Bắc Triều Tiên và Triều Đại Kim (Bài 19)

BRADLEY K. MARTIN

Trần Quang Nghĩa dịch

MƯỜI CHÍN : Một câu chuyện để kể cho các quốc gia

Năm 1989, trong thời gian ngắn tan băng trong mối thù địch gần như không nguôi giữa Bình Nhưỡng và Washington, phái đoàn đầu tiên gồm các “học giả” Triều Tiên đã đến thăm Bờ Đông Hoa Kỳ. Trong bữa tiệc tối vinh danh họ tại căn hộ của một người bạn ở New York, tôi được giới thiệu với các đại biểu Triều Tiên trong đó có lãnh đạo của họ, Giáo sư Kim Jong Su. Có điều gì đó ở ông ta, có lẽ là khuôn mặt trái xoan nhưng quai hàm rắn chắc, hay cái vẻ mỉa mai ở cái miệng trễ xuống của ông ta, trông quen quen. Tôi và Kim nhìn nhau một lúc, ông ấy là người lên tiếng trước hỏi: “Chúng ta chưa gặp nhau bao giờ à?” Quả thực là có, tôi trả lời – nhưng tôi đã làm việc cho The Baltimore Sun vào thời điểm đó, năm 1979. Bây giờ, mười năm sau, tôi đang làm việc cho Newsweek. Tôi quyết định không đề cập đến việc tôi biết ông lần đầu tiên không phải với tư cách là Giáo sư Kim, phó giám đốc một cơ quan tư vấn học thuật có tên là Viện Nghiên cứu Quốc tế, mà là Bai Song-chul, đứa trẻ mồ côi được Kim Il-sung nuôi dưỡng để trở thành nhà ngoại giao làm việc cho Hiệp hội Quan hệ Văn hóa với Nước ngoài.

Đó là một buổi tối đặc biệt thú vị. Các vị khách miền Bắc và một nhóm học giả người Mỹ gốc Hàn đã cùng nhau hát những bài hát Triều Tiên xung quanh cây đàn piano sau bữa tối và nói về hy vọng của họ cho triển vọng thống nhất. Mọi người đều mặc áo sơ mi và thư giãn. Có lúc Kim Jong-su hỏi một cách xã giao liệu tôi có tính trở lại Bắc Triều Tiên hay không.

Đó đúng là câu hỏi mà tôi đã chờ đợi. Kim Yong-nam, bí thư các vấn đề người nước ngoài, đã nói với tôi trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi vào năm 1979 rằng tôi nên quay lại miền Bắc trong tương lai, vì tôi đã “có nhiều bạn” trong đất nước ông. “Sau này chúng ta sẽ có nhiều cơ hội gặp gỡ một lần nữa,” ông ấy đã đảm bảo với tôi. Nhưng rồi miền Bắc đã cuộn tấm thảm chào mừng lại. Trong thập kỷ tiếp theo tôi đã viết thư và gửi điện cho Kim Yong-nam và những người khác ở Bình Nhưỡng hỏi xin phép thăm Triều Tiên, nhưng mỗi yêu cầu đều  bị phớt lờ. Lễ hội Thanh niên và Sinh viên Thế giới được dự trù sẽ khai mạc ở Bình Nhưỡng chỉ vài ngày sau bữa tiệc tối ở New York này và tôi đã nộp đơn xin tác nghiệp ở đó, nhưng triển vọng có vẻ không khả quan.

Khi tôi giải thích tất cả những điều đó với Kim Jong-su, ông ấy đã không ngần ngại đề nghị thay mặt tôi can thiệp và đảm bảo với tôi rằng tôi sẽ được chấp nhận. Ông ấy đã giữ đúng lời hứa và chẳng bao lâu sau tôi đã trở lại Bình Nhưỡng, một lần nữa bị ngồi thu lu trong khách sạn Potonggang.

Trong thập kỷ kể từ chuyến thăm Triều Tiên trước đây của tôi, tổng sản phẩm quốc dân của đối thủ Hàn Quốc đã tăng lên gần 5.000 USD bình quân đầu người trong khi thành tích kinh tế ở miền Bắc tiếp tục tụt hậu. Những báo cáo liên tục đến thế giới bên ngoài đã nói về tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng ở miền Bắc, mặc dù chế độ không thừa nhận điều đó. Thật vậy, họ đã không nói nhiều về những sự kiện như vậy kể từ thời kỳ khó khăn năm 1946, một năm sau giải phóng, khi Kim Il-sung nói với đồng bào của mình: “Mọi thứ đều thiếu thốn với chúng ta – lương thực, nhân sự, vật liệu, v.v. Nhưng đây không phải là lý do để chúng ta nhàn rỗi.” Vào năm 1989, người ngoài cuộc vẫn chưa rõ ràng về những gì vốn được coi là một cử chỉ tuyên truyền tới Hàn Quốc, ngược lại đã khẳng định miền Bắc đang trong quá trình và chạm tới nạn đói. Kang Myong-do báo cáo vào năm 1995 rằng các tổ chức của Triều Tiên chuyên gây bất ổn và tiến hành do thám miền Nam đã nảy ra ý tưởng lên tiếng hào phóng  viện trợ số lượng gạo khổng lồ vào năm 1984 khi người dân miền Nam bị lũ lụt. Tưởng là Seoul như thường lệ sẽ từ chối lời đề nghị. Trước sự kinh hãi của giới lãnh đạo Bình Nhưỡng, người miền Nam đã chấp nhận. Ở Bình Nhưỡng, “Kim Jung-lin, người đưa ra “sáng kiến” này, đã bị lưu đày,” Kang tường thuật. “Ông ấy phải đào công trình hầm cầu xí trong sáu tháng.”

Giờ đây, Kim Il-sung và Kim Jong-il dường như quyết tâm xóa bỏ mọi vấn đề bằng cách tăng cường các cách tiếp cận cũ. Các nhà lãnh đạo cộng sản ở Trung Quốc, Hungary và những nơi khác đang thử nghiệm các cách khích lệ cá nhân và thị trường tự do. Trong khi đó, giới lãnh đạo Bình Nhưỡng đã mơ đến những kế hoạch phức tạp và tốn kém hơn bao giờ hết để đánh bóng uy tín bằng những tượng đài hoành tráng và những lễ hội xa hoa, với hy vọng thuyết phục người dân rằng sự hy sinh của họ là xứng đáng. Sự bối rối và hoảng loạn trong giới lãnh đạo miền Bắc rõ ràng gia tăng khi các đồng minh cũ ở Đông Âu và Liên Xô từ bỏ chủ nghĩa cộng sản và cùng với đó là mối quan hệ đặc biệt của họ với Bình Nhưỡng.

Lần lượt, các quốc gia ủng hộ Triều Tiên hoặc cố gắng duy trì mối quan hệ bình đẳng với hai miền Triều Tiên đều đang ve vãn Hàn Quốc nhưng lại phớt lờ Triều Tiên. Đối với những quốc gia đó, Triều Tiên không còn có nhiều thứ để cống hiến. Mặt khác, Hàn Quốc là mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa, một nguồn thương mại tiềm năng, đầu tư, công nghệ, tư vấn và viện trợ. Xu hướng này có thể được nhìn thấy thoáng qua từ thời điểm Hungary và Hàn Quốc thành lập văn phòng thương mại tại thủ đô của nhau bắt đầu từ cuối năm 1987. Các nước Đông Âu khác theo sau Budapest, ngoại giao nối tiếp thương mại. và sự công nhận

Từ đầu thập kỷ này, các nhà lãnh đạo miền Bắc đã phản ứng trước những dấu hiệu cho thấy Bình Nhưỡng đang thua trong cuộc cạnh tranh với Seoul bằng cách sử dụng biện pháp khủng bố. Có vụ đánh bom Rangoon năm 1983, trong đó đặc vụ Bắc Triều Tiên ám sát các thành viên nội các Hàn Quốc. Năm 1987, đặc vụ Bình Nhưỡng đã đánh bom một máy bay chở khách dân sự của hãng hàng không Korean Airlines, khiến toàn bộ 115 người trên máy bay thiệt mạng. Cuộc tấn công là một nỗ lực nhằm làm hỏng kế hoạch đăng cai Thế vận hội của Seoul. Hai đặc vụ đã nuốt chất độc khi bị bắt, nhưng một người sống sót. Khi bị Hàn Quốc thẩm vấn, cô cho biết cấp trên của cô ở Bình Nhưỡng đã nói rằng mệnh lệnh của cô đến trực tiếp từ Kim Jong-il. (Cựu bí thư đảng Hwang Jang-yop đã đổ lỗi cho Kim Jong-il về vụ việc mà không đưa ra chi tiết.) Trước sự điên tiết của Bình Nhưỡng, Hàn Quốc tiếp tục tăng cường vị thế dẫn đầu của mình đối với miền Bắc không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt chính trị. Năm 1987, các cuộc biểu tình do sinh viên lãnh đạo đã buộc Tổng thống Chun Doo-hwan phải đồng ý bầu cử tự do. Việc cho phép người dân miền Nam lựa chọn lãnh đạo của mình đã làm vô hiệu hóa luận điểm phê phán còn lại của Bình Nhưỡng.

