Ashoka- Đi Tìm Vị Hoàng Đế Thất Lạc của Ấn Độ (Bài 11)

CHARLES ALLEN

Trần Quang Nghĩa dịch

11 Alexander Cunningham

Đại đế

Đầu cột sư tử, các khung cửa sổ bị vỡ và các tác phẩm điêu khắc khác gần Đại Bảo Tháp ở Sanchi, được nhà khảo cổ học Joseph Beglar chụp ảnh vào năm 1870. (APAC, Thư viện Anh)

 

Từ năm 1845 đến năm 1849, đội quân của EICO đã chiến đấu trong hai cuộc chiến và kết thúc trong việc sáp nhập Punjab và mở rộng biên giới Công ty John về phía tây bắc xa tận Đèo Khyber. Thiếu tá Alexander Cunningham đã tham gia vào cả hai cuộc chiến nhưng trong thời gian tạm lắng giữa hai cuộc xung đột ông được phái đến Ladakh với vai trò cầm đầu một ủy ban biên giới, với lệnh phân định ranh giới giữa Ấn Độ và Tây Tạng (đến ngày nay vẫn còn tranh cãi). Đó là một công việc nặng nhọc nhưng ông vẫn tìm được thời gian đến thăm Kashmir và khám phá nét kiến trúc đền đài đặc sắc mà ông nghĩ là  vượt trội hơn bất cứ thứ gì ông từng thấy trên đồng bằng Ấn Độ. Tuy nhiên, một cách khá vô lý, ông lại gán cho đó là nhờ ảnh hưởng còn lưu lại của người Hy Lạp. Cunningham cũng đã tận dụng cơ hội để leo lên đến đỉnh cao ngàn bộ của Đỉnh Ngai vàng của Solomon nhìn ra thị trấn Srinagar để khám phá ngôi đền Shankaracharya của giáo phái Shaiva tọa lạc trên đỉnh. Ngôi đền cổ này được cho là được xây dựng bởi nhà cải cách Ấn Độ giáo thế kỷ 9, tên ông ta đã được đặt cho nó, nhưng Cunningham vui mừng khi phát hiện ra rằng ngay cả những người Bà la môn địa phương cũng cho rằng công trình này là của con trai vua Ashoka là Jalauka, vị vua thờ thần Shiva được ca ngợi trong biên niên sử Dòng Sông các Vị Vua vì vai trò của ông trong việc khôi phục Ấn Độ giáo ở Kashmir sau những hành động dị giáo thái quá của vua cha quá si mê đạo Phật.

Cunningham đặc biệt mong muốn được đến thăm một địa điểm khảo cổ cụ thể ở biên giới phía bắc Punjab. Đây là chủ đề của hai bài báo gần đây được đăng trên JRAS, bài đầu tiên do  nhà thám hiểm người Mỹ Charles Masson viết, bài còn lại do Edwin Norris viết. Ông là Trợ lý Thư ký RAS, một nhà ngôn ngữ học tự học khiêm tốn, đã nhiều năm giữ vị trí thư ký tầm thường tại văn phòng EICo ở London trên phố Leadenhall, chuyển từ việc học tiếng vùng Cornwall nước Anh sang chuyên sâu về chữ viết hình nêm của Assyria và Babylon. Cả hai bài đều liên quan đến một bia đá trên biên giới Punjab, được Tướng đánh thuê người Pháp Court phát hiện lần đầu tiên tận những năm 1830 nhưng đã báo cáo quá muộn cho James Prinsep ở Calcutta khiến ông không thể làm gì hơn là ghi nhận sự tồn tại của nó.

Năm 1838, Charles Masson đã đến địa điểm này, bất chấp nguy hiểm cá nhân đáng kể, để cạ quét  đầu tiên bản chữ khắc, mà ông tìm thấy nằm trên hai mặt của một tảng đá lớn trên một ngọn đồi cách làng Shahbazgarhi khoảng một nghìn thước Anh. Bản sao  cạ quét của ông, được tạo ra trên hai tấm ‘vải calico Anh Quốc hạng tốt’, sau vài ngày miệt mài lau chùi hai mặt tảng đá, cuối cùng đã đến được Anh và RAS. Giám đốc RAS  lúc bấy giờ – không ai khác ngoài Giáo sư H. H. Wilson có mặt khắp nơi – đã phát hiện ra rằng nó được viết bằng một bảng chữ cái khác biệt đáng kể so với chữ Brahmi trong các Chỉ dụ Đá và Cột Ashoka được biết đến, và đã chuyển nó cho Trợ lý Thư ký của Hội, Edwin Norris.

Sau một vài ngày nghiên cứu chữ viết trên đá Shahbazgarhi, Norris nhận thấy ‘một nhóm các chữ cái xuất hiện thường xuyên, theo giá trị của một số ký tự tương ứng với các ký tự trên đồng tiền Bactria, đại diện cho từ piyasa đứng sau ba chữ cái mà tôi không thể xác định được… Sau khi tìm hiểu thêm và xem xét danh sách tên trong Mahawanso của Turnour, tôi tin chắc rằng từ đó là Devanampiya. Điểm khác biệt quan trọng nhất là từ xuất hiện ở đây không được viết từ trái sang phải như trong tiếng Pali và tiếng Phạn, mà từ phải sang trái như trong tiếng Aramic.

Nhận ra đây lại là một chỉ dụ khác của Ashoka, Norris đã tìm đến một thành viên khác của RAS, John Dowson, người đã dành vài năm giảng dạy ở Ấn Độ. Họ cùng nhau so sánh dòng chữ Shahbazgarhi với các bản sao Chỉ dụ Đá Girnar của RAS và nhận ra rằng họ đang xử lý hai phiên bản của cùng một văn bản, được viết bằng các ngôn ngữ và ký tự liên quan nhưng khác nhau. Chỉ dụ Đá Shahbazgarhi được viết bằng chữ “Bactrian-Pali” của James Prinsep – chữ Kharosthi – và nó đã xác nhận lý thuyết của Prinsep rằng hai bộ ký tự riêng biệt đã cùng tồn tại song song ở góc tây bắc của tiểu lục địa, cả hai đều được dùng để viết những gì về cơ bản là cùng một ngôn ngữ Prakrit có trước tiếng Phạn  và tiếng Pali.

