
BRADLEY K. MARTIN
Trần Quang Nghĩa dịch
MƯỜI BỐN : Tai và Mắt
Tất nhiên là chỉ tuyên truyền thôi không đủ để đạt được và duy trì sự kiểm soát chưa từng có của cha con Kim đối với thần dân của họ. Bộ máy nhà nước cảnh sát rập khuôn Liên Xô, với những điểm tương đồng với Đế quốc Nhật. Nhưng một phần nhờ vào dân số nhỏ gọn và đồng nhất của Bắc Triều Tiên nên bộ máy đó thậm chí còn trở nên rộng khắp và chặt chẽ hơn.
Theo Hwang Jang-yop, cựu bí thư đảng đào thoát sang Hàn Quốc năm 1997, lực lượng cảnh sát vũ trang vào đầu thập kỷ đó có khoảng 300.000 người. Lực lượng này được phân chia giữa lực lượng cảnh sát chính quy, thuộc Bộ Công an, và lực lượng mật vụ của Bộ An ninh Nhà nước. Cảnh sát được coi là quan trọng đến sự duy trì chế độ nên họ được đặt ngoài tầm kiểm soát hành chính của nội các. Cả Công an và An ninh Nhà nước đều trực thuộc Ủy ban Trung ương Đảng Lao động.
Các đặc vụ của cả hai bộ đều “đóng chốt ở mọi cấp cơ quan hành chính, cho đến cấp thấp nhất,” Hwang viết. “Họ có nhiệm vụ theo dõi mọi hoạt động đi lại của người dân, nhất là những người bị giám sát đặc biệt. Ngay cả một hành động nhỏ nhặt khác thường cũng có thể bị bắt giữ”, và những ai thu hút sự chú ý của chính quyền đều “trở thành những con cừu hiến tế trong cơn thôi thúc cuồng say của các đặc vụ muốn thể hiện thành tích của mình.” Đặc vụ tại bưu điện chặn lại, kiểm tra thư và bưu phẩm. Đặt bọ nghe lén và nghe lén điện thoại đã được sử dụng để theo dõi ngay cả các quan chức cấp cao. Những người có lương tri đều biết “không được nói ra những suy nghĩ sâu kín nhất của mình, kể cả khi ở nhà”.
Hwang đưa ra một ví dụ về vụ cảnh sát đột nhập vào Đại học Kim Il-sung, nơi ông từng là hiệu trưởng một thời gian. Ông nói, mỗi tổ chức cảnh sát đã thành lập ở đó một chi nhánh có quy mô tương đương với một tổ chức chính quyền hạt. Mỗi đơn vị cảnh sát tại trường đại học “có hàng chục đặc vụ dưới quyền chỉ huy của nó, và các đặc vụ lần lượt được giao nhiệm vụ giám sát, theo dõi tất cả các khoa và đơn vị hành chính của trường đại học. Làm đòn bẩy, họ thuyết phục sinh viên theo dõi lẫn nhau. Công an “tổ chức các nhóm nhỏ trong sinh viên và kiểm soát các nhóm này”. Trong khi đó “cứ năm sinh viên thì có một người là mật vụ của ngành An ninh Nhà nước.”
Chong Ki-hae, một người Nhật gốc Triều Tiên mà chúng ta đã gặp ở chương 6, không muốn hồi hương vào năm 1960. Anh ấy đã đã học tiếng Triều Tiên ở trường Nhật Bản nhưng, có ý định hòa nhập như bất kỳ thanh niên nào khác, anh ấy hiếm khi nói tiếng mẹ đẻ. Tính kỳ thị người Triều Tiên sống ở Nhật Bản đã dễ chịu hơn sau chiến tranh, và “toàn bộ ý tưởng hồi hương không có ý nghĩa gì nhiều với tôi,” anh tâm sự với tôi. Bên cạnh đó, sự nghiệp gia đình ở Nhật Bản đã có những thay đổi tốt hơn, nhờ một người anh trai sở hữu một cửa hàng pachinko – trò chơi Pinball Nhật Bản – và các loại kinh doanh thành công khác. Nhưng cha mẹ anh, nung nấu cảm xúc dân tộc cay đắng, đã quyết tâm gia đình phải hồi hương.