Trong số những thành tựu của Hàn Quốc, không có thành tựu nào khiến các nhà lãnh đạo Triều Tiên tức giận hơn Thế vận hội Seoul năm 1988, nơi tôn vinh và làm nổi bật vị thế quốc tế mới được hình thành của Hàn Quốc. Bình Nhưỡng lần đầu tiên cố gắng tập trung vào hành động của Seoul, yêu cầu được phép đồng đăng cai Thế vận hội. Miền Nam đồng ý thảo luận vấn đề này, nhưng cuộc đàm phán đã sụp đổ. Sau đó là vụ đánh bom máy bay của hãng hàng không Hàn Quốc. Cuối cùng, các nhà lãnh đạo Triều Tiên quyết định tận dụng lượt của mình để tổ chức Lễ hội Thanh niên và Sinh viên Thế giới – một cuộc thi đấu thể thao và tư tưởng nổi tiếng trong thế giới xã hội chủ nghĩa nhưng hầu như chưa từng được biết đến ở Hoa Kỳ – như một sự phô trương của chính họ.  Sau khi giữ khoảng cách với các nhà báo phương Tây trước việc đưa tin phần lớn không thuận lợi vào thời điểm diễn ra giải bóng bàn năm 1979, các quan chức Bình Nhưỡng một lần nữa quyết định tiếp nhận đội ngũ báo chí.

Giống như nhiều việc khác mà ban lãnh đạo đã cố gắng, kế hoạch tổ chức lễ hội như một phương tiện để nâng cao vị thế quốc tế của Triều Tiên đã phản tác dụng nặng nề. Do sự trùng hợp về thời gian, lễ hội Bình Nhưỡng đã khai mạc ngay sau vụ thảm sát Thiên An Môn ở Trung Quốc. Không chỉ các nhà báo mà cả các đại biểu đến từ các nước châu Âu có phong trào xã hội chủ nghĩa tương đối ôn hòa cũng tập trung vào những điểm tương đồng rõ ràng giữa tình hình nhân quyền ở Trung Quốc và Triều Tiên. Những người trong chúng tôi tham dự lễ khai mạc lễ hội, tại một sân vận động hoàn toàn mới, đã chứng kiến ​​một cuộc biểu tình đáng kinh ngạc có thể coi là cuộc biểu tình đầu tiên trong nhiều thập kỷ nhằm phản đối chế độ. Khi các đại biểu Scandinavia và Ý diễu hành quanh sân vận động, họ nhanh chóng giơ cao các biểu ngữ đặt câu hỏi về chính sách nhân quyền ở Triều Tiên và Trung Quốc. Sau đó, những khán giả Đan Mạch giơ biểu ngữ ngay khi Kim Il-sung bắt đầu phát biểu liền thấy mình xô xát với những nam sinh viên Triều Tiên hành động tự phát chứ không phải cảnh sát. Kim Jong-su trấn an tôi sau đó (“Chúng tôi là những người nóng nảy,” ông giải thích, dùng sự việc này để chứng minh rằng không phải dân Triều Tiên nào cũng là người máy như một số người nước ngoài nghĩ.)

Đã được cảnh báo trước, các quan chức Triều Tiên rõ ràng lo ngại về những lời chỉ trích của nước ngoài. Trước lễ khai mạc một, hai ngày, một nhóm phóng viên nước ngoài nhờ tài xế taxi chở đến chỗ ở của đoàn Ý, nơi dự kiến ​​tổ chức một buổi tiệc. Chúng tôi dự kiến ​​sẽ nhận được tin tức về cuộc biểu tình sắp tới. Người lái xe thực sự đã đưa chúng tôi đi – nhưng ra vùng nông thôn. Trong một giờ, anh ta giả vờ bị lạc đường. Cuối cùng anh ta đưa chúng tôi trở lại khách sạn. Có thể là anh ta đã đi quá địa chỉ của khách; người điều hành chúng tôi đã xin lỗi và nói rằng đó là một sai sót. Trước buổi tối đã sắp tàn, chúng tôi cũng được đưa đến bữa tiệc của người Ý.

Cuộc biểu tình ở sân vận động chắc chắn là cuộc biểu tình của người nước ngoài. Hẳn là những người Triều Tiên chứng kiến ​​vụ việc là thành viên của tầng lớp đặc quyền gồm những người trung thành được phép cư trú ở thủ đô, và do đó khó có thể bị ảnh hưởng bởi các biểu ngữ của người biểu tình. Người dân Bình Nhưỡng không những không tham gia biểu tình; những cư dân nước ngoài mà tôi tiếp chuyện cũng nói rằng họ cũng không thấy bằng chứng nào về các cuộc biểu tình của người dân bản địa. “Ồ, họ có thể phàn nàn về việc một cảnh sát dừng xe của họ,” một người nước ngoài nói, “nhưng tôi chưa bao giờ nghe ai chỉ trích chính sách hay hệ thống này.” Người Triều Tiên khẳng định, cũng như vào năm 1979, rằng họ được hưởng  hoàn toàn các quyền tự do. Còn báo cáo của các nhóm nhân quyền cho biết hàng chục nghìn công dân bị bỏ tù vì tội chính trị thì sao? “Không có ai chống lại chính phủ ở đất nước chúng tôi cả,” một hướng dẫn viên lễ hội trả lời. “Đó là một lời nói dối.”

Người Triều Tiên cũng nhấn mạnh rằng đất nước của họ hầu như không có tội phạm. Trong lễ hội, lính canh mặc đồng phục mang súng tự động tiếp tục tuần tra cả trong thành phố và tại các cây cầu, đường băng, đường sắt và các địa điểm nhạy cảm khác ở nông thôn. Nhưng các trạm kiểm soát giữa thành phố và sân bay không có người điều khiển, có lẽ để tạo ít ấn tượng hơn về sự can thiệp kiểu Anh Chị

 

Dù thế nào đi nữa, cũng giống như các xã hội do cộng sản cai trị khác đã phải đối mặt với những thách thức to lớn buộc xã hội phải đi chệch khỏi những lời dạy của Marx, Lenin và Mao, Triều Tiên đang phải trải qua những nỗi thất vọng mà theo thời gian thậm chí có thể biến những người cách mạng cuồng nhiệt phải chống lại chính quyền của mình. Các vấn đề kinh tế vẫn tiếp diễn, và có một số dấu hiệu cho thấy cách xử lý nền kinh tế của chế độ đã bắt đầu gây ra sự bất mãn trong dân chúng. Ví dụ, những người đào thoát sang Hàn Quốc và các quốc gia khác đã phàn nàn rằng dân chúng đã kiệt sức vì cưỡng bách  lao động gần như liên tục cho các chiến dịch tốc độ “tự nguyện”. Tại Đại học Công nghệ Kim Chaek, trong một cuộc phỏng vấn, các quan chức đã phủ nhận báo cáo từ một nhóm nhân quyền rằng 40 sinh viên tại Kim Chaek và một khuôn viên trường đại học khác đã bị bắt một năm trước lễ hội, sau khi xuất hiện các áp phích chất vấn các chính sách kinh tế của chế độ.

Nguồn điện thường xuyên bị thiếu hụt, các cửa hàng vì thế không bật đèn trừ những ngày cuối tuần và những dịp đặc biệt. Tuy nhiên, toàn bộ thời gian diễn ra lễ hội thanh niên là một dịp đặc biệt, với lượng điện năng khổng lồ được sử dụng để thắp sáng Bình Nhưỡng và làm mát du khách. Những tác động thực tế của sự thiếu hụt có thể được nhìn thấy rõ ràng khi xe điện đột ngột đừng lại vào một buổi sáng do sự cố mất điện rõ ràng.

