Bắc Triều Tiên và Triều Đại Kim (Bài 15)

BRADLEY K. MARTIN

Trần Quang Nghĩa dịch

MƯỜI LĂM : 

Từ thế hệ này sang thế hệ khác

Tháng 2 năm 1974, những người theo dõi Bình Nhưỡng ở nước ngoài đọc trên tờ Nodong Shinmun, tờ báo của đảng Triều Tiên, một bài xã luận có tựa đề  “Toàn Đảng, toàn đất nước và toàn dân hưởng ứng lời kêu gọi của Lãnh tụ Vĩ đại và lời kêu gọi của Trung tâm xây dựng các chương trình vĩ đại của chủ nghĩa xã hội của Đảng”. Cuối cùng hóa ra bài xã luận trùng hợp với việc tán thành không báo trước của Ủy ban Trung ương về việc lựa chọn Kim Jong-il làm người kế vị cha mình, người là tổng bí thư. Trước đó không lâu, vào tháng 9 năm 1973, Ủy ban Trung ương đã bầu Kim con làm thành viên trong bộ chính trị ưu tú của đảng và bổ nhiệm ông làm bí thư phụ trách tổ chức và hướng dẫn – chức vụ rất quyền lực mà chú ông, Kim Yong-ju, đã nắm giữ.

Kể từ đó, Kim Jong-il “không chỉ đơn thuần là số hai trong hệ thống phân cấp quyền lực”, kẻ đào thoát cấp cao Hwang Jang-yop nhớ lại sau đó. “Đây là điều khiến ông ta khác biệt với chú mình là Kim Yong-ju.” Quyền lực của anh chàng Kim lớn hơn nhiều so với những gì chú ông từng nắm giữ. Hwang cho biết, từ năm 1974, “ngay cả báo cáo tầm thường nhất cũng không thể đến được Kim Il-sung nếu không thông qua Kim Jong-il trước, và không chỉ thị nào của Kim Il-sung có thể đến được với cấp dưới của ông ta mà không thông qua Kim Jong-il trước.”  Không biết tất cả những điều đó, các nhà phân tích nước ngoài đã cân nhắc câu hỏi ai hoặc cái gì có thể là “Trung tâm Đảng” bí ẩn, được nêu ra một cách nổi bật trong bài xã luận. Manh mối bắt đầu xuất hiện. Vào tháng 2 năm 1975, truyền hình Bình Nhưỡng chiếu cảnh Kim Jong-il bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử địa phương ngay sau Kim Il-sung và Kim Il, nhân vật xếp tiếp theo trong số các thành viên tích cực của thế hệ du kích, người vốn không có quan hệ huyết thống với hai người tên Kim còn lại. Trật tự bầu cử trong nhiều thập kỷ đã là một dấu hiệu rõ ràng về thứ hạng ở bất kỳ quốc gia cộng sản nào. Năm 1975, chân dung của Kim Jong-il bắt đầu xuất hiện cùng với chân dung của cha ông ở những nơi công cộng nhưng mật danh “Trung tâm Đảng” vẫn được sử dụng và tên của ông hiếm khi được nhắc đến ở nơi công cộng. Vào tháng 3 năm 1976, thuật ngữ được nâng lên thành “Trung tâm Đảng Vẻ vang”. Một thông báo chính thức cùng năm cuối cùng đã làm rõ vị trí của Kim con trong ban bí thư đảng.

Mặc dù đã nhận được sự đồng ý chính thức nhưng Kim Jong-il với sự giúp đỡ của cha mình vẫn đang ở giữa một quá trình được coi là rất lâu dài. Một mặt, cha con Kim phải giành được sự ủng hộ cho kế hoạch kế vị trong số các quan chức chủ chốt bị nghi ngờ có thái độ hoài nghi. Mặt khác, họ phải loại bỏ tận gốc bất kỳ quan chức lãnh đạo đặc biệt táo bạo nào dám phản đối kế hoạch này một cách công khai – cùng với các quan chức xảo quyệt, những người có thể đang chờ đợi thời cơ của mình, che đậy sự phản đối của họ trong khi chờ đợi cái chết của ông Kim như một tín hiệu để chống lại con trai ông ta.

Kim Jong-il đã huy động những người tương đối trẻ về phe mình. Hoàn toàn phụ trách công tác tuyên truyền cho đảng bắt đầu từ năm 1973, ông chỉ huy đội Tam Cách mạng mới thành lập – câu trả lời của Triều Tiên trước Hồng vệ binh Trung Quốc. Ông và những người trung thành với ông đã gạt bỏ những nhân vật lớn tuổi hơn, nhiều người trong số họ đã bị thanh trừng vì bị cáo buộc là kém năng lực hoặc không đủ kiên định “cách mạng”. Nhưng tuổi tác không phải là rào cản khi ông ta tìm kiếm đồng minh cho mưu đồ của mình, và ông ta cũng hợp tác với những thành viên được chọn của đội cận vệ cũ. Các đối thủ, trong đó có chú ông, các em trai kế, và mẹ kế đã phải ra đi.

Để thể hiện phù hợp với vai trò lãnh đạo cao nhất, chuyên gia văn hóa và tuyên truyền phải thể hiện mình là người có trình độ sâu rộng hơn. Điều đó đòi hỏi phải lao vào nền kinh tế lớn hơn. Năm 1972, khi chưa chính thức được bổ nhiệm làm người kế vị, ông được báo cáo là đã nói với các quan chức và kỹ sư hàng đầu rằng ông đã quyết tâm đảm nhận “nhiệm vụ tự động hóa”. Có lẽ bố anh đã chấp thuận trước; trong bất kỳ trường hợp nào, lý do được đưa ra cho điều mà người ngoài có thể coi là sự tiếm quyền là do một “cuộc cách mạng kỹ thuật” bắt đầu vào năm 1970 đã không đạt được đủ tiến bộ.

Mục tiêu chính thức của cuộc cách mạng kỹ thuật là “cuối cùng giải phóng tất cả người lao động khỏi phải lao động nặng nhọc”. Nhưng như chúng ta đã thấy ở chương 9, phong trào dường như là một phản ứng đối với thực tế là chính sách quân sự hóa, mở rộng quân đội, đã tạo ra tình trạng thiếu lao động. Tự động hóa là cách để kéo dài nguồn cung lao động sẵn có. Tuy nhiên, sự thay đổi đã được chứng minh là khó nắm bắt vì các nhà quản lý chủ yếu quan tâm đến việc đáp ứng hạn ngạch sản xuất của họ. Vì vậy, họ có rất ít thời gian để nghĩ về tự động hóa, các nhà sử học chính thức của chế độ cho biết. Ngoài ra, “một số người còn là nạn nhân của một loại chủ nghĩa thần bí.” Họ tin rằng “việc đưa ngành công nghiệp vào con đường hoàn toàn tự động chỉ khả thi ở các quốc gia đã phát triển.”

Tại Nhà máy sắt Hwanghae do Nhật Bản xây dựng giờ đã lỗi thời, Kim Jong-il đã chứng minh những gì đã trở thành yếu tố đặc trưng trong phong cách quản lý của ông.  Nếu ông ấy quyết định thực hiện một dự án, triết lý của ông ấy là: Chạy hết tốc lực và chi phí phải trả là rất lớn.  Các quan chức và kỹ thuật viên sản xuất thép lập luận rằng việc tự động hóa nhà máy thiêu kết cũ kỹ và hao mòn của Hwanghae sẽ không hiệu quả về mặt chi phí.  Đó là điều vô nghĩa trong quan điểm của chàng trai trẻ Kim.  “Không nên tiếc tiền,” ông ra lệnh.  “Tính toán không nên đặt lên hàng đầu trong việc tiêu tiền cho giai cấp công nhân.”  Trong những gì có vẻ như một tiếng vang lời khăng khăng khi còn là sinh viên đại học cho rằng tính toán nên bị loại khỏi chương trình giảng dạy kinh tế, ông nói thêm: “Việc tính toán có thể được thực hiện sau.” Dự án trình diễn của ông về tự động hóa các công trình sắt cũ đã được hoàn thành trong thời gian ngắn.

Trong suy nghĩ của Kim Jong-il, cuộc cách mạng kỹ thuật là sự mở rộng của công tác tư tưởng và văn hóa mà ông đã học xong nghề. Đối với ông, các vấn đề về chính sách đều tập trung vào động lực. Với những phần thưởng vật chất bị phản đối về mặt ý thức hệ, động lực tích cực có nghĩa là tuyên truyền, vận động quần chúng. Công việc điện ảnh và opera của ông đã kết hợp trực tiếp với nhiệm vụ mới của mình. Người dân Triều Tiên được khuyến khích noi gương các vai nam nữ chính trong các bộ phim và vở opera cách mạng của ông. Họ tổ chức Đội cận vệ “Biển máu” và Đội cận vệ “Cô gái bán hoa” để thúc đẩy đổi mới. “Ngày qua ngày, những nhân vật dẫn đầu trong các tác phẩm nghệ thuật đã trở thành hiện thực trong từng nhà máy, từng phân xưởng.” Một trò ảo thuật mà ông khuyến khích các nghệ sĩ xiếc Bình Nhưỡng phát triển và khoe với cha mình nêu bật chiến dịch giảm công việc lao động bếp núc của phụ nữ. Để tăng cường sự ủng hộ cho việc hiện đại hóa Nhà máy sắt Hwanghae, ông đã cử “đội cổ vũ kinh tế hùng mạnh” gồm các chuyên gia của Ủy ban Phát thanh Truyền hình Trung ương đến phát sóng tới các nhà máy và các ngành liên quan trên toàn quốc, kêu gọi họ hỗ trợ dự án tự động hóa.

