
Trần Quang Nghĩa dịch
14 Ấn Độ sau Cunningham

Cột đá Lumbini (Lâm Tỳ Ni) với dòng chữ khắc gần như không thể nhìn thấy dưới mặt đất, được khai quật ngay sau khi Tướng Sumsher Khadga Rana tiến hành khai quật vào năm 1896. Ảnh chụp bởi Tiến sĩ Anton Führer. (APAC, Thư viện Anh)
Nhiệm vụ của Ngài Alexander Cunningham chưa bao giờ mở rộng đến các vùng Madras và Bombay. Năm 1873, Tiến sĩ James Burgess, biên tập viên của tạp chí Indian Antiquary và là học trò chính của James Fergusson, đã được bổ nhiệm làm Giám sát viên Khảo cổ học cho Tây Ấn Độ. Hai năm sau, sau những nỗ lực vận động mạnh mẽ từ James Fergusson, Sir Walter Elliot và các nhân vật quan trọng khác ở Anh, Burgess được giao thêm nhiệm vụ phụ trách khảo cổ học ở Nam Ấn Độ. Sau khi Cunningham nghỉ hưu, ông được bổ nhiệm làm Tổng Giám sát viên cho toàn bộ Ấn Độ và chiến thắng của ông trước đối thủ cũ dường như là tuyệt đối, ngay cả khi trợ lý cấp cao của Cunningham, Joseph Beglar, tiếp tục thách thức quyền lực của ông với tư cách là Giám sát viên Khảo cổ học cho Bengal.
Sở thích của Burgess rất khác so với Cunningham, ông tập trung vào kiến trúc hơn là khảo cổ học, và đặc biệt là các đền hang Phật giáo ở miền tây Ấn Độ và các văn khắc trên đó. Điều này có thể giải thích lý do ông không chú ý đúng mức đến một địa điểm khảo cổ quan trọng mà Cunningham luôn coi trọng, nhưng bản thân ông lại chưa bao giờ được phép xem xét: Amaravati.
Kết quả là Amaravati tiếp tục phải hứng chịu sự tàn phá của các nhà khảo cổ nghiệp dư và người dân địa phương tìm kiếm vật liệu xây dựng, đỉnh điểm là lệnh của thống đốc Madras yêu cầu giải tỏa địa điểm này. Điều đó có nghĩa là khi Burgess cuối cùng tự mình khai quật ở đó vào năm 1882, ông chỉ tìm thấy thứ mà chính ông mô tả là “một cái hố lớn”.
Thành tựu duy nhất của Burgess tại Amaravati là ghi nhận rằng một số phiến đá còn lại đã được chạm khắc ở cả hai mặt và rằng bảo tháp dường như đã bị phá hủy dữ dội ở giai đoạn đầu, có lẽ vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên khi triều đại Satavahana đang trong quá trình chiếm đóng để lấp đầy khoảng trống do triều đại Maurya để lại. Sau đó, nó đã được phục hồi và mở rộng đáng kể khi thành phố Dhanyakataka gần đó trở thành kinh đô của các nhà cai trị Satavahana ở Andra. Tuy nhiên, Burgess cũng xứng đáng được ghi nhận vì cuộc khảo sát tiếp theo của ông về các địa điểm khảo cổ ở thượng nguồn Amaravati và phát hiện của ông về bức phù điêu Jaggayyapeta (hình minh họa trang 93).
Tấm bia Jaggayyapeta khi đó không gây nhiều sự chú ý và kể từ đó hầu như bị lãng quên. Tuy nhiên, khi được xem xét những cảnh khắc hình vị Chuyển Luân Vương còn sót lại từ Amaravati, nó cho thấy rằng tín ngưỡng của Chakravartin (Đấng Pháp Vương) đã được thiết lập vững chắc ở Ấn Độ, từ đó lan rộng sang Trung Quốc và các vùng khác.
Quyền lực của Burgess chưa bao giờ mở rộng đến hai tiểu quốc lớn nhất ở Nam Ấn Độ: Hyderabad và Mysore. Tại đây, việc thúc đẩy nghiên cứu về Ashoka được giao cho những người nhiệt tình địa phương, đáng chú ý nhất là Benjamin Lewis Rice, người sinh ra ở Bangalore (cũng vào năm 1837 đầy biến động) và đã trở lại đó vào đầu những năm 1860 để làm hiệu trưởng một trường trung học. Bangalore khi đó là trung tâm hành chính của Anh đối với tiểu quốc Mysore và sau đó Rice được bổ nhiệm làm Thanh tra Trường học và Giám đốc Giáo dục Công cộng cho Tiểu bang Mysore. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, ông đã đi khắp tiểu bang bằng ngựa và ngày càng trở nên am hiểu hơn về lĩnh vực này.
Ông rất quan tâm đến nhiều phiến đá khắc chữ mà ông bắt gặp trong suốt các chuyến đi của mình. Với sự giúp đỡ của các học giả tiếng Phạn và tiếng Kannada, ông bắt đầu thu thập và giải mã những chữ viết cổ này, cuối cùng tích lũy được hơn chín nghìn bản khắc. Sau khi nghỉ hưu, ông được bổ nhiệm làm giám đốc khảo cổ học của bang Mysore, một vị trí mà ông nắm giữ cho đến khi cuối cùng rời Ấn Độ vào năm 1906 ở tuổi bảy mươi.
Tác phẩm để lại dấu ấn của Lewis Rice là bộ sách mười hai tập Epigraphia Carnatica, nhưng thành tựu lớn nhất của ông đến vào năm 1892, khi ông phát hiện ra không dưới ba Chỉ dụ Đá Nhỏ của Ashoka ở Tiểu quốc Mysore: Brahmagiri, Jatinga-Ramesvara và Siddapur MRES – tất cả đều nằm gần nhau bên cạnh sông Chinna Hagari ở huyện Chitaldroog (Chitradurga) thuộc bang Karnataka ngày nay, cách Bangalore khoảng 150 dặm về phía bắc. Cả ba đều là tác phẩm của cùng một người, người này đã ký tên là ‘Capada’ bằng tiếng Kharosthi và tự mô tả mình là một ‘thư lại’, điều này khiến Lewis Rice cho rằng người đó có lẽ đến từ vùng Taxila: ‘Suy diễn người thư lại này có thể là một viên chức được điều chuyển từ vùng cực bắc xuống vùng cực nam của đế chế, điều này ngụ ý rằng sự giao tiếp giữa các vùng diễn ra tự do hơn so với tình hình thường cho là tồn tại vào thời kỳ đó.
Không lâu trước khi Lewis Rice rời đi, ông đã chứng kiến một khám phá còn vĩ đại hơn khi một vị Bà La Môn từ Tanjore tặng cho Thư viện Phương Đông Mysore mới khai trương một bộ sưu tập các văn bản viết trên lá cọ bằng tiếng Phạn. Bộ sưu tập này bao gồm một bản sao của Arthashastra, hay “Luận về Kinh tế Nhà nước“, trong đó trình bày trong 18 chương về cách thức lựa chọn, giáo dục và hướng dẫn một người cai trị để xây dựng một vương quốc có trật tự. Đây là một tác phẩm có vị thế gần như huyền thoại, được cho là đã lưu hành rộng rãi cho đến khi các vương quốc Hindu bị các vương quốc Hồi giáo đánh bại, sau đó tất cả các bản sao dường như đã biến mất. Người ta cho rằng nó đã bị thất lạc cho đến khi bản sao duy nhất còn sót lại này được Shama Shastry, thủ thư của Thư viện Phương Đông Mysore, xác định.