Hàng tiêu dùng sử dụng lâu dài rõ ràng là một vấn đề, mặc dù ở đây một lần nữa chế độ lại tìm cách che giấu sự thật đó. Trong dịp lễ hội thanh niên, chính quyền tăng cường vận chuyển hàng hóa đến các cửa hàng. Tôi nghi ngờ liệu các cửa hàng dành cho người nước ngoài có phải là đại diện cho những cửa hàng mà người dân Triều Tiên thường xuyên mua sắm hay không. Dù thế nào đi nữa, các quầy trưng bày ở cửa hàng bách hóa năm 1989 là một sự cải tiến so với tình trạng tồi tệ một thập kỷ trước đó. Kiểu dáng của một số mặt hàng như túi xách nữ có dấu hiệu rõ ràng được cải thiện, đặc biệt quần áo, hàng may mặc của phụ nữ, cho thấy màu sắc và sự đa dạng mẫu mã. Tuy nhiên, những cải tiến – dù là thực tế hay giả tạo – không làm được gì hơn ngoài việc đưa các cửa hàng đó đạt đến tiêu chuẩn khá thấp so với các cửa hàng bách hóa ở Bắc Kinh khi tôi sống ở đó từ năm 1980 đến năm 1982, trước khi hướng đi mới của nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu chuyển sang cho thấy những kết quả rõ rệt.

Bất chấp các lô hàng cho lễ hội, một số mặt hàng vẫn gây chú ý vì không có sẵn hoặc chất lượng kém. Một mặt hàng hiện được người dân Triều Tiên ưa chuộng là máy nghe băng cát-xét xách tay có âm thanh nổi, nhưng  khan hiếm trầm trọng. Không tìm được cái máy nào ở cả ba cửa hàng bách hóa ở trung tâm thành phố Bình Nhưỡng. Thay vào đó, người mua hàng được giới thiệu những chiếc máy quay đĩa thô sơ, có âm thanh nhỏ, không hấp dẫn  họ chút nào.

Các cửa hàng bách hóa phô trương những gì họ có nhiều. Những chồng xô, chậu, bát và các đồ dùng gia đình bằng nhựa khác nhau với màu sắc tươi sáng chiếm vị trí nổi bật nhất ở tầng trệt. Người mua có thể chọn từ khoảng 25 kiểu giày nữ, tất cả đều được làm bằng nhựa vinyl; ai khăng khăng đòi cho được các đôi giày da sẽ cần phải kiếm đủ một số ngoại tệ để mua chúng ở một cửa hàng ngoại tệ đặc biệt dành cho hàng hóa nước ngoài. Tại Cửa hàng bách hóa Changkwan, một chiếc xe đạp có giá 175 won – bằng một tháng lương khá hậu hĩnh. Một chiếc tủ lạnh nhỏ do Triều Tiên sản xuất có giá gấp đôi, 350 won. Một chiếc tivi đen trắng hiệu Daedong River có giá 620 won. Một TV màu mang thương hiệu National do Nhật Bản sản xuất có giá 1.400 won, cao hơn mức lương hàng năm của một công nhân Triều Tiên mới vào nghề (90 won một tháng).

Mặc dù Triều Tiên trong chuyến thăm trước đây của tôi dường như đi trước Trung Quốc về mặt kinh tế, người Trung Quốc kể từ đó đã được hưởng lợi từ mười năm cải cách kinh tế. Không có chương trình cải cách lớn nào của riêng mình, Triều Tiên có ít điều để thể hiện hơn trong thập kỷ qua so với Trung Quốc. Trên lý thuyết, Triều Tiên vẫn dẫn đầu về bình quân đầu người khi so sánh với số liệu thống kê kinh tế chính thức của Bắc Kinh. Tuy nhiên, bằng chứng trực quan cho thấy rằng Trung Quốc đã vượt qua Triều Tiên một cách dứt khoát.

Trong khi đó, giao thông vẫn rất thưa thớt theo tiêu chuẩn phát triển của các nước khác. Đường cao tốc có thể có năm hoặc thậm chí bảy làn (tôi nghe nói làn giữa dành cho Kim Il-sung), nhưng rất ít phương tiện sử dụng chúng. Việc thiếu phương tiện giao thông cho phép lực lượng quét rác giữ cho cả đường phố và đường cao tốc luôn sạch sẽ. Đường phố trong thành phố thậm chí còn thiếu sự nhộn nhịp của Bắc Kinh, với dòng người đông đúc, xe đạp và xe đẩy; tình trạng ùn tắc giao thông ô tô ở một đô thị tư bản là điều không thể tưởng tượng được. Ngoài một số mẫu xe của Liên Xô và Nhật Bản, hầu hết ô tô được sử dụng là xe sedan Mercedes-Benz và Volvo nhập khẩu dành cho giới thượng lưu.

Triều Tiên không sản xuất được loại ô tô du lịch dân dụng, bền bỉ dành cho dân chúng – nhưng rõ ràng họ mong muốn điều đó. Tôi đã nắm được chủ nghĩa tượng trưng của ô tô trong chuyến thăm năm 1979. Khi tôi hỏi phó chủ tịch trang trại hợp tác Chonsam-ri về việc thiếu ô tô nhà ở trang trại của ông ấy và ở Triều Tiên nói chung, ông ấy đã đánh giá thấp tầm quan trọng của chúng. Nông dân Chonsam-ri không cần chúng vì có rất nhiều xe tải và xe buýt nông trại. Có lẽ vậy, nhưng trong một cuộc thảo luận về giá trị tương đối của nhiều hãng xe nước ngoài, ánh mắt của một nhóm quan chức Bình Nhưỡng, những người có chức vụ đủ cao để đánh giá xe sedan nhập khẩu có tài xế, đã sáng lên. Những quan chức đó đã lắng nghe một cách say mê những mô tả của tôi về ngành công nghiệp ô tô đang phát triển nhanh chóng ở Hàn Quốc, rồi đảm bảo với tôi rằng một ngày nào đó miền Bắc sẽ có ô tô tư nhân được sản xuất hàng loạt.

Một nguyên mẫu thủ công của một chiếc sedan đã được trưng bày tại Triển lãm Thành tựu Xây dựng Xã hội Chủ nghĩa ở Bình Nhưỡng trong chuyến thăm năm 1979 của tôi. Một hướng dẫn viên ở đó cho biết nước này hy vọng sẽ tiến hành sản xuất hàng loạt. Đến năm 1989, mẫu xe đó không còn nữa, thay vào đó là hai nguyên mẫu ô tô thủ công mới được gọi là “Bình Nhưỡng” – bản sao nguyên bản của Mercedes-Benz 190 mà nước này mới nhập khẩu một loạt. Việc sản xuất sẽ sớm bắt đầu tại một nhà máy hiện giờ đang sản xuất các loại xe Jeep quân sự, một hướng dẫn viên Triển lãm cho biết. Tôi quyết định không được nín thở.

Có đủ hàng hóa nước ngoài tràn vào nước này để người Triều Tiên nhìn thấy những gì họ đang thiếu. Người dân Bình Nhưỡng hào hứng với các cửa hàng đặc biệt được mở trong dịp lễ hội bán hàng ngoại. Ngay cả trong thời gian không diễn ra lễ hội, những hàng hóa như vậy vẫn được cung cấp ổn định cho một số người Triều Tiên – đặc biệt là những cư dân cũ của Nhật Bản đã hồi hương và những người thân còn ở Nhật đã gửi cho họ. Các quan chức rất nhạy cảm về khoảng cách ngày càng lớn trong mức sống và cố gắng thuyết phục các nhà báo nước ngoài hãy bỏ qua điều đó. “Đừng so sánh chúng tôi với các nước tiên tiến”, một quan chức nói. “Hãy nhớ rằng, chúng tôi phải xây dựng mọi thứ từ sự tàn phá của chiến tranh. Và chúng tôi phải làm điều đó để mọi người có thể chia sẻ cùng một mức độ. Việc đó không hề dễ dàng”. Nhưng chế độ dường như biết rằng họ không thể rao bán triết lý kinh tế của mình mãi mãi chỉ trên cơ sở bình đẳng. Nó phải mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho dân chúng, đặc biệt là hàng tiêu dùng.

