Triều Tiên với 15.000 đến 20.000 người Bắc Triều Tiên làm việc ở đó. Công việc của tôi là phân tích số liệu thống kê của hoạt động. Tôi làm việc tám tiếng một ngày, nhưng phải nghiên cứu hệ tư tưởng trong những giờ rảnh rỗi. Tôi đang ở Nga nhưng lại bị người Bắc Triều Tiên kiểm soát. Để ra khỏi khu vực cấm, tôi cần có giấy phép.”
Tôi hỏi Chang về sự thay đổi trong quan điểm của anh ấy trong thời gian đang làm việc tại trại. “Cho đến khi đến Liên Xô, tôi vẫn tin tưởng vào chế độ,” anh nói. “Nhưng khi đến Liên Xô và bắt đầu gặp gỡ mọi người ở đó, tôi nhận ra chắc chắn có điều gì đó không ổn ở quê nhà. Sau khoảng sáu tháng ở đó, suy nghĩ của tôi bắt đầu thay đổi. Chúng tôi được dạy rằng cả thế giới tôn thờ Kim Il-sung. Tôi gặp những người Nga chế giễu sự tôn thờ Kim này, và rồi tôi nhận ra rằng thực tế ông ta không được cả thế giới tôn thờ. Sự khác biệt văn hóa đóng vai trò lớn trong những thay đổi mà tôi đã trải qua.”
Ở Triều Tiên không có các cơ sở giải trí. Tất cả những gì bạn có thể làm là uống rượu thật nhiều. Ở Nga, tôi thấy rạp chiếu phim, vũ trường. Tôi không thường xuyên đến vũ trường, vì nếu bị bắt sẽ gặp rắc rối lớn; tôi sẽ bị gửi trả về Triều Tiên. Chính quyền Triều Tiên không cho phép chúng tôi đi vì họ nghĩ rằng điều đó sẽ khiến chúng tôi trở nên lười biếng.” Nhưng Chang vẫn thỉnh thoảng ra ngoài vui chơi. “Tôi đã bị ảnh hưởng. Tôi nhận ra đây là kiểu cuộc sống mà mọi người nên sống – không bị kìm nén và kiểm soát.”
Thích lối sống ở Nga, nên Chang không nghĩ đến việc đào tẩu vì lý do đó. Thay vào đó, chính đài phát thanh đã khơi mào cho anh ấy. “Tôi là người tò mò, và tôi với một người bạn bắt đầu nghe các chương trình phát thanh của Hàn Quốc và nước ngoài. Anh ấy bị bắt và bị đưa về xứ. Tôi bị theo dõi vì chúng tôi là bạn thân. Chỉ còn một tháng nữa là tôi phải quay lại Triều Tiên, nhưng tôi sợ nếu quay lại, tôi sẽ bị xử tử hoặc bị đưa đến trại tù.” Chang đã nghe đài KBS thuộc sở hữu nhà nước Hàn Quốc, đài phát thanh phát sóng các chương trình đặc biệt dành cho người nói tiếng Hàn ở các nước cộng sản. Anh cũng đã nghe các chương trình tiếng Hàn từ Liên Xô và từ vùng Yanbian của Trung Quốc, nơi có đa số người Hàn Quốc sinh sống. Còn về đài KBS, “Tôi có thể nghe vào buổi chiều nhưng tín hiệu kém. Buổi tối từ 11 giờ tôi mới nghe được rõ. Lúc đầu tôi gặp khó khăn trong việc hiểu tiếng địa phương miền Nam. Họ có những chương trình chỉ trích chính phủ về nhiều vấn đề khác nhau. Và vào thời điểm đó, họ đang phát sóng một loạt chương trình về sự trỗi dậy của Kim Il-sung ở Bắc Triều Tiên. Thật thú vị khi nghe được những quan điểm khác biệt. Vì thế tôi đã trải qua một số thay đổi về tư tưởng. Tôi và bạn tôi đã đùa nhau, “Chúng ta hãy sang Hàn Quốc đi.” Cuối cùng, chính sự thay đổi tư tưởng đó cùng với nỗi sợ bị hành quyết đã thúc đẩy tôi đào thoát.
Tôi nói với Chang rằng Quốc hội Hoa Kỳ đang chuẩn bị tài trợ cho Đài Phát thanh Châu Á Tự do (Radio Free Asia), đài này có thể sẽ có một chương trình phát sóng bằng tiếng Hàn dành cho người dân Triều Tiên. “Tất nhiên là tốt rồi! Có gì xấu có thể xảy ra chứ?” anh ấy nói. “Nhưng Triều Tiên có câu: ‘Trăm nghe không bằng mắt thấy.’ Sự trao đổi thực tế thì cũng cần thiết.”
Khi quyết định đào tẩu, Chang nhận ra điều đó sẽ không dễ dàng. “Vấn đề là cảnh sát Triều Tiên và Nga cấu kết với nhau. Nếu ai đó cố gắng trốn thoát, chính quyền Nga sẽ bắt giữ người đó và giao cho Triều Tiên. Nhiều người đã thử, nhưng hầu hết đều bị bắt và đưa trở lại, và trong hầu hết các trường hợp đều bị hành quyết. Một ngày nọ, tôi đọc được một quảng cáo từ một cửa hàng bách hóa ở Moscow nói rằng hàng hóa sản xuất tại Hàn Quốc sẽ được bán ở đó cho những người có đô la để mua. Tôi quyết định đến Moscow với hy vọng gặp một số người Hàn Quốc ở đó. Một người bạn Nga đã kiếm cho tôi vé máy bay đến Moscow. Hầu hết những người đào thoát không có kế hoạch tốt để trốn thoát. Họ chỉ chạy lên núi – dường như đó là bản năng của người Triều Tiên. Chính quyền biết điều đó, vì vậy họ chỉ cần lên núi và bắt lại những người vượt ngục. Nhưng cảnh sát Nga không nghĩ đến việc tìm kiếm tôi trên đường đến Moscow. Thật không may, khi tôi đến Moscow thì Cách mạng tháng Tám [Bắt đầu vào 1989 với sự trỗi dậy của lực lượng dân chủ chống đối chủ nghĩa cộng sản do Andrei Sakharov lãnh đạo được phát động giữa ánh sáng ban ngay khi Boris Yeltsin được bầu làm tổng thống Nga vào tháng 6 vừa qua] đã nổ ra ở đó và tất cả người Hàn Quốc đã trở về nước. Vì vậy, tôi nghĩ rằng mình phải vượt qua biên giới Nga.
Kinh nghiệm làm việc trên đường sắt đã giúp ích cho tôi. Tôi nhận ra rằng tất cả các nước Đông Âu, trừ Hungary, đều yêu cầu thị thực. Tôi đã hối lộ một công nhân đường sắt để được phép trèo lên thang trong nhà vệ sinh lên nóc toa tàu, nơi tôi ở cho đến khi tàu vượt biên giới vào Hungary. Sau đó, tôi đến đại sứ quán Hàn Quốc.
Khi tôi phỏng vấn Kim Kil-song vào năm 1994, anh ấy có vẻ là một người khá cầu kỳ. Anh ấy ăn mặc chỉnh tề với cặp kính gọng vàng hình bầu dục dài, một chiếc đồng hồ vàng hình chữ nhật. Anh đeo nhẫn vàng, mặc áo sơ mi trắng cứng cáp, cà vạt in hoa có kẹp, áo khoác thể thao hai hàng cúc kẻ caro nâu và quần tây tối màu. Nhưng trên bàn tay trái, ở kẽ giữa ngón cái và ngón trỏ, có một hình xăm, và sau khi nghe câu chuyện của anh ấy, tôi biết rằng anh ấy không phải lúc nào cũng là một người sành điệu.
Kim sinh năm 1962 tại Bình Nhưỡng. Cha ông bị thương năm 1952 khi chiến đấu trong Chiến tranh Triều Tiên với tư cách là một sĩ quan, và đã xuất ngũ tại Bình Nhưỡng. Sau khi bình phục vết thương, cha anh làm công việc quản lý tại một nhà máy sản xuất đồ sứ gia dụng.
Tại đó, ông gặp mẹ của Kim. Hai người kết hôn, ban đầu sống tại nhà máy và sau đó được cấp một căn hộ. Cuối cùng, mẹ anh nghỉ việc ở nhà máy và làm nhân viên bán hàng tại một cửa hàng dệt may gần nhà. Cha anh lúc đó đi làm bằng xe điện.
Năm 1964, có một cuộc điều chuyển nhân sự, trong đó những người Triều Tiên “ít trung thành” hơn bị chuyển khỏi những công việc tốt và ra khỏi Bình Nhưỡng đến những vị trí thấp kém ở các tỉnh. Cha của Kim là một chủ đất – ông sở hữu một vườn cây ăn quả ở tỉnh phía bắc Hamgyong. Chừng đó thôi cũng đủ để loại trừ gia đình này khỏi tầng lớp trung thành. Họ bị đưa đến Sinuiju, nằm bên kia sông Áp Lục (Yalu), đối diện với Trung Quốc, nơi người cha làm việc bốc xếp hàng hóa lên xe tải tại một nhà máy dệt tổng hợp. Người mẹ làm việc trong một nhà máy sản xuất đồ thể thao, chuyên làm bóng. Từ đó trở đi, gia đình họ ở lại Sinuiju.
Cách đối xử như vậy với cựu chiến binh bị thương trong Chiến tranh Triều Tiên khiến tôi hơi sốc, và tôi hỏi Kim liệu điều đó có làm cha mẹ anh ấy cay đắng không. “Họ đổ lỗi cho tổ tiên của họ,” anh ấy trả lời. “Có lẽ họ cảm thấy chế độ cai trị phải chịu trách nhiệm về cách đối xử với họ, nhưng họ hầu như không có cơ hội bày tỏ điều đó. Một hoặc hai lần khi cuộc sống trở nên rất khó khăn, mẹ tôi đã bày tỏ sự bất mãn với chế độ: “Sao họ có thể nghi ngờ về quá khứ của chúng ta?” Khi nói đến thời kỳ khó khăn, Kim muốn nói đến “điều kiện nhà ở rất tồi tệ,” ít nhất là đối với gia đình anh. “Chúng tôi sống trong một ngôi nhà bị hư hại trong một cuộc oanh tạc thời Chiến tranh Triều Tiên. Cho đến năm 1968, không có vấn đề về lương thực, nhưng sau đó điều kiện lương thực trở nên tồi tệ hơn. Chúng tôi không có đủ thức ăn. Có rất ít hàng hóa trong cửa hàng. Trước đó, tôi nhớ mình từng có tiền tiêu vặt và đi đến các cửa hàng để mua kẹo. Tôi có thể nhìn thấy các sản phẩm trên kệ. Nhưng tình trạng thiếu hàng bắt đầu từ năm 1969. Chỉ trong một hoặc hai năm, nguồn cung đã cạn kiệt. Điều đó xảy ra trên khắp cả nước. Chúng tôi nghe kể từ những người hàng xóm đã đến thăm họ hàng ở các tỉnh khác. Ở đó, các cửa hàng cũng không có hàng hóa gì cả.”