Trong bản còn tồn tại, Luận về Kinh tế Nhà nước được cho là do một biên tập viên hoặc người hiệu đính tên là Vishnugupta viết vào đầu thời kỳ Gupta, nhưng tác phẩm gốc luôn được cho là của vị Bà La Môn Chanakya, còn được gọi là Kautilya, người “giống quạ”. Ông là vai chính trong vở kịch chính trị Chiếc Nhẫn Dấu Ấn Của Quan Đại thần và trong các Purana, người vào thế kỷ thứ tư trước Công nguyên đã lật đổ vị vua Nanda xuất thân thấp kém và đưa người được ông bảo trợ là Chandragupta lên ngôi. Thật vậy, quyền tác giả của Chanakya đã được xác nhận trong chính văn bản, vì trong đoạn áp chót, ông đã viết rằng đây là tác phẩm của “người đã mạnh mẽ và nhanh chóng giành được sự giải phóng cho mẫu quốc, cho nền văn hóa và học thuật và sức mạnh quân sự của nó, khỏi ách thống trị của các vị vua Nanda”.
Ban đầu, Luận thuyết về Kinh tế Nhà nước được truyền miệng từ Chanakya cho các đệ tử của ông, và các đệ tử lại truyền cho các đệ tử của họ cho đến khi cuối cùng được ghi chép lại trên giấy. Khi nó xuất hiện trở lại ở Mysore vào đầu thế kỷ XX, nó nhanh chóng được ghi nhận đúng với bản chất của nó: một luận thuyết về nghệ thuật cai trị và chính quyền vô cùng tinh vi, thiết thực và mang tính cách mạng trong thời đại của nó, đã làm nền tảng cho chính quyền của Chandragupta và những người kế nhiệm trực tiếp của ngài.
Khía cạnh mang tính cách mạng của nó đến từ tuyên bố của tác giả rằng chìa khóa cho một chính quyền tốt không nằm ở những lời cầu nguyện, lễ vật dâng lên thần linh hay cúng dường cho các thầy tế Bà La Môn, mà nằm ở khả năng lãnh đạo được đào tạo bài bản. Kỹ năng cai trị có thể được dạy, nhưng chỉ dành cho những ai có khát vọng và khả năng học hỏi, khả năng ghi nhớ và rút ra những kết luận đúng đắn từ những gì học được, và sẵn lòng vâng phục cổ văn của mình. Thông qua sự giao tiếp với các bậc thầy uyên bác, người cai trị tương lai học được tính tự kỷ luật từ tấm gương của họ, điều này dẫn đến sự tự chủ cao hơn và hiệu quả hơn trong việc tiếp thu kiến thức. Chỉ bằng cách rèn luyện kỷ luật, học thức, ý thức được phúc lợi của tất cả chúng sinh và tận lực vì một chính quyền công bằng, một vị vua mới có thể hy vọng cai trị mà không gặp phải sự phản đối. ‘Hạnh phúc của nhà vua nằm trong hạnh phúc của thần dân,” có lẽ là đoạn văn nổi tiếng nhất trong Luận thuyết của Chanakya, “phúc lợi của nhà vua nằm trong phúc lợi thần dân. Nhà vua không chỉ coi trọng những gì làm hài lòng mình mà còn coi trọng những gì làm hài lòng thần dân.” Những tình cảm này đã được phản ảnh trên đá trong các chỉ dụ của cháu trai Chandragupta, người hẳn đã được thấm nhuần nội dung của Luận thuyết như một phần trong quá trình học tập làm vua của mình.
Chế độ quân chủ là thể chế chính trị tiêu chuẩn của người Aryan ở Ấn Độ, bắt nguồn từ vị vua Prithu gần như huyền thoại, được các vị thần áp đặt lên loài người hỗn loạn và được tôn sùng như thần thánh. Tuy nhiên, Chanakya đã thách thức truyền thống này bằng cách lập luận rằng vị vua đầu tiên là Manu, được dân chúng bầu chọn là người phù hợp nhất để cai trị, và ngài cai trị không phải bằng quyền lực thần thánh mà bằng một khế ước giữa người cai trị và người bị cai trị. Chừng nào còn đảm bảo phúc lợi cho người dân, nhà vua có quyền duy trì luật pháp và trật tự. Việc xuất thân từ tầng lớp Kshatriya chắc chắn là một điều kiện tiên quyết, nhưng không có vị vua nào đủ điều kiện để cai trị trừ khi ông ta sở hữu những phẩm chất cao quý nhất về trí tuệ, khả năng lãnh đạo, quyết tâm và tính tự kỷ luật. Ông ta cũng phải nghe theo lời khuyên của các đại thần và tôn trọng tể tướng như con tôn trọng cha. Tể tướng đó, dĩ nhiên, là một người Bà La Môn, và trong Luận về Kinh tế Nhà nước, ông ta được ca ngợi là người duy nhất có địa vị ngang bằng với nhà vua, có quyền phế truất nhà vua nếu nhà vua trở thành bạo chúa hoặc nếu nhà vua làm cho người dân của mình nghèo khổ.
Như danh hiệu của ông đã thể hiện, Chanakya nhấn mạnh trách nhiệm của người cai trị trong việc xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, bởi vì chính quyền tốt đòi hỏi một nền hành chính có trật tự với các chuẩn mực đạo đức cao, cho phép thương mại, kinh doanh và nông nghiệp phát triển mạnh. Tuy nhiên, song song với những lý tưởng cao cả này, Chanakya cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi những khía cạnh thực tiễn hơn của việc cai trị: làm thế nào để bảo vệ và giữ vững vương quốc; những chiến thuật cần sử dụng để xâm chiếm lãnh thổ của kẻ thù và chiếm giữ pháo đài của đối phương; việc sử dụng mạng lưới gián điệp; và bảy chiến lược để đối phó và vượt qua các lân bang, bao gồm nhượng bộ, trừng phạt, hối lộ, đánh lừa, mưu mẹo, và gây chia rẽ phe đối lập.
Chính khía cạnh này của Luận thuyết đã thu hút sự chú ý của công chúng khi nó trở thành chủ đề thảo luận sôi nổi trong giới chính trị và học thuật ở Ấn Độ vào những năm 1920. Người ta thường gọi Chanakya là Machiavelli của Ấn Độ, một sự so sánh hời hợt mà Thủ tướng tương lai của Ấn Độ, Jawaharlal Nehru, đã bác bỏ khi viết cuốn Khám phá Ấn Độ trong nhà tù của Anh. Xét cho cùng, Machiavelli là một nhà lý luận thất bại, trong khi Chanakya là một người cực kỳ thành công, người đã biến những ý tưởng của mình thành hiện thực:
Táo bạo và mưu mô, kiêu hãnh và tháo vát, không bao giờ bỏ qua một điều nhỏ nhặt , không bao giờ quên mục đích của mình, tận dụng mọi thủ đoạn để lừa gạt và đánh bại kẻ thù, ông ta nắm giữ quyền lực tối cao trong tay và coi hoàng đế như một học trò yêu quý hơn là một người thầy… Hầu như Chanakya không sẵn sàng từ bỏ bất cứ điều gì để đạt được mục đích của mình; ông ta bất chấp mọi thủ đoạn vừa đủ, nhưng cũng đủ khôn ngoan để biết rằng chính mục đích đó có thể bị đánh bại bởi những phương tiện không phù hợp với cứu cánh..