Được gửi đến một cộng đồng nhỏ ở vùng nông thôn Bắc Triều Tiên, Chong nhớ da diết ánh đèn rực rỡ của Tokyo. Nhưng “tôi không có lựa chọn nào khác,” anh nhớ lại. “Tôi phải đi tới nơi họ cử tôi đến.” Anh từng mơ ước trở thành một doanh nhân giống như anh trai thành đạt của mình. Anh cười khi thú nhận sự phi thực tế của ý thức bản thân ở tuổi mười bảy – không có kỹ năng mà chỉ có khát vọng – khởi nghiệp ở một đất nước có nền kinh tế tập trung và tập thể hóa cao.
Khi tôi gặp Chong, anh ấy gầy gò và rám nắng. Tôi đã hỏi về điều đó và anh ấy nói với tôi màu da không phải là kết quả của sự thiếu hụt dinh dưỡng. Anh đã có làn da rám nắng sau khi chuyển đến Triều Tiên. Anh đến với buổi phỏng vấn với bộ vest kẻ sọc tinh tế, áo sơ mi trắng và cà vạt trang trí, thắt lưng hiệu Yves St. Laurent. Anh ấy nói rằng mình thậm chí còn không muốn “chạm vào quần áo” ở Triều Tiên. “Tôi không muốn khoe khoang, nhưng người Nhật có ý thức về thời trang hơn và sính dùng những loại vải đẹp hơn.” Trong nhiều thập kỷ ở Bắc Triều Tiên, anh chưa bao giờ tin vào chủ nghĩa cộng sản, cũng như chưa bao giờ tôn thờ Kim Il-sung. “Đối với một người như tôi, vốn đã từng nếm trải chủ nghĩa tư bản thì điều đó thật khó khăn,” anh nói. “Tôi không bao giờ có thể là một người bình thường. Họ không được tiếp cận thông tin nên họ tin rằng mình đang ở thiên đường.”
Vì vợ chồng Chong đã mang theo kiến thức về một cuộc sống tốt đẹp hơn ở nước ngoài, nên “Công an đã cài các tên do thám vào khu vực lân cận, luôn theo dõi chúng tôi. Khi tôi mới đến đó, mỗi tháng sẽ có người ghé qua hai lần. Lúc đầu, tôi không biết là ai. Đúng vậy. Những hàng xóm cho biết họ là công an. Họ chỉ hỏi han về cuộc sống của chúng tôi ở Triều Tiên như thế nào rồi. Sau khi tôi nói với họ về nỗi thất vọng của mình, họ lên lớp ‘Nhưng hãy nhìn xem, Kim Il-sung đã làm điều này, điều này và điều này cho nhân dân. Sẽ thật vô ơn nếu anh cảm thấy thất vọng.” Tất cả hàng xóm đều theo dõi nhau. Ngay cả tôi cũng bắt đầu quan sát những người bên cạnh mình.”
