
Đỗ Ngọc Giao
19-May-2026
6. Kỷ nhà Đinh
Bài này làm rõ vài ‘vấn đề nhỏ’ trong sử ta ở kỷ nhà Đinh, dùng những ý niệm của khoa nhơn-chủng-học (cultural anthropology) đã nêu ở bài trước.[1]
Nước sơ-khai (the early state) là một tổ chức chánh trị – xã hội (socio-political organization) độc lập, tập trung, gồm 3 cấp (nước, vùng, làng), để điều tiết các mối quan hệ trong một xã hội phức tạp gồm ít nhứt hai lớp người: một lớp có toàn quyền cai trị, một lớp có nghĩa vụ đóng thuế, dựa theo nguyên tắc ‘có đi có lại’ (reciprocity).[2]
‘Có đi có lại’ ý nói việc cai trị thì phải thuận lòng (consensus) chớ đừng cưỡng bách (coercion), vậy nước mới bền.[3]
Chiefdom là một tổ chức gồm 2 cấp (chief-nhỏ, chief-bự), chưa có ‘bộ máy hành chánh’ (institutional bureaucracies) như nước sơ-khai, mà mới có chieftaincy, tức là một cái ‘ban’ gồm những người phụ tá trung thành được chief-bự chọn ra giúp việc cho mình.[4]
6.1 Khảo cứu
6.1.1 Tổ chức xã hội
Xã hội thời Đinh có vài đặc điểm của nước sơ-khai:
- có thủ phủ: Hoa Lư, lúc đó còn ở gần bờ biển.[5]
- có buôn bán: xài tiền Thái bình hưng bửu và Thái bình thông bửu.[6]
Dù vậy, vẫn thiếu một đặc điểm chánh là ‘bộ máy hành chánh’ gồm các chuyên viên quản trị những ngành khác nhau.1
Sử chép: [năm 971] bắt đầu quy định cấp bậc văn võ, tăng đạo, lấy Nguyễn Bặc làm … Lưu Cơ làm … Lê Hoàn làm … Ngô Chân Lưu được ban hiệu là … Trương Ma Ni làm … Đặng Huyền Quang được trao chức …[7]
Đó chẳng phải là ‘bộ máy hành chánh’, mà giống như một cái chieftaincy gồm những người được giao chức này chức nọ để giúp việc cho chief-bự.
Vậy, trong khi chờ thêm dữ liệu, ta cho rằng:
Tổ chức xã hội ở thời nhà Đinh chưa phải là nước sơ-khai mà mới là chiefdom.
6.1.2 Mười hai sứ quân
Sử chép tên mười hai ‘sứ quân’ ‘đua nhau nổi dậy chiếm cứ quận ấp để tự giữ’, sau bị Đinh Bộ Lĩnh ‘cất quân dẹp yên’.7
Bỏ qua con số ‘mười hai’, thì ‘sứ quân’ thực ra là ai? Theo cách hiểu ở 6.1.1, các vị đó vốn là chief của những làng dọc theo rìa phía trong đồng bằng sông Hồng, và chính Đinh Bộ Lĩnh cũng là chief của một làng ở Hoa Lư. Mọi sứ quân dường như đều là cư dân gốc Tàu nói tiếng Annamese Middle Chinese pha với tiếng Proto-Viet-Muong của thổ dân ở các làng mà bọn họ làm chief.[8]
Nhờ có nguồn lực và tham vọng lớn hơn, nên, bằng cách này cách nọ, Đinh Bộ Lĩnh đã khiến cho những vị sứ quân kia đồng ý gom mọi làng vô một cái chiefdom, những vị đó làm chief-nhỏ còn Đinh Bộ Lĩnh làm chief-bự.
Thực ra, so với mỗi sứ quân thì Đinh Bộ Lĩnh mạnh hơn, nhưng so với nguyên đám sứ quân thì Đinh Bộ Lĩnh yếu hơn. Giả như bọn họ chẳng muốn hợp tác mà cùng nhau chống lại, thì Đinh Bộ Lĩnh có khi đã bỏ mạng chớ đừng nói còn sống mà làm chief-bự!