Dường như Chanakya là một hình mẫu quan trọng đối với Pandit Nehru cũng như đối với cháu trai của người mà ông đã đưa lên ngôi vua. Điều đó cho thấy sự kính trọng sâu sắc của Nehru dành cho tác giả của cuốn “Luận thuyết về kinh tế nhà nước” đến mức khi ông trở thành Thủ tướng Ấn Độ, ông đã ra lệnh đặt tên cho khu ngoại giao mới đang được xây dựng ở New Delhi là Chanakyapuri, hay “thành phố của Chanakya”.
Sự xuất hiện trở lại của Luận thuyết vào thập niên đầu thế kỷ XX diễn ra sau hàng loạt các ấn phẩm học thuật, tất cả đều làm sáng tỏ thêm về triều đại Maurya. Tác phẩm Inscriptions de Piyadassi (1881) của Tiến sĩ Émile Senart đã cải tiến công trình của Cunningham và bản thân nó lại được Tiến sĩ Eugen (Ernst) Hultzsch cải tiến thêm, ấn bản sửa đổi của ông về “Inscriptions of Asoka” (1925) vẫn là tác phẩm chuẩn mực về chủ đề này. Tại Anh, Edward Cowell, cựu hiệu trưởng trường Cao đẳng Phạn ngữ ở Calcutta trước khi trở thành Giáo sư Phạn ngữ đầu tiên tại Đại học Cambridge, đã đóng góp vào loạt sách “Sacred Books of the East (Các Sách Thiêng của Đông phương)” của Giáo sư Max Müller và cùng với Robert Alexander Neil, dịch giả của Truyện Jataka Phật giáo, cho ra đời tác phẩm “Divyavadana” hay “Truyện Phật giáo”. Tại Ceylon, công trình tiên phong của George Turnour được tiếp nối bởi hai nhà quản lý thuộc thế hệ sau của Cơ quan Hành chính Dân sự Ceylon: Robert Caesar Childers và Thomas Rhys Davids. Năm 1872, Childers trở thành Phó thủ thư tại Văn phòng Ấn Độ và cùng năm đó xuất bản phần đầu Từ điển tiếng Pali. Sau đó, ông trở thành Giáo sư tiếng Pali đầu tiên tại Đại học London nhưng qua đời năm 1876, và Rhys Davids kế nhiệm ông, tiếp tục thành lập Hội Văn bản Pali vào năm 1881.
Ở tiểu lục địa Ấn Độ Cục Khảo cổ học Ấn Độ đã trải qua một sự kiện chắp vá tồi tệ khác khi các tỉnh địa phương tìm cách tái khẳng định chính mình. Hai cuộc chiến tranh Afghanistan cho thấy Afghanistan vẫn còn ở ngoài tầm với và một tình hình tương tự tồn tại ở Nepal, nơi mà những nhà cai trị Rana vẫn nghi ngờ sâu sắc chính quyền Anh ở Ấn Độ và những toan tính của họ. Tuy nhiên, tình hình đó đã thay đổi khi vào giữa những năm 1890, các báo cáo bắt đầu nhận được về một cột đá khắc chữ được biết đến trong vùng là Bimasenaki nigali hoặc ‘tẩu thuốc của Bhim Sen”, được cho là do thống đốc vùng Tây Nepal nhìn thấy. Vào tháng 3 năm 1895, Tiến sĩ Anton Führer, nhà khảo sát khảo cổ học của chính quyền các tỉnh Tây Bắc và Oude (nay là Uttar Pradesh), được phép đi qua.biên giới trên một con voi. Ông.đã định vị hai đoạn của một cột trụ đồ sộ, trên đoạn ngắn hơn và thấp hơn có khắc một dòng chữ ngắn bằng tiếng Brahmi. hơi hư hỏng nhưng có thể đọc được.

Bia khắc Nigliva Sagar, được dựng lên bởi Hoàng đế Ashoka hai mươi năm sau khi ông lên ngôi. Ảnh chụp bởi Anton Führer năm 1895. (APAC, Thư viện Anh)
Führer đã gửi một bản sao dòng chữ khắc cho người thầy bảo trợ mình, Tiến sĩ Georg Bühler, lúc đó là Giáo sư Phạn ngữ tại Đại học Vienna, ông chỉ ra rằng đó là một hình thức tưởng niệm Ashoka chưa từng được biết đến trước đây. Nội dung như sau (trong bản dịch hiện đại của Giáo sư Harry Falk):
Khi vua Priyadarsin, người được các chư thiên yêu quí, được tôn vinh cho năm trị vì thứ 14, ngài đã mở rộng bảo tháp Phật Konagamana lên gấp đôi kích thước ban đầu. Khi ngài được tôn vinh vào năm trị vì thứ 20 [?], ngài đã đích thân đến và tỏ lòng tôn kính, đồng thời cho dựng một cột đá.
Bia khắc cho thấy rằng vào năm thứ 14 triều đại của mình, tức khoảng năm 256 trước Công nguyên, Ashoka đã ra lệnh mở rộng một đài tưởng niệm hiện có dành cho Phật Câu na hàm (Konagamana), một trong những vị Phật được cho là đã sống trước Phật Thích Ca Mâu Ni. Sáu năm sau, vào khoảng năm 250 trước Công nguyên, ngài đã đích thân đến thăm địa điểm này. Nhà du hành Trung Quốc Huyền Trang đã từng nhìn thấy một bảo tháp tương tự cùng với một cột trụ Ashoka ở phía đông nam thành phố Ka tỳ la vệ (Kapilavastu).
Bất chấp mọi nỗ lực, Cunningham và các đồng nghiệp của ông đã không thể tìm thấy cả Kapilavastu, thành phố nơi Đức Phật Thích Ca được nuôi dưỡng với thân phận Thái tử Siddhartha, và Lâm Tỳ Ni (Lumbini), khu vườn gần đó nơi ngài được sinh ra.
Khám phá của Führer đã khởi đầu một cuộc chạy đua tìm kiếm thành phố huyền thoại đó và khu vườn Lumbini, bởi vì Huyền Trang và người đồng hương của ông, Pháp Hiển, đều đã tìm thấy cả hai.
Lumbini được đặt gần Kapilavastu, và Kapilavastu cách Sravasti vài ngày đường về phía đông, được Alexander Cunningham định vị vào năm 1863. Toàn bộ câu chuyện về cuộc chạy đua tìm kiếm hai địa điểm Phật giáo quan trọng này đã được kể ở nơi khác. Câu chuyện kể rằng vào tháng 11 năm 1896, Tiến sĩ Führer lại được phép vào lãnh thổ Nepal, nhưng lại được hộ tống đến trại của thống đốc địa phương, Tướng Khadga Shumsher Rana, và được chỉ cho một cây cột đứng với một vết nứt nổi bật chạy xuống từ đỉnh. Sau đó, lính công binh của vị tướng này đã đào xung quanh chân cột đến độ sâu khoảng 1,5 mét để phát hiện ra bốn dòng rưỡi chữ Brahmi được khắc rất đẹp, được bảo tồn hoàn hảo.