Norris đã đọc bài viết của mình về Chỉ dụ Đá Shahbazgarhi tại một cuộc họp của RAS chỉ vài tháng trước khi ông qua đời. Sau đó, bài viết được in trên ấn bản mùa thu của JASB năm 1846, kèm theo một ghi chú của Wilson, trong đó ông khen ngợi công trình của Norris nhưng khẳng định lại niềm tin của mình rằng sắc lệnh này và các sắc lệnh khác không liên quan gì đến Ashoka.

Vào tháng 1 năm 1847, trong một chuyến viếng thăm không được phép mà ông đã chấp nhận trong nhiều năm, Cunningham đã vượt sông Indus qua cầu thuyền ở Attock và đến làng Hoti Mardan trên đồng bằng Yusufzai, phía bắc Nowshera. Việc này xảy ra ba năm trước khi Hoti Mardan trở thành trụ sở trung đoàn của Quân đoàn Kỵ binh và Bộ binh Hướng đạo nổi tiếng do Đại úy Harry Lumsden thành lập năm 1847, và vì những lý do chiến lược chính đáng, ngôi làng nằm ở ngã tư đường của hai tuyến đường quan trọng: một tuyến dẫn về phía bắc từ Peshawar đến đèo Malakand dẫn đến Swat; tuyến đường còn lại là tuyến đường thương mại đông-tây cổ xưa được gọi là Sadak-e-Azam hay ‘Đại lộ lớn’, chạy dọc theo sông Kabul cho đến Charsadda trước khi vòng qua chân núi Mahabun để đến điểm giao nhau của sông Indus ở rìa đồng bằng.

Ngôi làng Shahbazgarhi nằm bên Đại lộ Lớn, cách Hoti Mardan vài dặm về phía đông, tại một điểm giao với một con đường từ dãy núi Mahabun đi qua hẻm núi được gọi là Đèo Ambeyla. Tại đây, trên sườn đồi nhìn xuống ngôi làng và đường cao tốc, Vua Ashoka đã chọn trưng bày một bộ Chỉ dụ Đá khác của mình theo cách rất giống với những chỉ dụ ở Girnar và Dhauli.

Tảng đá hình voi ở Shahbazgarhi, được James Craddock chụp ảnh năm 1875. Chỉ dụ Đá 1-1 được khắc trên mặt phía đông của tảng đá, như hình trên. (APAC, Thư viện Anh)

Cunningham lưu ý rằng: “Bản nhữ khắc vĩ đại của Asoka được khắc trên một khối đá cheo leo lớn, không có hình dạng, nằm cao khoảng 24 mét trên sườn đồi, mặt phía tây nhìn xuống làng Shahbazgarhi. Phần lớn chữ khắc nằm trên mặt phía đông của tảng đá nhìn lên đồi, nhưng toàn bộ phần sau, chứa tên của năm vị vua Hy Lạp, lại nằm trên mặt phía tây.” Cunningham đã nhầm lẫn khi mô tả tảng đá Shahbazgarhi là một “khối đá không có hình dạng”. Trên thực tế, nó có hình dạng rất giống một con voi phục, cũng giống như hai địa điểm Chỉ dụ Đá đã được phát hiện cho đến nay. Việc ba địa điểm này – tại Girnar, Dhauli và giờ là Shahbazgarhi – cùng nhau bao quanh một vùng đất hình tam giác trải dài ba ngàn dặm là một minh chứng rõ ràng cho thấy quyền lực của Ashoka đã được mở rộng đến mức nào.

Cunningham không có thời gian để lấy dấu vết hay sao chép trực tiếp các chi dụ, nhưng ông nhận thấy làng Shahbazgarhi được bao quanh bởi tàn tích của nơi mà theo dân làng Yusufzai địa phương, từng là thủ phủ của vùng. Họ chỉ ra một số gò đất đổ nát nằm bên trong thành phố, và hai địa điểm nổi tiếng, được gọi là Khaprai và Khapardarh, là vị trí của các cổng phía bắc và phía đông của thành phố: ‘Sự thật trong lời khai của họ đã được xác nhận bằng cách kiểm tra mặt đất trong phạm vi được chỉ định, nơi tôi thấy khắp nơi rải rác gạch vỡ và mảnh gốm.’ Điều Cunningham cũng biết được là ngôi làng có tên gọi – theo nghĩa đen trong tiếng Pashto, là ‘nhà của vua đại bàng’ – từ một ngôi đền trên đỉnh đồi Chỉ dụ Đá, được một số người cho là mộ của một vị thánh Hồi giáo nhưng những người khác lại cho là mộ của một kẻ ngoại đạo. Điều này đã dẫn Cunningham đến bản dịch hồi ký của hoàng đế Mughal đầu tiên Babur, Baburnama, của John Leyden.

Trong chuyến hành trình dọc theo con đường cũ vào năm 1519, Babur đã cắm trại tại Shahbazgarhi và thấy quang cảnh từ đỉnh đồi nhỏ của nó thật đẹp. Nhưng ông đã nổi giận với ngôi đền trên đỉnh đồi và ra lệnh phá hủy nó: ‘Ta thấy thật không đúng khi một nơi quyến rũ và xinh đẹp như vậy lại được dùng làm mộ của một kẻ ngoại đạo. Vì vậy, ta đã ra lệnh phá hủy ngôi mộ và san phẳng nó xuống đất.’ Hành động của Babur tại Shahbazgarhi đã gợi lên đủ loại câu hỏi trong tâm trí Cunningham, nhưng phải mất 23 năm sau ông mới có thể đưa ra câu trả lời.