Kim kể với tôi rằng, thời trẻ anh ấy “rất trung thành với Kim Il-sung. Dù cuộc sống khó khăn, tôi vẫn biết ơn. Tôi nghĩ rằng nếu không có Kim Il-sung, tình hình sẽ còn tồi tệ hơn nhiều. Tôi đã học được cách suy nghĩ đó.”
Từ khi còn học mẫu giáo và tiểu học, thỉnh thoảng bố mẹ tôi cũng nói: “Con phải trung thành với Kim Il-sung.” Tôi hỏi anh ấy thể hiện lòng trung thành như thế nào. Anh nói: “Trong mỗi gia đình đều có một bức chân dung của Kim Il-sung. Nếu bố tôi mang về nhà quần áo, đồ ăn vặt hoặc đồ chơi cho tôi, thay vì cảm ơn bố, tôi sẽ đến trước bức chân dung của Kim Il-sung, cúi đầu và nói: ‘Cảm ơn vì món quà tuyệt vời này.'”
Tôi muốn tìm hiểu thêm về chỗ ở của gia đình Kim. “Gia đình tôi sống trong cùng một ngôi nhà cho đến khi tôi học trung học,” Kim kể với tôi. “Vì bị đánh bom nên ngôi nhà bị nghiêng, sắp đổ, nhưng chúng tôi không nhận được sự giúp đỡ nào từ chính quyền để sửa chữa vì bố tôi chỉ là một công nhân bình thường. Ông làm việc tại một nhà máy lớn. Cuối cùng, nhà máy đã xây dựng một khu nhà ở và chúng tôi chuyển đến một căn hộ. Căn hộ đó rộng khoảng 18 mét vuông, với hai phòng nhỏ để bố mẹ tôi, hai anh trai, hai chị gái và tôi – tổng cộng bảy người. Rất nhiều gia đình bảy người sống trong những căn hộ một phòng. Chúng tôi tự coi mình rất may mắn là có hai phòng.” Căn hộ vẫn chưa hoàn thiện khi gia đình chuyển đến. “Có một phòng nhỏ dự định làm phòng tắm, nhưng không có hệ thống đường ống nước ngoại trừ một vòi nước. Thiết bị này không có sẵn khi các căn hộ được xây dựng. Chúng tôi phải làm một bể xi măng để trữ nước tắm. Chúng tôi phải xuống tầng dưới để sử dụng nhà vệ sinh chung. Dù sao thì, ở Triều Tiên, ngoại trừ Bình Nhưỡng, khi họ nói, ‘Chúng tôi có nhà ở cho các bạn,’ bạn không thể mong đợi tìm thấy nó thực sự.” Nội thất chỉ là cấu trúc bê tông thô sơ. Bạn phải tự hoàn thiện căn hộ, từ lát sàn, lắp cửa, v.v. Thường thì ở Bình Nhưỡng bạn sẽ có được một căn hộ đã hoàn thiện, nhưng ở các tỉnh thì không.”
Kim kể với tôi rằng anh ấy vẫn luôn trung thành với Kim Il-sung trong suốt 10 năm nhập ngũ, bắt đầu từ năm 1979 khi anh ấy 17 tuổi. Anh ấy đóng quân ở Kaesong, gần biên giới với Hàn Quốc, với vai trò là một pháo thủ. “Tôi làm việc với các bệ phóng có 30 đầu đạn riêng biệt. Tôi trở thành trung sĩ, chỉ huy một bệ phóng và một tiểu đội gồm 12 người lính trực thuộc.” Tôi hỏi anh ấy đã được dạy gì trước đó về sứ mệnh của mình. “Khi tôi còn trong quân đội, tình hình ở Triều Tiên ngày càng tồi tệ,” anh trả lời. “Mỗi ngày chúng tôi có khoảng ba giờ học lý thuyết, và họ dạy chúng tôi tin rằng mọi khó khăn của chúng tôi đều do quân đội Mỹ và chính phủ Hàn Quốc gây ra. Tôi tin rằng mình phải chiến đấu. Tôi thậm chí còn muốn hy sinh cả mạng sống cho đất nước. Họ liên tục dạy chúng tôi về sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội và sự vĩ đại của Kim Il-sung và Kim Jong-il. Tôi tin rằng chủ nghĩa xã hội là tốt nhất. Họ liên tục kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện về Hàn Quốc, trong đó nhấn mạnh những mặt tiêu cực của chủ nghĩa tư bản – khoảng cách giàu nghèo, người ăn xin và người vô gia cư sống trên đường phố và dưới gầm cầu, người dân không được đi học vì chính phủ Hàn Quốc không thể cung cấp cơ hội bình đẳng cho mọi người. Tôi hoàn toàn tin vào điều đó.”
Kim giải thích rằng người Triều Tiên tin như vậy vì họ không có nguồn thông tin nào khác. Tôi hỏi anh ấy về các chương trình phát thanh từ nước ngoài, nhưng anh ấy nói rằng anh ấy chưa bao giờ nghe thấy chương trình nào như vậy khi còn ở Triều Tiên. Vậy thì, chẳng phải đã có tin đồn lan truyền sao, như những người đào tẩu khác đã nói? “Tôi hoài nghi về sức mạnh của tin đồn,” Kim trả lời. “Được rồi, một người Triều Tiên sống ở Diên Bắc [Trung Quốc] có thể đã đến thăm Hàn Quốc. Anh ta có thể truyền tai nhau rằng người Hàn Quốc giàu có. Nhưng ngay cả khi tôi có nghe thấy điều đó, tôi đã bị tẩy não đến mức không tin. Và ngay cả khi tôi tin, tôi cũng không dám lan truyền nó. Nhưng có thể có sự khác biệt giữa dân thường và binh lính về vấn đề này. Tôi khá chắc chắn rằng những tin đồn như vậy không lan truyền trong quân đội ngay cả bây giờ. Nhưng trong dân thường, những tin đồn về người Hàn Quốc giàu có thì có thể lan truyền và có một số người ghen tị với cuộc sống của người Hàn Quốc.
Lời nhận xét của ông ấy về việc quân đội chống lại thông tin từ bên ngoài đã khiến tôi tò mò và tôi đã yêu cầu Kim giải thích. “Trong suốt mười năm phục vụ trong quân đội, bạn không được nghỉ phép,” anh giải thích. “Không có liên lạc với thế giới bên ngoài. Không có thông tin nào từ bên ngoài có thể xâm nhập. Việc học hỏi tư tưởng còn khắt khe hơn nhiều so với dân thường.” Tôi tiếp tục hỏi anh ấy liệu có cách nào mà Hoa Kỳ và Hàn Quốc có thể tiếp cận được binh lính bất chấp hoàn cảnh đó. “Rất khó để thâm nhập vào quân đội,” anh nói. Nhưng anh cũng nói thêm rằng tình hình không hoàn toàn vô vọng. “Cứ tiếp tục thả truyền đơn tuyên truyền và phát thanh tuyên truyền qua loa phóng thanh ở khu phi quân sự. Dù họ cố gắng không muốn nghe, làm sao họ lại không nghe thấy được một vài thông điệp đó?”
Tôi quay lại với nhận xét của Kim rằng anh ấy đã sẵn sàng chiến đấu và yêu cầu anh ấy nói thêm về điều đó. “Chính phủ Triều Tiên nói với dân chúng rằng thống nhất sẽ sớm diễn ra thông qua các biện pháp hòa bình,” anh nói. “Tuy nhiên, trong quân đội, họ dạy chúng tôi rằng thống nhất chỉ có thể thực hiện được thông qua các biện pháp vũ lực, vì vậy chúng tôi phải chuẩn bị cho chiến tranh. Sau khi thống nhất, chúng tôi tái cấu trúc Triều Tiên theo chủ nghĩa xã hội. Họ dạy chúng tôi rằng tình trạng thiếu lương thực là kết quả của sự cô lập do các lệnh trừng phạt của các xã hội tư bản gây ra. Chúng tôi tin rằng thông qua chiến tranh, chúng tôi có thể thoát khỏi sự cô lập đó. Chúng tôi tin rằng thông qua thống nhất theo các điều khoản của Bắc Triều Tiên, nếu chúng tôi có Hàn Quốc, chúng tôi sẽ có đủ đất nông nghiệp trồng trọt đủ lương thực để duy trì sự sống.”
Điều đó nghe có vẻ hơi giống khái niệm lebensraum của Hitler [chủ trương bành trương lãnh thổ Đức về phía đông để nô dịch hóa dân cư ở đó vì lợi ích của dân tộc Đức]. Tôi yêu cầu Kim cố gắng tái hiện lại cho tôi những bài giảng mà anh ấy đã nghe trong khóa huấn luyện tư tưởng, bằng chính lời lẽ của các giảng viên, trong khả năng mà anh ấy có thể nhớ được. Dưới đây là một số bài diễn thuyết mà anh ấy nhớ được: “Chúng ta phải thống nhất bán đảo trước năm 1995, ngay cả khi phải dùng vũ lực để đạt được điều đó. Tất cả những người đang phục vụ trong quân đội hiện nay phải chuẩn bị cho cuộc chiến này. Các bạn phải sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình cho đất nước. Chủ nghĩa tư bản là một điều xấu xa, một thói hư tật xấu.
“Chủ nghĩa xã hội là hệ thống hoạt động vì nhân dân. Quân đội chúng ta phải chiến đấu cùng nhau để thực thi chế độ xã hội chủ nghĩa. Hàn Quốc là một chế độ rất vô nhân đạo. Vì lợi ích của người dân Triều Tiên ở cả miền Bắc và miền Nam, vì sự tiến bộ của toàn dân tộc, chúng ta phải đảm bảo sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Mặc dù Hàn Quốc có quân đội Mỹ hỗ trợ, nhưng Triều Tiên đã chuẩn bị sẵn sàng. Chúng ta mạnh hơn quân đội Mỹ. Chúng ta đã chuẩn bị từ thời Chiến tranh Triều Tiên. Chúng ta có đủ người và vật chất để chiến đấu và giành chiến thắng. Có một sự khác biệt cơ bản giữa chúng ta và phía bên kia, quân đội Hàn Quốc và Mỹ được tổ chức theo lý tưởng tư bản chủ nghĩa. Binh lính của họ chiến đấu vì tiền. Họ không sẵn sàng hy sinh mạng sống để giành chiến thắng trong chiến tranh. Binh lính Triều Tiên sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình. Chúng ta không chiến đấu vì tiền mà để tạo ra một xã hội lý tưởng cho người dân. Trong Chiến tranh Triều Tiên, 18 quốc gia đã yểm trợ Hàn Quốc nhưng chúng ta vẫn giành chiến thắng. Khi đó chúng ta không có đủ vật tư, nhưng bây giờ chúng ta đã có những gì cần thiết. Chúng ta chắc chắn có thể giành chiến thắng trong cuộc chiến này.”