Khi Führer đọc cụm từ ở cuối dòng thứ hai – hida budhe jate sakyamuni, hay ‘nơi đây Đức Phật giáng sinh, bậc hiền triết của dòng họ Thích Ca Mâu Ni’ – ý nghĩa của bốn dòng rưỡi này lập tức trở nên rõ ràng. Ông biết mình đã tìm thấy Lumbini. Huyền Trang đã mô tả cột trụ của Ashoka bị một con rồng chẻ đôi, và vết chẻ đó hiện rõ trên phần còn lại của cột trụ (xem hình minh họa ở đầu chương này). Các học giả vẫn tiếp tục tranh luận về ý nghĩa chính xác của câu cuối cùng nhưng không có gì mơ hồ về phần còn lại (bản dịch của Giáo sư Falk):
Khi vua Priydarsin, vị vua được các chư thiên yêu quý, được vinh danh năm trị vì thứ 20, ngài đã đích thân đến và tỏ lòng tôn kính. Vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra tại nơi này, ngài đã cho xây một lan can đá và dựng một cột đá. Vì Chúa tể (của thế giới) sinh ra tại nơi này, nên ngài đã miễn thuế cho làng Lumbini và ban cho làng tám lưỡi cày.
Các cột đá Lumbini và Nigliva Sagar cùng những dòng chữ khắc trên đó rõ ràng là sản phẩm của cùng một chuyến hành hương hoàng gia do Hoàng đế Ashoka thực hiện vào khoảng năm 250 trước Công nguyên. Một cột đá thứ ba, chỉ còn lại phần gốc trên nền móng ban đầu và được Tiến sĩ Führer tìm thấy cách cột Nigliva vài dặm về phía tây nam, gần như chắc chắn có niên đại trong cùng chuyến. Sự kiện đó chứng minh một cách chắc chắn rằng Ashoka đã làm những gì Huyền Trang và Truyền thuyết về vua Ashoka đã nói về ngài, đó là thực hiện một chuyến hành hương sâu rộng đến các thánh địa của Phật giáo, bắt đầu từ khu rừng Lumbini và tiếp tục đến Kapilavastu gần đó, nơi ngài đã dựng lên một số bảo tháp và cột tưởng niệm.
Thật không may cho Führer và ngành khảo cổ học Ấn Độ, nhà khảo cổ học Đức này đã đưa ra những tuyên bố hoang đường trong báo cáo về chuyến thám hiểm đầu tiên của ông đến Nepal. Trong một nỗ lực tuyệt vọng để tìm kiếm thành phố cổ Kapilavastu, mà ông tuyên bố đã nhìn thấy trong tất cả vẻ huy hoàng của nó, Führer đã tự đào hố chôn mình, và hố chôn càng sâu hơn khi người ta phát hiện ra ông đã bán những di vật giả cho một nhà sư Phật giáo đến từ Miến Điện. Führer bị sa thải, nhưng những trò hề của ông dường như đã ám ảnh tâm trí của người bảo trợ Georg Bühler, ông này đã biến mất vào tháng 4 năm 1898 khi đang chèo thuyền vào đêm khuya trên hồ Constance. Bi kịch đó và những nghi ngờ về sự giả mạo đã phủ bóng lên giai đoạn cuối cùng của những khám phá khảo cổ được thực hiện ở Bihar trong thập kỷ cuối của thế kỷ XIX, trong đó ba khám phá có tầm quan trọng đặc biệt trong câu chuyện về Ashoka.
Phát hiện đầu tiên không phải là khai quật, mà là một hiện vật được tìm thấy vào năm 1892 bởi Tiến sĩ William Hoey, ủy viên của Phân khu Gorakhpur ở Bắc Bihar. Hoey là một người đam mê khảo cổ học và trong quá trình khám phá một loạt gò đất bên cạnh sông Rapti, ông đã trò chuyện với một ông lão ở làng Sohgaura và biết được rằng khi còn trẻ, ông lão đã đào được một tấm đồng nhỏ, và đã tặng nó cho zamindar (chủ đất) địa phương. Hoey đã tìm hiểu và vài tháng sau, con trai của chủ đất đã đến văn phòng của ông với tấm đồng đó và tặng nó cho ông.
Chiếc đĩa Sohgaura hóa ra được làm bằng đồng thau chứ không phải đồng đỏ, điều này tự nó đã rất đáng chú ý. Nó chỉ dài khoảng 2,5 inch và rộng 134 inch, và ở trong tình trạng bảo quản tốt đến kinh ngạc. Điều đáng chú ý hơn nữa là nó mang cả các biểu tượng và chữ viết, được chạm nổi cao đến mức dễ dàng nhận ra.
Văn bản gồm bốn dòng chữ Brahmi thời Ashoka cổ. Phía trên là một dòng gồm bảy biểu tượng khác nhau: hai loài cây khác nhau được đặt sau hàng rào, hai tòa nhà ba tầng có cột và mái tranh, một vật thể hình mũi giáo, một quả địa cầu có biểu tượng bò tót ở trên đỉnh và, ở trung tâm, một bảo tháp gồm ba mái vòm bán nguyệt có hình sừng mặt trăng trên đỉnh. Ngoại trừ hai tòa nhà, tất cả đều là những biểu tượng được tìm thấy trên các đồng tiền đục lỗ thời kỳ đầu của Ấn Độ.

Chiếc đĩa Sohgaura thời Mauryan, do Tiến sĩ William Hoey tặng cho Hội Á Châu Bengal và sau đó bị thất lạc hoặc đánh cắp. (JASB, 1894)
Hoàn toàn tình cờ, một sĩ quan ICS (Cơ quan Dân sự Ấn Độ) phục vụ dưới quyền Hoey lại là Vincent Smith, một người rất ngưỡng mộ Sir Alexander Cunningham và mười năm sau sẽ nghỉ hưu và đến Oxford để viết cuốn tiểu sử đầu tiên về Ashoka và ấn bản đầu tiên của Lịch sử Ấn Độ Oxford. Hoey và Smith đã viết một bài báo chung trước Hội Á Châu Bengal về tấm bia Sohgaura nhưng không thể làm sáng tỏ nhiều hơn ngoài việc tuyên bố nó thuộc thời kỳ Mauryan. May mắn thay, họ đã chụp ảnh và gửi một bản sao cho Giáo sư Bühler, người đã chứng minh rằng ngôn ngữ trên bia là tiếng Prakrit và đó là một sắc lệnh từ các quan chức tôn giáo tại Sravasti tuyên bố rằng hai kho chứa tại Vamsagrama đang rất cần nguồn cung cấp ngũ cốc, đậu và các loại thực phẩm khác, và những nguồn cung cấp này không được phép bị giữ lại. Các biểu tượng là một bí ẩn đối với Tiến sĩ Bühler lúc bấy giờ cũng như đối với các nhà nghiên cứu chữ khắc ngày nay.
Đã có những ý kiến cho rằng tấm bia Sohgaura đại diện cho một thời điểm quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ chữ tượng hình sang ngôn ngữ viết hoàn chỉnh, giống như một phiến đá Rosetta thu nhỏ. Điều này đã làm dấy lên nhiều suy đoán hoang đường về chữ viết Saraswati bị thất lạc của Ấn Độ, tốt nhất nên để dành cho internet. Điều thích đáng hơn là vào năm 1931, trong khi các nhà khảo cổ học đang bắt đầu các cuộc khai quật sơ bộ tại thành phố lớn Mahasthan có tường bao ở Đông Bengal, lần đầu tiên được Buchanan ghi nhận vào năm 1808 và được Cunningham khám phá rất ngắn gọn vào năm 1879, một người dân địa phương đã phát hiện ra một phiến đá nhỏ rất giống với tấm Sohgaura. Bảy dòng chữ Brahmi trên đó mang một thông điệp tương tự về hình thức tổng quát, đó là một sắc lệnh từ một vị vua vô danh của Magadha – thật bực bội, phần đầu của dòng trên cùng đã bị hư hại quá nhiều để có thể đọc được – gửi đến viên chức tôn giáo của một thị trấn tên là Pundranagara, yêu cầu ông ta thực hiện các biện pháp để giảm bớt nỗi khổ của người dân Samvamgiya do sức mạnh siêu nhiên và – kỳ lạ thay – bởi những con vẹt, và để bổ sung kho lương thực và ngân khố.