Chong từng đi từ vùng nông thôn nơi mình ở đến Bình Nhưỡng, nơi anh có thể dùng tiền Nhật Bản của mình để mua các món ngon như giăm bông hoặc xúc xích trong khách sạn. Ở đó, anh gặp một số người trở về từ Nhật Bản. Bảy người đồng cảnh ngộ thương họp mặt bàn bạc về những vấn đề mình gặp phải khi sống ở miền Bắc. Họ đồng ý với nhau là mình không muốn ở đó mãi mà muốn quay về Nhật Bản. Năm 1965, Chong bị bắt và bị bỏ tù 4 tháng. Hóa ra một thành viên trong nhóm của anh ta lại là mật vụ. Tên này đã cung cấp cho chính quyền hồ sơ về tất cả các cuộc gặp gỡ và liên lạc của Chong. Khi anh ở trong tù, chính quyền đã yêu cầu Chong theo dõi những người xung quanh mình. “Họ cho rằng tôi sẽ dễ bảo vì đã bị buộc tội,” anh nói. Mặc dù anh ấy không thể từ chối lời yêu cầu nhưng “thực ra tôi chỉ quyết định không nói chuyện với người khác để không rơi vào tình thế khiến họ gặp rắc rối.” Từ sự việc năm 1965, “Tôi nhận ra rằng mình không nên tin tưởng ai, không nói chuyện với ai. Tôi chỉ tập trung vào việc học thôi.”
Năm 1982, Kim Il-sung bước sang tuổi bảy mươi và chính quyền đã lợi dụng cơ hội này để đàn áp. Chong nói với tôi: “Kể từ ngày 15 tháng 3, trong một tháng, những người có quan điểm sai lầm về chính trị phải thú nhận hoặc bị tố cáo”. “Tôi lại bị Công an trình báo về tội ác năm 1965 và bị xếp vào loại ‘thành phần phản bội nhân dân’. Tôi quyết định tình nguyện chuyển đi đến một vùng nông thôn hẻo lánh hơn. Lúc đó tôi ốm nặng. Nơi tôi đề nghị đến là vùng núi rất cao và không ai đến đó mà quay trở lại. Vì vậy, họ nghĩ rằng không có vấn đề gì khi gửi tôi đến nơi tôi yêu cầu.”
Việc phục hồi một phần đã ở trong tầm tay. Chong cho biết, từ giữa những năm 1980, người Triều Tiên đã tiếp xúc với các thương nhân Trung Quốc và người Nhật Bản đến thăm. Thấy du khách nước ngoài có tiền, “người ta bắt đầu nhận ra rằng Triều Tiên không quá vĩ đại so với phần còn lại của thế giới. Dân chúng trở nên lười biếng. So với những người khác, tôi được coi là một người làm việc siêng năng. Vì vậy, vào năm 1987, họ đã bổ nhiệm tôi làm đảng viên và năm 1988 là đại biểu Hội đồng nhân dân huyện Unhong, tỉnh Yanggang, nơi tôi sống.”
Có lẽ chế độ “muốn nêu ra một tấm gương”, Chong nói. “Khoảng một nửa dân số huyện là gia đình những tội phạm chính trị và những người khác có lý lịch xấu, như tôi. Ý tưởng là để chứng tỏ rằng nếu chúng tôi làm việc chăm chỉ, chúng tôi có thể thành công bất chấp hoàn cảnh như vậy. Họ đã giao cho chúng tôi một số công việc rất quan trọng để tạo động lực. Điều này là một trong những phương pháp của Kim Il-sung: tha thứ và khoe khoang.”
Chong, không giống như nhiều người trở về khác, không còn người thân ở Nhật Bản. Tất cả đều đã hồi hương về Bắc Triều Tiên. Điều đó có nghĩa là không có ai gửi tiền sau khi số tiền mà anh và gia đình mang theo đã tiêu hết. Anh bắt đầu cảm thấy đói vào những năm 1980. “Tôi không có cảm giác thèm ăn lắm,” anh ấy nói với tôi, “nên đó không phải là vấn đề lớn đối với tôi, nhưng điều đó rất khó khăn đối với các con tôi – hai trai và ba gái. Ở tỉnh Yanggang, tôi đã bí mật trồng trọt và thu hoạch thực phẩm -vì thế có lẽ chúng tôi khá giả hơn khi ở thành phố. Nhưng nạn đói thực sự bắt đầu vào khoảng năm 1990. Nông dân đã trở nên lười biếng. Họ không có động lực. Lợi nhuận luôn như nhau bất kể họ làm việc chăm chỉ đến đâu. Chỉ có khoảng 2,5 triệu đến 2,8 triệu tấn gạo được sản xuất ở Triều Tiên. Câu hỏi dành cho tôi là liệu tôi sẽ sống hay chết đói. Vào tháng 3 năm 1993, tôi không có triển vọng gì cho tương lai nên quyết định tự tử. Tôi có một số viên thuốc cần hòa tan trong nước và cất giấu trong buồng riêng. Con gái đã phát hiện. Nó đề nghị cả gia đình cùng nhau từ từ. Tôi đã nghĩ đến việc gửi cả gia đình sang Trung Quốc nhưng không thể vì tôi là cấp phó. Chúng tôi sẽ bị để ý và bị bắt. Thế là tôi đi một mình, như thể tôi vừa biến mất vậy.”