Trong cùng chuyến đi đến biên giới phía tây bắc Punjab, Cunningham nhận ra rằng một sĩ quan quân đội khác trong khu vực cũng chia sẻ sở thích sưu tầm cổ vật với ông. Ông là Thiếu tá James Abbott, một trong những sĩ quan chính trị Anh đầu tiên được đưa đến quản lý biên giới Punjab, ban đầu là liên minh với chính quyền Sikh và sau đó thay thế chính quyền này. “Chú” Abbott, biệt danh của ông, đã để lại dấu ấn khi còn là một sĩ quan kỵ binh trẻ với nhiệm vụ nhân đạo táo bạo đến Khiva để giải cứu một số con tin người Nga. Nhiệm vụ này đã khiến Abbott mất hai ngón tay trên bàn tay cầm kiếm, nhưng nó đã dẫn đến việc ông được chọn vào năm 1846 là người phù hợp để thiết lập quyền lực của Anh tại Hazara (không phải khu vực ở Afghanistan nổi tiếng với cư dân Shia bị đàn áp nặng nề mà là vùng núi ít được biết đến hơn ở phía đông sông Indus, ngày nay là miền bắc Pakistan). Trong sáu năm sống giữa người Hazara, Abbott đã trở nên gần gũi với các bộ lạc miền núi – quá gần gũi đến mức khiến cấp trên của ông không hài lòng, dẫn đến việc ông bị cách chức và thuyên chuyển. Nhưng Abbott đã hiểu rõ vùng đất Hazara hơn bất kỳ người châu Âu nào trước đó và sau đó, và là một người quan tâm sâu sắc đến quá khứ của Hazara, bắt đầu với cuộc xâm lược của Alexander và đạo quân Macedonia của ông.

Ngay bên kia sông Indus, đối diện với lãnh địa Hazara của James Abbott, là dãy núi Swat và Buner, được bao quanh bởi khối núi Mahabun hùng vĩ. Đây là vùng đất thù địch, vốn đã khét tiếng là nơi trú ngụ của một nhóm thánh chiến Hồi giáo mà người Anh gọi là ‘những kẻ cuồng tín Hindustani’. Điều đó có nghĩa là Abbott chưa bao giờ đặt chân lên núi Mahabun, nhưng điều đó không ngăn cản ông suy đoán rằng đó hẳn là núi Aornos của Alexander, pháo đài đá nơi các bộ lạc miền núi đã xây dựng căn cứ cuối cùng. ‘Toàn bộ câu chuyện của Arrian về núi Aornos là một bức tranh chân thực về Mahabun,’ ông viết, ‘một dãy núi bị che khuất ở phía đông bởi những vách đá khổng lồ, từ đó đổ xuống một mỏm núi lớn xuống sông Indus giữa Sitana và Umb.’ Điều thuyết phục Abbott là mình đã nói đúng là Alexander đã đóng trại dưới Aornos tại một nơi gọi là Embolina, và trên sườn núi thấp hơn của núi Mahabun hùng vĩ có hai ngôi làng hiện đại có tên là Amb và Balimah, ‘một ngôi làng ở thung lũng sông, ngôi làng còn lại ở trên núi ngay phía trên nó’.

Lý thuyết của Abbott được một sĩ quan Anh khác ủng hộ, Tiến sĩ Henry Bellew, bác sĩ quân y đầu tiên của Quân đoàn Hướng đạo Lumsden. Tiến sĩ Bellew đã dành gần như toàn bộ sự nghiệp quân sự của mình trong và xung quanh Thung lũng Peshawar, khả năng thông thạo ngôn ngữ địa phương và kiến ​​thức về người Pathan Yusufzai khiến ông trở thành một người không chỉ là một bác sĩ quân y. Ông và sĩ quan chỉ huy của mình, Harry Lumsden, là những người châu Âu đầu tiên khám phá quần thể tu viện Phật giáo rộng lớn Takht-i-bahi, cách Mardan chín dặm về phía bắc trên đường đến Swat. Tại đây và những nơi khác trong Thung lũng Peshawar, họ đã tìm thấy tiền xu và các cổ vật khác chứng minh ‘sự tồn tại liên tục của người Hy Lạp, người Hy Lạp-Bactria, người Ấn-Bactria, người Scythia và người Bà La Môn ở đất nước này’. Nền văn minh này nối tiếp nền văn minh khác đã phát triển mạnh mẽ ở đây, với Bà La Môn giáo cuối cùng đã chiến thắng Phật giáo, chỉ để rồi cả hai đều bị Mahmud xứ Ghazni tiêu diệt hoàn toàn vào thế kỷ thứ mười một: ‘Lửa có vẻ như là phương tiện phá hủy chính; vì hầu hết các tàn tích được khai quật đều mang dấu vết của hành động này và cho thấy dấu hiệu của sự bỏ chạy vội vã của những cư dân trước đây.’

Swat và vùng núi Mahabun nằm ngoài tầm kiểm soát của Anh, nhưng Bellew đã thuê trinh sát để lập bản đồ khu vực, từ đó xác định lộ trình của Alexander qua các ngọn núi đến Núi Aornos và xuống điểm giao cắt sông Ấn. Ông được biết trên cao nguyên Mahabun vẫn còn “tàn tích của một pháo đài đá rộng lớn, rất khó tiếp cận”, và theo truyền thuyết địa phương, “Alexander đã vượt sông Ấn bằng một bến cạn dưới chân ngọn đồi được nhắc đến [Mahabun], đi từ Amb sang Darband ở Hazara. Truyền thuyết kể lại cách ngài chiếm được pháo đài cho đến nay vẫn bất khả xâm phạm này nhờ sự can thiệp kỳ diệu của một nhà khổ hạnh bản địa mà ông gặp ngay tại chỗ.”