Hai hiện vật này gần như chắc chắn cùng thời và thuộc triều đại Mauryan. Chúng cho thấy sự tồn tại của một hệ thống hành chính vô cùng tinh vi, sử dụng một hệ thống thông tin tinh vi không kém. Do có đề cập đến việc cứu trợ nạn đói, người ta cho rằng chúng có thể có niên đại từ thời Chandragupta, khi từng có một nạn đói kéo dài mười hai năm hoành hành. Nhưng những sử gia Hy Lạp đã tường thuật về vương quốc của Chandragupta chắc chắn sẽ đề cập đến một hệ thống liên lạc tinh vi như vậy nếu nó tồn tại. Tất cả bằng chứng đều chỉ ra rằng hai thông điệp này có niên đại từ thời Ashoka. Thật vậy, người ta đã lập luận rằng biểu tượng trung tâm trên tấm đồng Sohgaura – bảo tháp dưới chandra (mặt trăng) có thể là dấu ấn cá nhân của chính Ashoka. Bản thân tấm đồng thau là sản phẩm của một hệ thống sản xuất đòi hỏi kỹ năng đúc cao, sử dụng kỹ thuật sáp chỉ thấy lại ở Ấn Độ cho đến thế kỷ thứ tám sau Công nguyên.
Tiến sĩ Hoey đã trao tặng chiếc đĩa Sohgaura cho Hội Á Châu Bengal. Tình hình quản lý trong giai đoạn khó khăn này của Hội Á Châu Bengal hỗn loạn đến mức phải mất vài năm sau người ta mới chính thức thừa nhận rằng chiếc đĩa Sohgaura đã bị thất lạc. Có thể một ngày nào đó nó sẽ được tìm thấy, có lẽ bị xếp só ở đâu đó phía sau một trong số nhiều kệ tủ xếp dọc các bức tường tại số 1 phố Park Street, Calcutta, nơi ASB đặt trụ sở. Trong khi đó, sự mất mát của nó chỉ có thể được mô tả là không thể bù đắp. Đây là tấm đồng cổ nhất được tìm thấy ở Ấn Độ và chưa từng có thứ gì tương tự được tìm thấy kể từ đó.
Khám phá Ashoka thứ hai diễn ra ở Patna, nơi mà cho đến nay vẫn được coi là nghĩa địa của những hy vọng khảo cổ học. Cunningham đã khám phá thị trấn và vùng lân cận và ra về trong thất vọng, tin chắc rằng kinh đô Pataliputra vĩ đại như người Hy Lạp đã nhìn thấy và ghi chép vào thời Chandragupta đã bị cuốn trôi từ lâu. Bác sĩ L. A. Waddell thuộc Cơ quan Y tế Ấn Độ đã chứng minh điều đó là sai. Waddell là một nhân vật khó ưa, dễ nổi nóng và vô lương tâm trong việc theo đuổi mục tiêu của riêng mình. Ông tự cho mình là người phát hiện ra Lumbini và Kapilavastu, và ông đã hết sức tìm cách phá hoại sự nghiệp của nhà khảo cổ học Babu Purna Chandra Mukherji, người đã tìm thấy thành phố Kapilavastu trong rừng rậm ở Tilaurakot ngay phía tây Nigliva Sagar.
Giống như rất nhiều người cùng thời, Waddell đã nghiên cứu kỹ lưỡng các tác phẩm của các nhà hành hương Trung Quốc. Năm 1892, ông đến Patna từ trạm y tế của mình ở Darjeeling trong hai ngày nghỉ phép, mang theo một bản đồ phác thảo dựa trên thông tin do Pháp Hiển và Huyền Trang cung cấp. Bản đồ này cho ông thấy rằng một số di tích mà những người hành hương Trung Quốc đã ghé thăm nằm trong khu vực hiện nay là khu phố cổ nhất của thành phố Patna, và rằng cung điện của Ashoka và tu viện Ashokarama vĩ đại do Ashoka xây dựng sẽ được tìm thấy ở phía nam đường ray xe lửa, lúc đó đánh dấu ranh giới phía nam của thành phố. Sau đó, ông viết: “Tôi rất ngạc nhiên khi thấy rằng hầu hết các địa danh chính của cung điện, tu viện và các di tích khác của Ashoka vẫn rất rõ ràng đến nỗi chỉ trong một ngày ngắn ngủi, tôi đã có thể xác định được nhiều trong số chúng không chút nghi ngờ, bằng cách dựa vào hành trình của những nhà hành hương Trung Quốc làm kim chỉ nam.”
Những phát hiện của Waddell chỉ là những suy nghĩ viển vông, nhưng ông ấy đã đi đúng hướng. Địa điểm đầu tiên ông khảo sát nằm trong thành phố, cách trường Cao đẳng Patna khoảng nửa dặm về phía nam: một gò đất nhân tạo làm bằng gạch cao khoảng 20 bộ và chu vi khoảng một phần tư dặm (đã bị lấp kín từ lâu). Vào thời của Waddell, nó được biết đến với cái tên gợi nhiều ý nghĩa là Bhikna pahari, hay ‘Đồi Tu sĩ’, và theo Waddell, nó trùng khớp với mô tả của Huyền Trang và vị trí của am thất do Ashoka xây dựng cho em trai mình là Tissa.
Cũng mang tính suy đoán không kém là việc Waddell xác định “Tòa nĐịa ngục” khét tiếng của Ashoka, nhà tù nơi các tù nhân được cho là đã bị tra tấn đến chết trong những năm trước khi ngài cải sang đạo Phật, khi còn là Ashoka hung bạo. Waddell tìm thấy địa điểm này trong một giếng cổ, được gọi là Agam kuan hay “giếng không đáy”, nằm ngay bên ngoài ranh giới thành phố được tạo thành bởi tuyến đường sắt (phía tây nam ga xe lửa Gulzarbagh ngày nay). Giếng đã được trùng tu và lợp mái vào thời Hoàng đế Akbar, nhưng Waddell phát hiện – hoặc tuyên bố đã phát hiện – ra rằng nó có liên quan đến cái ác, nhiều đến nỗi không ai uống nước từ đó cả.
Quan trọng hơn, giếng nước nằm cạnh đền thờ Shitala Devi của đạo Hindu, nữ thần bệnh đậu mùa. Alexander Cunningham đã đến đây vào năm 1879 để tìm kiếm các nữ thần sinh sản yakshi của triều đại Maurya, sau khi đọc được thông tin rằng ba bức tượng như vậy đã được tìm thấy trong khu vực này vào những năm 1820. Hai bức tượng đã được vận chuyển xuôi dòng đến bảo tàng của Hội Á Châu Bengal (ASB), nhưng bức tượng thứ ba đã bị bỏ lại và được Cunningham tìm thấy lại tại đền thờ Shitala Devi, nhưng giờ đây nó là một vật thờ cúng quá thiêng liêng để có thể di chuyển.
Waddell tìm thấy nữ thần của Cunningham (thực ra là hai nữ thần dựa lưng nhau) bị chôn vùi một nửa trong sân đền và ngay lập tức bị ấn tượng bởi sự tương đồng giữa chúng với các tượng yakshi mà Cunningham đã khai quật được ở Bharhut. Ông đã tìm hiểu và biết được rằng cột đá này ban đầu đến từ một địa điểm hoàn toàn khác, cách đó nửa dặm về phía tây. Sau này, ông tuyên bố rằng mình đang theo dấu vết của Huyền Trang, nhưng thực chất chính cột đá yakshi đã dẫn lối ông đến làng Kumrahar.