Năm 1973, do sản lượng máy kéo và các máy nông nghiệp khác không đáp ứng được nhu cầu, Kim Jong-il và bộ phận tuyên truyền và vận động của ông đã phát động một chiến dịch nâng cao năng suất tại Xưởng Máy kéo Kumsong và Hãng Générale Motor Sungri. “Các nhà hoạt động đảng cùng hàng trăm nghệ sĩ, phóng viên và biên tập viên đã đổ xô đến địa điểm sản xuất, với mọi phương tiện quảng cáo được triển khai, bao gồm báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình và phim truyện.” Các nghệ sĩ đã hát và nhảy múa trên địa điểm, các bài hát của họ “vang vang ở âm vực cao” khi các bài giảng, bản tin và báo tường kêu gọi “ý thức chính trị và sáng kiến ​​​​sáng tạo của giai cấp công nhân.” Nhờ những “cải tiến mới” được truyền cảm hứng, cả hai nhà máy đều được cho là đã làm nên điều kỳ diệu.

 

Bất chấp những thành công như vậy, các nhà lãnh đạo đất nước vẫn gặp rắc rối bởi sự phản kháng tại nơi làm việc đối với các chiến dịch. Năm 1973, năm diễn ra các chiến dịch ở hai nhà máy máy kéo, Kim Il-sung đã phát động phong trào xóa bỏ “xiềng xích của tư duy lạc hậu” và phát huy sức mạnh thực hiện cuộc cách mạng tư tưởng, kỹ thuật và văn hóa – “Tam Cách mạng”. Được tổ chức thành các đội từ hai mươi đến năm mươi thành viên là hàng chục nghìn nhà tư tưởng nhiệt thành – đảng viên trẻ, kỹ trị viên, trí thức và sinh viên đại học được giáo dục hoàn toàn dưới chế độ cộng sản. Sau khóa huấn luyện đặc biệt, họ được đưa vào các nhà máy, trang trại, văn phòng, thậm chí cả trường học. Ông Kim sớm giao cho con trai mình chỉ huy nỗ lực này, thúc đẩy các nhà phân tích nước ngoài cho rằng một mục đích của các đội là loại trừ tận gốc phe phản đối việc Kim Jong-il lên kế vị và đưa những người trẻ tuổi trung thành với ông vào các vị trí quyền lực.

Một người Bắc Triều Tiên tên là Kim Ji-il, còn là học sinh tiểu học khi phong trào được phát động, nhớ lại sau khi đào thoát sang miền Nam rằng các đội “thậm chí còn đến trường của chúng tôi và kiểm tra bọn trẻ, lối sống của chúng, v.v. Quá trình này mất khoảng mười ngày. Họ sẽ tổ chức một cuộc họp mỗi ngày, làm việc với từng đứa trẻ một và bắt chúng thú nhận công khai về một số hành vi sai trái hoặc những đứa trẻ khác sẽ hùa vào không khí phê bình và nhắc nhở người đang bị hạch hỏi: ‘Bạn cũng đã làm như vậy và như vậy!’ Tôi là lớp trưởng nên tôi cảm thấy có rất nhiều mâu thuẫn về vấn đề này. Nhưng Triều Tiên là một xã hội phê phán lẫn nhau.”

Những lời thú nhận của Kim Ji-il gợi lại những điều như ‘Tôi vắng mặt, hoặc ‘Tôi đến trường học muộn.’ ‘Tôi đã không tham gia tốt vào buổi phê bình.’ Hoặc, ‘Tôi đã đánh nhau với một đứa trẻ khác.’ Đó không phải là chi tiết họ quan tâm. Họ muốn đe dọa bạn và khiến bạn căng thẳng. Thứ Hai hàng tuần, chúng tôi phải thức dậy và đưa ra lời cam kết với Kim Jong-il: ‘Tôi sẽ trung thành với người lãnh đạo, blah blah blah.’ Một phần của lời cam kết là ‘Trong trường hợp chiến tranh, tôi sẽ hy sinh bản thân mình như một chiến sĩ xung kích trên tuyến đầu.’ Tôi phải là người đầu tiên đọc nó, và họ luôn chỉ trích cách phát âm cụm từ “chiến sĩ xung kích trên tuyến đầu” của, keunuidaekyeolsade.”

Tại nơi làm việc, nhiệm vụ chính thức của các đội là khơi dậy lòng nhiệt thành sản xuất dư thừa, chống lại xu hướng bảo thủ và quan liêu, đồng thời “dạy khoa học và công nghệ hiện đại cho những cán bộ không học tập nhiều và bận rộn với công việc hàng ngày”. Mục tiêu cụ thể là các quan chức lớn tuổi đã mất nhiệt huyết và sa lầy vào thói quen quan liêu và lười biếng. Ngay cả Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động cũng không được miễn trừ nhiệm vụ phải chủ trì đội Tam Cách mạng.

Sống lâu hơn Hồng vệ binh Trung Quốc, các đội Tam Cách mạng đã tồn tại hơn hai thập kỷ. Cựu thành viên Kim Kwang-wook, người kết thúc nhiệm kỳ vào tổ chức này vào năm 1993, nói với tôi rằng các sinh viên đại học rất háo hức được tham gia các đội Tam Cách mạng vì nó nhanh chóng đưa họ vào con đường hoạn lộ dẫn đến chức vụ chính thức cao. Khoảng 70% sinh viên tốt nghiệp đại học đã đến làm việc tại các văn phòng của Tam Cách mạng, Kim cho biết. Anh đã đào thoát ngay sau khi rời đội- trước khi có thể sử dụng quá trình học tập kỹ sư dân dụng cho công việc, bận xây dựng đường hầm ngầm cho quân đội.

Kim Kwang-wook nói với tôi rằng bất chấp chức năng xây dựng tinh thần được ca tụng của các đội, trên thực tế, các thành viên đều làm việc như những kẻ rình mò và gián điệp. Vì vậy, trong nhiệm vụ đầu tiên của mình ở Bình Nhưỡng, “Tôi đã phải viết ra tất cả những gì mà bất kỳ ai trong số ba trăm công dân mà tôi theo dõi có thể nói – bất cứ điều gì chống lại chế độ.”

Bọn trẻ theo dõi những công dân bình thường, nhưng nhiệm vụ đặc biệt của chúng tôi là theo dõi các quản lý nhà máy và các viên chức chính phủ. Chúng tôi được đưa đến các nhà máy và được đối xử như các vị thần hay các vị vua, vì họ sợ chúng tôi sẽ bới móc họ. Tôi làm việc ở hầm mỏ được sáu tháng, sau đó chuyển đến một nhà máy sản xuất thiết bị khai quật. Tôi phụ trách các bộ phận vận tải, nhiên liệu và thiết bị, nếu ai sử dụng quá mức thì tôi sẽ báo cáo. Nếu có người nào phản đối một mệnh lệnh mà Kim Jong-il đã đưa xuống – chỉ cần mở miệng nói, “Tại sao chúng ta phải làm điều đó?” – chúng tôi sẽ báo cáo. Khi tôi ở trong hầm mỏ, một quan chức đã gặp phải rắc rối như vậy. Y bị sa thải và bị đưa đi làm lao động phổ thông ở một sân bay. Đó là báo cáo của người khác. Vào thời điểm đó có rất nhiều vụ bê bối tham nhũng. Chúng tôi nghe nói Kim Jong-il từng phát biểu: “Tôi sẽ chọn những người trung thành hơn và các quan chức hiệu quả hơn trong ngành mỏ.” Một quan chức, trong một phòng ban đáng ao ước, đã phàn nàn với các đồng nghiệp của mình về mệnh lệnh của Kim Jong-il, và các đồng nghiệp của y đã báo cáo y.

Vào thời điểm Kim Kwang-wook tham gia, các đội đã đạt được sự đồng thuận với những người mà họ theo dõi. Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy trong trường hợp phi công-đặc vụ Kim Woong-pyong trong chương 14, họ không thể ngừng đưa tin hoàn toàn nên họ đã đưa tin một cách có chọn lọc. “Hầu hết chúng tôi bỏ qua những gì chúng tôi nghe được. Chúng tôi nhận hối lộ những chiếc TV. Bản thân tôi cũng nhận được vải để may vest. Sau một thời gian, chúng tôi đã biết rất rõ về những quan chức đó. Nhưng làm sao có thể không có gì giữa ba trăm người? Nếu chúng tôi gọi cốc là đĩa, thì đó là đĩa. Nếu quan chức qua mặt các thành viên trong đội Tam Cách mạng, các thành viên trong đội có thể sẽ bịa ra những câu chuyện về họ.”

Các nạn nhân lớn tuổi hơn bị giám sát “không  biểu lộ sự thù địch nhưng tôi biết họ không thích chúng tôi”, Kim Kwang-wook cho biết. “Trong văn hóa phương Đông, bạn phải nói chuyện theo một cung cách nhất định với người lớn tuổi. Tôi không nói như vậy – chúng tôi dùng cách nói đơn giản, không thưa gửi. Các quan chức thực sự ghét các đội Tam Cách mạng.” Tuy nhiên, điều đó không khiến bọn trẻ bận tâm nhiều. “Nếu bạn là thành viên của đội, bạn sẽ tự động được nhận vào đảng, vì vậy chúng tôi không cảm thấy ân hận gì cả. Đó là thái độ của tôi và cũng là cách những người khác cảm thấy.”.

 

Nhìn bề ngoài, các đội Tam Cách mạng tương tự như Hồng vệ binh Mao-it cực đoan đang hoành hành khắp Trung Quốc. Tuy nhiên, trên thực tế, Kim Il-sung từ lâu đã phản đối “sự lệch lạc cánh tả” của nền dân chủ bình đẳng, từ dưới lên. Chế độ của ông đã thể hiện rõ sự phản đối của mình đối với “cuộc nổi dậy hỗn loạn” của Cách mạng Văn hóa Trung Quốc. Không hề hô hào lôi kéo quần chúng, các đội Tam Cách mạng đều tập trung vào việc kiểm soát. Kim và con trai ông đặt các đội dưới sự kiểm soát tập trung chặt chẽ và lần lượt sử dụng chúng để kiểm soát những phần tử gây rối tiềm tàng trong bộ máy quan liêu và kinh tế.