Kim cắt dòng ký ức để cho tôi biết rằng binh lính Triều Tiên thực sự không có kiến thức gì về vũ khí mà họ đang đối mặt, điều này có thể giải thích sự tự tin mạnh mẽ của họ về chiến thắng. Sau đó, anh tiếp tục nhớ lại những lời dạy đã được khắc sâu vào tâm trí anh trong quân đội: “Ngay khi chúng ta giành chiến thắng trong chiến tranh, chúng ta sẽ nhổ tận gốc tư tưởng tư bản chủ nghĩa ở miền Nam. Chúng ta, những người lính đóng quân ở đó, sẽ dạy người dân về chủ nghĩa xã hội, dạy họ tuân theo sự lãnh đạo của Lãnh tụ Vĩ đại, đồng chí Kim Il-sung. Ai chống đối sẽ bị giết. Hiện tại, Hoa Kỳ đang bố trí vũ khí hạt nhân ở Okinawa và những nơi khác là một ý tưởng hay. Nhưng không cần phải sợ hãi họ. Chúng ta có vũ khí tốt hơn Mỹ và chúng ta có thể chiến thắng. Vì vậy, hãy tự tin, các binh sĩ, và đừng sợ vũ khí hạt nhân của Mỹ. Nếu chiến tranh nổ ra ở Hàn Quốc, đó sẽ không phải là một cuộc xâm lược mà là một cuộc chiến vì công lý. Một khi thống nhất, chúng ta không còn phải dùng tiền để xây dựng sức mạnh quân sự nữa. Chúng ta có thể sử dụng tất cả nguồn lực của mình để cải thiện cuộc sống của người dân. Với đất nông nghiệp rộng lớn của Hàn Quốc, cùng với đất nước thống nhất dưới sự lãnh đạo của Kim Il-sung, chúng ta có thể sản xuất ra đủ lương thực thiết yếu để không bị đe dọa bởi các lệnh trừng phạt kinh tế của thế giới phương Tây. Ngay khi thống nhất, tất cả chúng ta sẽ có thể ‘ăn cơm với canh thịt bò, mặc quần áo lụa và sống trong những ngôi nhà mái ngói’. Hiện tại chúng ta không có đủ nguồn cung cấp lương thực và phải huấn luyện gian khổ. Bởi vì quân đội của chúng ta là quân đội tác chiến. Ngay khi chiến tranh kết thúc, chúng ta sẽ có một xã hội tốt đẹp hơn.”
Tôi hỏi Kim liệu các bài học giáo dục chính trị có thay đổi gì trong suốt mười năm anh ấy phục vụ trong quân ngũ hay không. “Các mục tiêu cơ bản vẫn giữ nguyên, mặc dù có thể đã có một số thay đổi về mặt cấu trúc,” anh trả lời. “Theo diễn biến chính trị, cấu trúc có thể thay đổi. Hiện tại [tháng 10 năm 1994], tôi đoán họ đang giảng dạy dựa trên các cuộc đàm phán giữa Triều Tiên và Mỹ – có lẽ đại ý rằng Hoa Kỳ sẽ không nhượng bộ những gì chúng ta muốn, vì vậy chúng ta vẫn phải thúc đẩy thống nhất bằng vũ lực. Mỗi năm, những lời dạy năm mới của Kim Il-sung và Kim Jong-il đều được nhấn mạnh. Từ năm 1986, họ nhấn mạnh hơn vào việc giành lại đất nông nghiệp của Hàn Quốc và cải thiện đời sống: ‘Cuộc thử thách này vẫn tiếp diễn vì Hàn Quốc và Hoa Kỳ. Chúng ta phải đánh bại quân đội của họ và thống nhất miền Bắc và miền Nam.’”
Kim cho biết anh đã phải nghe những bài giảng đó “cho đến tận ngày 14 tháng 7 năm 1988, một ngày trước khi tôi xuất ngũ. Ở Triều Tiên, chúng tôi có ‘những Chủ nhật chiến lược’ để học tập, cộng thêm ba giờ học tư tưởng mỗi ngày.” Anh thừa nhận rằng những buổi học đó có thể trở nên nhàm chán. “Tất nhiên, nếu bạn nghe đi nghe lại cùng một luận điệu, bạn sẽ đâm ra chán phèo. Nhưng hình phạt cho việc ngủ gật trong giờ học rất nghiêm khắc đến nỗi bạn thậm chí không thể nghĩ đến việc cho phép mình ngủ gật. Hình phạt bao gồm từ mười giờ học tư tưởng liên tục đến cả một tuần học, suốt ngày đêm, không ngủ. Họ có thể đánh bạn, hoặc bắt bạn chạy vòng quanh núi.” Nhưng Kim nói rằng anh không học chỉ vì sợ hãi. “Tôi rất hăng hái vì sự siêng năng sẽ được đền đáp sau này. Nếu muốn thăng tiến trong sự nghiệp, việc nắm vững tư tưởng là rất cần thiết. Tôi muốn vào đại học sau khi xuất ngũ, và kỳ thi đầu tiên để sàng lọc ứng viên là về tư tưởng. Đồng thời, tôi cũng rất trung thành.”
Cuối cùng, anh ấy nói, “Tôi không được chọn để tham gia kỳ thi. Chỉ có hai người trong số một trăm người được chọn. Hóa ra họ phải là con trai của các quan chức cấp cao hoặc của những công nhân rất trung thành với chế độ. Tôi có chút hy vọng nhưng cuối cùng lại thất vọng.” Mặc dù thất vọng, nhưng anh ấy không hề mất niềm tin. “Ngay cả khi tôi không hài lòng, tôi cũng không thể làm gì được. Số phận của tôi sẽ không thay đổi. Vì vậy, tôi chỉ biết chấp nhận kết quả. Nếu tôi cảm thấy thất vọng, tôi đổ lỗi cho cha mẹ mình: Tại sao cha tôi không phải là một quan chức cấp cao?”
Tôi biết rằng thủ tục thông thường đối với bất kỳ ai kết thúc nghĩa vụ quân sự là bị đưa đi làm việc trong hầm mỏ, trừ khi họ vào được đại học. Tôi hỏi Kim làm thế nào anh ấy tránh được số phận đó. “Về nguyên tắc, tất cả mọi người kết thúc nghĩa vụ quân sự đều bị đưa đi làm việc trong hầm mỏ,” anh ấy nói. “Nhưng chính quyền đảm bảo rằng cha mẹ phải có ít nhất một đứa con ở nhà để chăm sóc họ. Hai anh trai của tôi đã bị đưa đi làm việc trong hầm mỏ, vì vậy tôi được phép về nhà ở Sinuiju. Tôi làm việc ở đó trong một công ty sản xuất thiết bị nhuộm vải. Sau đó tôi được điều động tạm thời đến Bình Nhưỡng làm công nhân xây dựng thuộc ban quản lý trung ương đảng. Tôi làm việc tại khách sạn Koryo, khu căn hộ do Kim Jong-il tặng cho người dân và khách sạn 105 tầng, cho đến tháng 4 năm 1992. Sau đó tôi trở về Sinuiju, và đến tháng 8 thì đến Siberia.
Anh giải thích sức hút của nước Nga. “Khi tôi xuất ngũ, cha tôi đã 72 tuổi và mẹ tôi khoảng 60 tuổi. Cả hai đều không thể làm việc được nữa. Tôi phải làm việc chăm chỉ để nuôi sống họ. Vấn đề là, bạn không thể kiếm thêm thu nhập chỉ bằng cần cù lao động.Đó là lý do tôi quyết định đến Siberia. Thu nhập ở đó gấp 20 lần so với ở Triều Tiên.” Việc đến được đó “rất khó khăn,” Kim nói. “Có khoảng 10.000 người Triều Tiên làm việc ở Siberia. Mỗi năm một phần ba trong số họ được luân chuyển về nước, vì vậy có khoảng 3.000 vị trí tuyển dụng. Khoảng 9.000 người đăng ký, nghĩa là tỷ lệ cạnh tranh là ba chọi một. Để được chọn, bạn phải hối lộ các quan chức. Gia đình tôi không có tiền. Tôi đã vay 1.000 won – bằng tiền lương của vài năm. Với số tiền đó, tôi đã xoay xở được một hợp đồng ba năm.”
Trước khi lên đường, anh đã trải qua một khóa huấn luyện tư tưởng, nhưng lần này anh nhanh chóng có cơ hội nhận ra những điều mình được dạy không phải là sự thật. “Tôi phải trải qua một khóa huấn luyện tư tưởng chuyên sâu. Họ dạy chúng tôi rằng người Nga đang gặp khó khăn kể từ khi từ bỏ chủ nghĩa xã hội, vì vậy chúng tôi không nên giao du với người Nga ở Siberia. Khi đến đó, tôi đã bí mật đến thăm các cửa hàng và phát hiện ra tình hình hoàn toàn không như những gì tôi được kể. Người Nga làm việc rất chăm chỉ và được trả công xứng đáng với công sức của họ. Tôi cũng tiếp xúc với một số thương nhân Trung Quốc từng đến thăm Hàn Quốc. Từ họ, tôi đã tìm hiểu về tình hình thực tế ở miền Nam. Tôi cũng giao lưu với một số người nhập cư từ Hàn Quốc và nghe đài phát thanh Hàn Quốc. Vì vậy, tôi bắt đầu bị lung lạc. Điều thực sự khiến tôi xác định mình đã bị lừa dối là khi tôi đến thăm các cửa hàng bách hóa ở các thành phố lớn, nơi bày bán rất nhiều hàng hóa của Hàn Quốc.”