Một cột lan can Phật giáo có hình dạng một cặp yakshi tại đền thờ Shitala Devi bên cạnh “giếng không đáy” ở Patna, được Alexander Caddy chụp ảnh vào năm 1895. (APAC, Thư viện Anh)
Toàn bộ ngôi làng này thuộc sở hữu của một địa chủ địa phương tên là Trưởng lão Akram-ul-Haq, và những gì Waddell tìm hiểu được từ vị này và tận mắt chứng kiến đã thuyết phục ông rằng mình đã tìm thấy địa điểm cung điện của Vua Ashoka.
Câu chuyện của vị Trưởng lão là nhiều bức tượng ngoại giáo đã được tìm thấy ở đây trong quá khứ, bức tượng gần đây nhất được khai quật trong sân nhà của chính ông vào thời cha ông và bị người Hindu mang đi. Thật vậy, Akram-ul-Haq rất vui lòng trao cho Waddell một số mảnh lan can Phật giáo và một vài phiến đá chạm khắc khác mà ông hoặc tổ tiên của ông đã khai quật được khi đào giếng hoặc móng nhà. Những cuộc tìm kiếm của Waddell đã tìm thấy thêm nhiều mảnh vỡ của các cột đá và lan can, cho thấy rằng một bảo tháp Phật giáo theo phong cách Ashoka thời kỳ đầu đã từng tọa lạc ở vùng lân cận. Ông cũng biết được rằng bất cứ khi nào người ta đào giếng trong hoặc gần làng Kumrahar, những người đào giếng đều gặp phải một chướng ngại vật ở độ sâu 15 hoặc 20 bộ, thường dưới dạng các dầm gỗ hoặc hàng rào đồ sộ. Điều này khiến Waddell nhớ đến “những bức tường gỗ cổ của thành phố như được sử gia Hy Lạp Megasthenes mô tả”.
Được khích lệ rất nhiều bởi cuộc trinh sát ngắn ngủi này, Waddell đã thỉnh cầu chính phủ Bengal cấp kinh phí và năm 1896 trở lại Patna để giám sát việc đào hào tại Kumrahar và ba địa điểm khác. Ở độ sâu khoảng 4,5 mét, gần đường ray xe lửa, ông tìm thấy một đoạn hàng rào gỗ, cũng như một đầu cột tráng lệ theo kiểu Hy Lạp rõ rệt, thuộc thời kỳ Ashoka hoặc ngay sau đó. Tại chính làng Kumrahar, Waddell đã khai quật được những mảnh vỡ của “một cây cột khổng lồ của Ashoka, một trong những cột đá nguyên khối khổng lồ được đánh bóng mà vị hoàng đế này đã dựng lên và khắc các chỉ dụ của mình”.

Một “đầu cột tráng lệ mang đậm phong cách Hy Lạp”, kết hợp các họa tiết của Ashoka và Hy Lạp-Ba Tư. (Trích từ Báo cáo của Waddell về các cuộc khai quật tại Pataliputra (Patna), 1903)
Cuộc khảo sát thực địa tiếp theo của Waddell tại khu vực phía nam Kumrahar đã xác định được những vùng đất thấp trũng, vốn là lòng sông khô cạn, cho thấy rằng vào một thời điểm nào đó trong quá khứ, sông Sone đã chia thành hai nhánh ngay trước khi hợp lưu với sông Hằng. Nhánh chính chảy qua khu vực hiện nay là quận British Civil Lines, được biết đến với tên gọi Bankipur, phía thượng nguồn thị trấn Patna, trong khi nhánh nhỏ hơn hợp lưu với sông Hằng ngay phía nam Patna, tạo nên hòn đảo mà thành phố Pataliputra được xây dựng trên đó. Khi Waddell phát hiện ra những cầu tàu bằng gỗ mà ông phỏng đoán là một loại bến tàu nào đó ở rìa phía nam của làng Kumrahar, điều đó dường như xác nhận rằng sự việc quả thực là như vậy.
Waddell quay trở lại địa điểm Kumrahar vào năm 1897 để tiếp tục công tác khai quật, nhưng ông rất thất vọng khi phát hiện ra một nhà khảo cổ học chuyên nghiệp đã có mặt tại đó. Đó là Babu P. C. Mukherji, đến từ Bảo tàng Ấn Độ ở Calcutta. Tệ hơn nữa, Mukherji đã tìm thấy các mảnh vỡ của sáu cột trụ Ashoka riêng biệt tại Kumrahar, tất cả đều bị chôn vùi trong một lớp tro và than dày, cho thấy điều mà ông tin là một nỗ lực cố ý nhằm chẻ các cột trụ bằng nhiệt.
Waddell vô cùng tức giận trước sự can thiệp này và đã phát động một chiến dịch bất thành nhằm sa thải Mukherji. Hai năm sau, khi Mukherji được bổ nhiệm tiếp tục cuộc khảo sát khảo cổ học vùng Tarai của Nepal do tiến sĩ Führer bị thất sủng khởi xướng, tiến sĩ Waddell lại can thiệp một lần nữa nhằm loại bỏ nhà khảo cổ học người Bengal này. Thật vui mừng khi báo cáo rằng chính Mukherji mới là người chiến thắng cuối cùng – bằng cách phát hiện ra địa điểm thực sự của Kapilavastu tại Tilaurakot cổ đại trong khi tWaddell đang theo đuổi một hướng đi sai lầm ở nơi khác.
Tuy nhiên, công trình tiên phong của Tiến sĩ Waddell tại Patna xứng đáng được ghi nhớ, cũng như việc ông phát hiện ra thêm hai nữ thần sinh sản nhờ thông tin do Trưởng lão Akram-ul-Haq cung cấp. Ông đã lần theo dấu vết của những nữ thần tuyệt vời, lấp lánh này đến một ngôi đền ở Naya Tola, cách Kumrahar (nay là ga xe lửa Rajendra Nagar) nửa dặm về phía tây. Giống như tại đền Shitala Devi, các nữ thần Yakshi đứng tựa lưng vào nhau đỡ một cây cột, nhưng về mặt chế tác thì chúng vượt trội hơn hẳn. Gần như bằng kích thước người thật và khỏa thân chỉ đeo mỗi thắt lưng, giơ cánh tay bóng loáng phía trên bộ ngực bóng loáng để nắm lấy cành cây.