Tuy nhiên, đối với Alexander Cunningham thì chính những chuyến đi hành hương của hai nhà sư Trung Quốc chứ không phải Alexander mới được tính đến. đã đóng góp hai bài viết chủ yếu mang tính suy đoán về chủ đề này cho JASB trước khi tái gia nhập Quân đội Bengal và tận dụng tốt các kỹ năng kỹ thuật của mình khi vòng thứ hai của Chiến tranh Anh-Sikh bắt đầu vào tháng 12 năm 1848. Ông đã có mặt trong các trận chiến ác liệt ở Chilianwala và Gujrat và trong cuộc đầu hàng sau đó vào tháng 3 năm 1849, dẫn đến việc sáp nhập cuối cùng của Punjab.

Cunningham quá tự tin vào bản thân, điều này khiến ông không muốn thừa nhận mình đã sai. Ông quyết tâm tìm kiếm những ảnh hưởng của Hy Lạp trong điêu khắc và kiến ​​trúc Ấn Độ thời kỳ đầu vốn chưa từng có mặt ở đó, và các phương pháp khảo cổ của ông về cơ bản mang tính hủy diệt, nhưng ông cũng đi trước thời đại rất nhiều trong việc nắm bắt tiềm năng của cái mà ông gọi là “khảo cổ thực địa”, trong nhận thức được rằng tiến trình khai quật song hành với nghiên cứu chữ khắc và cũng như cần phải bảo tồn và gìn giữ. Ông đã thực hiện việc khai quật khảo cổ nghiên cứu có hệ thống đầu tiên ở Ấn Độ vào năm 1851, và khi ông kết thúc cuộc khai quật cuối cùng của mình tại Bodhgaya vào năm 1892, ông đã giám sát ba thập kỷ tiến bộ của ngành khảo cổ học với tư cách là người sáng lập và giám đốc đầu tiên của Cục Khảo cổ học Ấn Độ (ASI).

Kỷ nguyên mới của khảo cổ học Ấn Độ đã hé mở tại Sanchi, nhờ việc bổ nhiệm Joseph, em trai của Cunningham, làm Đặc phái viên Chính trị tại bang Bhopal, miền Trung Ấn Độ. Cách thủ phủ bang 25 dặm về phía Tây Bắc, Sanchi là quần thể bảo tháp trên đỉnh đồi, nổi bật với bảo tháp trung tâm. Đại Bảo Tháp, tên gọi thời bấy giờ, đã được bàn tán rất nhiều kể từ khi James Prinsep tiên phong đọc các dòng chữ khắc của nó vào năm 1837, nhưng tính cô lập về mặt địa lý từng giúp nó sống sót, theo lời Cunningham, “sự thù hận tàn khốc của những người thuộc giáo phái Saiva hung hăng và người Hồi giáo cuồng tín” đã chấm dứt từ lâu. Năm 1822, một Đại úy Johnson nào đó, Trợ lý Đặc phái viên Chính trị tại Bhopal, đã chẻ toạc Đại Bảo Tháp từ trên xuống dưới, để lại một lỗ hổng lớn và trong quá trình này đã phá hủy một phần lan can xung quanh và cổng phía tây. Sau đó, ông còn phá hoại thêm bằng cách đột nhập vào hai bảo tháp lớn nhất tiếp theo, sau này được gọi là Bảo tháp 2 và Bảo tháp 3.

Vào tháng 1 năm 1851, Sanchi trở thành nơi thử nghiệm cho một loại hình khảo cổ học mới, vẫn còn gây thiệt hại nặng nề theo tiêu chuẩn hiện đại nhưng được thực hiện trong bối cảnh  hủy hoại lan tràn các phế tích cổ đại này – bởi dân làng địa phương để tìm kiếm kho báu ẩn giấu, chủ đất tìm kiếm vật liệu xây dựng, nhà thầu khai thác đá vụn để làm móng cho những con đường bộ, đường sắt và cầu mới, và các sĩ quan hoặc viên chức Anh chán nản, những người đáng lẽ phải biết lẽ phải rõ hơn. Tại Sanchi, cuộc khai quật đã được lập bản đồ, vẽ, ghi chép và phân tích. Điều khiến cho việc này trở nên khả thi là nhờ sự hợp tác của Cunningham với một kỹ sư đồng nghiệp, Trung úy Fred Maisey, một họa sĩ và nhà khảo sát tài năng được điều đến bang Bhopal khoảng hai năm trước đó để thực hiện một báo cáo minh họa về Sanchi và các tác phẩm điêu khắc  và và các bản chữ khắc của nó.. Giờ đây, ông thấy mình phải tuân theo Cunningham có cấp bậc và chuyên môn cao hơn.

Giống như ở Sarnath, Cunningham bắt đầu, bằng cách đào một đường hầm từ đỉnh Đại Bảo Tháp xuống, và cũng như trước, ông thấy nỗ lực của mình không được đền đáp. Nó không chứa hài cốt người nào, do đó, nó là một đài tưởng niệm hơn là một nhà mồ, với lớp thạch cao trơn bên ngoài phủ lên lớp gạch đặc bên trong. Nhưng điểm khác biệt của bảo tháp Sanchi so với Sarnath nằm ở phần bao quanh: lan can đá bao quanh một lối đi dành cho đám rước đi vòng bảo tháp và bốn cổng vào được thiết kế tinh xảo, hình dạng như những torana, hay cổng vào, đặt ở bốn hướng chính. Hai trong số các cổng vào vẫn còn đứng vững, hai cổng còn lại đã bị vỡ vụn.