Tôi cứ tưởng công việc của Kim là khai thác gỗ, nhưng anh ấy đã đính chính lại. “Trong số những người Triều Tiên được đưa đến Siberia,” anh ấy nói, “một số ít được đưa đến các mỏ thay vì khai thác gỗ, để kiếm ngoại tệ Nga dùng để trả tiền vận chuyển gỗ bằng xe tải, v.v. Tôi là một trong số đó, và tôi nhận ra mình chỉ nhận được 10% so với các đồng nghiệp người Nga. 90% còn lại thuộc về Đảng Lao động Triều Tiên. Tôi rất bức xúc về điều đó và đã tranh cãi, dẫn đến rắc rối. Vào rạng sáng ngày lẽ ra tôi bị bắt vì tội bất tuân lệnh, tôi đã trốn sang Vladivostok. Hai người nhập cư gốc Hoa-Hàn ở đó đã giúp tôi, và khi nghe tin có một con tàu cập cảng đi Busan, tôi đã trốn lên tàu. Tôi đến Hàn Quốc vào ngày 30 tháng 12 năm 1993. Hiện tại tôi đang làm việc cho một công ty dược phẩm, trong bộ phận nhân sự.”
Tôi hỏi Kim một câu hỏi cân nhắc về hình xăm của anh ấy. “Tôi và một vài người bạn đã xăm hình khi nhập ngũ,” anh ấy trả lời. “Hình xăm này có nghĩa là ‘Tinh thần chiến đấu’. Tôi tự hỏi liệu anh ấy có nói chuyện với bất kỳ cựu binh nào, những người xuất ngũ gần đây sau anh ấy, và tìm hiểu xem quá trình huấn luyện của họ có giống với của anh ấy hay không. “Có, tôi biết một số người ở Siberia. Họ được ra lệnh: ‘Không ai ở đây sẽ kết thúc nghĩa vụ quân sự trước khi chiến tranh nổ ra.’ Họ gọi những người lính đó là lực lượng thống nhất’.” Liệu họ có chiến đấu không? “Họ không hề sợ hãi. Họ sẽ cứ thế xông xuống Hàn Quốc ngay khi chiến tranh nổ ra.” Liệu Triều Tiên có thể thắng không? “Với những gì tôi biết hiện nay, họ không có cơ hội thắng. Tôi không tin họ có thể chiếm được Seoul – mặc dù chắc chắn Seoul sẽ bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.”
Tôi gặp Chae Myung-hak cùng ngày tôi nói chuyện với Kim Kil-song vào tháng 10 năm 1994. Chae đã đến Seoul vào tháng 2 năm trước đó. Anh ấy để kiểu tóc bát úp giống như những thành viên đầu tiên của nhóm Beatles, với phần mái dày che phủ đến tận lông mày. Từ đó trở xuống, khuôn mặt anh ta có gò má cao và quai hàm mạnh mẽ.
Chae kể với tôi rằng anh sinh năm 1960 tại Kuson, một thành phố thuộc tỉnh Bắc Pyongan. Cha anh từng là cảnh sát. Sau 11 năm phục vụ trong ngành cảnh sát, năm 1963 cha anh rời ngành và trở thành nông dân làm thuê. Mẹ của Chae cũng là nông dân. Chae nghe cha mẹ kể rằng “trước khi cha tôi làm nông dân, gia đình chúng tôi sống khá sung túc”. Những ký ức của anh về điều kiện vật chất bắt đầu từ cuối những năm 1960, “khi chúng tôi không có những nhu yếu phẩm cơ bản như giày dép và quần áo, và tôi không thể tìm thấy chúng trong các cửa hàng. Nhưng từ năm mười bảy tuổi, tôi vẫn chưa có nhận thức về cách xã hội vận hành vì tôi ở trong quân đội. Chúng tôi được phép viết thư, nhưng các sĩ quan sẽ đọc trước, và khi nhận được thư, họ chỉ đưa cho chúng tôi những phần đã được duyệt. Hơn nữa, chúng tôi hoàn toàn bận rộn với việc huấn luyện chiến đấu gian khổ trên núi. Không có thời gian để nghĩ đến những khía cạnh khác của xã hội.”
Khi nhập ngũ, Chae không hề biết rằng mình sẽ được điều đến lực lượng đặc nhiệm – một đơn vị tinh nhuệ. “Đối với lực lượng đặc nhiệm, họ chọn khoảng 10% tân binh, dựa trên tiêu chí gia thế tốt và sức khỏe tốt,” anh ấy nói với tôi. “Họ huấn luyện chúng tôi tấn công một số địa điểm nhất định ở Hàn Quốc, bao gồm Sân bay Kimpo và một số địa điểm phóng tên lửa Honest John, Hawk và Patriot. Chúng tôi chuyên về các địa điểm phóng tên lửa hạt nhân. Chúng tôi có gián điệp ở Hàn Quốc chụp ảnh các địa điểm và lập bản đồ chúng. Chúng tôi có mô hình chính xác của các cơ sở mà chúng tôi sẽ tấn công. Chúng tôi được huấn luyện kỹ lưỡng đến mức thậm chí có thể tấn công khi bị bịt mắt.” Trong bối cảnh chiến tranh sắp xảy ra, anh cho biết chỉ có cấp trên mới biết vị trí chính xác của các mục tiêu tấn công ở Hàn Quốc. Trong khi đó, các binh sĩ chuẩn bị đối phó với chướng ngại vật đầu tiên, khu phi quân sự (DMZ) đầy rẫy mìn. “Chúng tôi được huấn luyện để vượt qua DMZ. Để huấn luyện, chúng tôi sử dụng cùng một bố cục, hàng rào, mìn và tất cả mọi thứ, và chúng tôi phải thực hành vượt qua.”
Tôi tự hỏi liệu các huấn luyện viên của anh ấy có dự đoán được cuộc chiến tranh mới sẽ bắt đầu như thế nào không. “Từ nhỏ tôi đã được dạy rằng Chiến tranh Triều Tiên nổ ra vì Hoa Kỳ đã đẩy quân đội Hàn Quốc vào cuộc chiến,” Chae nói. “Chúng tôi được dạy rằng người Mỹ sẽ sớm gây ra một cuộc chiến tranh khác, vì vậy chúng tôi phải chuẩn bị. Cuộc chiến đó sẽ gây ra nhiều thương vong cho cả hai bên. Nhưng chúng tôi phải đánh bại Hoa Kỳ. Họ nói với chúng tôi rằng một cuộc chiến mà Hoa Kỳ sẽ phát động là cần thiết để thống nhất đất nước. Chúng tôi phải thắng. Họ nói với chúng tôi rằng cuộc chiến sẽ bắt đầu bằng một cuộc tấn công của Hoa Kỳ, nhưng nhìn lại kể từ khi tôi đào thoát, tôi phải cho rằng kế hoạch thực sự là để Triều Tiên xâm lược Hàn Quốc.”
Thống nhất đất nước sẽ mang lại lợi ích vật chất, các huấn luyện viên nói với binh lính: “Hiện tại ‘chúng ta đang bị thiệt thòi vì Hoa Kỳ. Nhưng một khi thống nhất, Bắc và Nam sẽ cùng thịnh vượng và Triều Tiên sẽ trở thành cường quốc hàng đầu châu Á.’ Chúng tôi được dạy rằng Bắc Triều Tiên nghèo vì Hoa Kỳ, với lực lượng của họ ở Hàn Quốc, ngăn cản sự thống nhất bán đảo. Họ nói rằng Bắc Triều Tiên nhiều núi hơn so với Hàn Quốc. Chúng tôi không có nhiều đất nông nghiệp và không thể trồng đủ lúa. Nhưng miền Nam có tiềm năng nông nghiệp tuyệt vời trong khi Bắc Triều Tiên có tài nguyên khoáng sản và công nghiệp nặng tiên tiến. Họ nói với chúng tôi rằng mặc dù Hàn Quốc có rất nhiều đất nông nghiệp, nhưng họ không sử dụng hết tiềm năng mà thay vào đó lại xây dựng các căn cứ quân sự và không quân trên đó. Vì vậy, Hàn Quốc nghèo. Do đó, một khi thống nhất, Triều Tiên sẽ vươn lên trở thành cường quốc hàng đầu châu Á.”
Khi tôi gặng hỏi anh ấy về mối liên hệ giữa việc gây chiến và việc có nhiều thức ăn hơn trong các buổi huấn luyện, Chae trả lời: “Tôi cần làm rõ rằng chúng tôi không được dạy rằng chúng tôi sẽ xâm lược Hàn Quốc để chiếm đất đai của họ nhằm tăng sản lượng nông nghiệp. Chúng tôi được dạy rằng Mỹ và Hàn Quốc sẽ xâm lược Triều Tiên, và sau đó chúng tôi sẽ phải thực hiện việc thống nhất. Lợi ích từ việc tăng cường lương thực chỉ là một động lực dành cho binh lính.”
Chae nói rằng anh được dạy rằng Kim Il-sung sẽ lãnh đạo nước Triều Tiên thống nhất – “quả là lúc đó tôi không thể tưởng tượng ra điều gì khác. Ông ấy đã là lãnh đạo duy nhất của chúng tôi trong nhiều thập kỷ. Tôi không hề nghi ngờ. Tôi chỉ cho rằng đó sẽ là kết quả tất yếu.” Những người lính như Chae “không có mệnh lệnh cụ thể” nào về vai trò của họ sau khi thống nhất,” nhưng về cơ bản, tất cả các bài giảng chính trị đều dạy tôi rằng một khi thống nhất đất nước, quân đội Hàn Quốc và các nước khác, vốn là kẻ thù, sẽ phải thay đổi hệ tư tưởng sang chủ nghĩa xã hội. Chúng tôi phải theo dõi họ.” Điều đó dường như không phải là một nhiệm vụ quá khó khăn, nếu xét đến những gì binh lính Triều Tiên được dạy về Hàn Quốc. “Tôi nghĩ người Hàn Quốc sẽ rất vui mừng khi được Triều Tiên giải phóng,” Chae nói. “Ở Triều Tiên, họ phát sóng tin tức về các cuộc biểu tình của sinh viên Hàn Quốc, chống chính phủ và ủng hộ thống nhất. Sau khi xem những chương trình phát sóng đó, chúng tôi cho rằng người Hàn Quốc chống chính phủ và sẽ ủng hộ chế độ Bắc Triều Tiên sau khi thống nhất. Khi tôi ở Bắc Triều Tiên, tôi tin rằng về cơ bản mọi người đều giống nhau. Sự khác biệt duy nhất là do các nhà lãnh đạo của họ. Tôi nghĩ rằng chính phủ Hàn Quốc và Mỹ, chứ không phải người dân, mới là kẻ xấu. Tôi thậm chí còn nghĩ rằng mình hiểu được binh lính Mỹ. Tôi là một trung sĩ, chỉ huy một tiểu đội gồm mười một người. Là một người lính cấp thấp, tôi biết rằng lính Mỹ chỉ biết tuân theo mệnh lệnh.”