Để bắt kịp đối thủ đòi hỏi phải nâng cấp công nghệ trong các lĩnh vực như điện tử. Triều Tiên đúng là có một số người có khả năng làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao. Đại học Công nghệ Kim Chaek tự hào về các phòng máy được trang bị máy tính cá nhân và máy tính lớn nhập khẩu từ Châu Âu (đặc biệt là Ba Lan), Nhật Bản và Singapore, cũng như những người biết cách sử dụng và cách chúng được tạo ra. Trường đại học trưng bày các robot được chế tạo trong phòng thí nghiệm của trường. Nhưng việc sản xuất những máy móc công nghệ cao như vậy tại nhà máy lại là một vấn đề khác, và có rất ít bằng chứng cho thấy đất nước đang đạt được nhiều tiến bộ ở đó. Như ô tô, người Triều Tiên dường như thành công hơn trong việc tháo rời các máy móc do nước ngoài sản xuất và bắt chước chế tạo các nguyên mẫu bằng thủ công hơn là bắt đầu sản xuất hàng loạt.

Tại Triển lãm Thành tựu Xây dựng, nhiều máy móc công nghệ cao do Triều Tiên sản xuất đã được trưng bày – nhưng khi dò hỏi, trong nhiều trường hợp, hóa ra đó là thiết bị nguyên mẫu từ phòng thí nghiệm tại Kim Chaek hoặc các trường đại học khác, chứ không phải hàng sản xuất.

Cố gắng phát triển một mình tất cả các yếu tố của công nghệ hiện đại rõ ràng là không thể, ngay cả đối với một quốc gia có dân số thông minh,  có học thức. Rõ ràng là sẽ khó đáp ứng được kỳ vọng ngày càng tăng của người dân Triều Tiên nếu không nhập khẩu số lượng lớn hàng hóa – hay thực tế hơn là nhập khẩu công nghệ nước ngoài để sản xuất chúng. Nhập khẩu công nghệ đồng nghĩa với nhu cầu liên doanh và các giao dịch khác với thế giới tư bản. Một nỗ lực nửa vời và sơ sài vào việc ban hành luật liên doanh năm 1984 đã không thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư.

Các giao dịch kinh doanh với thế giới phi cộng sản vẫn còn khó khăn. Bắc Triều Tiên có rất ít hoặc không có trao đổi nước ngoài và không thể nhận được tín dụng vì vẫn chưa trả được các khoản vay từ những năm 1970. Các chủ nợ đặc biệt bực tức, vì không hề biểu thị động thái trả nợ, Bình Nhưỡng đã chi số tiền mà một số người phương Tây ước tính tương đương từ 4 đến 8 tỷ USD để nhập khẩu vật liệu và máy móc cho chiến dịch xây dựng chuẩn bị cho lễ hội thanh niên. Kinh nghiệm đó đã khiến nhiều công ty nước ngoài tẩy chay bất kỳ giao dịch nào với miền Bắc, trừ khi họ nhận được tiền trả trước khi giao hàng. Một nhóm đối tác kinh doanh nước ngoài đáng tin cậy bao gồm các doanh nhân Hàn Quốc thân Bình Nhưỡng cư trú tại Nhật Bản, đã mạo hiểm đầu tư vào hàng chục liên doanh.

 

Dù  Bình Nhưỡng quyết tâm giữ nguyên hiện trạng theo chủ nghĩa Stalin, ta vẫn có thể phát hiện ra một số thay đổi đáng chú ý, dù tương đối khiêm tốn, trong thái độ và hành vi. Các nhà chức trách muốn xóa bỏ hình ảnh kinh hoàng của một Triều Tiên như được mô tả trong tác phẩm hư cấu của George Orwell [Một xã hội biểu thị một thái độ và chính sách kiểm soát hà khắc, tàn bạo bằng tuyên truyền, giám sát, phản thông tin, phủ nhận sự thật, và thao túng quá khứ …] của những con người bị tẩy não. Kim Jong-su phàn nàn với tôi rằng người nước ngoài cứ nói người Triều Tiên “giống như những cỗ máy, trả lời một cách máy móc và mỉm cười một cách máy móc”. Ông khẳng định điều đó là “không đúng. Mọi người đều khác nhau.”

Tôi phản ánh rằng những người ủng hộ triết lý “nguyên khối” của chế độ đã làm việc chăm chỉ để mang lại cho đất nước của họ nhãn hiệu máy tự động. Nhưng tôi nhận thấy rằng những cán bộ được chắt lọc để làm nhiệm vụ giao dịch với người nước ngoài dường như được phép cởi mở hơn một chút. Nhìn chung, người Triều Tiên có vẻ dễ dàng và thoải mái phần nào giữa họ với nhau và với người phương Tây kể cả người Mỹ- nhiều hơn so với những người đồng cấp của họ một thập kỷ trước đây. Thật vậy, phản ứng bình thường của con người mô tả sự thay đổi lớn nhất mà tôi thấy. Mặc dù người Triều Tiên vẫn ca ngợi về chủ nghĩa juche, chẳng hạn, nhưng họ có vẻ ít ám ảnh hơn trước với việc phải tạo ấn tượng rằng mọi thứ đều do Triều Tiên sản xuất. Tại khu phức hợp Máy Hạng nặng Taean gần Nampo, khi các quan khách tiến hành chuyến tham quan một nhà máy sản xuất máy phát điện, họ xác định nhiều máy công cụ là do nước ngoài sản xuất (trong một số trường hợp là của Ý). Chủ nhà không đưa ra lời bào chữa nào.

Tính hồn nhiên, mà ở một số khu vực gần như bị coi là một tội lỗi vào năm 1979, giờ được thấy rõ ràng hơn. Tôi thấy dân Triều Tiên cười nhiều hơn trước sự chứng kiến ​​của người nước ngoài. Trong một số trường hợp, họ thể hiện rất nồng nhiệt và hiếu khách đến mức khiến mục tiêu của chính phủ là tăng gấp nhiều lần số khách du lịch trong vài năm tới – lấp đầy hàng nghìn phòng khách sạn mới xây hoặc vẫn đang xây dựng bằng cách thu hút các nhóm từ phương Tây và những nơi khác. Tuy nhiên, rõ ràng là các quan chức có liên quan được phân công để xây dựng một hình ảnh về đất nước có thể thu hút đông đảo khách du lịch nước ngoài.

Một cơ sở du lịch mới là Câu lạc bộ Golf Bình Nhưỡng, câu lạc bộ đầu tiên và duy nhất trong cả nước, được xây dựng vào năm 1987 để phục vụ chủ yếu người nước ngoài và người Nhật gốc Triều Tiên. Các nhân viên vác gậy, những cô gái Triều Tiên, líu lo khen ngợi bằng tiếng Nhật-Anh pha trộn “Nice shotto” khi các gôn thủ phát bóng. Kang Kyong-chul, 37 tuổi, rắn chắc và rám nắng, từng là huấn luyện viên quần vợt trước khi đến Nhật Bản hai tháng vào năm 1986 để học chơi gôn chuẩn bị để trở thành huấn luyện viên sân gôn. Anh ấy nói với tôi anh sẽ chấp tôi 10 điểm. Theo số liệu của Kang, việc chơi gôn chưa thực sự được ưa chuộng – trung bình chỉ có bảy người nước ngoài, và Hàn kiều và ba người Triều Tiên chơi mỗi ngày, theo số liệu của Kang, và anh ấy nói rằng những người đó không bao gồm bất kỳ quan chức cấp cao Triều Tiên nào. . . “Đất nước chúng tôi bị chia cắt, như bạn biết đấy,” Kang giải thích. “Có rất nhiều việc phải làm cho người dân nếu đất nước thống nhất. Khi đó chúng tôi sẽ mở rộng môn gôn và các môn thể thao khác lên quy mô lớn hơn”.

Sau khi lục lọi hàng thủ công mỹ nghệ của Bình Nhưỡng và các cửa hàng lưu niệm, tôi phải kết luận rằng du khách phương Tây sẽ không tìm thấy nhiều điều thú vị để mua sắm thoải mái. Điển hình của sản phẩm là một bức tranh theo phong cách Đông Á truyền thống, được bán tại một phòng trưng bày ở trung tâm thành phố Bình Nhưỡng. Nó mô tả hẻm núi ngoạn mục, những chiếc lá mùa thu, thác nước – nhưng lại có cây cầu đường cao tốc trên đó một chiếc xe buýt du lịch lấp lánh chở một nhóm đông du khách hạnh phúc rõ mồn một giữa khung cảnh. Điều gây sốc nhất là bức tranh thêu hình cô gái trong trang phục truyền thống đung đưa trên chiếc xích đu truyền thống lại thể hiện, ở một góc, một băng ghế công viên bê tông hiện đại. Tôi cho rằng những động thái như vậy có ý nghĩa trong bối cảnh của Triều Tiên. Suy cho cùng, triết lý juche của Kim Il-sung tôn vinh con người là “bậc thầy” của trái đất, vậy tại sao lại che giấu bằng chứng về con người và những sáng tạo của con người? (Các bức ảnh được thực hiện không có sắc độ và tôi đoán điều đó cũng phù hợp với hệ tư tưởng.)