Ở Triều Tiên, Chong nói, “họ không cho phép bạn hy vọng vào một lối sống tốt hơn. Tôi chỉ muốn một cuộc sống bình thường với gia đình mình: thức ăn, những nhu cầu cơ bản. Trong chủ nghĩa xã hội, họ sẽ không chấp nguyện vọng của từng cá nhân.”
Anh ấy đã tìm đường đến Hàn Quốc. “Tôi không thể quên Nhật Bản nhưng ở đó chẳng có ai đợi tôi cả”.
Việc theo dõi của cảnh sát vẫn tiếp tục “suốt thời gian, cho đến ngày tôi đào tẩu.”
Tác phẩm 1984 của George Orwell [Một tiểu thuyết mô tả một viễn cảnh địa ngục ở tương lai nơi tự do cá nhân bị khuất phục trước khuôn phép xã hội] không chỉ là một hư cấu văn chương. Nếu bạn là một người Bắc Triều Tiên, Anh Cả sẽ theo dõi bạn. Mật vụ và cảnh sát tư tưởng có mặt khắp mọi nơi.
Lee Woong-pyong từng là một trong số họ, mặc dù tất cả những gì anh muốn làm chỉ là lái máy bay. “Anh họ của tôi là một phi công, và từ khi tôi bước vào cấp hai, tôi cũng đã mơ ước trở thành một phi công,” Lee nói với tôi nhiều thập kỷ sau đó. “Phi công là một trong những thành viên có địa vị xã hội cao nhất trong quân đội”.
Trong khi người Hàn Quốc có thể nghĩ rằng luật sư và bác sĩ là những nghề nghiệp tốt nhất thì ở Triều Tiên những công việc đó cũng chẳng khá hơn gì những người lao động bình thường”.
Sinh năm 1954, một năm sau hiệp định đình chiến trong Chiến tranh Triều Tiên, Lee lớn lên ở Bình Nhưỡng. Cha anh dạy tại học viện cảnh sát và từng là nghị sĩ thành phố. Mặc dù những vị trí đó và tư cách đảng viên của người cha đã nâng gia đình lên một tầng lớp xã hội mà người dân Triều Tiên bình thường phải ghen tị, nhưng thời gian đó đối với gia đình Lee cũng như hầu hết những người khác trong nước cũng gặp khó khăn không kém. “Tôi có thể nhớ lại khoảng thời gian đầu thập niên 60,” Lee nói với tôi. “Bình Nhưỡng kém phát triển, bò lang thang khắp nơi, phân bò khắp nơi. Không có đường sắt. Không có nhiều đồ nhựa; chỉ sau khi vào tiểu học tôi mới có được một chiếc cặp đi học bằng nhựa.” Quần áo có xu hướng được làm thủ công. Cha của Lee được cấp đồng phục mới hai năm một lần. “Khi ông ấy được cấp bộ mới, chúng tôi sẽ nhuộm bộ cũ của ông bằng một màu khác và một người khác trong gia đình sẽ mặc chúng.” Khẩu phần ngũ cốc chủ yếu ở dạng bột mì, được làm thành bánh bao và mì sợi. Dân chúng thường ăn thực phẩm do Quân đội Liên Xô viện trợ. Lee nói với tôi rằng thức ăn “không bao giờ là đủ”. “Tôi đào hang chuột để lấy thóc mà lũ chuột đã tích lũy. Chúng tôi sống rất tiết kiệm”. Nhưng “hạnh phúc không có nghĩa là tuyệt đối giàu có”, anh nói thêm. “Nó chỉ có nghĩa khi so sánh. Lúc đó mọi người đều nghèo. Đó được coi là hạnh phúc. Tôi chỉ là một đứa trẻ bình thường có cuộc sống rất bình thường. Kỳ vọng của mọi người không phải là cao.”