Bắt đầu vào năm 1984, khi Triều Tiên gửi viện trợ lương thực cho miền Nam sau trận lũ lụt ở đó, Chae kể với tôi, ngay cả đối với quân đội, “vấn đề lương thực là một sự kiện quan trọng.” Người dân thường được nhận 600 gram ngũ cốc mỗi ngày nhưng chỉ nhận được 520 gram. Quân đội bị giảm khẩu phần ít hơn. “Chúng tôi bị giảm từ 800 gram xuống còn 760 gram.” Lý do được đưa ra là “năm đó mùa màng không tốt. Và chúng tôi được bảo là phải giúp đỡ những người anh em ở Hàn Quốc trong hoàn cảnh khó khăn cùng cực của mình. Mỗi năm tình hình lại càng tồi tệ hơn, và họ giải thích mùa màng không được như ý. Từ năm 1985 đến năm 1988 tình hình càng tệ hơn, nhưng không đến mức quá nghiêm trọng. Khi tôi xuất ngũ vào tháng 4 năm 1987, tôi được điều đến tỉnh Bắc Hamgyong. Khi đến đó, tôi mới nhận ra việc phân phát lương thực bị chậm trễ. Lương thực tháng Giêng, tháng Hai, tháng Ba và tháng Tư đều không được cung cấp. Cuối cùng, vào tháng Sáu, họ mới phát cho chúng tôi phần lương thực bị chậm trễ. Tuy nhiên, Bắc Hamgyong là một ngoại lệ. Những nơi khác chỉ chậm trễ vài tháng. Người dân đổ lỗi cho chủ tịch tỉnh, nói rằng ông ta thiếu khả năng trao đổi hàng hóa với các tỉnh khác.” Tuy nhiên, chính quyền trung ương không trừng phạt vị chủ tịch. Suy cho cùng, Chae nhận xét, “chính chính phủ đã cử ông ta đến đó.”
Chae kể rằng, khi còn là thường dân, “công việc đầu tiên của tôi là thợ sửa động cơ, nhưng tôi không kiếm được nhiều tiền nên đã làm thợ lặn ở Rajin. Công việc đó trả lương cao hơn và tôi có thể mua thức ăn ở chợ đen. Tôi lặn xuống đáy biển để bắt các sản phẩm biển như cua, bạch tuộc, nghêu, v.v., để xuất khẩu lấy ngoại tệ. Nhờ đó tôi có thể kiếm được nhiều tiền hơn.” Chae nói với tôi rằng lúc đó, anh không hề nghi ngờ gì về hệ thống. “Tôi chỉ nghĩ rằng tình trạng thiếu lương thực là do mất mùa.”
Chae đến Nga vào tháng 10 năm 1989. “Theo những gì tôi nghe được từ người thân ở nhà, lễ hội thanh niên hồi đầu năm đã khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn rất nhiều. Tôi nghe một số quan chức nói rằng nếu một quốc gia giành được quyền đăng cai Thế vận hội, sẽ có rất nhiều lợi ích kinh tế. Ngược lại, lễ hội thanh niên lại làm cạn kiệt ngân khố quốc gia đến mức phải mất năm năm mới phục hồi được. Để tổ chức lễ hội, chính phủ chi tiêu rất nhiều, và người dân phải trả tiền.”
Chae rất muốn sang Liên Xô làm nghề đốn gỗ. Nhưng anh nhận ra rằng “rất khó để được đưa đến Siberia nếu bạn độc thân. Chỉ có 1 hoặc 2 phần trăm những người bị đưa đi là không có gia đình.” Chính quyền cho rằng sự hiện diện của gia đình ở quê nhà sẽ đảm bảo người chủ gia đình sẽ trở về sau khi hết hợp đồng. Chae đã nghĩ ra một kế hoạch khéo léo. “Tôi kết hôn theo hợp đồng với một phụ nữ đã có con. Cô ấy là vợ một đồng nghiệp bị đưa đến trại tù, điều đó có nghĩa họ tự động ly hôn. Tôi biết ông ta. Ông ta là một quan chức cấp cao, trưởng dây chuyền sản xuất. Ông ta đã đánh cắp rất nhiều sản phẩm đáng lẽ phải xuất khẩu và bị bắt vì tội tham ô.”
Đó là một tội phạm kinh tế, nhưng Chae nói rằng ngay cả trong trường hợp tội phạm chính trị, việc gia đình của người phạm tội bị đưa đi cùng với họ không còn là điều tự động nữa. Chính sách đã thay đổi. “Năm 1991, một phụ nữ đào tẩu cùng hai người đàn ông và lên truyền hình nói về Triều Tiên. Các chương trình phát sóng có thể được xem gần khu phi quân sự. Điều này đã dẫn đến rất nhiều vấn đề, nên chính phủ muốn loại bỏ tất cả người thân của bà ta. Nhưng số lượng quá nhiều, bao gồm cả một số quan chức cấp cao. Từ năm 1992, các quy định đã thay đổi. Bất cứ ai phản bội chế độ, người đó là kẻ phản bội duy nhất. Đó là lý do tại sao kể từ năm 1992 đã có nhiều vụ đào tẩu hơn. Mọi người không cần phải lo lắng quá nhiều về gia đình mà họ bỏ lại phía sau. Các thành viên gia đình bây giờ chỉ mất các đặc quyền xã hội – không được thăng chức, không được làm thành viên trung ương đảng, v.v. Có thông tin cho rằng con trai của Nguyên soái O Jin-u đã trốn sang Trung Quốc. Sự kiện này không ảnh hưởng đến O Jin-u.”
Chae nói một lý do lớn khiến anh ấy rất muốn đến Nga là vì, mặc dù chưa chọn được cô dâu, anh ấy vẫn hy vọng cuối cùng sẽ có một cuộc hôn nhân thực sự. Trong khi đó, “công việc lặn biển quá nguy hiểm. Tôi suýt chết ba lần, hai lần vì tắc ống dẫn oxy và một lần vì vấn đề giảm áp. Tôi biết công việc nguy hiểm này sẽ giết chết tôi, nhưng tôi không kiếm đủ tiền từ những công việc bình thường để kết hôn. Vì vậy, tôi quyết định dùng tiền lương từ công việc lặn biển tặng quà cho các quan chức để có thể đến Siberia và kiếm thêm tiền. Tôi đã dùng khoảng 3.000 won để hối lộ các quan chức: bí thư đảng ủy tại đơn vị công tác, giám đốc thành phố phụ trách việc đưa người ra nước ngoài, phó trưởng Văn phòng An ninh Quốc gia.” Tôi hỏi anh ta liệu việc phải hối lộ những quan chức đó có khiến anh ta nghi ngờ về hệ thống hay không. “Không,” anh ta trả lời. “Nó dường như chỉ là con đường tự nhiên để đến Siberia. Tôi rất muốn đến đó.”
Việc anh đến Nga đã bắt đầu khiến thái độ của anh thay đổi. “Tôi nhận ra Siberia và Nga đi trước Triều Tiên hàng thập kỷ. Điều này làm nổi bật sự mâu thuẫn, bởi vì tôi đã được dạy rằng Liên Xô là quốc gia nghèo nhất trong số các nước châu Âu. Tôi nhận ra chính phủ đã nói dối chúng tôi. Từ những người Hàn Quốc tôi gặp ở Nga, tôi biết được rằng chính Triều Tiên đã xâm lược Hàn Quốc, và Kim Jong-il không sinh ra trên núi Paektu ở Triều Tiên mà ở gần Khabarovsk thuộc Nga. Điều đó thật sốc. Khi ở Siberia, tôi đã xem một bộ phim tài liệu về cuộc gặp gỡ giữa [Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ] Roh Tae-woo với Gorbachev. Bộ phim tài liệu chiếu hình ảnh các dây chuyền lắp ráp ô tô của Hàn Quốc. Tôi nhận ra rằng để bán tất cả những sản phẩm tôi đã thấy tại các chợ ở Khabarovsk, Hàn Quốc hẳn đã trở nên công nghiệp hóa. Trong khoảng một năm, tôi nhận ra tất cả sự thật qua các cuộc trò chuyện với người Nga, qua việc đọc báo, xem phim từ Pháp, Ý và Hoa Kỳ, và xem truyền hình. Tư tưởng của tôi thay đổi và trở nên bất ổn. Tôi không có thời gian để nghe đài, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn nghe nhạc pop Hàn Quốc.
Tuy nhiên, Chae nói với tôi rằng phải trải qua thêm một loạt cú sốc nữa thì anh mới bắt đầu cân nhắc đến việc đào tẩu. “Ngay cả khi tư tưởng của tôi đã thay đổi, nhưng cảm xúc cơ bản của tôi vẫn là dự định trở về Triều Tiên. Sau ba năm ở Siberia, tôi muốn trở về. Nhưng do một thỏa thuận nào đó với người Nga, mọi người đều phải ở lại thêm một năm nữa. Cha tôi qua đời vào lúc đó. Họ không cho tôi về nhà dự đám tang. Điều đó khiến tôi vô cùng tức giận, và tôi nảy ra ý tưởng rằng mình nên trốn thoát, đến gặp chính quyền Nga, xin hộ chiếu Nga rồi bay trở lại Triều Tiên.” Nghe Chae kể lại kế hoạch tuyệt vọng của mình, và cảm thấy chắc chắn rằng anh ta sẽ bị bắt và hoặc sẽ bị xử tử hoặc đưa đến trại giam, điều đó lại một lần nữa nhắc nhở tôi về ý nghĩ điên rồ không kém của mình năm 1979 về việc thử chạy trốn qua khu phi quân sự.
“Mặc dù tôi đã lên kế hoạch đó,” Chae tiếp tục, “nhưng nó đã không thành hiện thực. Và trong khi tôi vẫn đang suy nghĩ về nó, bạn cùng phòng của tôi say rượu và đâm một đồng nghiệp. Y sắp bị đưa về nước vào trại giam, vì vậy y đã trốn thoát. Chính quyền bắt đầu thẩm vấn tôi để tìm ra nơi y đang ẩn náu nhằm bắt giữ y. Họ đe dọa rằng nếu tôi không giúp họ thì họ không cho tôi quay lại Triều Tiên. Năm đó có ba cơ hội để trở về. Mặc dù tên tôi nằm trong danh sách nhóm đầu tiên, nhưng họ đã gạch tên tôi. Vì vậy, tôi quyết định trốn thoát. Tôi vẫn có kế hoạch quay lại Triều Tiên, nhưng người ta đòi quá nhiều tiền để làm hộ chiếu. Tôi quyết định đến Moscow với một người bạn. Ở đó, tôi gặp một số người Hàn Quốc đang quản lý nhà hàng. Tôi làm bảo vệ ban đêm và chạm khắc trang sức ban ngày. Với số tiền kiếm được, chúng tôi nhờ mafia Nga ở Siberia làm hộ chiếu Nga. Nhưng chúng tôi nhận ra rằng nếu quay lại Triều Tiên, chúng tôi sẽ chỉ có đường vào các trại tù, vì vậy cuối cùng chúng tôi quyết định đến Hàn Quốc. Chúng tôi đã nghĩ đến việc đến Hoa Kỳ, nhưng dù sao thì Hàn Quốc cũng là Triều Tiên. Đến sân bay Kimpo với tư cách là khách du lịch mang hộ chiếu Nga, chúng tôi đã tự trình diện. Chúng tôi có vé khứ hồi về Nga phòng trường hợp bị từ chối. Chúng tôi đi qua khu vực nhập cảnh và sau đó hỏi mọi người cách tìm các quan chức tình báo. Chúng tôi đã gây ra một số lộn xộn vì sợ gián điệp Triều Tiên có thể cản đường chúng tôi.”