‘Bốn cổng này là những công trình đẹp nhất và có giá trị nhất ở Sanchi,’ Cunningham viết trong báo cáo tiếp theo của mình. ‘Chúng được phủ hoàn toàn bằng phù điêu, mô tả nhiều cảnh sinh hoạt trong nhà và các nghi lễ tôn giáo.’ Các trụ của bốn cổng được nâng đỡ bằng các bộ tượng voi, sư tử và người lùn, khoảng trống trên các cột trụ có hình người cưỡi voi và người cưỡi ngựa, và bên ngoài là những gì Cunningham mô tả là “các vũ công nữ”. Mặt trước của các cột trụ được chia thành các ngăn, mỗi ngăn chứa các cảnh tôn giáo hoặc sinh hoạt gia đình, và các thanh ngang của cổng, dưới dạng ba vòm cửa cao mười chín bộ (khoảng 4,7 mét) xếp chồng lên nhau và nhô ra ở cả hai đầu, cũng được trang trí tương tự bằng các toàn cảnh phức tạp. Cunningham cho rằng những hình ảnh này mô tả các sự kiện từ cuộc đời của Đức Phật Thích Ca hoặc Truyện Jataka – những câu chuyện về các tiền kiếp của Đức Phật – cũng như nhiều hình ảnh mô tả về việc thờ cúng bảo tháp và cây Bồ Đề.

Cunningham giao cho người đồng nghiệp trẻ tuổi của mình nhiệm vụ tỉ mỉ vẽ lại một số cảnh tượng ấn tượng nhất, và ông quan tâm nhiều hơn đến những dòng chữ khắc đi kèm. Như James Prinsep đã phát hiện ra vào năm 1837, những văn bản này hầu hết ghi chép về các khoản cúng dường. Cunningham đã ghi lại gần hai trăm mục, cho thấy hàng cột và bốn cổng đã được các nhà hảo tâm đóng góp, một phần ba trong số đó là phụ nữ, chứ không phải các vị vua hùng mạnh hay các tổ chức tôn giáo. Việc từ bhichhu cỗ xưa, nghĩa là “tỳ kheo”, xuất hiện nhiều lần trên hàng cột, trái ngược với chữ bhikku được viết trên các cổng, cho thấy chữ này xuất hiện trước chữ kia, khiến Cunningham kết luận rằng hàng cột đã được xây dựng vào thời Ashoka và bốn cổng được xây dựng một thế kỷ sau đó. Điều này dường như được xác nhận khi ông đọc một dòng chữ khắc của nhà hảo tâm trên một bảo tháp ở trung tâm của bức tranh toàn cảnh được thể hiện trên mái vòm phía trên của Cổng Nam. Dòng chữ viết: “Món quà của Ananda, con trai của người mới tu học Vasishtha, dưới triều đại của Sri Satakarni”.

Cunningham cho rằng điều này ám chỉ Vua Satakarni I, được liệt kê trong Vishnu Purana là vị vua thứ sáu của triều đại vua Satavahana xứ Andhra. Gia tộc Satavahana được Cunningham biết rõ vì họ là những vị vua Ấn Độ đầu tiên cho khắc mặt mũi lên tiền xu. Họ từng là chư hầu của nhà Maurya cho đến khi Ashoka băng hà, sau đó họ ly khai, và dưới thời Vua Satakarni I, họ đã đánh bại nhà Shunga ở Bắc Ấn Độ để mở rộng quyền cai trị của Satavahani lên phần lớn miền Trung Ấn Độ. Thật không may cho Cunningham, triều đại Satavahana có một số vị vua mang tên Satakarni, bao gồm một vị vua Phật tử, tự xưng là Satakarni Gautamiputra (‘con trai của Cồ Đàm’) và trị vì vào thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Cunningham hoặc đã ghi sai niên đại hoặc nhầm lẫn hai nhân vật này, và dựa trên cơ sở này, đã xác định niên đại của bốn cổng thành là vào thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên.

Việc Cunningham không quan tâm đến các phù điêu ở cổng vào có nghĩa là ông đã không nhận thấy rằng một số cảnh được thể hiện lấy cảm hứng từ các sự kiện tương đối gần đây, bao gồm một số cảnh thậm chí có thể đã xảy ra trong ký ức sống động của những người thợ thủ công đã chạm khắc chúng – đặc biệt là trong trường hợp của Cổng Nam, hiện  chỉ là những mảnh vụn vỡ nằm rải rác trên mặt đất

Một phần Cổng Nam bị sụp đổ của Đại Bảo Tháp tại Sanchi, với bảo tháp gạch và lan can xung quanh ở hậu cảnh, và các phần của mái vòm ở tiền cảnh. Một bức ảnh chụp năm 1861 bởi James Waterhouse. (APAC, Thư viện Anh) (Bên dưới) Một phần phù điêu được thể hiện ở mặt trong của mái vòm giữa, cho thấy một vị vua trên cỗ xe ngựa đang tiến về phía một bảo tháp. Bức ảnh được chụp bởi Raja Deen Dayal năm 1881. (APAC, Thư viện Anh)

Những mô tả của Cunningham về các cảnh được khắc họa trên các cột trụ và khung cửa sổ rải rác của Cổng Nam chỉ là sơ sài. Ông chỉ lưu ý rằng một trong những bức toàn cảnh mở rộng mô tả một vị vua cưỡi xe ngựa tiến đến một bảo tháp, và ở phía bên kia của bảo tháp, vị vua đó dường như đang cúi chào trước nó trong khi một số vua rắn Naga nhìn theo với vẻ tán thưởng. Thiếu tá Franklin đã vẽ lại cảnh này vào năm 1820 (hình dưới)

và Đại úy Murray vào năm 1837 để James Prinsep tái hiện trong JASB (hình dưới).

Giống như họ, Cunningham đã bỏ lỡ ý nghĩa của những gì được miêu tả ở đây và trong hai cảnh khác được thể hiện trên các xà ngang của cùng một cổng, cả hai đều cho thấy một con voi khổng lồ với người quản tượng đặt một chiếc hộp đựng xá lợi trên đầu.

Fred Maisey được giao nhiệm vụ vẽ lại những cảnh này và các cảnh khác ở Cổng Nam, mà ý nghĩa trọn vẹn của chúng chỉ được hiểu rõ khoảng 70 năm sau đó. Một trong những cảnh này đã chứng tỏ có tầm quan trọng then chốt. Nó được vẽ từ một tấm bảng bên hông của một trong những cột trụ đỡ cổng, cho thấy cây Bồ Đề tại Bodhgaya và Ngai Vàng Kim Cương dưới gốc cây, nằm trong khuôn viên kiến ​​trúc giống như một căn lều lớn và bức tường bao quanh do Vua Ashoka xây dựng. Ngay bên dưới là sáu hình người hướng ra ngoài, một vị vua ở giữa, được chỉ ra bởi chiếc ô hoàng gia, và năm phụ nữ. Nhà vua dường như được hai phụ nữ cận kề đỡ.hai bên.