Dù bức tượng này tráng lệ đến đâu, nó vẫn phải nhường vị trí ưu tiên cho một nữ thần khác trong bộ sưu tập tượng Mauryan và Shungan tuyệt vời của Bảo tàng Patna: bức tượng có tên Didarganj Yakshi, không nghi ngờ gì nữa, là một trong những tác phẩm nghệ thuật đẹp nhất của thời kỳ Mauryan từng được phát hiện. Được làm từ cùng loại đá sa thạch sáng màu mà các cột Ashoka đã được chạm khắc, và có lẽ từ cùng một mỏ đá, bức tượng có độ bóng đặc trưng của các cột và những tác phẩm điêu khắc Ashoka đẹp nhất. Giống như các nữ thần cây của Waddell, bà có bộ ngực nổi bật, tròn trịa, vòng eo thon gọn và hông cong quyến rũ, với hai ngấn mỡ mềm mại trên bụng – tất cả đều tỏa sáng với vẻ lấp lánh tuyệt đẹp. Bên cạnh đồ trang sức shringar patti truyền thống trên đầu (giống như các cô dâu Ấn Độ ngày nay), bà còn đeo hoa tai, vòng cổ, vòng tay đến khuỷu tay và vòng chân nặng nề, cầu kỳ. Bà mang một chiếc chowrie hay quạt đuổi ruồi trên vai phải, cho thấy rằng bà là một trong hai thị nữ đứng hai bên bức tượng Phật trung tâm khổng lồ và vô cùng tráng lệ. Bà từng được mệnh danh là Venus de Milo của nghệ thuật Ấn Độ, điều này không hề tôn vinh bà, bởi bà có sức quyến rũ hơn nhiều, dù bà cũng mang nét khiêm nhường giống như người chị em Hy Lạp của mình khi khoác một tấm vải choàng buông xuống từ eo với những nếp gấp tinh tế, được giữ cố định bởi một chiếc thắt lưng dây xích chạm khắc tinh xảo. Bức tượng này được tạc ít nhất một thế kỷ rưỡi trước tượng Venus của Hy Lạp và bởi một nghệ sĩ tài giỏi không kém gì điêu khắc gia Hy Lạp Praxitiles.

(Ảnh trên bên trái) Một trong những nữ thần cây Naya Tola lộng lẫy của Tiến sĩ Waddell, được điêu khắc tuyệt đẹp nhưng vẫn kém hơn so với Didarganj Yakshi (ảnh trên bên phải), chính xác hơn là một chowri dharani, hay ‘người cầm quạt đuổi ruồi’. (Namit Arora xứ Shunya)
Tượng thần Yakshi Didarganj không hề liên quan gì đến Tiến sĩ Waddell. Tượng được một người dân làng Didarganj tìm thấy vào năm 1917, nhô lên khỏi lớp bùn bên cạnh sông Hằng, ngay phía tây Bankipur, rất có thể bị cuốn trôi xuống hạ lưu khi sông Sone vỡ bờ vào một thời điểm nào đó trong quá khứ xa xôi khi dòng chảy của nó gần Pataliputra hơn.
Công trình do Waddell và Mukherji khởi xướng tại Kumrahar đã được hoàn thành bởi một nhà khảo cổ học người Mỹ, Tiến sĩ David Spooner, người đã tích lũy kinh nghiệm khai quật các di tích Phật giáo Kushan trong và xung quanh Thung lũng Peshawar. Năm 1913, Spooner đến Kumrahar và tiến hành cuộc khai quật quy mô lớn và có hệ thống đầu tiên tại địa điểm này, nhờ nguồn tài trợ từ nhà công nghiệp người Parsi, Ngài Ratan Tata. Bên dưới một lớp nhà gạch thời Gupta, ông đã tìm thấy cùng một lớp gỗ cháy và tro dày mà Mukherji đã ghi nhận đầu tiên, trong đó có các mảnh vỡ của ít nhất 72 cột đá sa thạch được đặt cách nhau 15 bộ (khoảng 4,5 mét) trong 8 hàng, mỗi hàng 10 cột. Đây là phế tích còn lại của một hội trường cột trụ được xây dựng trên quy mô thực sự đồ sộ, trải rộng trên diện tích hơn 18.000 feet vuông (khoảng 1670 mét vuông). Ban đầu, các cột trụ đứng trên các bè gỗ nâng đỡ, mà theo phỏng đoán của Tiến sĩ Spooner, chắc hẳn đã dần dần lún xuống lớp đất mềm dưới sức nặng kết hợp của các cột trụ và mái nhà của hội trường. Chưa từng có công trình nào tương tự được tìm thấy ở Ấn Độ, công trình duy nhất có thể so sánh được là hội trường cột trụ lớn ở Persepolis được xây dựng bởi các vị vua Achaemenid và bị phá hủy một phần bởi ngọn lửa của Alexander Đại đế.

Một phần cuộc khai quật của David Spooner tại Kumrahar, cho thấy (phía trên) một cột đá thời Ashoka và các mảnh vỡ của nhiều cột khác nằm rải rác thành từng đống, và (phía dưới) các công nhân đang dọn dẹp một số bè gỗ đỡ các cột của Đại Sảnh Ashoka tại Pataliputra. (APAC, Thư viện Anh)
Ở độ sâu thậm chí còn lớn hơn nơi tìm thấy các bè chống đỡ, người ta còn phát hiện ra một cầu thang gỗ dẫn thẳng từ Đại Sảnh xuống bờ sông. Tất cả những gì Spooner tìm thấy ở đây đều có niên đại từ thời Mauryan trở về sau, cho thấy Đại Sảnh được xây dựng trên khu đất trống ngay bên ngoài thành phố Pataliputra. Đó chỉ có thể là công trình của một vị vua rất quyền lực, và rõ ràng nó được xây dựng không phải để làm cung điện mà là để làm hội trường họp mặt.
Câu trả lời hiển nhiên là đây chính là nơi diễn ra Đại hội Kết Tập Phật giáo lần thứ ba của Ashoka, một hội nghị mà ngài coi trọng đến mức đã chọn nơi này để xây dựng công trình kiến trúc bằng đá đồ sộ đầu tiên của Ấn Độ, rất có thể đã thuê mướn các kiến trúc sư và thợ xây đá từ Ba Tư để thực hiện công việc. Tiến sĩ Spooner chắc chắn nghĩ vậy nhưng sau đó lại làm hỏng lập luận của mình bằng cách tiếp tục cho rằng chính các nhà cai trị Mauryan có thể có nguồn gốc Ba Tư. John Marshall đã nhanh chóng hạ thấp tuyên bố về nguồn gốc Ba Tư của Spooner, tuyên bố này không được đón nhận vui vẻ ở Patna, một trung tâm của tinh thần dân tộc Ấn Độ. Tuy nhiên, ảnh hưởng từ bên ngoài chắc chắn đã hiện hữu, như được thể hiện trong đầu cột mà Waddell tìm thấy, rõ ràng là lấy cảm hứng từ Hy Lạp-Ba Tư, nếu không muốn nói về kỹ thuật chế tác.
Khám phá quan trọng cuối cùng về Ashoka của thế kỷ XIX diễn ra ở Bắc Bihar vào năm 1898, sau khi Tiến sĩ Führer tuyên bố đã phát hiện ra nơi sinh của Đức Phật tại Lumbini và thành phố quê hương Kapilavastu của ngài. Vào tháng 1 năm 1898 – ngay khi Tiến sĩ Führer đang tuyệt vọng cố gắng cứu vãn danh tiếng của mình tại một cuộc khai quật chỉ cách đó vài dặm – một chủ đất địa phương tên là William Claxton Peppé đã cho mở gò tháp lớn nhất trong số nhiều gò tháp trên khu đất của ông ở Piprahwa. Vị trí của nó rất quan trọng: chỉ cách biên giới Nepal nửa dặm về phía nam, cách Lumbini và cột trụ Ashoka của nó 10 dặm về phía tây nam, cách cột trụ Ashoka Nigliva Sagar 17 dặm về phía nam, cách cột trụ Ashoka Gotihawa 12 dặm về phía đông nam và cách Tilaurakot, địa điểm của Kapilavastu cổ đại, 15 dặm về phía đông nam.