Chae cho biết anh đang làm việc tại công ty Sempyo Hàn Quốc, trong xưởng sản xuất nước tương. “Đây là công việc tạm thời,” anh nói. “Sau đó chính phủ sẽ điều chuyển chúng tôi đến nơi khác.”
Chae đã hợp tác với một người bạn, Kim Tae-pom, để trốn thoát khỏi trại khai thác gỗ và đào tẩu sang Hàn Quốc. Khi tôi đến phỏng vấn Kim, tôi gặp một người đàn ông mảnh khảnh mặc bộ vest màu xanh nhạt, cà vạt hoa thắt nút to, kính gọng kim loại và đồng hồ nhựa đen – khá lạ, vì như đã đề cập trước đó, trong số những người đào thoát, họ thường đeo những chiếc đồng hồ đắt tiền.
Kim sinh ra ở Bình Nhưỡng năm 1962. Năm 1976, khi đang học trung học, gia đình anh bị chuyển đến tỉnh Nam Pyongan vì em gái anh bị bại liệt. “Kim Il-sung và Kim Jong-il không muốn người khuyết tật sống ở Bình Nhưỡng,” anh nói với tôi, lặp lại những gì tôi đã nghe từ các nguồn khác về chính sách loại bỏ người khuyết tật, người lùn, người ăn xin và bất kỳ ai bị coi là không đẹp mắt khỏi thủ đô tráng lệ này. Sự di chuyển bắt buộc đã đến mặc dù xuất thân gia đình “tốt”. Mẹ của Kim Tae-pom là trẻ mồ côi trong chiến tranh Triều Tiên. Anh chị em của anh cũng phục vụ trong quân đội và tại Nhà hát Nghệ thuật Mansudae. “Bố mẹ tôi rất buồn,” Kim nói với tôi, “nhưng đó là lệnh của chính phủ. Họ có thể làm gì được? Bố tôi đã bị giáng chức từ một quan chức cấp cao trong Bộ Hành chính xuống làm thành viên cấp thấp hơn nhiều của ủy ban kinh tế địa phương ở Songchon. Quần áo chúng tôi mua được ở đó không đẹp bằng, nhà cửa cũng nhỏ hơn. Nhưng chúng tôi vẫn còn có họ hàng ở Bình Nhưỡng. Nhờ ảnh hưởng của họ, cuối cùng chúng tôi đã chuyển đến một ngôi nhà lớn hơn. Vì cha tôi bị giáng chức, khẩu phần ăn của chúng tôi cũng ít hơn. Ở Bình Nhưỡng, khẩu phần ngũ cốc của chúng tôi được phát dưới dạng gạo mỗi tuần, và chúng tôi nhận được hai kilogram thịt mỗi tuần. Sau khi chuyển nhà, chúng tôi nhận được ngũ cốc hỗn hợp, chất lượng thấp hơn. Nó chỉ được phát mỗi mười ngày một lần, cùng với một kilogram thịt.
Tôi yêu cầu Kim nhớ lại một lần anh ấy thực sự hạnh phúc. Anh ấy trả lời: “Ông có theo tôn giáo nào không? Ở Triều Tiên thì hệ tư tưởng Juche là một hình thức khác của tôn giáo. Tôi rất trung thành với nó. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi nhận được quà từ Kim Il-sung – quần áo, thức ăn.” Khi được hỏi về những cảm xúc tiêu cực, anh trả lời: “Tôi chưa bao giờ cảm thấy bất mãn với chính Kim Il-sung. Có lẽ tôi có một số chỉ trích đối với chế độ, đặc biệt là về tình hình lương thực. Nhưng trừ khi bạn là một người bất đồng chính kiến thực sự, thì không có sự chỉ trích nào đối với Kim Il-sung – chỉ có sự chỉ trích đối với chính phủ.” Tuy nhiên, anh nói thêm: “Trước khi chúng tôi chuyển đi, chúng tôi là một phần của tầng lớp thượng lưu, nhưng sau khi chuyển đi, tôi cảm thấy có một số bất cập trong cấu trúc xã hội, khoảng cách giữa tầng lớp thượng lưu và những người khác.”
Sau khi tốt nghiệp trung học, Kim Tae-pom theo học trường dạy nghề nhưng bỏ học vì vấn đề về mắt. Anh đi làm ở một nhà máy ô tô, sau đó gia nhập một đơn vị “xung kích” tinh nhuệ thuộc Ủy ban Trung ương Đoàn Thanh niên Công nhân Xã hội chủ nghĩa. Ai cũng gia nhập đoàn thanh niên (khoảng 14 tuổi), thậm chí có cả các chi hội trong quân đội, nhưng các thành viên của đơn vị xung kích này rất đặc biệt. Họ xuất thân từ những gia đình “khá giả”. Để trở thành những người được chấp nhận phải chứng minh được sự ổn định về tư tưởng. Họ được trả lương cao và có cơ hội trở thành cán bộ. Kim Jong-il đã thành lập các đơn vị xung kích và chúng có phần tương tự như các đội Ba Cuộc Cách mạng, do chính đảng điều hành.
Kim Tae-pom và các đồng nghiệp mặc quân phục và mang quân hàm. Từ năm 1982 đến năm 1984, đơn vị của anh chịu trách nhiệm bảo vệ một kho vũ khí. Các thành viên dành từ 8 đến 9 giờ sáng để nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của Kim Il-sung, sau đó làm việc từ 9 giờ sáng đến tối để xây dựng các cơ sở. Sau bữa tối, từ 9 đến 10 giờ tối, họ tham dự các buổi học tập tư tưởng. Sau khi hoàn thành một đợt huấn luyện đầy đủ, một thành viên được quyền trở thành đảng viên và có việc làm tại nhà máy ở quê nhà mà không cần phải đi làm ở hầm mỏ. Công việc của Kim sau khi rời đơn vị huấn luyện, mà anh làm từ năm 1984 đến năm 1989, là thợ sửa chữa thiết bị tại một nhà máy sản xuất chỉ gần nhà anh ở tỉnh Nam Pyongan. Tại nhà máy đó, 90% nhân viên là nữ.
Cuối cùng, Kim Tae-pom muốn rời bỏ nhà máy sản xuất chỉ và mức lương 80 won một tháng của mình để tìm kiếm lương cao hơn và cuộc sống tốt hơn. Anh ấy đã xin sang Nga. “Lương ở Siberia cao gấp 70 lần so với lương tôi nhận được trước đây, ngay cả sau khi chính phủ đã cắt phần lớn số lương ấy. Những người đến đó kỳ vọng sẽ kiếm đủ tiền để sống cả quảng đời còn lại. Thông thường họ mua các thiết bị gia dụng ở Nga không có ở Triều Tiên. Đôi khi họ bán lại những thứ đó ở quê nhà; trong những trường hợp khác, họ sử dụng chúng.”
Các yêu cầu cơ bản để được gửi đến Nga bao gồm tư cách đảng viên, không có tiền án tiền sự và lý lịch tốt, không có tổ tiên theo chủ nghĩa tư bản. Nhưng Kim đã nói rằng khi anh ấy nộp đơn, tỷ lệ giữa số người đủ điều kiện và số người thực sự được tuyển dụng là 15 hoặc 20 trên một. “Để có tên trong danh sách, bạn phải tặng hoặc hứa tặng một chiếc tivi hoặc tủ lạnh cho một quan chức cấp cao tham gia vào quá trình tuyển chọn. Một số ứng viên thậm chí còn viết hợp đồng hứa sẽ gửi các thiết bị đó cho người bảo trợ họ sau một năm làm việc ở Siberia.” Tôi tự hỏi làm thế nào một hợp đồng rõ ràng là tham nhũng như vậy có thể được thực thi. “Người lao động chắc chắn sẽ quay lại,” Kim trả lời, “vì vậy họ sẽ bắt được anh ta bằng cách này hay cách khác. Vị quan chức này có đủ quyền lực để chi phối sự nghiệp sau này của bạn và đảm bảo bạn sẽ khốn khổ nếu ông ta muốn.”
Tôi đã cố gắng tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu ghê tởm nào từ phía Kim về những sắp xếp như vậy, nhưng vô ích. “Tôi thấy điều đó là hợp lý,” anh ta nói. “Viên chức đó đã nỗ lực rất nhiều để đưa người lao động đến Siberia, vì vậy ông ta xứng đáng được đền bù. Trên viên chức đó có thể còn có những quan chức cấp cao hơn. Viên chức cấp dưới này trong nỗ lực đưa ứng viên của mình đến Siberia, phải hối lộ cấp trên. Tôi chỉ nghĩ đó là cách mọi việc diễn ra. Tôi nghĩ điều đó là dễ hiểu. Hệ thống này phổ biến khắp xã hội. Ví dụ, nếu một ngày nào đó tôi không thể đến nhà máy, tôi sẽ gặp người quản lý, tặng ông ta vài món quà và nhờ ông ta làm ngơ. Ở Triều Tiên, hầu hết các vụ hối lộ đều liên quan đến hàng hóa chứ không phải tiền bạc. Khi cha tôi làm việc với tư cách là một quan chức tại ủy ban kinh tế huyện, ông ấy đã nhận được rất nhiều ‘quà cáp’ từ nông dân – khoai tây, hành lá, v.v. Theo luật Triều Tiên, nếu một người nhận được quà tặng dưới dạng hàng hóa, đó là “quà biếu tình cảm”. Tiền mặt mới là hối lộ.