Vào tháng 3 năm 1975, năm thứ ba của các đội Tam Cách mạng, Kim Nhật Thành tuyên bố rằng nhờ có các đội, đất nước đã vượt qua mốc 1.000 USD thu nhập bình quân đầu người và gia nhập các nước tiên tiến.  Ngay cả khi những tuyên bố như vậy là đúng đắn thì không phải ai cũng hài lòng.  Chứng kiến ​​sự xông lên của chàng trai trẻ Kim và những đồng đội trẻ tuổi của anh cũng như không tán thành hành vi hung hãn của những người trẻ tuổi trong đội Tam Cách mạng, một số nhà cách mạng già tự hỏi điều đó sẽ kéo dài bao lâu trước khi chính họ được xếp só vào lịch sử. Kim Il-sung đã tìm cách xoa dịu họ vào năm 1975. “Mục tiêu của các đội Tam Cách mạng không phải là bản thân các cán bộ lớn tuổi mà là tư tưởng lỗi thời của họ,” ông nói. “Các quan chức cao tuổi không nên chỉ đơn giản bị cách chức mà phải được chấn chỉnh thông qua phong trào.”

Như chúng ta đã thấy, và như chúng ta sẽ thấy nữa, phiên bản chính trị thế hệ của Kim Jong-il đã bao gồm những cuộc tấn công gay gắt có chọn lọc vào những kẻ thù trong thế hệ cũ. Ông ta sẽ không phải là con trai của cha mình nếu cuộc thanh trừng không nằm trong kho vũ khí của ông ta. Nhưng ông ta cũng làm việc chăm chỉ để giành được sự chấp nhận của các thành viên lãnh đạo thế hệ đầu tiên, tâng bốc và liên minh với những người ủng hộ ông hoặc những người thể hiện đủ sự mềm dẻo mà ông tin rằng mình có thể đối phó được với họ.

 

Không thiếu những kẻ nịnh bợ. Khi Kim Jong-il tốt nghiệp đại học và gia nhập Đảng Lao động vào năm 1964, một cựu quan chức cấp cao nói với tôi, vị thái tử này đã tính đến “đội nữ tình nguyện dinh thự” của riêng mình. Người tổ chức nó là Yi Yong-mu, một vị tướng phụ trách của Phòng Chính trị của Quân đội Nhân dân Triều Tiên, và Jun Mun-sop, chỉ huy vệ sĩ. Những người xu nịnh khác cũng giới thiệu ông ta với những phụ nữ trẻ hoặc mang cho ông ta những món quà khác. Cựu quan chức này cho biết: “Kim Il-sung và Kim Jong-il đều thích tặng và nhận quà”. “Kim Il-sung thích thực phẩm tốt cho sức khỏe. Kim Jong-il yêu cầu tặng quà bằng vàng thỏi và ngoại tệ có giá trị ở nước ngoài.” Một cựu quan chức khác, Kang Myong-do, nói với tôi rằng vào những năm 1970, Li Dong-ho, một nhân vật rất quyền lực trong hoạt động gián điệp ở Hàn Quốc, tổ chức tiệc mừng Kim Jong-il và tặng quà cho ông. Chuyên gia đối ngoại Ho Dam cũng đến tặng quà để tâng bốc Kim con. Kang nói với tôi rằng Kim Jong-il dường như rất thích thú khi được chú ý. Việc tặng quà, theo truyền thống ở Đông Á, mang tính tương hỗ. Kim Jong-il có thói quen tặng quà một cách xa hoa, cho dù người nhận đã thân cận ông hay là người ông chưa dời đến bên cạnh mình.

Tiểu sử chính thức kể lại những sự việc như việc ông tặng một nhà quay phim truyền hình một căn hộ vào năm 1964 – năm chàng sinh viên Kim tốt nghiệp đại học, khi công việc của anh liên quan đến Đài Phát thanh Trung ương và Ủy ban Truyền hình. Nhà quay phim, một đứa trẻ mồ côi trong Chiến tranh Triều Tiên, vừa mới cưới vợ. Mục đích của câu chuyện là cho thấy chàng trai trẻ Kim tiếp bước cha mình trong việc thể hiện “tình cảm nồng nhiệt” với những đứa trẻ mồ côi “như thể anh là cha ruột của chúng”. Kim gọi nhà quay phim và chở anh ta vào trung tâm thành phố.

Lúc này chiếc xe dừng lại trước một khu chung cư cao tầng. Dẫn người này lên cầu thang bằng đá granit bóng loáng, Kim Jong-il dừng lại trước Phòng 10 ở tầng một và lấy ra một mảnh giấy nhỏ từ chiếc cặp của mình. “Bây giờ, cậu cầm lấy, đó là chứng nhận hộ khẩu. Tôi không thể cho phép mình tặng cho cậu một căn nhà cũ vì cậu là một gia đình trẻ… Vào xem cậu có thích không.” Với những lời này, Kim Jong-il mở cửa.

“Nội quy của Đảng cấm tặng quà giữa các thành viên,” một cựu quan chức ưu tú nói với tôi. “Nhưng Kim Jong-il đã tặng quà để cố gắng mua chuộc mọi người khỏi thành lập phe phái chống lại ông ấy.” Khi ông tặng một chiếc ô tô nhập khẩu, như thường lệ, món quà được đánh dấu bằng một biển số xe đặc biệt “216” tượng trưng cho ngày sinh nhật của Kim con, ngày 16 tháng 2. “Có lần Kim Jong-il tặng tôi một chiếc Audi với một trong những biển số ‘216’,” cũng cựu quan chức đó nói với tôi.

Ngoài ô tô, quà tặng của Kim Jong-il còn bao gồm tivi, radio và đồng hồ – tất nhiên tất cả đều do nước ngoài sản xuất. Quy mô tổng thể của việc tặng quà của ông nhanh chóng tăng lên rất lớn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế. Nhiều nguồn tin khác nhau xác nhận rằng một đơn vị đặc biệt trong đảng, được mệnh danh là Phòng 39, được giao nhiệm vụ mang ngoại hối để thanh toán cho các giao dịch mua sắm của Kim. Để thực hiện được điều đó, Phòng 39 đã độc quyền xuất khẩu vài sản phẩm quý hiếm được săn lùng.

Theo người đào thoát Kang Myong-do, Phòng 39 được thành lập năm 1974 và có  độc quyền xuất khẩu vàng, bạc, thép, cá, và nấm. “Chỉ qua Phòng 39 những sản phẩm này mới được phép xuất khẩu”, Kang cho biết. Trước đây mỗi đơn vị xử lý việc xuất nhập khẩu của riêng mình, nhưng lệnh của Kim Jong-il khép vào tội phản quốc  bất cứ ai kinh doanh các sản phẩm đó thông qua bất kỳ con đường nào khác. Vì hoạt động của Phòng 39, chính phủ không có dự trữ ngân hàng và gần như phá sản. Vì vậy, từ giữa những năm 1980, hầu hết hoạt động ngoại thương đều phải được thực hiện bằng tín dụng. Bất cứ ai có thể vay 1 triệu USD từ nước ngoài đều được coi là anh hùng của Triều Tiên.”

 

Việc tặng quà không mua chuộc tất cả những ai hoài nghi đặt câu hỏi về sự trỗi dậy của Kim Jong-il. Theo lời của Kang Myong-do, cần có những cách tiếp cận khác nhau để đối phó với một số nhà cách mạng thế hệ đầu tiên, những người “đối xử với Kim Jong-il như một đứa trẻ chưa cai sữa”. Những người này bao gồm các quan chức dân sự hàng đầu Kim Dong-kyu, Kim Il và Pak Song-chol cũng như một tướng cấp cao, O Jin-u, người từng là du kích bảo vệ Kim Il-sung ở Mãn Châu.

Theo lời kể của Kang, Kim Jong-il đã phản bội một người bạn thân để lôi được O về phe mình. Người bạn thân đó là Yi Yong-mu, vị tướng đầy tham vọng và thành viên Bộ Chính trị phụ trách phòng chính trị của Quân đội Nhân dân Triều Tiên (và, theo một số lời kể, là chồng của một người em họ của Kim Il-sung), người đã tìm được đường vào vòng trong của Kim Jong-il bắt đầu từ những ngày học đại học của Kim . Kang nói: “Yi rất phục tùng Kim Jong-il và Kim Jong-il rất thích điều đó”. “Ông ấy đã tặng rất nhiều quà cho Kim Jong-il và xây cho ông ấy một biệt thự ở núi Changwan. Từ dàn nhạc  Quân đội Nhân dân Triều Tiên, ông ấy đã giao những phụ nữ từ 19 đến 20 tuổi cho Kim Jong-il với tư cách là thành viên của Quân đoàn Hạnh phúc – cả hai đều thích phụ nữ.” Yi thực sự thân thiện với Kim Jong-il. Họ đã đi khắp đất nước trên chiếc Lincoln và chiếc Mercedes-Benz. Yi đã sử dụng ngôn ngữ quen thuộc khi xưng hô với Kim Jong-il. Kim Jong-il tin tưởng Yi 100%. Yi rất tự tin và O Jin-u không thích thái độ của ông ấy.”

Sau đó, Kang nói, “một số vấn đề về nhân sự đã nảy sinh ở tỉnh Kangwon. Công việc của người chỉ huy Bộ binh số 1 còn trống, Yi và O ưu ái những người khác nhau. O là cựu chiến binh của Sư đoàn bộ binh số 1 và ông ấy muốn có một thế hệ cách mạng đầu tiên tiếp quản công việc. Yi muốn có một bạn thân của mình.” Trên giấy tờ, Yi phụ trách các vấn đề quân sự, được chính Kim Il-sung giao nhiệm vụ. Tuy nhiên, theo Kang, Kim Jong-il nhận ra rằng nếu ông ta ủng hộ bạn mình Yi thì ông sẽ “bị coi về phe chống lại thế hệ những nhà cách mạng đầu tiên. Kim Jong-il, thông minh, đã hy sinh Yi, giao ông một chức vụ phụ trong một khu khai thác gỗ ở vùng núi xa xôi của tỉnh Chagang.” Đi xa hơn, Kim Jong-il đề nghị với Kim Il-sung rằng nên giao O Jin-u công việc trước đây của Yi là người đứng đầu bộ phận chính trị tổng thể của Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Kang nói: “Kim Jong-il cho rằng O Jin-u không quá thông minh, nhưng Kim muốn ai đó thuộc thế hệ đầu tiên đứng về phe mình”.