Mười thành viên trong gia đình, kể cả bà ngoại, đều ở chung một căn hộ tiêu chuẩn hai phòng, rộng sáu mươi mét vuông tại một trong những tòa nhà chung cư được xây dựng từ đống tro tàn đổ nát của Bình Nhưỡng thời chiến. “Chúng tôi đều ngủ cùng nhau. Ngay cả khi học cấp hai, tôi cũng vẫn ngủ với bố mẹ. Tâm lý thời đó khác. Chúng tôi không tưởng tượng rằng mỗi người phải có phòng riêng. Việc tất cả chúng tôi ở cùng nhau dường như là điều bình thường. “
Việc làm quen với hàng xóm của mình được đảm bảo; cư dân trong tòa nhà tắm chung và hai hoặc ba căn hộ dùng chung mỗi lò đốt than. (“Có rất nhiều cãi vã về việc ăn trộm than,” Lee nhớ lại.) Ủy viên Đảng Lao động của trường Lee sống ở một trong những căn hộ ở tầng dưới. Khi Lee mười sáu tuổi và đang học xong cấp hai, chính ủy đã chọn anh trở thành học viên phi công. Mặc bộ đồng phục không quân, Lee đến Chongjin trên bờ biển phía đông để đăng ký vào một chương trình kéo dài 5 năm bắt đầu bằng lý thuyết và chuyển sang huấn luyện bay. Anh được đào tạo trên các máy bay huấn luyện YAK 18, sau đó là máy bay chiến đấu MIG 15, MIG 17 và cuối cùng là MIG 19.
Lee đã lớn lên với thần tượng Kim Il-sung thời còn đi học mẫu giáo. Khi anh kết thúc khóa đào tạo phi công vào khoảng năm 1974, các giáo viên cũng bắt đầu nói về Kim Jong-il. Hợp lý hóa kế hoạch kế vị, họ chỉ ra rằng Stalin đã chết mà không có người kế vị chắc chắn. Liên Xô, họ phàn nàn, sau đó đã đi chệch khỏi lý tưởng cách mạng xã hội chủ nghĩa. (Trong vòng một hoặc hai năm, Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông cũng chết và những tấm gương tiêu cực của họ trong việc kế nhiệm cũng được sử dụng.) Trong khi đó, Lee đã trở thành một thành phần của một nhóm ưu tú không chỉ vì nghề nghiệp mà trong nhiều trường hợp còn nhờ vào hoàn cảnh gia đình của chính các phi công trẻ. Trong số các phi công mà anh biết có cả con trai và cháu trai của một số lãnh đạo cấp cao của đất nước.
Thời gian hoàn vốn đến khi tốt nghiệp năm 1976. Lee nhận thấy rằng mình được kỳ vọng để trở thành người cung cấp thông tin cho Cơ quan An ninh Nhà nước. Tổ chức cảnh sát mật ưu tú, nơi xử lý các vụ án chính trị nhạy cảm nhất, báo cáo trực tiếp với Kim Il-sung. Khi đó là một sở, chưa phải là một bộ đầy đủ, đã được tách ra khỏi Bộ Công an năm 1973.