Cây Bồ Đề với vòm lều Ashoka và những phụ nữ, bức tường bao quanh, và bên dưới là một vị vua dường như được hai người dìu đỡ (Frederick Maisey, Sanchi and its Remains, 1892)

Ba cổng còn lại cũng cho thấy những cảnh mà Cunningham và những người cùng thời chưa thể hiểu hết. Đặc biệt đáng chú ý ở đây là hai bức phù điêu do Maisey vẽ. Bức đầu tiên, được vẽ từ một tấm bảng bên hông trên một trong những cây cột của Cổng Tây, cho thấy cây Bồ Đề không có mái che và tường bao quanh. Bên trái là một vị vua rất to béo đang tỏ lòng tôn kính cây bồ đề, xung quanh là các phi tần của ngài. Cảnh thứ hai được chụp từ một tấm bảng bên hông một trong những cây cột ở Cổng Bắc. Bức tranh cho thấy một bảo tháp được bao quanh bởi các tín đồ, cùng với rất đông nhạc công tham dự, trông giống như một buổi lễ khánh thành. Một tín đồ đang mang một chiếc hộp đựng xá lợi.

(Phía trên) Một trong những tấm bảng trên trụ cổng phía Tây của Đại Tháp Sanchi. Bức tranh cho thấy cây Bồ Đề không có hàng rào và ở dạng đơn giản nhất, được bao quanh bởi những người hành hương, dẫn đầu là một người đàn ông to béo khác thường. (Phía dưới) Nhạc công và tín đồ mặc trang phục hoàn toàn không phải của người Ấn Độ, thờ cúng một bảo tháp mới xây, từ một tấm bảng bên hông của Cổng Bắc. (Maisey, Sanchi and its Remains, 1892)

Bức ảnh cuối cùng này đã thu hút sự chú ý của Cunningham. Nó cho thấy những người sùng đạo mặc váy ngắn và áo choàng, đội mũ nhọn hoặc quấn băng đô quanh đầu và đi dép xăng đan buộc dây đến đầu gối. Một trong

các nhạc công chơi một cây sáo đôi, một nhạc cụ khác giống như đàn hạc. Cả nhạc cụ lẫn trang phục đều mang đậm chất Hy Lạp hơn là Ấn Độ. Mọi thứ đều cho thấy đây là hình ảnh miêu tả lễ khánh thành một bảo tháp ở vùng Taxila hoặc Gandhara.

Từ Đại Bảo Tháp, các nhà khai quật đã di chuyển đến khu vực xung quanh. Trước mỗi cổng, họ tìm thấy những ngôi đền thờ Phật, và ngay bên cạnh Cổng Nam là những tàn tích vỡ vụn của một cột đá sa thạch sáng màu, cho thấy độ bóng cao đặc trưng của những cột đá mà Cunningham đã thấy ở Delhi và Allahabad. Trên cột có khắc tám dòng chữ Brahmi, phần trên đã bị hư hại. “Phần mở đầu gần như bị xóa sạch”, Cunningham viết –

Tôi nghĩ có thể từ đầu tiên là Devanam; tiếp theo là một khoảng trống và sau đó là Maga; và toàn bộ dòng có thể được đọc là –Devanam (piya) Magadha raja

‘Devanampriya, Vua của Magadha.’

 Dòng thứ hai có thể được khôi phục một phần, do đó

(a)bhi(vadema)nam Chetiagiri

‘Xin gửi lời chào tới hội huynh đệ Chaityagiri.’

Cuối dòng thứ ba, từ sangham hay ‘tăng đoàn’ hiện rõ mồn một, cũng như các từ ‘bhikhu cha bhikhuni’, ‘tỳ kheo và tỳ kheo ni’. Dòng chữ cuối cùng của bia ký cũng rất rõ ràng: ‘Mong ước của ta là cộng đồng Tăng đoàn hãy luôn đoàn kết.’

Đây là bản khắc đầu tiên trong số những bản được gọi là Chỉ dụ Ly giáo của Ashoka được phát hiện, trong đó hoàng đế kêu gọi cộng đồng Phật giáo tránh bất hòa và duy trì sự đoàn kết. Nếu Ashoka đã cho dựng một tấm bia như vậy ở đây, thì cũng hợp lý khi cho rằng những trụ cột chỉ dụ tương tự cũng sẽ được tìm thấy ở các địa điểm Phật giáo lớn khác. Cho đến nay, chỉ có ba trụ cột Chỉ dụ Ly giáo như vậy được tìm thấy: ở Sanchi, Sarnath và Kausambi, nhưng ban đầu chắc hẳn còn có nhiều nơi khác nữa.

Cunningham tính toán rằng chiều cao ban đầu của thân trụ khắc chữ phải là 31 bộ 11 inch. Các phép đo của ông cũng chứng minh rằng cột trụ đã được định hình sao cho “tạo ra một chỗ phình nhẹ ở giữa thân trụ”, cho thấy bất cứ ai đã đúc trụ đều đã áp dụng cùng một kỹ thuật như người Hy Lạp, những người vốn đã hoàn thiện kỹ thuật này. Cột trụ có một số vết cắt sâu do những nỗ lực cưa xuyên qua thân trụ không thành công, có lẽ là để sử dụng các đoạn đó làm trục lăn.