 

Sự hậu thuẫn của O rõ ràng tỏ ra hữu ích cho Kim Jong-il trong cuộc cạnh tranh với chú của ông. Hwang Jang-yop được trích dẫn khi báo cáo rằng Kim Jong-il và O Jin-u “là những nhân tố chính đằng sau việc khiến Hur Bong-hak, Kim Kwang-yop và các quân nhân khác mất quyền lực từ năm 1969 đến năm 1970 vì mục đích hạ bệ Kim Yong-ju về mặt chính trị.”

Kim Yong-ju được bầu vào Bộ Chính trị năm 1970, đứng thứ sáu trong chế độ. Kim Il-sung đã giao cho ông sứ mệnh đàm phán cấp cao với giám đốc tình báo Hàn Quốc Lee Hu-rak trong các cuộc đàm phán Bắc-Nam năm 1972-1973. Nhưng trong chính trường hoàng cung ở quê nhà, Yong-ju đã gặp phải đối thủ là đứa cháu trai xảo quyệt của mình, và sự thăng tiến của người chú tỏ ra chóng tàn. Ông đã mất chức vụ lãnh đạo tổ chức và lãnh đạo đảng vào tay Kim Jong-il vào tháng 9 năm 1973. Như một phần thưởng an ủi, Kim Il-sung đã trao cho ông chức vụ phó thủ tướng – một chức vụ không đáng kể trong hệ thống Bình Nhưỡng, nơi bộ máy đảng có cấp bậc cao hơn nội các. Kim Yong-ju hoàn toàn không được nhắc đến trước công chúng sau khi sự tham dự của ông được ghi nhận tại cuộc họp tháng 4 năm 1975 của Hội đồng Nhân dân Tối cao. (Ông ấy không xuất hiện lần nữa cho đến năm 1993) Người theo phe cánh ông ấy là Ryu Jang-shik cũng biến mất khỏi tầm mắt công chúng vào tháng 9 năm 1975.

 

Vào khoảng thời gian đó, Kim Jong-il đã tìm cách vô hiệu hóa mọi ảnh hưởng của mẹ kế Kim Song-ae, người đã hậu thuẫn chú Yong-ju trong nỗ lực nâng cao cơ hội cuối cùng cho con trai bà là Pyong-il. Kang Myong-do nói với tôi rằng bằng cách giới thiệu Kim Il-sung với hai người phụ nữ mà sau này trở thành người được Lãnh tụ Vĩ đại yêu thích, Kim Jong-il đã làm rạn nứt  cuộc hôn nhân của cha mình và làm giảm ảnh hưởng của đệ nhất phu nhân. (Kang nói thêm rằng con trai của Lãnh tụ Vĩ đại lãnh với một trong những người phụ nữ đó đang được nuôi dưỡng ở Thụy Sĩ.) Để tăng thêm sỉ nhục vào tổn thương, bộ máy tuyên truyền đã ép Song-ae vào năm 1975 phải đứng ra  công khai ca ngợi người tiền nhiệm quá cố và tình địch của cô. Được chụp ảnh với vẻ mặt mà một số độc giả của Nodong Shinmun cho là biểu lộ sự chán ghét, cô gọi Kim Jong-suk – người mẹ quá cố của Kim Jong-il, lúc đó được Bình Nhưỡng tôn vinh – là một “chiến sĩ cách mạng cộng sản bất diệt và hoạt động phụ nữ xuất sắc”.

 

Sự thăng tiến của Kim Jong-il  rõ ràng bị gián đoạn khi chế độ này dỡ bỏ chân dung của ông khỏi những nơi công cộng vào tháng 10 năm 1976 và giảm bớt việc nhắc đến “Trung tâm Đảng” hàng ngày, như trước đây,  rồi sau đó loại bỏ việc sử dụng thuật ngữ này từ đầu năm 1977. Sự việc kỳ lạ đó vẫn chưa được giải thích đầy đủ, nhưng những người theo dõi Bình Nhưỡng dường như đều đồng thuận rằng việc Kim trẻ tuổi biến mất khỏi tầm nhìn của công chúng là đáp ứng cho mối quan ngại mà sự thăng tiến của ông tạo ra trong số những người có ảnh hưởng.

Các phóng viên Liên Xô đóng chốt ở Bình Nhưỡng nói với tôi khi tôi đến thăm thủ đô năm 1979 rằng những mối quan ngại chính dẫn tới việc Kim Jong-il phải đứng ngoài cuộc đã được bày tỏ trong quân đội, nơi Kim Jong-il – như chúng ta đã thấy khi ông ấy tham gia vào cuộc tranh chấp giữa O và Yi – đảm nhận vai trò giám sát.

Những bức chân dung của Kim con được dỡ xuống chỉ vài tuần sau sự kiện Bàn Môn Điếm năm 1976, trong đó binh sĩ Triều Tiên cầm rìu giết chết hai sĩ quan Mỹ, đang chỉ huy một nhóm cắt tỉa cây dương che chắn tầm giám sát khu vực ngừng bắn. Vụ giết người xảy ra sau khi sĩ quan Mỹ từ chối yêu cầu của binh lính Triều Tiên rằng họ phải dừng việc chặt cây. Đã thấy đủ việc lãnh đạo của Kim con, một người Nga nói với tôi, các sĩ quan Triều Tiên giận dữ đã đổ lỗi cho Kim Jong-il về sự kiện chiếc rìu gây bức xúc về mặt ngoại giao và đã thành công trong việc loại bỏ ông ta khỏi vai trò quân sự vào thời điểm đó.

Một phát ngôn viên không chính thức của chế độ ở Tokyo, Kim Myong-chol, đã nhấn mạnh trong một bài báo năm 1982 đăng trên một tạp chí Hồng Kông rằng Kim Jong-il không liên quan đến sự kiện chiếc rìu: “Kim Jong-il lúc đó đang bận bịu” với việc tổ chức nhân dân, đảng phái và chính phủ Bắc Triều Tiên, đơn giản là ông ấy quá bận rộn để có bất kỳ vai trò nào.

Tuy nhiên, rất lâu sau đó, sau khi Bình Nhưỡng phát động một chiến dịch tuyên truyền để tôn vinh Kim con như một vị tướng vĩ đại, một phát ngôn viên không chính thức hải ngoại khác đã cho biết Kim Jong-il đã ra lệnh, trong sự kiện chiếc rìu, “phải dạy cho người Mỹ một bài học.” Khi Hoa Kỳ đáp trả vụ giết người bằng việc phô trương sức mạnh quân sự, “Kim Jong-il không hề ấn tượng và cười nhạo những động thái của Mỹ.”

 

Một nhà ngoại giao Thụy Điển có trụ sở tại Bình Nhưỡng với tư cách là đại sứ của đất nước ông trong thời kỳ đó đã đưa ra một nhận xét bên lề gây tò mò: “Hình ảnh về người con trai dường như đã thay đổi.” Trong khi đó, các nhà ngoại giao Đông Âu công khai tung tin đồn rằng Kim Il-sung có một cậu con trai lớn hơn Kim Jong-il từ cuộc hôn nhân trước đó. “Có phải người anh cả đã bị buộc phải từ bỏ quyền con trưởng để ủng hộ em trai mình không?” Các nhà ngoại giao chỉ có thể suy đoán vì họ không thể xác nhận tin đồn về người con trai lớn.

 

Trong một câu chuyện được phổ biến rộng rãi vào thời kỳ đó, một tờ báo tiếng Triều Tiên thân Seoul ở Nhật Bản, Toitsu Nippo (Nhật báo Thống nhất), cáo buộc vào ngày 2 tháng 2 năm 1978 các sĩ quan quân đội trẻ do một phụ tá của Tướng Yi Yong-mu lãnh đạo đã cố mưu sát Kim Jong-il trong một vụ va chạm ô tô rồi bỏ chạy vào tháng 9 năm 1977, khiến ông bị thương nặng ở đầu và hôn mê. Theo lời kể, các sĩ quan trẻ ngay lập tức bị bắt và xử tử còn Yi thì bị cách chức, trong khi các bác sĩ chuyên chữa bệnh “người thực vật” đã được mời đến Bình Nhưỡng để kiểm tra con trai Kim. Có rất ít bằng chứng cho điều này. Mặc dù, như chúng ta đã thấy, Yi Yong-mu không còn được ưa chuộng trong khi Kim Jong-il lại gần gũi hơn với cha già chế độ O Jin-u, Yi sau đó đã trở lại quyền lực theo kiểu không phải là hiếm trong hệ thống của Triều Tiên. Ông được xếp ở vị trí gần cao nhất của chế độ với tư cách là cấp phó chủ chốt của Kim Jong-il trong Quân ủy Trung ương. Điều đó khiến không cần phải hỏi liệu Yi có từng tham gia vào một hành động nguy hiểm đến sự nghiệp trong một nỗ lực bất thành nhằm mưu sát người được chỉ định làm Lãnh đạo Vĩ đại hay không.

Những câu chuyện như câu chuyện về vụ ám sát đó dường như được nuôi dưỡng bởi cuộc sống cá nhân vẫn còn hoang dã của Kim Jong-il, vốn được công khai đến mức khiến một số người trong quân đội và giới lãnh đạo coi thường ông là một kẻ ngông cuồng trẻ tuổi. Câu chuyện về việc ông ta bị thương nặng trong một vụ tai nạn ô tô phù hợp với những gì một số người khác đã nói – một tường thuật cho rằng ông ta đã lái xe liều lĩnh và tự mình chuốc lấy tai nạn – cho dù câu chuyện mưu sát không hề  có. Hwang Jang-yop sau khi đào thoát sang miền Nam cho biết ông đã nghe nói rằng Kim Jong-il “bị thương vì ngã ngựa – nhưng tôi không biết rõ lắm.”