Lee nói với tôi: “Hầu hết các thành viên trong gia đình tôi đều có quan hệ với Cơ quan An ninh Nhà nước”. Với hoàn cảnh gia đình như vậy, anh ấy là một lựa chọn hiển nhiên. Trên thực tế, anh không có sự lựa chọn thực sự nào về việc có chấp nhận hay không. “Được chọn để thông báo có nghĩa là An ninh Nhà nước tin tưởng bạn. Từ chối công việc sẽ gây bất lợi cho tôi.” Sau khi nghe hai hoặc ba bài giảng, Lee viết ra và đóng dấu vân tay vào một giấy tuyên thệ mà anh nhớ lại những từ ngữ đại loại như: “Là một người cung cấp thông tin cho An ninh Nhà nước, tôi nguyện sẽ trung thành với đảng và làm hết sức mình. Tôi sẽ giữ bí mật.” Anh được chỉ thị “báo cáo bất kỳ ai nói hoặc làm bất cứ điều gì trái với điều lệ của đảng, bất kỳ ai tiết lộ bí mật quân sự, bí mật quốc gia, bí mật đảng, bất kỳ ai đi ngược lại quyền lực của Kim Il-sung, bất kỳ cuộc tranh giành quyền lực nào trong tổ chức.”
Sau đó, Lee đến một căn cứ không quân để sống một cuộc sống hai mặt, vừa bay cùng vừa theo dõi đồng đội của mình. Anh biết mình không hề cô đơn. Mặc dù trong quân đội chính quy có lẽ cứ một trăm binh sĩ thì có một người là kẻ rình mò, anh nghĩ, nhưng tỷ lệ cao hơn đáng kể trong số các phi công – có thể là một trong số mười tám hoặc hai mươi người. Suy cho cùng, các phi công đã được huấn luyện để chiến đấu trên bầu trời Hàn Quốc, tìm hiểu về địa hình và các điều kiện khác ở miền Nam. Nếu một phi công quyết định đào thoát, anh ta sẽ có sẵn phương tiện di chuyển và biết chính xác nơi cần đi, do đó anh ta có thể trốn thoát dễ dàng hơn một người lính bộ binh – và gây ra tổn thất lớn hơn nhiều đối với chế độ miền Bắc. Nhiệm vụ chính của người cung cấp thông tin phi công là chọn ra và báo cáo bất kỳ đồng đội nào có dấu hiệu cho thấy anh ta có thể dự tính đào tẩu. Lee cho biết, hình phạt có thể đoán trước được là quá khắc nghiệt đến mức anh phải suy nghĩ hơn hai lần trước khi đưa ra báo cáo như vậy. Quả thực, “Tôi đã không báo cáo về tình huống đó bởi vì, nếu tôi làm vậy, người đó sẽ bị đày đi đâu đó. Tôi phải thực sự chắc chắn trước khi báo cáo.”
Lee hiếm khi báo cáo – có thể mỗi tháng một lần thay vì hàng tuần, đó là tiêu chuẩn. Anh ta bám vào các báo cáo thường lệ về các phi công đã tiếp khách (Ai? Mấy giờ?), chơi bài và những vi phạm nhỏ khác. Tất nhiên không ai là một vị thánh. “Nếu tôi không thích ai đó, tôi sẽ báo cáo về người đó,” anh thừa nhận với tôi. Nhưng anh ấy nói rằng mình chưa bao giờ khiến ai gặp rắc rối nghiêm trọng với các báo cáo của mình – “không có trường hợp tử vong nào và không có trường hợp nào bị đưa vào tù. Tôi chỉ làm những việc cơ bản, những gì cần thiết.”