Việc đào bới thêm qua khối đá bao phủ khu vực đã phát hiện ra quả chuông, bệ đỡ và đầu cột từng được đặt trên đỉnh cột trụ đá Ashoka. Điều khiến các nhà khai quật thích thú là đầu cột có hình dạng bốn con sư tử ‘đứng quay lưng vào nhau, mỗi con cao bốn bộ’. Đầu của chúng đã bị rớt ra, nhưng thân hình và tứ chi chúng vẫn còn nguyên vẹn, ‘được điêu khắc rất táo bạo, và cơ bắp và móng vuốt được sắp xếp chính xác đến mức có thể so sánh với nhiều mẫu vật của nghệ thuật Hy Lạp’. Phần trang trí trên bệ đỡ tròn mà bốn con sư tử đứng trên đó cũng được điêu khắc tinh xảo không kém, với ‘một số tán lá mang đậm phong cách Hy Lạp, và bốn cặp chakwa, hay ngỗng Brahmani linh thiêng. Những con vật này luôn được nhìn thấy đi thành từng cặp, và được người Hindu tôn vinh vì tình cảm vợ chồng của chúng. Do đó, chúng được thể hiện một cách khoa trương với cổ vươn dài và đầu cúi xuống đất.’

Bản vẽ của Fred Maisey về đầu cột sư tử Ashokan bị hư hại tại Sanchi. (Maisey, Sanchi and its Remains, 1892)

 

Bệ đỡ này rất giống với bệ đỡ đỡ phần đầu cột ở Lauriya-Nandangarh tại Bắc Bihar, ngoại trừ ở Sanchi, đàn ngỗng đi thành từng cặp chứ không phải thành một hàng dài.

Một trụ cột thứ hai có chiều cao và hình dáng tương tự trụ cột đầu tiên được tìm thấy gần Cổng Bắc, với đầu trụ không phải hình sư tử mà là một hình người lớn hơn người thật. “Khuôn mặt toát lên vẻ điềm tĩnh nhưng tươi vui”, Cunningham viết, “điều này khiến nó trở thành một trong những tác phẩm điêu khắc Ấn Độ tinh xảo nhất. Có lẽ nó chính là hình ảnh của vua Asoka”. Tuy nhiên, đây chỉ là suy nghĩ viển vông; bức tượng thực ra có niên đại từ thời Gupta.

Cunningham cho rằng Đại Tháp và khu vực xung quanh được xây dựng theo ba giai đoạn: bảo tháp có niên đại trước thời vua Ashoka, lan can và cột đá là của vua Asoka, và bốn cổng vào thời hậu Asoka. Ông chỉ đúng ở chỗ có ba giai đoạn. Lõi gạch của bảo tháp, trụ cột Chỉ dụ và đầu cột sư tử của nó là thực sự Ashoka, nhưng vào lúc kết thúc thời kỳ Mauryan địa điểm này đã bị phá hỏng nặng, thủ phạm có khả năng xảy ra nhất là Bà la môn Pushyamitra, người sáng lập triều đại Shunga. Một hoặc nhiều người kế vị của Pushyamitra sau đó đã khôi phục và mở rộng bảo tháp, thêm công trình đá và lan can xung quanh. Bốn cổng đã được dựng lên vào giai đoạn thứ ba bắt đầu từ Cổng Nam, tự nhận được xây dựng trong thời kỳ trị vì của Vua Satavahana Satakarni – nhưng Satakarni nào? Mặc dù được khắc trong đá, cổng này và ba cổng kia được vẽ rõ ràng trên nguyên mẫu gỗ có thể có trước chúng ở đây và tại các địa điểm khác. Chúng đánh dấu thời điểm chuyển tiếp từ xây dựng bằng gỗ đến xây dựng bằng đá. Nhưng Cunningham cũng có thể đã đúng khi liên kết chúng với Satakarni I, người xây dựng đế chế cai trị trong khoảng 50 năm trước khi ông mất vào khoảng năm 125 trước Công nguyên. Nếu ngày tháng đó là đúng –  và có rất nhiều học giả cho rằng như vậy là còn sớm khoảng một thế kỷ, những người thợ đá lớn tuổi hơn làm việc trên các tác phẩm chạm khắc nổi chắc hẳn đã được sinh ra cùng thế kỷ với vị hoàng đế vĩ đại Ashoka.

Từ Đại Bảo Tháp, Cunningham và Maisey tiếp tục khai quật thêm 27 bảo tháp nữa, 10 bảo tháp trên đồi Sanchi và số còn lại tại bốn địa điểm Phật giáo trên các ngọn đồi xung quanh. Mỗi cuộc khai quật đều dẫn đến việc phát hiện ra các rương chứa một hoặc nhiều hộp đựng thánh tích bằng đá soapstone, mỗi hộp đựng tro cốt và xá lợi, và  đều được khắc bằng chữ Brahmi tên của vị đại sư Phật giáo có hài cốt trong đó, trong một số trường hợp có thêm thông tin cơ bản như, ví dụ, ‘Xá lợi của Kasyapa Gotra đã được giải thoát, nhà truyền đạo cho toàn bộ Hemawanta [dãy Himalaya]’. Trước sự kinh ngạc của những người khai quật, nhiều cái tên trong số này trùng khớp với tên của các vị lão sư và nhà truyền giáo Phật giáo thời kỳ đầu như được ghi trong Biên niên sử Triều đại Vĩ đại Trong bảo tháp mà Cunningham chỉ định là ‘Bảo tháp số 2’ tại Sanchi, người ta đã tìm thấy năm hộp đựng xá lợi, đều chứa di hài của ‘không dưới mười nhân vật Giáo hội Phật giáo, dưới triều đại Ashoka. Một trong số họ [Moggaliputta Tissa] đã chủ trì các phiên họp của Đại Hội Tăng già lần thứ ba, vào năm 241 TCN, và hai người được phái đến vùng Hemawanta với tư cách là nhà truyền giáo, sau Đại Hội. Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng niên đại của Bảo Tháp không thể sớm hơn khoảng năm 220 TCN, vào thời điểm đó, những người cùng thời với Ashoka cuối cùng đã qua đời.’