 

Một nhà lãnh đạo quan tâm đến ý kiến ​​của người khác hơn Kim Il-sung có thể đã chú ý đến những dấu hiệu phản đối hoặc hoài nghi và rút lại việc bổ nhiệm con trai mình. Nhưng họ không vô cớ gọi Kim Il-sung là “người có ý chí sắt đá”. Việc Kim Jong-il rút lui vào bóng tối chỉ là tạm thời. Trong khi đó, những nỗ lực tiếp tục loại bỏ hoặc cô lập những người chống lại kế hoạch kế vị.

Phó Chủ tịch nước Kim Dong-kyu là trung tâm của sự phản đối việc kế nhiệm của Kim Jong-il trong thế hệ cựu lãnh đạo du kích cũ. Ông không chỉ là một chiến sĩ kháng chiến chống Nhật mà còn bị mất một cánh tay trong cuộc chiến. Khi bị lật đổ, ông đứng thứ hai ở Triều Tiên, ngay sau Kim Il-sung. Ông không thích Kim Jong-il, như Kang Myong-do đã kể cho tờ báo Seoul JooAng Ilbo. Khi chàng trai trẻ được thăng chức, Kim Dong-kyu nói: “Tôi nghĩ họ quá hấp tấp trong vấn đề kế vị.” Vào thời điểm đó, theo lời kể của Kang, Kim Il-sung không làm gì cả.

Theo lời kể của Kang, khi có được O Jin-u về phía mình, Kim Jong-il đã thao túng các tài liệu để có thể đưa cho Kim Il-sung một bản báo cáo rằng Kim Dong-kyu là kẻ phản bội phong trào kháng chiến của Nhật Bản. Điều đó khiến Kim Dong-kyu bị đày vào năm 1977 đến một vùng nông thôn ở tỉnh Bắc Hamgyong. Năm 1980, Kim Il-sung tình cờ có mặt ở khu vực đó và nhìn thấy một dinh thự rất lớn. Ông ấy nhận ra đó là của Kim Dong-kyu và trở nên rất khó chịu. Theo báo cáo, Kim Il-sung đã gửi Kim Dong-kyu đến một trại nhốt bọn bất đồng chính kiến ​​​​số 16 ở Hwasong theo phiên bản của Kang, và năm 1984 Kim Dong-kyu chết ở đó “vì suy dinh dưỡng và tuyệt vọng.”

Giấc mơ của Đệ nhất phu nhân Kim Song-ae thấy con mình lên kế vị lèo lái đất nước của chồng bà đã trở nên vô vọng.  Con trai lớn của bà, Pyong-il, đã phải cắt đứt sự nghiệp ở thủ đô.  Em trai của anh, Yong-il, ngay từ đầu chưa bao giờ có chỗ đứng trong đời sống công chúng.  Sinh vào đầu những năm 1950, Pyong-il học tiếng Anh ở Malta vào cuối những năm 1960, theo học học viện quân sự Bắc Triều Tiên và học lái máy bay dân dụng hạng nhẹ tại một sân bay ở Đông Đức. (Một số báo cáo cho biết anh cũng học ở Moscow.) Anh trở thành thành viên trong đội cận vệ quân đội của cha mình, cũng như người anh kế của ông, Kim Jong-il. Về phần mình, Kim Yong-il học ngành điện tử tại Đại học Kỹ thuật Dresden ở Đông Đức và trở nên thông thạo tiếng Đức. Anh ấy tiếp tục  bằng Tiến sĩ. ở Berlin. Theo một cựu quan chức Đông Đức quen biết cả anh và Pyong-il, kế hoạch của anh khi tốt nghiệp vào giữa những năm 1980 là quay trở lại Triều Tiên để đứng đầu một nhà máy điện tử. Người Đức này mô tả hai anh em là “thông minh và có học thức”. Cả hai đều biểu lộ tính cách dễ hòa đồng, anh nói với tôi. “Họ hiểu cuộc sống và họ giao du với những người Triều Tiên bình thường.” Anh nói thêm rằng cả hai đều nói được tiếng Nga.

Kang Myong-do trong cuộc phỏng vấn với tờ JooAng Ilbo đã sắp xếp lại câu chuyện về Pyong-il. Theo lời kể của Kang, khi căng thẳng Bắc-Nam gia tăng sau sự kiện chiếc rìu ở DMZ, Pyong-il đã gia nhập sư đoàn vệ sĩ. Tốt nghiệp Đại học Kim Il-sung, hơn nữa là thành viên của đệ nhất gia đình, lúc đầu anh thăng tiến nhanh chóng. Chẳng bao lâu anh được thăng cấp đại tá và được bổ nhiệm làm phó phòng chiến lược của lực lượng vệ sĩ.

Theo lời kể của Kang, lối sống của Pyong-il trở nên xa hoa. Những người bạn thân của Pyong-il bao gồm Kim Chang-ha, con trai của Kim Byong-ha, người đứng đầu Bộ An ninh Nhà nước, và Chon Wi, con trai của người đứng đầu lực lượng vệ sĩ. Họ thường gặp nhau tại nhà Kim Byong-ha và thường xuyên tổ chức tiệc tùng ở đó. Thói quen của Pyong-il là tặng những chiếc đồng hồ có khắc tên Kim Il-sung làm quà cho khách. “Anh ấy rất ngông cuồng, hào phóng và có rất nhiều người theo anh đã tâng bốc anh bằng cách nói: ‘Kim Pyong-il muôn năm!’ Đáng lẽ bạn không được nói câu đó với bất kỳ ai ngoài Kim Il-sung – điều đó đi ngược lại hệ thống chuyên chế.”

Vào thời điểm đó, theo lời kể của Kang, Kim Jong-il đang theo dõi Kim Pyong-il và biết được hoạt động của anh ta thông qua Phòng 10 trong trụ sở đảng, được thành lập năm 1978 để thiết lập mạng lưới gián điệp nhằm phát hiện bất kỳ sai lệch nào khỏi người cai trị độc tài. (Kim Jong-il xem thường Pyong-il hay Yong-il mà chỉ quan tâm đến em gái mình là Kyong-hui, một cựu quan chức cấp cao nhớ lại.)

Kang nói: “Kim Jong-il luôn chờ cơ hội để khiến em trai kế của mình gặp rắc rối”. “Ông ấy đã sử dụng thông tin này và báo cáo với Kim Il-sung.” Theo Kang, Kim Il-sung tức giận và sa thải Pyong-il, theo Kang, người đã kể với tôi trong một cuộc phỏng vấn rằng Kim Pyong-il đã nán lại Bình Nhưỡng một thời gian. Nhận thấy ít người dám về phe mình, anh ta xin được xuất ngoại. Vì vậy, hy vọng chính trị của Pyong-il đã tiêu tan. Trong quân đội nơi có ảnh hưởng thực sự, Kang nói trong cuộc phỏng vấn với tờ JooAng Ilbo, “không có ai ủng hộ Pyong-il. Không một ai. “Kim Pyong-il được cử đi công tác ở các đại sứ quán  nước ngoài, cách xa trung tâm quyền lực. Ông liên tiếp đảm nhận các chức vụ đại sứ tại các nước châu Âu bao gồm Bulgaria và Phần Lan.

Với tôi, có lẽ Kim Jong-il hẳn đã rút ra được từ sự việc này một bài học sâu sắc: Ông phải gắn bó với vai trò người con khiêm tốn, hiếu thảo trong một thời gian rất dài. Điều này có thể giúp giải thích sự miễn cưỡng của ông ấy khi xuất hiện trước công chúng và bước lên vị trí trung tâm, ngay cả sau khi cha anh qua đời.

Về những người con khác của Đệ nhất phu nhân Kim Song-ae, Kang Myong-do nói với tôi rằng chị gái của Pyong-il, Kim Byong-jin, là vợ của một nhà ngoại giao, Kim Kwang-sop, người vào thời điểm chúng tôi nói chuyện là đại sứ tại Cộng hòa Séc. Kim Yong-il, em trai kế của Kim Jong-il, Kang cho biết, đang sống một cuộc sống biệt lập ở Bình Nhưỡng, không có việc gì làm. Kim Yong-il hiếu học rất nhiệt tình với các ngành khoa học xã hội cũng như các môn học liên quan đến điện tử mà anh đã học. Không giống như anh trai Pyong-il, anh chưa bao giờ là mối đe dọa chính trị. Nhưng giống như Pyong-il, anh nhận thấy mọi người tránh xa mình. Thay vì đi ra nước ngoài, anh dành cả ngày trong biệt thự ở Bình Nhưỡng để nghiên cứu lịch sử. Người bạn duy nhất của anh ấy, theo lời kể của Kang, là O Il-su, con trai của O Jin-u. Hai người đã cùng học ở Đông Đức.

 

Hwang Jang-yop, người đã rời khỏi Ủy ban Trung ương vào năm 1965, trở lại vào năm 1979 và nhận thấy rằng giọng điệu ở trung tâm chính trị của đất nước đã thay đổi mạnh mẽ. Sự gắn bó thân thiết và lâu dài của Hwang với cả hai cha con Kim khiến ông trở thành một trong những nhân chứng quan trọng nhất về hoạt động nội bộ của chế độ. Lời khai của ông sau khi đào thoát sang Hàn Quốc vào năm 1997 phần lớn tỏ ra thuận lợi khi đánh giá về cách Kim Il-sung điều hành mọi việc trong suốt những năm 1960 và xa hơn nữa. Nhưng từ năm 1974, khi Lãnh tụ Vĩ đại chỉ định con trai ông là người thừa kế, miêu tả của Hwang cho thấy đất nước đang hướng tới thảm họa. Lý do một phần là sự thay đổi ở bản thân Kim Il-sung, người từ thời điểm đó “ngày càng trở nên tự phụ và trở nên cẩu thả trong công việc.” Nhưng vấn đề chính, như Hwang phát hiện, là phong cách quản lý của Kim Jong-il và cuối cùng, nhân cách của ông ta. 1Hwang đã làm việc từ năm 1958 đến năm 1965 với tư cách là bí thư đảng về tư tưởng. “Vào thời điểm đó, em trai của Kim Il-sung là Kim Yong-ju đang phụ trách công việc đảng. Nhưng khi tôi trở lại Ban Chấp hành Trung ương vào năm 1979 với tư cách là Bí thư Trung ương Đảng thì chính Kim Jong-il là người điều hành chương trình. Tôi choáng váng trước vô số thay đổi diễn ra trong thời gian dài vắng mặt. Cuộc sống ở trung ương đảng trước đây tràn ngập niềm vui và tự hào khi được làm việc ở trung tâm trí tuệ của đất nước, nhưng cũng ở chính tổ chức đó sau khi tôi trở về, tôi lại luôn cảm thấy khó chịu và căng thẳng. Tôi luôn phải cảnh giác, sợ bị thương tích bởi dây điện cao thế của sự chuyên chế quá gần bên.”