Ở độ sâu 24 bộ (khoảng 8m), ngay tại trung tâm và đáy của bảo tháp, Peppé đã tìm thấy một chiếc rương lớn bằng đá sa thạch, nặng khoảng ba phần tư tấn, bên trong có năm hộp đựng xá lợi bằng đá xà phòng, một chiếc bát pha lê và một khối lượng lớn các đồ trang sức nhỏ hình hoa, đá bán quý và các vật phẩm cúng dường khác. Trong sự phấn khích ban đầu, người ta đã bỏ sót một số tro cốt và mảnh xương, sau này được dâng lên cho vua Xiêm, và một dòng chữ Brahmi ngắn được khắc thô sơ quanh miệng một trong những chiếc bình đá xà phòng.

Chiếc bình đựng xá lợi Piprahwa (ở giữa) cho thấy một phần dòng chữ Brahmi được khắc quanh nắp. (Ảnh do Neil Peppé cung cấp)
Dòng chữ khắc đó được Vincent Smith đọc lần đầu tiên, sau đó là Tiến sĩ Führer, người đã gửi một bản sao vẽ tay cho Giáo sư Georg Bühler ở Vienna. Giống như nhiều nhà nghiên cứu chữ khắc khác kể từ đó, Bühler đã bối rối trước ba chữ cái ghép lại thành cụm từ “su ki ti”, nhưng ý nghĩa chung của phần còn lại của dòng chữ khắc dường như khá rõ ràng:
Đây là hòm xá lợi của Đức Phật thần thánh (phần cúng dường) của anh em Sukiti dòng Thích Ca, cùng với các chị em, con trai và vợ.
Giáo sư Bühler tin rằng những gì William Peppé tìm thấy là phần xá lợi của Phật Thích Ca đã đươc phân phát cho dòng họ Sakya, khiến nó trở thành dòng chữ khắc cổ nhất từng được tìm thấy ở Ấn Độ. Ban đầu người ta cho rằng những gì Peppé khai quật được là một bảo tháp bằng gạch do Ashoka xây dựng trên bảo tháp bằng bùn ban đầu từng che phủ tro cốt của Đức Phật, như được kể lại trong Truyền thuyết về Vua Ashoka và bởi Huyền Trang. Hơn nữa, cuộc khai quật thứ hai tại cùng địa điểm được thực hiện vào năm 1972-1973 bởi K. M. Srivastiva cho thấy bảo tháp này thuộc thời kỳ Kushan, được xây dựng trên một bảo tháp bằng bùn trước đó. Nhưng điều cũng được phát hiện là một lớp xá lợi được chôn cất trước đó hai bộ bên dưới vị trí đặt chiếc rương đá, với bằng chứng cho thấy lớp này đã bị xáo trộn vào thời điểm chiếc rương đá cùng với các hộp đựng xá lợi và đồ cúng được đặt vào.
Do mối liên hệ của Peppé với Führer và cái chết sau đó của Bühler, những nghi ngờ vẫn tiếp tục được đặt ra về tính xác thực của địa điểm Piprahwa và dòng chữ khắc trên đó. Tuy nhiên, ngoại trừ thành phần cực đoan trong giới nghiên cứu Phật giáo, không thể nghi ngờ gì nữa rằng chữ khắc Piprahwa là một tài liệu đích thực và có niên đại rất cổ.
Cho đến nay, khoảng 50 văn khắc xá lợi Phật đã được tìm thấy ở tiểu lục địa Ấn Độ, chủ yếu từ vùng Gandhara cổ đại ở hoặc gần Afghanistan, nhưng có một cụm lớn thứ hai ở và xung quanh Sanchi thuộc miền trung Ấn Độ. Chỉ có một văn bản khắc được phát hiện ở chính trung tâm Phật giáo Magadha – tại Piprahwa. Chỉ ở đây, xá lợi được gọi là salilanidhane budhasa bhagavate sakiyanam, hay ‘hộp đựng xá lợi của Đức Phật thuộc dòng Thích Ca’, và không nơi nào khác từ nidhane được sử dụng cho thuật ngữ ‘hộp đựng xá lợi’ thay vì samudaga hoặc manjusa thường thấy ở những nơi khác. Tuy nhiên, điều này chỉ càng chứng tỏ tính xác thực cao hơn của văn khắc. Giáo sư Richard Salomon, một nhà nghiên cứu chữ khắc, lập luận: “‘Dường như đúng là chữ khắc Piprahwa về mọi mặt. Ngôn ngữ của nó là một mẫu mực tốt của Ardhamagadhi [tiếng Prakrit Magadha cổ]. . . Phải là một nhà ngôn ngữ học rất xuất sắc mới có thể tạo ra được một bản sao xuất sắc của ngôn ngữ ít được ghi chép này cách đó hơn một trăm năm.’
Vậy ai đã đặt dòng chữ khắc Piprahwa ở đó và vào thời điểm nào? Sự đơn giản của các chữ cái cho thấy hoặc là nó có niên đại sớm trong quá trình phát triển của chữ Brahmi, hoặc là một cách hiểu dân dã về chữ Brahmi như được hình thành ở vùng đất xa xôi này của Magadha. Nhưng điều đó không tính đến chiếc rương đá độc đáo chứa xá lợi và số lượng cũng như chất lượng của các vật phẩm cúng dường, lên tới hơn 1400 vật phẩm riêng lẻ, bao gồm cả các tác phẩm chạm khắc đá quý hiếm thấy trong bất kỳ hộp đựng xá lợi nào khác. Một người rất quan trọng đã đặt làm những vật phẩm chôn cất và chiếc rương đá này, chiếc rương đá có lẽ được đẽo từ chính mỏ đá Chunar trên sông Hằng, nơi đã khai thác các công trình kiến trúc đồ sộ khác của Ashoka.
Từ những bằng chứng tổng hợp của hai cuộc khai quật tại Piprahwa, có thể xây dựng một kịch bản trong đó các thành viên của dòng họ Thích Ca đã chôn cất phần di vật được chia của một thành viên gia tộc lỗi lạc của mình [tức Đức Phật] gần thành phố Kapilavastu – nơi lưu giữ này sau đó đã bị Hoàng đế Ashoka hoặc đại diện của ngài xâm phạm như một phần trong chương trình phân phối lại xá lợi của Đức Phật Thích Ca, như được mô tả trong Truyền thuyết về vua Ashoka, ghi chép của Huyền Trang và các nguồn khác. Hoàng đế sau đó đã ra lệnh chôn cất lại một phần di vật của vị thánh nhân với nghi lễ trang trọng và xây thêm một bảo tháp đơn giản của riêng mình lên trên, sau đó được người Kushan mở rộng.
Trong số những người vướng vào cuộc tranh cãi Lumbini-Kapilavastu-Piprahwa vào những tháng cuối thế kỷ XIX có Vincent Smith ở Ấn Độ và học giả tiếng Pali T. W. Rhys Davids, lúc đó là Thư ký của Hội Hoàng gia Châu Á tại London. Đến năm 1900, Smith đã chịu đựng đủ và nghỉ hưu sớm để trở thành một nhà sử học toàn thời gian. Cuốn sách “Asoka, vị Hoàng đế Phật giáo của Ấn Độ” của ông được xuất bản một năm sau đó. Trùng hợp thay, T. W. Rhys Davids cũng đang viết một cuốn sách về Ashoka, nhưng bệnh tật đã ngăn cản ông hoàn thành. Đáp lại, ông đã viết cuốn “Ấn Độ Phật giáo”, được xuất bản năm 1903. Hai cuốn sách này đã đưa tên tuổi của Ashoka ra khỏi căn buồng học thuật để đến với công chúng. Sau hai nghìn năm bị lãng quên, vị hoàng đế của Ấn Độ một lần nữa trở thành một nhân vật của công chúng.