Năm 1989, Kim Tae-pom đã đến Nga làm tài xế xe tải, chở thực phẩm từ các chợ địa phương đến một trại khai thác gỗ. Đến năm thứ ba, công việc của anh thay đổi thành bốc xếp thực phẩm lên tàu hỏa. Tôi nhận ra câu chuyện của anh ấy là một câu chuyện điển hình: Anh đến đây với tư cách là một thanh niên tận tâm với chế độ của Kim Il-sung và Kim Jong-il, nhưng chẳng bao lâu sau, những niềm tin của anh bắt đầu bị thách thức. “Những yếu tố ảnh hưởng đến tôi bao gồm các cuộc trò chuyện với người Nga và việc có thể tìm và đọc được báo Hàn Quốc. Các khu vực khác trên thế giới trở nên dễ tiếp cận hơn. Tôi nhận ra rằng phần còn lại của thế giới khác với những gì tôi từng được nhào nặn. Có nhiều tự do hơn để chỉ trích chế độ vì chúng tôi đang ở Siberia. Giữa bạn bè, mọi người thường bộc lộ sự bất mãn của mình. Tình hình ở Triều Tiên đã xấu đi nghiêm trọng vào năm 1986. Và đến năm 1989, khi tôi rời đi, tình hình còn tồi tệ hơn nhiều. Những lá thư từ gia đình chúng tôi ở quê nhà công khai mô tả các vấn đề về lương thực. Nhưng các chương trình phát thanh chính thức của Triều Tiên luôn khẳng định rằng mọi thứ đang tốt hơn. Tôi nhận thức được sự mâu thuẫn đó. Tôi nghe Đài phát thanh Moscow, đài Yanbian [Trung Quốc] và đài KBS [Hàn Quốc].”
Năm 1992, Kim nói, “Tôi đã hối lộ các quan chức sửa đổi giấy tờ để được nghỉ phép về nhà 5 tháng, gặp gia đình và đưa tiền cho họ. Tháng 12 năm 1992, nhận ra rằng ở Triều Tiên chẳng có gì thay đổi và cảm thấy không thể chịu đựng nổi xã hội Triều Tiên nữa, tôi quay trở lại Siberia, Trùng hợp thay, tôi biết mình sắp bị gửi về nước vì tội hối lộ. Đó là lý do tôi trốn thoát.” Vào ngày 1 tháng 2 năm 1993, Kim Taepom trốn chạy đến Khabarovsk, nơi anh ẩn náu cho đến khi gặp một số người Mỹ và một phóng viên người Nga, giúp anh đến Moscow và sau đó đến Hàn Quốc.
Người đọc đã quen biết Ahn Choong-hak rồi. Trong chương 6, Ahn kể về người bạn thời thơ ấu của mình, đã bị phạt vì so sánh đống phân đông cứng của mình với ngọn núi thiêng Paektu. Trong chương 12, chúng ta thấy Ahn, tức giận khi biết rằng gia thế của mình quá nhiều khiếm khuyết để có thể vào được một trường cao đẳng ưu tú dành cho gián điệp và người xâm nhập, đã ném chiếc máy may của mẹ xuống đất. Sau cơn bộc phát đó, anh trở về đơn vị quân đội của mình, nơi anh là một người lính gương mẫu và là tài xế cho chỉ huy Sư đoàn 8, và ở lại đó thêm bốn năm nữa cho đến khi kết thúc thời hạn phục vụ mười năm vào năm 1984.
Ahn không hoàn toàn rời quân đội vào thời điểm đó, mà nhận một vị trí thanh tra tại Nhà máy Trang thiết bị Quân sự Hamhung của quân đội, nơi sản xuất các bộ phận. Sau đó, anh chuyển đến Trung tâm Cung cấp Trang thiết bị Hậu cần Khai thác mỏ Nam Hamgyong tại Kwangop với tư cách là một nhân viên.
“Đó là một công việc tốt,” anh ấy nói với tôi. “Đây là một trung tâm phân phối nên chúng tôi có đủ ăn. Đó là một trong những công việc khó khăn nhất.”
Các tổ chức cần phải được tiếp cận. Bạn cần rất nhiều hối lộ để vào được. Rượu, thuốc lá – tôi mua được ở chợ đen bằng tiền mẹ tôi kiếm được từ việc may đo vest. Tôi cũng quen biết em trai của một quan chức cấp cao ở tỉnh Nam Hamgyong.” Ahn giữ chức vụ thứ hai đó cho đến tháng 9 năm 1991, khi anh sang Nga. Để đến đó, anh cần “nhiều hối lộ hơn trước, rất nhiều hàng hóa: một máy may, hai thùng rượu, giày nữ, thuốc lá.”
Kể từ khi đơn xin học Đại học Chính trị Kumsong bị từ chối, Ahn kể với tôi: “Tôi đã thất vọng nhưng vẫn chưa trách Kim Il-sung và Kim Jong-il. Cho đến khi đặt chân đến Siberia, tôi mới nhận ra mình không hề trách họ về những vấn đề của mình. Tôi biết rằng khả năng đạt được thành tựu chính trị của mình bị hạn chế vì xuất thân gia đình, vì vậy tôi muốn trở nên giàu có và bằng con đường đó, trở thành một người có tầm ảnh hưởng. Tôi quyết định đến Siberia để kiếm thật nhiều tiền. Năm 1993, cha tôi sắp tròn 60 tuổi, và tôi muốn làm điều gì đó để ăn mừng.”
Tuy nhiên, khi đến Siberia, Ahn “nhận ra rằng người Nga chế giễu chúng tôi vì những huy hiệu Kim Il-sung. Họ nói chúng tôi là bọn ngu dốt, đần độn vẫn còn tôn thờ Kim Il-sung dù ông ta chẳng làm gì cho chúng tôi cả. Lúc đầu tôi đã tranh cãi với họ. Tôi vẫn tin vào hệ thống và có những kỳ vọng cho tương lai của con cái mình. Nhưng các cửa hàng của Nga được bày bán đầy đủ đến mức tôi cảm thấy, có lẽ bạn có thể gọi đó là cú sốc vật chất. Tôi cũng thất vọng vì cuộc sống của chúng tôi bị hạn chế. Chúng tôi không được phép đi lại tự do. Từ tháng 12 năm 1991, họ cấm chúng tôi xem truyền hình Nga vì Hàn Quốc đã bước vào bản tin. Tôi từng nghĩ Hàn Quốc là một đất nước nghèo nàn, nhưng hình ảnh đó bắt đầu thay đổi. Tôi bắt đầu tự hỏi, ‘Tại sao? Tại sao?’ Một lần, truyền thông nước ngoài, bao gồm cả các phóng viên Hàn Quốc, bắt đầu quan tâm đến các trại khai thác gỗ và yêu cầu được đến thăm. Một buổi sáng, giới chức thẩm quyền đã đưa tất cả thợ khai thác gỗ bằng xe tải đến một cánh đồng dưa chuột và thay thế họ bằng một tiểu đội lính kiểu mẫu giả làm thợ khai thác gỗ. Mặc dù tôi là đảng viên, nhưng vì xuất thân gia đình, tôi cũng bị đưa đến cánh đồng dưa chuột. Tôi không được coi là đủ tư cách để gặp các phóng viên. Những người bị đưa đến đó không được phép nói chuyện riêng với phóng viên mà chỉ được nói chuyện theo nhóm hai hoặc ba người, và họ đã được học thuộc lòng trước câu trả lời cho mười một câu hỏi soạn sẵn.
“Lúc đó tôi đã ba mươi tuổi,” Ahn tiếp tục, “và tôi nhận ra rằng những nguyên tắc của Kim Il-sung mà tôi từng bị nhồi sọ đều là dối trá. Tôi cảm thấy mất mát, nhưng đồng thời cũng rất tò mò về thế giới. Tôi mua một chiếc đài và bắt đầu nghe các chương trình phát thanh của Hàn Quốc, chỉ phát vào những giờ nhất định. Ở phòng bên cạnh, họ nghe thấy gì đó và đoán ra tôi đang nghe các chương trình phát thanh cấm kỵ. Một kế toán định báo cáo tôi cho Cơ quan An ninh Quốc gia, nhưng một người bạn đã cảnh báo và khuyên tôi đừng nghe các chương trình phát thanh đó nữa. Tôi đã ngừng nghe, nhưng sau ba hoặc bốn ngày, tôi không thể cưỡng lại được và lại nghe tiếp. Tôi nhận ra các chương trình phát thanh của Hàn Quốc rất khác so với Triều Tiên. Triều Tiên chỉ trích Hàn Quốc. Đài phát thanh Hàn Quốc đưa tin rất rõ ràng về những sự kiện thực tế. Nó nhân văn hơn. Ngày hôm sau, bạn tôi đến và nói: “Mày đã nghe rồi phải không? Tao nghĩ thằng kia sắp báo cáo mày rồi đấy.” Lúc đó tôi thấy không còn hy vọng gì nữa, bèn bỏ trốn. Tôi lấy số tiền đã tiết kiệm được và một con dao, đi bộ 35 km trong thời tiết giá rét đến một ga xe lửa và mua vé đi đến Moscow. Tôi đợi ở Nga một năm tám tháng trước khi trốn lên một con tàu Nga ở Nakhodka và đến Hàn Quốc.
Khi tôi gặp Ahn vào tháng 8 năm 1996, anh ấy mới chỉ ở Hàn Quốc được khoảng một năm. Anh ấy đã có một sự chuyển đổi thực sự ấn tượng từ một công nhân trại khai thác gỗ thành một người bán hàng. Ô tô là sản phẩm của anh ấy – anh ấy đã được chỉ định trước để trở thành người quản lý của một công ty đại lý Kia Motors ở thành phố quê nhà của anh, Hamhung, tại Triều Tiên, sau khi thống nhất đất nước. Nhưng tôi cảm thấy khuynh hướng nói chuyện bán hàng của anh chứa đựng một sự thôi thúc rõ ràng muốn giải thích về sự khác biệt giữa Hàn Quốc và Triều Tiên. Tôi phải liên tục bảo anh ấy bỏ qua những bài giảng và chỉ kể cho tôi câu chuyện cá nhân của mình. Khuôn mặt tròn, với cặp kính gọng kim loại quen thuộc và chiếc đồng hồ trông như bằng vàng và bạch kim, Ahn đeo trên ve áo vest của mình – thay cho chiếc huy hiệu Kim Il-sung trước đây – một chiếc ghim có logo của Kia Motors. Anh ấy đã bán một chiếc ô tô cho một bạn đào thoát Yeo Man-cheol, chồng của Lee Ok-keum (chương 17).