Tuy nhiên, anh thấy cuộc sống của mình “rất căng thẳng, vì tôi phải làm hai việc cùng một lúc – công việc bình thường và làm việc cho Cơ quan An ninh Nhà nước. Tôi trở nên ghê tởm cơ chế của chế độ”, vốn sử dụng người cung cấp thông tin để duy trì quyền lực của nó. “Tôi nhận ra rằng chủ nghĩa cộng sản kiểu dạng này không thể tiếp tục được.⁰
Đó là điều đầu tiên tôi nói khi đào thoát sang Hàn Quốc. Tôi đào tẩu vì tôi nghĩ điều đó là bất công.” Vào ngày 25 tháng 2 năm 1983, khi là thiếu tá, anh đã lái một chiếc MIG 19 băng qua Khu phi quân sự và xuống căn cứ không quân Hàn Quốc tại Suwon, nghiêng cánh để báo hiệu rằng mình là người đào thoát.
Mặc dù tôi rất ấn tượng với bài phát biểu mạnh mẽ của Lee với mái tóc húi cua và hói đầu, có nét mặt cương nghị, nhưng tôi cảm thấy có điều gì đó thiếu sót trong câu chuyện mà anh ấy đã kể cho đến thời điểm đó. Kinh nghiệm của tôi khi phỏng vấn nhiều người đào thoát là, trong trường hợp thông thường, tính bất công mang tính hệ thống về mặt lý thuyết không đủ để thúc đẩy một hành động quyết liệt như vậy. Một kẻ đào thoát sẽ biết rất rõ rằng các thành viên trong gia đình mình ở lại rất chắc chắn sẽ bị đưa đến các trại tù chính trị, có lẽ đến suốt đời, để trả giá cho hành động của mình. Trước trách nhiệm nặng nề đó, tôi nhận thấy rằng một người Triều Tiên bình thường sẽ không đào thoát trừ khi anh ta vi phạm hệ thống theo một cách làm tan nát cuộc đời. Nhưng tôi cũng biết rằng chính quyền Hàn Quốc coi Lee là một kẻ đào thoát chân thành. Họ đã chứng tỏ điều đó bằng cách cho anh gia nhập lực lượng không quân của họ (trong một công việc không phi hành, chỉ giảng dạy về Bắc Triều Tiên) và cuối cùng, khi gần đến ngày sinh nhật thứ 40 của mình, anh được thăng cấp trung tá.
Tôi ép Lee kể cho tôi nghe thêm về câu chuyện của anh ấy. Và còn nhiều điều nữa, đủ để thuyết phục tôi rằng anh ấy đã trải qua những xung đột với hệ thống thúc đẩy một nhân vật đến mức ghê tởm bản thân trong một cuốn tiểu thuyết của Graham Greene. Hóa ra sự “giác ngộ” của anh có liên quan đến người phụ nữ anh yêu. Nhưng tôi đang đi trước câu chuyện.
Trở lại thời điểm đào thoát, Lee nói với tôi, “rất nhiều người nghi ngờ tôi vì có vẻ không tin tôi có một lý do mang tính quyết định – rằng tôi vừa đào thoát vì lý do chính trị.” Tuy nhiên, đó là lý do của mình, anh ấy nhấn mạnh. “Về cơ bản, chế độ này đã gây quá nhiều áp lực lên các quyền cơ bản của người dân.” Tôi hỏi anh ấy một ví dụ. “Ví dụ,” anh ấy trả lời, “vì khái niệm đấu tranh giai cấp nên bạn không được phép kết hôn với bất cứ ai bạn muốn.” Bây giờ tôi có thể thấy rằng câu chuyện của anh ấy sắp mang tính cá nhân hơn.
Tôi bắt anh ta khai ra phần còn lại và biết được rằng, khi anh 27 tuổi, có người đã sắp xếp cho anh gặp một cô dâu tương lai. “Tôi sẽ không đề cập đầy đủ tên, nhưng cha mẹ của cô Chang đến từ Seoul và ra miền Bắc vào năm 1949. ” Cặp đôi rất hợp nhau, trao đổi qua thư trong khoảng một năm. “Tôi muốn cưới cô ấy, nhưng các phi công không được phép kết hôn với những người gốc Seoul. “Việc cha mẹ cô Chang đã sống ở Hàn Quốc – trước khi cô được sinh ra – đã khiến lòng trung thành của cô và cả gia đình cô bị nghi ngờ. “Tôi đoán đó là bước ngoặt khiến tôi bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn.” Lee nói với tôi: “Chế độ có quyền gì mà xâm phạm quan hệ xã hội?”