Sự giám sát tăng cường ngay cả đối với các quan chức cấp cao nhất là một thay đổi lớn mà Hwang ngay lập tức nhận thấy. Ông phát hiện ra rằng một ủy ban mới của đảng “có trách nhiệm đặc biệt trong việc kiểm soát cuộc sống của những người làm việc trong ủy ban trung ương đảng” đã được thành lập dưới quyền Kim Jong-il, “nhiều bộ phận khác nhau trong đó kiểm soát cuộc sống tổ chức hoặc tư tưởng của các quan chức đảng hoặc thực hiện các hoạt động tình báo bí mật.” Từ đó trở đi, “cuộc sống của các thành viên trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng luôn bị soi mói và kiểm soát từ hai đến ba lớp mọi lúc.”

Một điều khác mà Hwang nhận thấy là sự thay đổi phong cách và giọng điệu trong các cuộc họp của Ủy ban Trung ương. Trong những ngày đầu khi Kim Il-sung làm chủ tịch, ông “đã đưa ra nhiều tấm gương tích cực để động viên những người tham gia và kiềm chế không chỉ trích quá nhiều. Ông luôn nhấn mạnh rằng việc tăng cường mặt tích cực có thể khắc phục được mặt tiêu cực. Ngược lại, Kim Jong-il tập trung chỉ trích những điểm chưa tốt và khuyến khích sự chỉ trích lẫn nhau giữa những người tham gia. Chỉ khi cuộc họp được tiến hành theo cách này, ông mới tuyên bố rằng cuộc họp đã diễn ra tốt đẹp trong tâm thế cách mạng. Ai không chỉ trích người khác trong các cuộc họp thì bị tố cáo là thiếu khí thế cách mạng, còn ai lớn tiếng, gay gắt chỉ trích người khác thì được khen ngợi vì lòng nhiệt thành cách mạng và lòng trung thành với Lãnh tụ vĩ đại”.

Hwang viết rằng “Kim Jong-il về bản chất là một người không thích sống trong hòa hợp với người khác. Ông ta khiến mọi người kình chống lại nhau và chỉ lệ thuộc vào mình. Như vậy, khi nói đến việc củng cố tổ chức, ý ông ta là đưa ra những quy định nghiêm ngặt để đảm bảo sự phục tùng vô điều kiện đối với ông và tổ chức nhiều cuộc họp để các quan chức chỉ trích lẫn nhau. Trong các buổi tố cáo lẫn nhau, thước đo được sử dụng là mức độ trung thành của một người với Kim Jong-il. Vì vậy, các đảng viên càng chỉ trích lẫn nhau và đấu tranh lẫn nhau thì quyền lực của Kim Jong-il càng lớn”.

Tại buổi tố cáo lẫn nhau Hwang cho biết, “ngay cả những khiếm khuyết nhỏ nhất cũng có thể bị thổi phồng thành một sự cố nghiêm trọng”, tạo tiền đề cho “các cuộc tranh luận lớn và các cuộc tập hợp đấu tranh tư tưởng phức tạp hơn” sẽ đến. Rồi “sau khi khiến mọi người cãi nhau, Kim Jong-il sẽ ngồi lại và tận hưởng cuộc khẩu chiến.” Mô hình của ông ta là lùi về  văn phòng mình và bật tivi mạch kín để xem cấp dưới đấu đá với nhau. Hwang tin rằng Kim thực sự thích quấy rối các quan chức đảng.

Kim Il-sung làm việc chủ yếu thông qua gặp mặt trực tiếp, Hwang cho biết. Nhưng Kim Jong-il, sau khi biến các cuộc họp thành cuộc kiểm tra lòng trung thành, chuyển sang làm các công việc thực sự qua giấy tờ. “Kim Jong-il thiết lập một hệ thống yêu cầu mỗi bộ phận gửi các khuyến nghị chính sách mà ông ấy sẽ phê duyệt trước khi thực hiện. Đó là một hệ thống nghiêm ngặt, đặc biệt là khi liên quan đến các vấn đề mới hoặc cơ bản, không bao giờ có thể được đưa ra ánh sáng trừ khi các khuyến nghị đã được đệ trình để ông phê duyệt. Đây là một hệ thống hầu như không tồn tại dưới thời cai trị của Kim Il-sung.

Đó không hẳn là cách tiếp cận cai trị của người lười biếng. Hwang cho biết: “Dù bận đến đâu, đích thân Kim Jong-il sẽ đọc tất cả các khuyến nghị được đưa ra và đưa ra nhận xét hoặc kết luận của mình”. “Đối với những tài liệu quan trọng do các bí thư đảng đích thân đệ trình, ông ấy sẽ cho những tài liệu đã được phê duyệt vào phong bì đặc biệt của mình, viết tên người nhận lên đó và dán kín trước khi chuyển cho bí thư phụ trách. Tất cả những điều này tạo thành một khối lượng công việc khổng lồ, nhưng Kim Jong-il không bao giờ chuyển công việc này cho người khác mà tự bản thân xử lý nó.”

Hwang cho biết,  Kim đã thiết lập một hệ thống ưu tiên đơn giản liên quan đến các phán quyết của ông đối với các tài liệu được đệ trình cho ông. “Những văn bản có chữ ký của Kim Jong-il và ngày phê duyệt do chính Kim Jong-il viết trên đó sẽ trở thành những văn bản pháp lý phải được thực hiện bằng mọi giá. Một văn bản chỉ có ngày phê duyệt sẽ được gửi trả lại cho văn phòng đó” đã nộp nó và cơ quan có thể tùy ý thực hiện nó. Một tài liệu không có ngày tháng cũng như chữ ký mà chỉ có hai dòng có nghĩa là nó không quan trọng theo cách này hay cách khác; nó được chuyển về văn phòng đã gửi nó để thực thi hoặc hủy bỏ kế hoạch. Bên cạnh đó những báo cáo hàng tuần, bản fax các giấy tờ của các văn phòng quan trọng đều được gửi đến Kim Jong-il bất cứ khi nào cần thiết để nhận được sự chấp thuận của ông ấy.”

Giống như những người từng làm việc ở cấp cao hơn trong chế độ, Hwang lưu ý đến sở thích tổ chức tiệc rượu của Kim Jong-il. Nhưng Hwang đặt chúng vào bối cảnh là “một yếu tố quan trọng trong phong cách chính trị của Kim Jong-il”, chứ không chỉ đơn thuần là một hình thức giải trí. “Ông ấy thường xuyên tổ chức những bữa tiệc như vậy và triệu tập các nghệ sĩ tới biểu diễn. Những bữa tiệc này có lẽ là phương tiện để Kim Jong-il thành lập nhóm chư hầu của mình. Bằng cách mời những cấp dưới đáng tin cậy của mình tham gia một bữa tiệc, ông ta có thể quan sát tính cách của họ ở cự ly gần và khiến họ tự hào vì được là cận thần của Lãnh tụ Vĩ đại. Nhưng vì là tiệc nhậu nên thường những người thích uống rượu được mời nhiều hơn những người khác. Đôi khi, những lời đàm tiếu hoặc những nhận xét thoáng qua tại các bữa tiệc này có thể trở thành chính sách chính thức vào ngày hôm sau. Trong những bữa tiệc rượu này, người say chỉ cần tỏ lòng kính trọng với Kim Jong-il; họ có thể nói bất cứ điều gì họ thích đến bất cứ ai bất kể chức danh của người đó. Vì vậy, ở một khía cạnh nào đó, hệ thống lãnh đạo đơn độc của Kim Jong-il được thực thi nghiêm túc trong các tiệc nhậu này.”

Mặc dù theo quan điểm của Kim, các bữa tiệc này có chức năng hoạt động chắc chắn chúng sẽ dẫn đến việc hoạch định chính sách một cách say sưa. Hwang cho biết, Kim trong các bữa tiệc của mình thỉnh thoảng đưa ra những mệnh lệnh kỳ quặc đến mức không thể thực hiện được. “Kim Jong-il không chỉ có khả năng đưa ra những tính toán nhanh chóng và chính xác vì lợi ích cá nhân mà còn là người hay thay đổi và thiếu kiên nhẫn, dẫn đến những chỉ thị  tự phát và bất hợp lý. Ví dụ, ông ra lệnh cho tất cả những người đi công tác nước ngoài phải đeo đồng hồ được sản xuất tại các nhà máy đồng hồ ở Bình Nhưỡng như một dấu hiệu của nền kinh tế tự lực của Triều Tiên. Nhưng vấn đề là đồng hồ sản xuất tại Bình Nhưỡng có chất lượng rất thấp nên mọi người đều ngần ngại đeo chúng khi đi du lịch nước ngoài. Ông ấy còn hướng dẫn phụ nữ mặc trang phục truyền thống Triều Tiên với màu đen trắng nhưng không ai làm theo chỉ dẫn này, ngoại trừ những người phụ nữ làm việc trong Ban Chấp hành Trung ương đảng”.