Xá lợi từ ‘Bảo tháp số 3’ ở Sanchi cũng mang lại những khám phá tương tự. Chúng được tìm thấy chứa tro cốt của hai nhân vật nổi tiếng thời kỳ đầu: Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, hai trong số những người quy y đầu tiên của Đức Phật và là những đại đệ tử thân cận nhất của Ngài. Xá lợi của hai vị này được chôn cất trong các bảo tháp khác, cho thấy tục lệ phân bố xá lợi đã phổ biến vào thời vua Ashoka. “Những khám phá này,” Cunningham viết một cách hoàn toàn xác đáng, “đối với tôi dường như có tầm quan trọng lớn nhất trong  việc minh họa ban đầu về lịch sử sơ khai của Phật giáo Ấn Độ, vì chúng xác thực một cách đầy đủ nhất câu chuyện về những phần thú vị nhất trong triều đại của Ashoka.” Cụ thể hơn, chúng xác nhận những tuyên bố được đưa ra trong Biên niên sử Triều đại Vĩ đại của Ceylon.

Cunningham kết luận rằng Sanchi và vùng Bhilsa (ngày nay là Vidisha) chính là địa điểm được xác định trong Biên niên sử Triều đại Vĩ đại là Chetiyagiri, ‘đồi bảo tháp’, nơi người vợ đầu tiên của Ashoka là Devi xuất thân và nơi hai người con đầu lòng của ngài, Mahinda và Sanghamitta, lớn lên. Chính Devi đã thành lập hoặc bảo trợ một tu viện ở đó, và mặc dù hàng cột và cổng của Đại Bảo Tháp là công trình của những người kế vị Ashoka, địa điểm này đặc biệt được Ashoka quan tâm vì là điểm khởi đầu cho chương trình truyền giáo vĩ đại mà ngài đã khởi xướng như một phần trong nỗ lực truyền bá Phật pháp khắp Jambudwipa và xa hơn nữa.

Không cần phải nói, báo cáo đầu tiên của Cunningham về Sanchi đã ngay lập tức bị Giáo sư Horace Wilson, người vẫn đang chiếm giữ chức vị Boden Phạn ngữ tại Oxford,  phản đối và vẫn từ chối thừa nhận rằng tác giả của các Chỉ dụ Đá và Cột là Ashoka. Cunningham đáp trả bằng cách viết The Bhilsa Topes, minh họa phong phú bằng bản đồ và hình vẽ của Maisey, sau này trở thành khuôn mẫu cho tất cả các báo cáo khảo cổ học được xuất bản tại Ấn Độ thuộc Anh. Ông bác bỏ từng luận điểm của Wilson, không hề che giấu sự khinh miệt của mình đối với việc Wilson dựa vào những di chúc Bà La Môn ‘dối trá’. Ngược lại, ở đây, di chỉ khảo cổ học vững chắc đã cung cấp ‘bằng chứng đầy đủ và thuyết phục nhất về tính xác thực của lịch sử Ashoka, như được ghi lại trong Mahawanso’. Việc xuất bản The Bhilsa Topes vào năm 1853 đã thực sự làm Wilson câm lặng, cuối cùng chấm dứt những tranh cãi về danh tính của Piyadasi và tầm quan trọng của Ashoka với tư cách là người bảo vệ và truyền bá Phật giáo vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên.

Tiến sĩ Wilson đã thống trị bối cảnh Đông phương học kể từ những năm 1820, nhưng không phải lúc nào cũng làm lợi cho nó. Với cái chết của ông vào năm 1860 một cối đá đã rơi xuống từ cổ của các nỗ lực nghiên cứu Ấn Độ, ngay cả khi ảnh hưởng của Wilson vẫn tiếp tục tồn tại ở Oxford, nơi học giả đủ điều kiện nhất để kế nhiệm ông ở Chức vị Boden, đối thủ trẻ người Đức của Wilson là Max Müller, đã bị gạt đi một cách tai tiếng để chọn lựa cựu sinh viên của Wilson là Monier Williams.

Cunningham tin rằng những khám phá của mình tại Sanchi và vùng Bhilsa có tầm quan trọng ngang bằng với những khám phá gần đây của Henry Layard ở Lưỡng Hà, người đã xuất bản tập sách khổ lớn Minh họa về các Di tích Nineveh vài năm trước đó. Nhưng bên ngoài Ấn Độ, rất ít học giả chia sẻ sự nhiệt tình của ông, và công chúng Anh cũng chẳng mấy quan tâm. Họ có thể cảm nhận được sự lãng mạn của Ai Cập cổ đại, nhờ đội quân các nhà bác học đã tháp tùng cuộc xâm lược Ai Cập của Napoleon năm 1798, nhờ việc Jean François Champollion giải mã Phiến đá Rosetta năm 1822, và những chiến lợi phẩm phong phú từ các lăng mộ và kim tự tháp giờ đây chất đầy trong các bảo tàng của họ. Họ thậm chí còn có thể nhận dạng Nineveh, Nimrod và Babylon thông qua Cựu Ước và Đất Thánh. Nhưng Ấn Độ lại là một điều gì đó khác biệt. Công ty John giờ đây thống trị tối cao, áp đặt các giá trị Anh lên một vùng đất trước đây “bị nguyền rủa từ đầu đến cuối bởi tệ nạn, sự ngu dốt, sự áp bức, chế độ chuyên chế, những phong tục man rợ và tàn bạo đã phát triển qua nhiều thế kỷ dưới mọi hình thức cai trị tồi tệ của châu Á”.  Đối với công chúng Anh, Ấn Độ chẳng có gì để cống hiến và chưa bao giờ có, một vùng đất với những nhà thờ Hồi giáo đẹp như tranh vẽ và những ngôi mộ Hồi giáo đổ nát được khắc họa trong các bản in của Daniell. Chẳng có gì ngạc nhiên khi một vị hoàng đế chưa từng được biết đến trong quá khứ xa xôi lại khơi gợi sự quan tâm. Một thế kỷ rưỡi sau, tình hình vẫn gần như vậy.

 

Bình luận về bài viết này