Lee dự kiến sẽ tham khảo ý kiến của một sĩ quan An ninh Nhà nước cấp cao nếu anh ấy muốn kết hôn. “Họ không nói cụ thể là ‘Đừng kết hôn’. Họ nói, ‘Hãy làm như bạn muốn.’ Nhưng thông điệp ngầm là sẽ có rất nhiều bất lợi cho tôi và gia đình. Sau khi kiểm tra lý lịch người phụ nữ đó, tôi biết chúng tôi không nên kết hôn. Tôi dần dần tránh xa cô ấy, cố gắng thuyết phục cô ấy cuộc hôn nhân với một phi công sẽ có nghĩa là một cuộc sống khó khăn.” Anh nhắc nhở cô rằng các đơn vị quân đội Triều Tiên dự kiến sẽ tự túc thực phẩm. “Tôi nói với cô, ‘Em sẽ phải làm ruộng, nuôi lợn.’ Lá thư cuối cùng tôi nhận được từ cô ấy, cô ấy nói mình sắp cưới một người đàn ông khác. Cô trích dẫn một câu nói của người Triều Tiên nghĩa là ‘ngưu thì tầm ngưu, mã thì tầm mã’.” Cô hiểu lý do thực sự. Tôi đoán là cô ấy đã bị xúc phạm và xúc phạm.”
Trong khi đó, Lee không cần phải là Einstein mới nhận ra rằng có một tên do thám ở đâu đó đang chờ đợi anh nói hoặc làm điều sai trái. Suy cho cùng thì đó là cách chế độ vận hành. Trong khi bản thân Lee làm việc ở Cơ quan An ninh Nhà nước thì luôn có Công an Công cộng cùng với các tổ chức gián điệp khác nhau theo dõi lẫn nhau, thậm chí còn có các đơn vị chính thức đóng chốt trong các tổ chức của nhau để tạo điều kiện cho họ do thám lẫn nhau. Lee cảm thấy sự thất vọng dồn nén trong suốt thời gian anh ở lại Triều Tiên. Thiếu niềm tin vào những người xung quanh, “Tôi không thể nói về sự bất mãn của mình với bất kỳ ai”, anh nói với tôi.
Trong số rất nhiều người đào tẩu và tị nạn mà tôi đã phỏng vấn, tôi thấy Lee là người có đầu óc đặc biệt cứng rắn. Những người Bắc Triều Tiên, ngay sau khi họ đến Trung Quốc hoặc Hàn Quốc có xu hướng định cư theo một tôn giáo, Phật giáo trong một số trường hợp nhưng thường xuyên hơn là đạo Tin lành Phúc âm để thay thế đức tin làm mình thất vọng ở miền Bắc. Lee thì khác về mặt đó. “Tôi không phải là người có tính tổ chức mà là người theo chủ nghĩa cá nhân hơn,” anh ấy nói với tôi. “Đó là lý do tại sao tôi chưa theo đạo nào. Thật khó để chấp nhận nó. Tôi vẫn còn nghi ngờ. Tôi nghĩ tôn giáo được tạo ra để duy trì trật tự xã hội.”
Sau đó anh ấy nhìn tôi chăm chú và nói: “Tôi muốn chính quyền Bắc Triều Tiên biết rằng khi chế độ thay đổi, họ sẽ phải chịu trách nhiệm về tội đã trừng phạt gia đình những người đào thoát. Nhớ ghi điều này vào cuốn sách của ông.”