Hwang nhận xét, việc Kim nhất quyết phải tự mình đưa ra sự chấp thuận đối với mọi chính sách không ngăn cản ông trừng phạt bất cứ ai đã đề xuất một chính sách mà cuối cùng khiến ông phải ân hận. “Có lần người quản lý phụ trách ghi chép các chỉ thị của Lãnh tụ vĩ đại tại Cục Tổ chức và Chỉ đạo đã yêu cầu các giáo sư Đại học Kim Il-sung phải viết một bộ tài liệu về Kim Jong-il gồm 15 tập (100% giả mạo, tất nhiên) để công khai rằng Kim Jong-il là một nhà tư tưởng cần cù ngay cả khi còn là sinh viên. Vị quản lý  đã đệ trình mọi bản thảo để Kim Jong-il phê duyệt trước khi xuất bản. Nhưng sau đó, khi người ta chỉ ra rằng các tác phẩm cuối cùng có thể củng cố quyền lực của một cá nhân [không phải chính ông ta], Kim Jong-il đã trừng phạt người quản lý và các giáo sư là tác giả của tác phẩm, đồng thời ra lệnh phải sửa lại toàn bộ nội dung. “

Một điểm khác biệt giữa hai cha con Kim mà Hwang nhận thấy liên quan đến hình thức. Như chúng ta đã thấy, Kim Il-sung từ những ngày theo đảng đã mong đợi sự phục tùng từ cấp dưới của mình. Tuy nhiên, Kim cha không phải là người quá chú trọng hình thức phức tạp, không cần thiết, Hwangnói.  “Nhưng Kim Jong-il đã khởi xướng nhiều thủ tục để đảm bảo sự tuân phục tuyệt đối của người dân đối với Lãnh tụ Vĩ đại. Bất cứ khi nào có công việc hoặc sự kiện quan trọng, ông ấy sẽ khiến mọi người bày tỏ sự tôn trọng tối đa đối với Lãnh tụ Vĩ đại bằng cách viết và đưa ra những bài phát biểu hoành tráng và tuyên thệ.” Ông còn ra lệnh cho người dân đặt vòng hoa dưới chân tượng Kim Il-sung hoặc tại mộ các liệt sĩ. Vào mỗi dịp lễ hội công nhân phải tổ chức ‘các cuộc họp mặt hô hào, nơi họ bắt đầu các cuộc họp mặt bằng những bài hát tôn vinh Kim Il-sung và sau đó là Kim Jong-il và kết thúc các cuộc họp mặt bằng những bài hát chúc tụng cha con Kim an khang, trường thọ.

Trong những dịp này, người Triều Tiên phải “tổ chức các cuộc họp thường xuyên chỉ để viết ra những lời cam kết trung thành hoặc những lá thư tri ân tới Lãnh tụ Vĩ đại”, Hwang nói. “Vào đêm giao thừa, một bữa tiệc tất niên có quy mô toàn quốc được tổ chức. Ông Kim Jong-il không tham dự bữa tiệc chính thức này mà tổ chức bữa tiệc riêng với các bạn nhậu và tay say của mình. Sau đó, vào lúc 12 giờ đêm hoặc rạng sáng ngày đầu năm mới, ông sẽ fax cho từng giám đốc văn phòng một lời chúc mừng năm mới ngắn gọn như sau: “Năm vừa qua mọi người đã làm việc chăm chỉ. Chúng ta hãy làm việc chăm chỉ hơn nữa để đạt được thành tựu lớn hơn nữa trong năm nay.” Do đó, các giám đốc văn phòng phải báo cáo công việc ngay cả trong ngày đầu năm mới để tổ chức các nghi lễ nhận thông điệp của Kim Jong-il và gửi phản hồi phù hợp dưới hình thức nghị quyết hoặc cam kết trung thành. Kim Jong-il thích làm việc theo cách đó hơn”.

Hai phẩm chất kém hấp dẫn nhất của Kim Jong-il, Hwang tìm thấy, là tính giữ bí mật và ghen tị. “Mỗi khi họp mặt, Kim Jong-il luôn nhấn mạnh hai điều. Một là giữ bí mật của đảng, còn bên kia là không đặt hy vọng vào bất kỳ cá nhân quan chức nào. Đây là sự phản ánh tính cách của Kim Jong-il; ông ấy thích bí mật hơn là cởi mở, và ghen tị với vận may của người khác.” Sự bí mật có thể liên quan đến thiên hướng nổi tiếng của Kim Jong-il là tránh xa tầm mắt của công chúng. “Kim Jong-il không thích gặp gỡ mọi người trong công việc chính thức hoặc phát biểu trước công chúng, mà thích tập hợp các tay sai để tiệc tùng hơn là nắm giữ các chức vụ chính thức. Óng ta thích làm việc vào ban đêm hơn làm việc vào ban ngày.”

Hwang cho biết, tính ghen tị “bệnh hoạn” của Kim Jong-il là một đặc điểm khác không giống với người cha quá cố của mình. “Kim Il-sung không ghen tị với những cấp dưới trung thành với mình. Ông ấy không thích những người tự phụ, nhưng ông ấy không bao giờ ghen tị với những người trung thành với mình chỉ vì họ được công chúng tin tưởng. Nhưng trong trường hợp của Kim Jong-il.” , ông ta trở nên ghen tị với ngay cả những cấp dưới trung thành của mình nếu họ nổi tiếng trong quần chúng. Ông ta thậm chí còn không thích vận may của các quốc gia khác, và trở nên ghen tị với các nhà lãnh đạo các đất nước khác, nổi tiếng được dân chúng yêu mến.  Đặc điểm này có thể liên quan chặt chẽ đến hệ tư tưởng hoàn toàn tự cao tự đại của ông.”

Kim đã tìm ra một cách kỳ lạ để biện minh cho sự ghen tị của mình bằng các thuật ngữ ý thức hệ. Như Hwang kể, Kim “nói rằng ông ấy phản đối việc tôn thờ bất kỳ cá nhân nào. Ông ấy là Lãnh tụ Vĩ đại của nhân dân và do đó không phải là một cá nhân, nhưng những quan chức còn lại trong đảng đều được coi là những cá nhân vì họ không phải là Lãnh tụ Vĩ đại. Ví dụ, nếu một bí thư đảng ủy phụ trách một quận nào đó chiếm được lòng tin của người dân thì chắc chắn ông ta sẽ thay thế bí thư đó. Và thỉnh thoảng, ông ta thanh lọc các quan chức bằng cách dán nhãn cho họ là những kẻ phản cách mạng, những kẻ gây ra ảo tưởng về cá nhân.”

Cho dù đó là vì ghen tị hay lo ngại an ninh đơn giản hay cả hai, Hwang lưu ý rằng “Kim Jong-il cấm mọi mối quan hệ không xoay quanh mình. Ông ấy lên án định hướng gia đình hoặc chủ nghĩa vùng miền là điểm nóng của chủ nghĩa bè phái và phản đối mọi hình thức giao lưu xã hội bao gồm cả họp lớp. Ông ấy thậm chí còn phản đối những người hình thành mối quan hệ thầy-trò hay huynh-đệ. Ông yêu cầu người dân của mình duy trì mối quan hệ chặt chẽ với những người thân cận Lãnh tụ Vĩ đại và giữ khoảng cách với những người không thân thiết với Lãnh tụ Vĩ đại. Ông cũng thiết lập các biện pháp thận trọng để loại một số người như anh chị em kế của ông, con của bà vợ hai của Kim Il-sung, ra khỏi vòng tròn quyền lực và ngăn họ tiếp xúc với quần chúng. Không ít người bị tước chức, trục xuất vì nhận quà hay thư từ từ các em kế của Jong-il. Vì vậy, ngay cả những người bình thường cũng tránh tiếp xúc với bất kỳ ai bị đưa vào danh sách đen vì bị gạt ra ngoài lề xã hội.”

Hệ quả tất yếu là sự tôn trọng đối với chính gia đình của Kim, Hwang cho biết. “Kim Jong-il trở nên tức giận khi những người thân yêu của ông không được đón tiếp nồng hậu. Ông yêu đoàn múa đã chiêu đãi ông. Các vũ công chỉ dành cho đôi mắt của Kim Jong-il, nhưng khi có tâm trạng hào phóng, ông sẽ cho phép Các ủy viên Trung ương Đảng đến xem biểu diễn. Có lần ông ra lệnh tập hợp để đấu tranh tư tưởng vì các quan chức đảng không vỗ tay đủ mạnh trong một buổi biểu diễn. Sau sự việc đó, các quan chức đảng khi tham dự buổi biểu diễn của các nghệ sĩ được Kim Jong-il yêu thích đều phải vỗ tay thật lâu và thật to. Họ phải tiếp tục vỗ tay qua nhiều lần hạ màn và chỉ được rời khỏi chỗ ngồi khi người biểu diễn không còn đáp lại tiếng vỗ tay của họ nữa.”l

Về việc Kim Jong-il giữ bí mật, có thể điều đó được biện minh là do lo ngại hậu quả trong trường hợp bí mật đời tư của ông bị tiết lộ. Kim “đã giết hại vô số người một cách dã man,” Hwang khẳng định. “Nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của ông ấy là việc những tội ác này bị vạch trần. Vì vậy, ông nói rằng ‘giữ bí mật là bản chất của cuộc sống trong đảng’ và cấm mọi người tiết lộ bất cứ điều gì ngoài những gì được báo chí đưa tin. Ông ta cấm vợ của các quan chức đảng giữ chức vụ cao hơn phó giám đốc vì sợ họ sẽ tiết lộ bí mật của đảng khi đang làm việc.”

Không nêu tên hay ngày tháng, Hwang đưa ra một ví dụ kinh hoàng về sự giao thoa giữa bí mật và giết chóc:

“Một trong những bí thư của Kim Jong-il có lần say rượu và kể cho vợ nghe về cuộc đời trụy lạc của Kim Jong-il. Người vợ tốt, một người phụ nữ có tiêu chuẩn văn hóa và đạo đức cao, thực sự bị sốc và nghĩ, ‘Làm sao một nhà lãnh đạo có thể sống một cuộc sống vô đạo đức như vậy để bảo vệ hạnh phúc cho dân tộc mình?’ Sau nhiều suy nghĩ, bà quyết định viết một lá thư cho Kim Il-sung yêu cầu ông khiển trách con trai mình. Không cần phải nói, bức thư đã đến tay Kim Jong-il, ông liền tổ chức một bữa tiệc rượu và bắt người phụ nữ đó trình diễn trước mặt ông. Trước mặt tất cả quan khách trong bữa tiệc, ông ấy tuyên bố người phụ nữ này là kẻ phản cách mạng và bắn bà ngay tại chỗ. Ý định của Kim Jong-il là đưa ra cảnh báo cho những người có mặt rằng việc rò rỉ bất cứ điều gì diễn ra trong các bữa tiệc rượu sẽ bị trừng phạt bằng cái chết. Chồng của người phụ nữ tội nghiệp này đã thực sự cầu xin Kim Jong-il cho ông ta tự mình nổ súng. Kim Jong-il đã đáp ứng nguyện vọng của viên bí thư và đưa cho y vũ khí để bắn vợ mình.”