Ahn đã kết hôn ở Hàn Quốc và được coi là người đã thích nghi tốt đến mức không còn là đối tượng bị chính quyền Hàn Quốc theo dõi toàn thời gian nữa. Tôi hỏi liệu Cơ quan Kế hoạch An ninh Quốc gia (tên gọi mới của KCIA nhằm mục đích làm sạch nó dưới một chính quyền được bầu bán dân chủ) có nỗ lực nào để kiểm duyệt những thông tin của anh ấy về Triều Tiên hay không. Anh ấy trả lời là không. “Giờ đây Hàn Quốc mạnh mẽ hơn và sẽ không sụp đổ nếu người dân biết nhiều về Bắc Triều Tiên.” Khi chúng tôi trò chuyện, tôi nhận ra rằng những gì tôi cho là lời chào hàng của Ahn có thể đại diện cho điều gì đó phức tạp hơn. “Tôi cố gắng quên đi Triều Tiên vì nếu nghĩ về nó, tôi không thể làm việc được,” anh ấy nói với tôi. “Khi lần đầu tiên phải phát biểu trong một cuộc họp báo, tôi không thể nói được. Tất cả hình ảnh về tuổi thơ, cha mẹ, bạn bè của tôi đều lẫn lộn. Nhưng bây giờ tôi cảm thấy thoải mái trong cuộc phỏng vấn này.” Hơi xấu hổ về cảm giác thiếu kiên nhẫn trước đây trước những tuyên bố mang tính thuyết giáo của anh ấy, tôi nhận ra rằng đối với Ahn, cuộc trò chuyện của chúng tôi đại diện cho một loại chất tẩy rửa nào đó.
Tôi được cho biết Shin Myung-chul là một thợ khai thác gỗ, nhưng khi gặp anh ấy vào tháng 8 năm 1996, hóa ra anh ấy lại là một cảnh sát. Shin, trông rất trẻ, đến với buổi phỏng vấn trong trang phục quần jeans và áo phông in hình vẽ một con cá mập cùng dòng chữ tiếng Anh “Hot Summer” (Mùa hè nóng bỏng). Dáng người mảnh khảnh, anh chải mái tóc ngắn về phía trước theo kiểu thịnh hành ở Seoul, và đeo kính gọng vàng, mốt thời đó. Shin đã gia nhập lực lượng không quân ngay khi vừa tốt nghiệp trung học, và phục vụ trong Tiểu đoàn Radar số 97, đóng quân tại Chongjin, lúc bấy giờ là một trong những thành phố cảng nhạy cảm về quân sự nhất. “Khi tôi lớn lên, chủ nghĩa xã hội dường như vượt trội hơn xã hội tư bản. Những người như tôi, những học sinh đã học tiếng Nga ở trường trung học, được ưu tiên. Từ mỗi trong chín tỉnh, mười người như tôi được chọn để kiểm tra và trong số 90 người được kiểm tra đó, 19 người cuối cùng được chọn vào sư đoàn radar của không quân. Thiết bị radar đến từ Nga. Bạn phải biết tiếng Nga để đọc được sách hướng dẫn.”
Khi kết thúc nghĩa vụ quân sự mười năm vào năm 1988, Shin đến làm việc tại một trạm kiểm soát của Cơ quan An ninh Quốc gia ở một huyện, trong văn phòng liên lạc. “Tôi được chọn,” anh ấy kể với tôi. “Họ xem xét gia thế, thời gian tham gia đảng và vân vân trước khi quyết định ai được vào Cơ quan An ninh Quốc gia và ai phải ra mỏ.” Khi tôi hỏi liệu anh ấy có phải là một tín đồ chân chính hay không, anh ấy nở một nụ cười nhếch mép kỳ lạ. “Tôi rất tận tâm với hệ tư tưởng,” anh ấy nói. “Tôi gia nhập đảng năm 20 tuổi.”
Shin kể cho tôi nghe về nhiệm vụ quân sự đã ảnh hưởng đến triển vọng công việc sau này như thế nào:
- Các vệ sĩ có nhiệm vụ tốt nhất và có thể về nhà sau khi hoàn thành nghĩa vụ.
- Không quân là lực lượng danh giá nhất trong các binh chủng chính. Kỹ năng vận hành radar là một kỹ năng then chốt. Từ đó, người ta có thể chuyển sang Cục An ninh Quốc gia hoặc quay về nhà. Dù sao thì, “những người làm radar như tôi không đủ sức làm việc trong hầm mỏ than”, Shin nói.
- Những người khác, những người có thư giới thiệu từ các trường đại học hoặc được vinh danh là người xuất sắc trong các đơn vị của họ, có thể về nhà.
- Những người còn lại được tái bố trí hàng loạt.
Shin bỏ việc ở cơ quan an ninh quốc gia để sang Nga vì muốn kiếm nhiều tiền hơn. “Thông thường ở Triều Tiên, bạn phải tiết kiệm đến 30 năm mới mua được tivi,” anh giải thích. Ở Nga, anh làm việc cho đảng với vai trò cảnh sát, hạn chế khả năng bắt sóng phát thanh của những người khai thác gỗ và kết nối họ với các kênh tuyên truyền từ trong nước. “Tất nhiên, lúc đó tôi vẫn trung thành. Những thợ khai thác gỗ có đài sóng ngắn. Tôi đã mở chúng ra và điều chỉnh bộ điều khiển chọn băng tần, kết nối với nhôm. Những thứ đó không tồn tại mãi mãi, nên đôi khi những thợ khai thác gỗ có thể nghe được các chương trình phát thanh bị cấm bằng tiếng Hàn từ KBS, Đài phát thanh Moscow, Trung Quốc, Mỹ. Vì vậy, tôi phải làm việc đó liên tục. Tôi giống như một cảnh sát, hạn chế cuộc sống của những thợ khai thác gỗ, nhưng không đến mức quá nghiêm trọng. Và tôi không tạo ra các chương trình phát thanh tuyên truyền. Tôi chỉ kết nối các chiếc đài của thợ khai thác gỗ bằng cáp với các chương trình mà tôi thu được qua đài phát thanh. Tôi đã làm việc ở đó khoảng hai năm rưỡi.
Giống như những người khác đã đến đó, “Tôi bắt đầu nhận ra rằng giữa Nga và Triều Tiên có những khác biệt rất lớn. Tôi bắt đầu đối mặt với một tình thế khó xử. Điều thực sự làm thay đổi tôi là việc tôi có một phòng thu phát thanh mà không ai được phép vào. Ở đó, tôi nghe các chương trình phát thanh tiếng Hàn mỗi ngày, thường là của đài KBS và các chương trình phát sóng từ Moscow. Có sự khác biệt rất lớn giữa cách họ tường thuật sự kiện với phiên bản của Triều Tiên.
“Khi tôi rời Triều Tiên, tôi có vợ và một con gái một tuổi. Trong thời gian ở Nga, thỉnh thoảng tôi đến Khabarovsk để mua đồ mang về Triều Tiên. Chuyến đi khứ hồi kéo dài bảy ngày. Một ngày nọ, khi đang đợi ở công viên để trở về trại, tôi tình cờ gặp một nhà truyền giáo người Hàn Quốc và chúng tôi bắt chuyện. Không có gì nghiêm trọng, nhưng chúng tôi đã lên kế hoạch gặp lại. Lần sau khi tôi ở Khabarovsk, nhà truyền giáo đó đã trở về Hàn Quốc và một nhà truyền giáo khác, Yu Jae-hee, đến và chúng tôi đã nói chuyện. Tôi luôn lo lắng rằng Cơ quan An ninh Nhà nước sẽ phát hiện ra.
“Một người bạn học rất thân của tôi cũng làm công nhân đốn gỗ ở trại. Tôi cho cậu ấy nghe tất cả các chương trình phát thanh từ nước ngoài, và tôi lo lắng họ sẽ phát hiện ra về chuyện đó. Vào ngày 20 tháng 8 năm 1994, cậu ấy bị quản lý trại khai thác gỗ bắt giữ. Ngay khi nghe tin đó, tôi biết mình phải trốn thoát. Tôi không có ý định đến Hàn Quốc. Tôi đến Khabarovsk và phải làm việc để kiếm sống. Sau hai tháng, tôi đến lãnh sự quán Hàn Quốc ở Vladivostok để xin tị nạn. Việc xin được chấp nhận không dễ dàng. Trong khi chờ đợi, tôi làm việc như một thương nhân. Điều đó khiến tôi bị một số cư dân Triều Tiên sống ở Trung Quốc biết đến, và họ đã báo cáo tôi cho Cơ quan An ninh Nhà nước Triều Tiên vì có phần thưởng 8.000 đô la cho việc bắt giữ tôi.
“Ngày 30 tháng 8 năm 1995, các sĩ quan An ninh Nhà nước phối hợp với cảnh sát vũ trang Nga đã truy bắt tôi. Tôi bị dồn vào đường cùng trên nóc một tòa nhà ba tầng. Tôi ngã xuống đất với cả hai chân bị gãy và được đưa đến bệnh viện cảnh sát Nga để bó bột. Các sĩ quan An ninh Nhà nước nghĩ rằng tôi không thể trốn thoát với hai cái chân bó bột, nhưng tôi đã trốn thoát đêm đó. Tôi sống ẩn dật một thời gian rồi nộp đơn xin tị nạn lên Hội Chữ thập đỏ quốc tế ở Moscow. Hội Chữ thập đỏ và Lãnh sự quán Hàn Quốc đã giúp tôi.”
Vào thời điểm tôi nói chuyện với anh ấy, Shin chưa có việc làm. Nhưng anh ấy nói rằng với kinh nghiệm về phát thanh và truyền hình cáp của mình anh hy vọng sẽ xin vào lĩnh vực viễn thông.
Với tôi, dựa trên những cuộc phỏng vấn đó, phán quyết về các trại khai thác gỗ và khoáng sản của Nga là rõ ràng: từ góc độ nhân quyền, các trại này tạo ra cơ hội nhiều hơn là gây ra vấn đề. Ngay cả phần lớn công nhân và quan chức không đào tẩu cũng sẽ trở về Triều Tiên với một số thay đổi trong quan điểm chính trị như kết quả từ những trải nghiệm giải phóng của họ ở Nga. Kiến thức của họ về thế giới thực, ở một mức độ nào đó, đã thấm nhuần vào nhận thức chung. Trong khi một số nhà bình luận và nhà hoạt động nhân quyền nước ngoài vận động chống lại các trại khai thác gỗ và kêu gọi lãnh đạo Nga đóng cửa chúng, tôi chỉ ước giá như có nhiều trại như vậy hơn nữa.
Thay vào đó, số lượng công nhân Triều Tiên ở Siberia đạt đỉnh điểm khoảng 15.000 người, sau đó khoảng 90% được đưa về nước khi Nga trải qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998. Vào tháng 4 năm 2002, trong giai đoạn Bình Nhưỡng tập trung vào việc vực dậy nền kinh tế, hãng hàng không quốc gia của nước này đã thiết lập dịch vụ bay hai chuyến một tuần giữa Bình Nhưỡng và Khabarovsk. Thủ tướng Bắc Triều Tiên Jo Chang-dok, trong chuyến đi thúc đẩy giao lưu kinh tế tháng đó, đã đề nghị phía Nga tiếp nhận ít nhất 10.000 lao động. Yêu cầu này đã bị khước từ.