 

Một sự thay đổi rõ ràng đáng nghi ngờ về tầm quan trọng là việc xây dựng các nhà thờ Tin Lành và Thiên Chúa giáo đầu tiên được phép hoạt động ở Bình Nhưỡng hàng thập kỷ. Trong những ngày đầu của chế độ cộng sản Bắc Triều Tiên, tất cả các nhà thờ đều bị đóng cửa. (Chính quyền tuyên bố rằng bom Mỹ đã phá hủy đến nhà thờ cuối cùng trong Chiến tranh Triều Tiên.) Theo các nhóm nhân quyền, những người theo đạo đã bị đàn áp vì là thành viên của giai cấp “không trung thành”. Nhà thờ được coi là biểu tượng của sự áp bức của đế quốc. Tại phim trường của xưởng phim truyện Triều Tiên trong cùng chuyến viếng thăm đó, tôi thấy một nhà thờ lớn có cấu trúc kiểu Gothic, được xây dựng rõ ràng là để sử dụng trong các bộ phim tuyên truyền — vào năm 1980, khi đất nước không có nhà thờ thực sự nào. Chế độ này dành ưu ái đặc biệt đối với Thiên Đạo giáo, một tôn giáo bản địa, yêu nước được thành lập bởi một cựu chiến binh giành độc lập, người được cho là đã “cầu xin các kỳ quan huyền bí của Thiên nhiên trên Núi Paektu giáng xuống sự trừng phạt thiêng liêng đối với bọn Nhật và ban phước lành cho đất nước Triều Tiên.”

Tại Nhà thờ Tin lành Pongsu vào một ngày Chủ nhật trong lễ hội thanh niên, các du khách Triều Tiên và nước ngoài đã thi nhau bấm máy ảnh  ghi lại cảnh những tín đồ hát bài “Giêsu Yêu Thương Con” bằng tiếng Triều Tiên. Nhiều người trong số họ dường như thuộc lòng lời bài hát. Sau đó  mục sư Li Song-bong, đã cầu nguyện “nhân danh Chúa Giêsu Kitô” cho sự thành công của lễ hội, dưới “khẩu hiệu đoàn kết chống chủ nghĩa đế quốc”. Sau đó, Li thuyết giảng về sự cần thiết phải loại bỏ vũ khí hạt nhân khỏi bán đảo và cầu nguyện cho sự thống nhất Triều Tiên – nói chung là một chương trình nghị sự mang tính chính trị nặng nề hơn là tâm linh.

Mặc dù những thành viên nhà thờ cố gọt giũa theo đường lối chính trị chính thức của nhà nước Triều Tiên, nhưng có lẽ thực tế nổi bật hơn trong một xã hội được kiểm soát chặt chẽ như vậy là họ ít tham gia đầy đủ vào tệ sùng bái cá nhân của Kim Il-sung. Nhà thờ nằm ​​ở quận Mangyongdae, nơi sinh của Lãnh tụ Vĩ đại, nhưng không có bức chân dung nào của Kim hoặc con trai ông trên tường nhà thờ và các thành viên giáo đoàn trong các buổi lễ không đeo những bức chân dung Kim thu nhỏ trên ngực. Có lẽ điều này là vì lợi ích của du khách nước ngoài như chúng tôi. Tôi nhìn một người đàn ông đi lên đồi về phía nhà thờ, đeo huy hiệu Kim. Đến gần cổng, ông ta quay lưng lại và làm động tác như thể đang lấy bao thuốc lá. Khi quay lại, chiếc huy hiệu Kim đã biến mất, được cất vào túi một cách kín đáo.

Một giáo sĩ giải thích rằng không có thành viên nhà thờ hay giáo sĩ nào là thành viên của Đảng Lao động (cộng sản) cầm quyền của Kim, bởi vì “những người theo đạo Thiên chúa chúng tôi tin vào Chúa”. Những người đi nhà thờ phủ nhận báo cáo của các nhóm nhân quyền rằng họ phải chịu sự phân biệt đối xử về lợi ích kinh tế và pháp lý, nhưng tôi nghĩ hầu hết ho đều có vẻ ngoài hốc hác cho thấy cuộc sống của họ không hề dễ dàng. Có thể đã có sự mỉa mai vô thức vào ngày Chủ nhật của lễ hội đó khi giáo đoàn mở những bài thánh ca bìa xanh và hát, bằng tiếng Triều Tiên, “Chúng tôi có một câu chuyện để kể cho các quốc gia sẽ hướng trái tim mình về phía lẽ phải.”

Tôi được cho biết trước đây chỉ có những thành viên còn sót lại vẫn trung thành với nhà thờ cũ mới có thể cử hành lễ tại nhà; những người theo đạo Tin lành không tham dự các buổi lễ tại Nhà thờ Pongsu vẫn thực hiện việc thờ cúng tại nhà. Trong số những tín đồ đi Nhà thờ Pongsu và một nhóm thờ cúng tại nhà mà tôi đến thăm vào một ngày Chủ nhật khác, rất hiếm gặp những tín đồ dưới 40 tuổi tham gia. Những tín đồ nói với tôi rằng họ thấy khó thu hút con cái mình theo đức tin của cha mẹ chúng. Họ không cần phải giải thích lý do. Suy cho cùng, những thanh thiếu niên này đã được tẩy não  ngay từ khi mới lọt lòng, trong các mẫu giáo, nhà trẻ và trường học của nhà nước để tôn thờ gia tộc Kim. Chúng tôn kính Kim Il-sung “còn hơn thần thánh”, như một thông dịch viên sinh viên không theo đạo cho một du khách nước ngoài đến Nhà thờ Pongsu đã mô tả với tôi về vị chủ tịch.

Trong một bầu không khí cực kỳ thù địch với các tôn giáo cạnh tranh hoặc các hệ tư tưởng khác, việc có các tòa nhà thờ chỉ là một thay đổi nhỏ – không phải là một sự thay đổi thực sự trong chính sách đối nội mà là một mưu đồ tô điểm nhằm gây ảnh hưởng tới dư luận nước ngoài. Vài năm sau, trong một nỗ lực tương tự, Kim Il-sung đã tiếp đón nhà truyền giáo Mỹ Billy Graham ở Bình Nhưỡng, sau khi thừa nhận trong hồi ký của mình rằng nhiều Cơ đốc nhân Triều Tiên trong quá khứ “là những người yêu nước đáng kính”, giống như ân nhân của Kim, Sohn Jong-do.

Nỗ lực thể hiện thái độ khoan dung đối với Cơ đốc giáo này nhằm mục đích cải thiện vị thế của Bình Nhưỡng ở phương Tây. Triều Tiên vào thời điểm xây dựng các nhà thờ lại một lần nữa tham gia vào chiến dịch gây chia rẽ giữa Seoul và Washington, với hy vọng có thể rút khoảng 40.000 quân Mỹ vẫn còn đóng ở Hàn Quốc.

Những Cơ đốc giáo Mỹ vẫn lo ngại về cuộc đàn áp các đồng đạo ở Bắc Triều Tiên. Hãy nhớ lại rằng các nhà truyền giáo Tin lành từ Hoa Kỳ, đặc biệt là giáo phái Trưởng lão và Giám lý, đã lãnh đạo nỗ lực truyền giáo ở Triều Tiên từ thời kỳ mở cửa đất nước vào cuối thế kỷ 19. Trải qua nhiều thập kỷ cho đến những năm 1930, khi sự chiếm đóng của Nhật Bản khiến công việc của họ không thể thực hiện được, họ đã cải đạo cho hàng triệu người Triều Tiên – trớ trêu thay, ở nửa phía bắc của đất nước thậm chí còn thành công hơn ở phía Nam. Chắc chắn chế độ Bình Nhưỡng hy vọng sẽ tác động đến những nhóm như vậy bằng việc mở cửa nhà thờ một cách công khai.