 

Năm 1979, tình hình dường như yên tĩnh, các tuyên bố chính thức tiếp tục đề cập đến “Trung tâm Đảng Vinh quang.” Tuy nhiên, khi đến thăm Triều Tiên vào mùa xuân năm đó, tôi nhận thấy những câu hỏi về Kim Jong-il không được khuyến khích. Chỉ có một quan chức, Bai Song-chul thẳng thắn, xác nhận với tôi rằng chàng trai Kim đang được chuẩn bị để kế vị cha mình. Mặc dù các bức chân dung của ông được cho là đã xuất hiện trở lại ở một số nơi công cộng, nhưng chúng không có mặt tại các địa điểm mà người nước ngoài thường ghé thăm. Rõ ràng là chế độ muốn tránh khơi dậy sự chỉ trích của nước ngoài đối với kế hoạch kế vị triều đại, có lẽ vì kế hoạch này vẫn cần được dọn dẹp một chút.

Bình Nhưỡng đã giấu quân bài của mình giỏi đến mức trong chuyến thăm của tôi vào thời điểm diễn ra giải bóng bàn năm 1979 tôi gần như không biết được mức độ to lớn mà đất nước này đã mang dấu ấn của Kim Jong-il. Trên thực tế, Kim trẻ tuổi đã có ảnh hưởng lớn trong mười lăm năm và đã giữ chức vụ đồng cai trị trong năm năm. Những thành tựu kinh tế mà tôi được phép chứng kiến ​​quả thực phần lớn là của người cha, được thể hiện ngay sau khi chúng đạt đến đỉnh cao. Nhưng mãi sau này tôi mới nhận ra rằng những gì tôi quan sát được về đời sống văn hóa ở miền Bắc Triều Tiên – bao gồm cả hình thức cực đoan của sự sùng bái cá nhân đã được áp dụng – phần lớn là công trình của người con trai.

Đó là vào tháng 5 năm 1980 trước khi có sự thừa nhận chính thức với thế giới bên ngoài về các kế hoạch cho tương lai của Kim Jong-il đến từ một phát ngôn viên của Triều Tiên. Gặp gỡ các nhà báo nước ngoài, Choe U-gyun, biên tập viên các tờ báo thân Bình Nhưỡng xuất bản ở Tokyo, đã tấn công cái mà ông gọi là quan điểm của các phương tiện truyền thông đại chúng phương Tây cho rằng việc Kim trẻ lên nắm quyền sẽ là một trường hợp kế vị “di truyền”. “Chúng tôi hiểu rằng sự kế thừa cha truyền con nối thường có nghĩa là sự tiếp quản quyền lực bởi những đứa con ngu ngốc, hư hỏng”, Choe nói. Nhưng Kim Jong-il, “là một nhà lãnh đạo tài giỏi. Ông có tố chất lãnh đạo xuất sắc trong việc ra quyết sách. Không chỉ vậy, ông còn sở hữu phẩm chất đạo đức chính trực xứng đáng là một nhà lãnh đạo kiệt xuất. Ông ấy được trời phú cho khả năng lãnh đạo vô song về các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa và thậm chí cả các vấn đề quân sự.”

Choe còn mở rộng danh mục đức tính của Kim con hơn nữa, chồng chất lên những kiểu khen ngợi gắn liền với chính Kim Il-sung trong một thời gian dài khi ông liệt kê một loạt các phẩm chất mù quáng đến mức khiến những người bình thường cũng bất đồng. Ông đặc biệt tập trung vào những thành tựu nghệ thuật của Kim Jong-il. Choe lưu ý rằng Đoàn kịch nghệ thuật Bình Nhưỡng khi đó đang đến thăm Tokyo. Trong số các thành viên của nó, “nhiều nhạc sĩ và vũ công, ảo thuật gia và nghệ sĩ tung hứng đã nhận được sự hướng dẫn của cá nhân Kim Jong-il.” Kim thậm chí còn phát minh ra một hệ thống ký hiệu để mô tả chuyển động của các vũ công, Choe nói. “Ông ấy cũng là một đạo diễn phim xuất sắc – có lẽ một người nào đó giống như Hitchcock nhưng thuộc một thể loại khác. Lenin được ghi nhận là người đã bồi dưỡng, đào tạo và truyền cảm hứng cho tiểu thuyết gia người Nga Gorky, nhưng Kim Jong-il cũng đang làm công việc tương tự.”

Tham dự cuộc họp đó, tôi đã cố gắng lắng nghe một cách tôn trọng và giữ vẻ mặt nghiêm túc trong khi Choe kể lại những đức tính tốt đẹp của Kim Jong-il. Tuy nhiên, tôi thấy chúng hơi nhiều, và cuối cùng tôi không thể cưỡng lại việc hỏi một cách bất kính rằng liệu Kim con có thể tung hứng và nhảy múa cùng một lúc không. Choe không trả lời trực tiếp mà chỉ nói đơn giản rằng một nhà soạn nhạc vĩ đại không bao giờ là người ca sĩ giỏi nhất, và rằng Alfred Hitchcock, mặc dù là một đạo diễn giỏi, nhưng chưa bao giờ là một diễn viên giỏi.

Vào thời điểm diễn ra Đại hội Đảng lần thứ sáu vào tháng 10 năm 1980, Bộ trưởng Bộ Công an Li Jin-su đã có thể tuyên bố: “Trong quá trình đấu tranh chống các phần tử phản cách mạng của chúng ta, môt rất ít phần tử đối kháng đã bị cô lập hoàn toàn”. Tiếp theo, ông nói, chế độ sẽ tập hợp quần chúng và “phá tan” những “yếu tố đối kháng” đó – có lẽ là những người phản đối kế hoạch kế vị. Đến lúc đó, theo một cựu quan chức cấp cao, bất cứ ai mà Kim Jong-il không thể kiểm soát đều bị cô lập hoàn toàn. Các lực lượng lớn tuổi hơn biết vai trò của họ sẽ là gì và đã chuẩn bị sẵn sàng để không can thiệp vào vai trò của Kim Jong-il.

Đại hội đảng đã tạo cơ hội hiếm có cho những người theo dõi Bình Nhưỡng ở nước ngoài bắt kịp thứ hạng tương đối của các quan chức. Một thay đổi thú vị: Kim Song-ae, vợ chính thức của Kim Il-sung và mẹ của Kim Pyong-il, bị giáng từ vị trí 67 trong danh sách ủy viên Trung ương đảng năm 1970 xuống vị trí 105 vào năm 1980.

Trong cuộc cạnh tranh để tôn vinh và phục vụ Lãnh tụ Vĩ đại đang già đi, kẻ xu nịnh tối cao Kim Jong-il đã nổi lên như người chiến thắng, một cách xác định.. “Trong số những người con của Kim Il-sung, ông ấy là người nhận được sự tin tưởng của cha mình,” một cựu quan chức ngoại giao Triều Tiên giải thích với tôi nhiều năm sau đó. “Ông ta ủng hộ việc thần thánh hóa Kim Il-sung.”

Phản ánh chiến thắng của mình, cũng tại đại hội đó, Kim Jong-il đã được bầu vào đoàn chủ tịch gồm 5 người của Bộ Chính trị và trở thành thành viên ủy ban quân sự của đảng do cha ông làm chủ tịch. Kỷ niệm quyết định này, Nodong Shinmun trong bài xã luận trước Giáng sinh ban cho người nước ngoài một cặp thay thế cho Cha và Con trong ba ngôi của Kitô giáo. “Hỡi mọi người trên thế giới, nếu bạn đang tìm kiếm điều kỳ diệu, hãy đến Triều Tiên!” tờ báo kêu gọi. “Hỡi những người theo đạo Cơ đốc, đừng đến Jerusalem. Hãy đến Triều Tiên. Đừng tin vào Chúa. Hãy tin vào con người vĩ đại.” Tại đại hội đảng đã đưa cậu con trai Kim trở thành quan chức kế vị, “tiếng reo hò rung chuyển trời đất là niềm vui bùng nổ của nhân dân ta, ngước nhìn ngôi sao dẫn đường [Kim Jong-il] cùng tỏa sáng với mặt trời nhân từ [Kim Il-sung].”

Dù họ có thể vui mừng thế nào thì việc chỉ định Kim Jong-il là người thừa kế đã chứng tỏ là “rất đắt giá,” như học giả Lee Manwoo đã nhận xét, vì “phần lớn sự thiếu linh hoạt và cô lập của Triều Tiên là do quyết định này”. Hwang Jang-yop nói thế này: “Rõ ràng là chế độ độc tài của Kim Jong-il là tàn ác và ông ấy có năng khiếu đáng chú ý về điều đó. Chính với năng khiếu đáng chú ý này mà ông ấy đã hủy hoại chính cha mình, xã hội Bắc Triều Tiên và những người ngây thơ đi theo ông ấy. Tôi không thể không lo lắng rằng cuối cùng, khả năng độc tài của ông ta sẽ hủy hoại người dân Hàn Quốc và người nước ngoài và mang đến bi kịch chưa từng có cho 70 triệu đồng bào trên bán đảo Triều Tiên.” Hwang có lẽ đã quá tử tế với Kim Il-sung. Các chính sách của ông Kim cha chịu trách nhiệm phần lớn cho những thảm họa sắp rơi xuống người dân Triều Tiên. Nhưng đúng là, bằng cách đục đẽo các chính sách của cha, bằng cách đốn ngã một cách tàn nhẫn bất kỳ ai đề xuất một cách tiếp cận mới, Kim Jong-il chắc chắn đưa đất nước đến sự sụp đổ.

 

Bình luận về bài viết này