Tất nhiên, theo thời gian, ngay cả những biện pháp có mục tiêu hướng ra bên ngoài như vậy cũng có thể mang dấu ấn của chủ nghĩa đa nguyên không quen thuộc với xã hội trong nước. Tuy nhiên, vào thời điểm hiện tại, người dân Triều Tiên bình thường có lẽ cảm thấy ít bị ảnh hưởng. Quả thực, một người Mỹ theo đạo Tin lành đến thăm Bình Nhưỡng vào mùa thu cùng năm đó, 1989, đã nhận thấy bằng chứng cho thấy niềm tin tôn giáo vẫn làm phật ý  rất nhiều chế độ Kim. Virgil Cooper, Nhà truyền giáo Baptist miền Nam, có trụ sở tại Seoul, tham dự các buổi lễ tại Nhà thờ Pongsu. Ông ấy nói với tôi rằng ông thấy bài giảng của mục sư phó là “dựa trên Kinh thánh” một cách phù hợp, nhưng thấy lạ là giáo đoàn không hát vang những bài thánh ca với giọng nhiệt tình mà ông đã quen nghe ở Seoul. Sau đó, tại khách sạn của ông, một nữ tín đồ đạo Thiên chúa nhìn thấy ông ở nhà thờ đã đến gặp ông. Chỉ tay lên trần nhà, bà giục ông đừng nói to. Những con chiên đạo Thiên chúa vẫn phải chịu sự đối xử phân biệt và đàn áp đáng kể, bà nói với ông.

Người phụ nữ mà Cooper gặp, thừa nhận mình là một tín đồ thuần thành, có thể là một ngoại lệ ngay cả trong số những người đi nhà thờ. Theo một người đào thoát cấp cao, cựu trưởng ban tư tưởng Hwang Jang-yop, “tất cả các nhà thờ ở Bình Nhưỡng đều là những nhà thờ giả được xây dựng để phô trương. Các nhà sư sống trong các ngôi chùa Phật giáo tất nhiên là nhà sư giả. Những tín đồ chân chính ở Triều Tiên không thể tuyên xưng đức tin của mình; chỉ có những tín đồ giả mạo mới được phép làm như vậy.”

Câu hỏi trước mắt hơn là liệu Kim Il-sung và Kim Jong-il có đủ linh hoạt để thực hiện những thay đổi mạnh mẽ hơn nữa hay không, đặc biệt là về kinh tế. Những thay đổi chính sách kinh tế rõ ràng sẽ xung đột với nhu cầu của chế độ trong việc duy trì quyền kiểm soát nội bộ. Tăng cường tiếp xúc với người nước ngoài thông qua thương mại và chuyển giao công nghệ sẽ mang lại cho người dân nhiều cơ hội hơn để kiểm tra những gì họ đã được dạy so với những phiên bản khác của sự thật. Giải quyết các vấn đề kinh tế ít nhất phải ngầm thừa nhận những sai lầm trong quá khứ- nhưng Kim Il-sung và Kim Jong-il tất nhiên là người không thể sai lầm; bất kỳ dấu hiệu nào mâu thuẫn với “những lời dạy quý giá” trong quá khứ của họ sẽ làm suy yếu tuyên bố của họ về lòng trung thành và sự vâng lời tuyệt đối. Những gì tôi thấy vào năm 1989 không mang lại cho tôi niềm tin rằng những thay đổi lớn sẽ đến kịp thời. Cuối cùng, việc cộng tất cả những thay đổi có thể được phát hiện trong chuyến thăm đó đã tạo ra một danh sách có vẻ không mấy ấn tượng và khi so sánh với những điều thú vị xảy ra ở những nơi khác trong thế giới cộng sản vào thời điểm đó, thật đáng thương hại.

Đó là thời hoàng kim của glasnostperestroika của Mikhail Gorbachev ở Liên Xô, nhưng người Bắc Triều Tiên biết rất ít hoặc không biết gì về quá trình tự do hóa và tái cơ cấu của Liên Xô. Họ thậm chí còn không biết về các cuộc biểu tình rầm rộ đang hoành hành ở Trung Quốc. Hướng dẫn viên của tôi, một giáo viên tiếng Anh đại học 29 tuổi, nói rằng anh ấy hy vọng sẽ đến Bắc Kinh vào tháng 9 năm sau để học tiếng Anh và tiếng Trung. Tôi hỏi anh ấy có biết chuyện gì đã xảy ra ở Quảng trường Thiên An Môn không. “Một chút” về chuyện đó được đăng trên tờ báo Nodong Shinmun của đảng, anh ấy nói. Khi tôi nói với anh ta rằng quân đội Trung Quốc đã giết hàng ngàn thanh niên biểu tình, anh ta dường như đang cố gắng che giấu một phản ứng ngạc nhiên. “Sinh viên sao?” anh ấy hỏi. Lấy thông tin từ nguồn duy nhất có được, các phương tiện truyền thông của đảng Lao động Triều Tiên, anh ấy thậm chí còn chưa nghe đến thuật ngữ glasnostperestroika trước khi tôi cho anh ấy biết. Tuy nhiên, khi hiểu được ý nghĩa, anh ta đã bác bỏ mọi nhu cầu cải cách ở Triều Tiên. “Đất nước chúng tôi không có glasnost hay perestroika,” anh khoe. “Chính sách của chúng tôi không thay đổi trong bốn mươi năm. Không ai muốn thay đổi.”

Hướng dẫn viên của tôi và mọi người Bắc Triều Tiên khác mà tôi gặp, cũng giống như năm 1979, liên tục ca ngợi Kim Il-sung vì đã xây dựng một thiên đường xã hội chủ nghĩa đảm bảo việc làm và thực phẩm, nhà ở đàng hoàng, chăm sóc y tế và giáo dục miễn phí. Sự khác biệt vào năm 1989 là họ thêm Kim Jong-il vào các tài liệu tham khảo, lúc đó ông không còn chỉ được nhắc đến trong các thuật ngữ mật mã mà từ lâu đã được chính thức tuyên bố là người kế thừa cha mình, “Lãnh tụ kính yêu”. Một nỗ lực to lớn đang được tiến hành đồng thời để tiếp tục xây dựng lòng sùng bái cá nhân Kim Il-sung và mở rộng đủ để bao bọc cậu con trai Kim, người đại diện cho hy vọng của chế độ tiếp tục tồn tại mà không cần thay đổi hay cải cách lớn. Không chỉ tên của Kim Jong-il mà cả hình ảnh và lời nói của ông có ở khắp mọi nơi, và khả năng của ông được mô tả gần như bằng những thuật ngữ siêu phàm.

Nỗ lực này được thể hiện rõ trong chuyến thăm của tôi tới Grand People’s Study House, một tòa nhà đồ sộ được coi là thư viện trung tâm của đất nước và là “trung tâm hoạt động trí tuệ”. Không ngạc nhiên khi thống trị cả hành lang rộng lớn là bức tượng khổng lồ màu trắng phấn của Kim Il-sung, ngồi trên chiếc ghế bành và đọc Nhật báo Công nhân. Một số phòng của thư viện được dành để trưng bày sách được xuất bản ở Triều Tiên. Một thủ thư ở đó, Li Hyung-ran, khoe rằng hơn 1.300 tập tác phẩm của Kim Il-sung và hơn 700 tập tác phẩm của Kim Jong-il đã được xuất bản. Phần sau bao gồm một bộ 15 tập về những thành tựu của Kim Jong-il trong việc hướng dẫn văn học và nghệ thuật đất nước.

Kệ dành cho văn học Triều Tiên nói chung – tiểu thuyết, thơ ca, phê bình – nhỏ hơn đáng kể so với kệ trưng bày các tác phẩm của Kim Il-sung, và ngay cả ở mảng văn học này cũng không thể thoát khỏi chủ đề chính. Đây, người thủ thư nói, là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, cũng gồm mười lăm tập – một câu chuyện hư cấu về những thành tích của Kim Jong-il. Còn ở đây, “đây là những câu chuyện cổ tích có minh họa do Lãnh tụ Vĩ đại và Lãnh tụ Kính yêu kể lại,” cô nói. “Và cuốn album ảnh này minh họa loài hoa bất tử Kimjongilia. Nó mới được một người làm vườn Nhật Bản trồng” – và tất nhiên được đặt tên là Lãnh tụ Kính yêu. Cuối cùng cũng ở đó! Một cuốn sách mang tiêu đề khác. “Cuốn sách này giới thiệu cuộc đời cao quý và lịch sử cách mạng của đồng chí Kim Jong-suk,” Cô Li nói. “Bà là người trung thành nhất với Lãnh tụ Vĩ đại, một nữ anh hùng chống Nhật và là một chiến sĩ cách mạng cộng sản”. Ừm, cô ấy không phải là vợ của Kim Il-sung sao? “Đúng, ông đoán đúng rồi. Và bà ấy cũng là mẹ của Lãnh tụ Kính yêu, đồng chí Kim Jong-il.”

Như trong chuyến thăm trước đây của tôi, sự tôn thờ Kim có vẻ chân thành, ngay cả khi người nước ngoài cho rằng điều đó đã đi đến mức cực đoan kỳ lạ. Khi Lãnh tụ Vĩ đại xuất hiện trong chương trình trượt băng, toàn bộ khán giả Triều Tiên đồng loạt đứng dậy và hét lên “Hoan hô! Hoan hô! Hoan hô!” lặp đi lặp lại trong gần ba phút. Khi đoàn biểu diễn tuần hành đi ngang qua ghế của Kim ở Sân vận động May Day trong ngày khai mạc lễ hội, họ kiễng chân lên nhảy xuống, giơ tay lên, lòng bàn tay mở về phía người lãnh đạo, trong tư thế rất giống một đứa trẻ nhỏ đang hỏi xin kẹo cha mình, hay chó xin chủ cục xương.

Khi tôi hỏi anh hướng dẫn của mình về huy hiệu chân dung Kim Il-sung mà anh ấy và mọi người Bắc Triều Tiên khác “tự nguyện” đeo trên ngực, anh trả lời: “Chúng tôi luôn muốn có Lãnh tụ Vĩ đại ở gần chúng tôi. Tôi muốn có hình ảnh của ngài trong trái tim tôi. Như các bạn đã biết, Lãnh tụ Vĩ đại đã giải phóng đất nước. Ông ấy đã cống hiến cả cuộc đời mình cho nhân dân.” Anh ta nói thêm rằng những chiếc huy hiệu này là quà tặng của “Lãnh đạo Kính yêu Kim Jong-il”.

 

Ý tưởng của chủ nhà về một bảo tàng để giới thiệu với du khách là Triển lãm Hữu nghị Quốc tế, một công trình kiến ​​trúc bằng đá đồ sộ, không có cửa sổ ở Núi Myohyang, một khu nghỉ dưỡng, cách phía bắc Bình Nhưỡng ba giờ đi tàu hỏa. Cuộc triển lãm chỉ bao gồm quà tặng của người nước ngoài đã gửi đến Lãnh tụ Vĩ đại và Kính yêu. “Những món quà rất quý giá đối với đất nước chúng tôi, là niềm tự hào của nhân dân chúng tôi,” Chong Sun-hyang, 25 tuổi, hướng dẫn viên triển lãm, nói với tôi. Cô nói: Chúng cho thấy “phần còn lại của thế giới dành sự tôn trọng như thế nào đối với Lãnh tụ Vĩ đại”. Những cánh cửa đồng bốn tấn có chạm nổi loài hoa lai có tên Kimilsungia (được phát triển bởi chính nhà thực vật học Nhật Bản, người đã mang đến cho thế giới loài Kimjongilia) mở ra một cách lặng lẽ để đón du khách vào bên trong giống như một nhà mồ. Trước khi bước vào du khách phải bọc đôi giày của mình bằng những đôi bốt vải để tránh bụi bẩn bám lên sàn, sau đó rón rén bước vào vùng chí thánh, nơi có một bức tượng khác khổng lồ, gây khiếp sợ, bằng đá vôi trắng như phấn của Lãnh tụ Vĩ đại đang ngồi trên một chiếc ghế êm ái, nhìn xuống bộ sưu tập các quà tặng của các nhà lãnh đạo trên thế giới.

Khi một vị khách đã đi hết căn phòng đầu tiên đó, chỉ còn 44 phòng nữa để hoàn thành chuyến tham quan các quà tặng cho Kim Il-sung – chẳng hạn  một chiếc bình được làm từ một cục than, từ Jaruzelski của Ba Lan, một yên ngựa đan dệt từ Khadaffi của Libya. Sau đó, có thêm 8 căn phòng chứa đầy những món quà tương tự dành cho Kim Jong-il, người được thể hiện bởi một bức tượng đá vôi khác. Có vẻ như các nhà lãnh đạo châu Phi đã gửi cho hai nhà lãnh đạo Kim đủ số ngà voi, được chạm khắc và không chạm khắc, để biện minh cho thông báo truy nã toàn cầu của Quỹ Động vật hoang dã Thế giới. Toàn bộ chuyến tham quan kéo dài bốn giờ và tôi được đảm bảo rằng chỉ một phần tư số quà là được mang ra trưng bày.

 

Tôi chỉ có thể suy đoán rằng, sau nhiều thập kỷ truyền bá và thanh trừng, những người Bắc Triều Tiên còn sống và không ở tù nói chung đã tham gia vào toàn bộ chương trình. “Nhưng nếu ai đó muốn nói: ‘Tôi không tin vào Lãnh tụ Vĩ đại thì sao?” Tôi hỏi hướng dẫn viên của tôi. “Ông không hiểu,” anh đáp. “Tất cả người dân của chúng tôi đều tin tưởng vào Lãnh tụ Vĩ đại.. . Trong nước không có ai không tin.”

Không còn nghi ngờ gì nữa, một lý do lớn khiến người ta vẫn có thể tập trung lòng trung thành với ông Kim bất chấp những thất bại về kinh tế và những thất bại khác của chế độ ông ta là vì trong những lần ông xuất hiện công khai hoặc trên truyền hình ông ta đều đóng vai một nhân vật dấn thân. Trên truyền hình trong chuyến thăm năm 1989 của tôi, người ta thấy ông sải bước với dáng đi có phần khập khiễng của một người đàn ông lớn tuổi nhưng vẫn khá khỏe mạnh (có lẽ công trình nghiên cứu về tuổi thọ đã giúp ích – mặc dù máy quay chưa bao giờ cho thấy khối u cỡ quả bưởi đắng ở sau gáy ông). Ông mỉm cười tự tin, đón nhận những lời tri ân không thể tránh khỏi một cách ân cần. Trong những lần xuất hiện trước công chúng, ông ấy nói bằng một giọng khàn khàn và kẻ cả. Ông ấy có vẻ rất giống một chính trị gia.

 

Chiến dịch chuyển giao cho Kim Jong-il cương vị thần thánh của cha mình đã được tổ chức rầm rộ tại Bảo tàng Cách mạng của Đồng chí Lãnh tụ Kính yêu Kim Jong-il ở Bình Nhưỡng. Bảo tàng, nơi đạo diễn Shin và nữ diễn viên Choi bị bắt cóc từng đến thăm trong thời gian họ ở Bình Nhưỡng, bao gồm 12 phòng dành riêng tại trường cũ của Kim, Đại học Kim Il-sung. Một hướng dẫn viên nói với tôi rằng vào lúc tám tuổi, thần đồng đã đọc cuốn “Nhà nước và Cách mạng” của Lenin và viết bình luận về nó. Khi ông ấy mười một tuổi trong Chiến tranh Triều Tiên, Kim Jong-il đã viết những lời bài hát bất hủ: “Cha ơi, cha sẽ xây dựng một thiên đường trên vùng đất của những anh hùng đã đè bẹp quân xâm lược Mỹ”. Khi vào đại học vài năm sau, hướng dẫn viên nói tiếp, điều đầu tiên mà cậu thiếu niên sớm làm là leo lên một ngọn đồi trong khuôn viên trường rồi sáng tác và đọc thuộc lòng một bài thơ trong đó có dòng này: “Học được ý tưởng vĩ đại của người lãnh đạo, tôi sẽ là người làm chủ cuộc cách mạng”.

Hướng dẫn viên đã hát bài hát năm 1953 và yêu cầu điều chỉnh máy ảnh cẩn thận để bất kỳ bức ảnh nào về Lãnh tụ Kính yêu đều phải “đẹp”. Sau đó cô tiếp tục giới thiệu những bức tranh vẽ Kim Jong-il hồn hậu vào một phần tư thế kỷ trước, luôn là trung tâm của mọi sự kiện, tạo dáng thông minh trong tư thế lãnh đạo khi các thành viên của khóa 1964 tươi cười rạng rỡ ngước nhìn ông với vẻ ngưỡng mộ. Được học cùng với Kim Jong-il, cuốn nhật ký của một sinh viên được trưng bày trong bảo tàng cho biết, là “niềm tự hào và vinh dự của tôi”.

Một bức tranh tường ở West Sea Barrage, một dự án công trình công cộng khổng lồ mới hoàn thành gần đây nhằm điều chỉnh mực nước ở cửa sông gần cảng Nampo, cho thấy Kim Jong-il trong vai trò là người thi hành di chúc của cha mình. Hai vị Lãnh tụ Vĩ đại và Kính yêu đứng cạnh nhau, chiếc áo khoác ngoài của tung bay một cách hào hùng trong gió, chiếc ủng bên trái của anh ta đặt lên trên một chi tiết của bộ máy. Anh ra hiệu bằng tay trái chỉ cho người cha đang mỉm cười xem những gì anh đã xây dựng. Lãnh tụ Kính yêu, trong bức ảnh đó rất giống một chàng trai trẻ đầy nghị lực, mặc bộ áo liền quần có khóa kéo phía trước đặc trưng của mình, trong khi Lãnh tụ Vĩ đại xuất hiện trong bộ vest kiểu phương Tây có cà vạt, trang phục mà ông đã mặc từ khi là một chính khách lớn tuổi.

Do không phải là một anh hùng du kích hoặc người cha của đất nước, Kim Jong-il cần một số cơ sở để có được tính hợp pháp với tư cách là người lãnh đạo được chỉ định của đất nước. Ông hy vọng mình đã tìm thấy nó trong vai trò là nhà bình luận chính và người trình bày triết lý juche của ông bố. Kim Ho-sok, giám đốc Trang trại Hợp tác xã Haksan, nói với tôi: “Như bạn đã biết, Lãnh tụ Vĩ đại đã tạo ra ý tưởng juche trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Nhật Bản. Sau đó, đồng chí Lãnh đạo Kính yêu Kim Jong-il đã phát triển và làm phong phú thêm ý tưởng juche.”

Việc kế vị đã được chuẩn bị cẩn thận nhất có thể tưởng tượng được, và không có dấu hiệu rõ ràng nào cho thấy sự phản đối. Tuy nhiên vẫn có lý do để nghi ngờ Kim Jong-il trẻ tuổi có thể cho thấy mình không xứng đáng với vai trò của vị thần sống mà ông sẽ kế thừa. Chứng chỉ của Kim Jong-il với tư cách là một vị vua thần thánh là không rõ ràng. Trong số ít người nước ngoài đã gặp ông, một số đã mô tả ông là người nóng tính—hoàn toàn thiếu sự quyến rũ hoặc duyên dáng, chưa kể đến loại sức hút hoặc tư thế mà một chính khách đẳng cấp thế giới cần có. Các dấu hiệu cho thấy ông đã được củng cố vị trí là người kế nhiệm, rất nhiều hoạt động tuyên truyền đã bơm lên phẩm chất hoành tráng của ông mà giới trẻ và một số người lớn tuổi cả tin hơn có thể đã bắt đầu tin vào điều đó. Nhưng có vẻ như ông ấy không phải là Kim Il-sung. Các nhà phân tích nước ngoài và Hàn Quốc tự hỏi, nếu một cuộc khủng hoảng lớn xảy ra sau cái chết của cha ông và việc ông lên nắm quyền, liệu ông ấy có thể vượt qua được hay không.

Mặc dù phần lớn vẫn còn là một nhân vật bí ẩn, nhưng Kim Jong-il nổi tiếng vì đã mang đến cho Triều Tiên vẻ hiện đại bề ngoài trong thời trang và văn hóa đại chúng. Ông đã khuyến khích các cô gái và phụ nữ trẻ sửa sang lại dung nhan, trang điểm để trông đẹp hơn. Phụ nữ Bắc Triều Tiên – vốn ngay từ xưa thuộc số những người đẹp nhất thế giới – rõ ràng đã quan tâm đến ngoại hình của mình hơn nhiều so với một thập kỷ trước.

Chủ nhà của chúng tôi đã mời đội ngũ truyền thông nước ngoài và một số người khác tham dự lễ hội trong bữa tiệc được tổ chức tại Mongnankwan, một hội trường bằng đá cẩm thạch rộng lớn được trang trí bằng đèn chùm pha lê và được trang bị thiết bị âm thanh mới nhất. Các thành viên nữ trẻ của Ban nhạc điện tử Pochonbo, được đặt tên theo địa điểm đã diễn ra cuộc đột kích thành công của Kim Il-sung vào quân Nhật năm 1937, khiến chúng tôi thích thú. Các nhạc sĩ của ban nhạc chơi những bản nhạc vui tươi, có lẽ bị ảnh hưởng ở một mức độ nào đó bởi nhạc rock phương Tây nhưng nhiều hơn là phiên bản Nhật Bản và Hàn Quốc. (Tôi thấy buồn cười khi nhớ lại những cái nhìn chằm chằm khó hiểu của mười năm trước khi tôi nhắc đến nhạc rock ‘n’ roll.) Các vũ công, những thiếu nữ trẻ tuyệt đẹp, bước ra trong bộ trang phục thiếu vải đến mức gợi ý rằng chúng tôi hẳn sắp được chiêu đãi một màn thoát y. Sau đó, khách được mời khiêu vũ với những cô gái trên sân khấu, những người này ít nhiều đã vận phục trang cho nhiệm vụ đó. Tôi đã khiêu vũ với một cô. (Chỉ vài năm sau, sau khi tôi biết đến sự tồn tại của Quân đoàn Hạnh phúc, tôi mới được biết bạn nhảy của tôi và những nghệ sĩ giải trí bạn của cô ấy đều từng là thành viên của quân đoàn này.

Mặc dù nhạc rock do các thành viên ban nhạc của Kim Jong-il chơi là dành cho người nước ngoài chúng tôi, nhưng tôi nhận thấy rằng thể loại nhạc rock này đã được giới thiệu đến giới trẻ Bình Nhưỡng ngay lúc đó bởi những du khách tham dự lễ hội từ nước ngoài mang theo băng cassette có những bài hát yêu thích của họ. Tôi thấy những thanh niên không giấu giếm vẻ hâm mộ nhạc rock mà người nước ngoài chơi trong và ngoài khu nhà ở cao tầng của họ. Một phụ nữ trẻ lắc chiếc mông của mình theo nhịp khi một đoàn diễu hành đi ngang qua. Tôi nghĩ việc mất đi sự ngây thơ trong âm nhạc báo trước những thay đổi  có lẽ lớn hơn trong thái độ.

Đến thăm Xưởng phim truyện Triều Tiên, tôi có cơ hội xem kết quả của những nỗ lực được ca ngợi của anh chàng Kim trong việc truyền cảm hứng cho các nhà làm phim tạo ra những tác phẩm hấp dẫn hơn. Các bối cảnh ngoài trời được duy trì tại studio biểu thị một ngôi làng nông thôn, với những túp lều tranh bao quanh ngôi nhà lớn của địa chủ; một con phố Nhật Bản những năm 1930; và một con phố Trung Quốc cùng thời – tất cả đều được sử dụng trong sử thi về cuộc đấu tranh của Lãnh tụ Vĩ đại chống lại bọn thực dân Nhật Bản và thói tham lam của địa chủ. Dọc con hẻm phía sau là hàng dài những quán bar mô tả cái mà miền Bắc gọi là lối sống bóc lột, suy đồi của Hàn Quốc tư bản đương đại — một yếu tố chính trong các bộ phim của hãng phim xiển dương sự  thống nhất theo điều kiện của miền Bắc. Các quan chức hãng phim khoe khoang đã được Kim Il-sung viếng thăm 20 lần kể từ khi hãng phim được thành lập vào năm 1947- và 320 lần bởi Kim Jong-il. “Lãnh tụ Kính yêu, đồng chí Kim Jong-il, dẫn dắt nghệ thuật và văn học của chúng tôi đến một tương lai tươi sáng,” người phát ngôn hãng phim Li Sok-kyu giải thích. “Ông ấy đưa ra những lời dạy quý giá cho những bộ phim hay.”

Hãng phim đang quay một bộ phim kiếm hiệp, lấy bối cảnh thời xa xưa, có một anh hùng sử dụng kiếm thuật và võ thuật taekwondo của Triều Tiên để tiêu diệt hàng chục kẻ thù cùng một lúc theo phong cách kung fu Hồng Kông. Rõ ràng bộ phim hướng tới giá trị giải trí nhẹ nhàng và sức hấp dẫn phòng vé hơn là mang nặng tư tưởng chính trị. Không khó để tưởng tượng rằng Kim Jong-il sẽ cần tất cả sức hấp dẫn ở phòng vé mà ông ấy có thể tập hợp được để giải quyết những gì phía trước.

 

Bình luận về bài viết này