Trong chuyện này, chẳng có ai ‘nổi dậy’ và ai ‘đánh dẹp’ ai hết: sứ quân nào ban đầu là chief làng nào thì rốt cuộc vẫn là chief làng nấy. Dân gian thời nay vẫn thờ các vị sứ quân đó, thí dụ Nguyễn Siêu ở Hà Nội, Nguyễn Thủ Tiệp ở Bắc Ninh, Phạm Bạch Hổ ở Hưng Yên, bởi thời xưa họ vốn là chief ở những nơi đó.
Nói tóm lại:
Các sứ quân đều chịu nhún mình hợp tác với vị sứ quân mạnh nhứt là Đinh Bộ Lĩnh để cùng nhau lập nên cái chiefdom đầu tiên trong lịch sử dân ta.
6.1.3 Đại Cù Việt
Sử chép: [năm 968] vua [Đinh Tiên Hoàng] lên ngôi, đặt quốc hiệu 大瞿越 Đại Cù Việt.7
Song le, theo lời văn các cột kinh tràng tìm thấy ở Ninh Bình do con ‘vua’ là Đinh Liễn cúng dường năm 973, thì vị này xưng là ‘tiết-độ-sứ quân Tĩnh Hải’—một chức vụ do trào Tống ban cho—kèm theo tước vị bổn xứ là ‘Nam Việt vương’, mà chẳng nói bổn xứ là ‘nước Đại Cù Việt’ hay ‘nước’ nào hết:
Đệ tử là Suy Thành Thuận Hoá, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, đặc tiến Kiểm hiệu Thái sư, thực ấp một vạn hộ, Nam Việt vương Đinh Khuông Liễn.[9]
Các cột kinh tràng đó là tài liệu sơ cấp (primary source) đáng tin, cho ta hiểu rằng:
Nếu con ‘vua’ là Đinh Liễn mà chẳng nêu quốc hiệu trên kinh tràng, thì lúc đó chưa có quốc hiệu gì hết.
Vậy cái tên Đại Cù Việt hẳn là do một vị sử gia nào đó về sau chế ra: Lê Văn Hưu (1230–1322), Phan Phu Tiên (1370–1462), hoặc Ngô Sỹ Liên. Họ chế ra cái tên đó, có lẽ là vì thiên kiến ‘chủ nghĩa dân tộc’.[10]
Học giả thời nay miệt mài đi tìm nghĩa này nghĩa nọ gán cho cái tên Đại Cù Việt,[11],[12] mà chẳng dè cái tên đó đâu có thực trong lịch sử.
Nhơn đây nói thêm chữ Cù.
- 瞿曇 Cù Đàm là một cách ghi âm Gautama trong tiếng Tàu, chưa kể 喬答摩 Kiều Đáp Ma. Xưa hơn, hồi thế kỷ 2, An Shigao, người Trung Á, đã ghi âm Gautama là 俱譚 Câu Đàm và 具譚 Cụ Đàm.[13] (Gautama, tiếng Sanskrit, thường hiểu là ‘họ’ của đức Phật.)
- Cù trong tiếng Việt, gốc ở *k-ruːʔ trong proto-Vietic,[14] là tên gọi một thứ ‘rồng không sừng … thường nằm dưới đất, chỗ nó dậy thành sông’.[15] Ở tỉnh Bình Dương xưa có cái miễu thờ một con cù dậy thành suối cho cả làng có nước xài, gọi là miễu Ông Cù, sau là đình thần Bưng Cù, mà vua Tự Đức ban sắc phong năm 1852.[16] Dân gian nói ‘lù khù có ông Cù độ mạng’ là nói ‘ông Cù’ đó, chớ chẳng ai gọi đức Phật là ‘ông Cù’ hết.
6.1.4 Một vụ ám sát
Cuối kỷ nhà Đinh xảy ra một biến cố lớn: năm 979 Đinh Tiên Hoàng bị người hầu tên Đỗ Thích sát hại, mà sử gia chẳng ghi lý do rõ ràng.7 Người-đọc-sử thời nay có nêu mấy ý để giải thích biến cố đó, nhưng đều là đoán suông (speculation) vì thiếu manh mối (clue).
May thay, ta tìm được hai manh mối.
- Năm 978 tháng giêng có động đất, tháng hai có mưa đá, tháng sáu có nắng hạn.7
- Một đặc điểm của chiefdom là chief phải có năng lực tạo ra ‘fertility’ (mùa màng tốt tươi, gia súc đầy đàn): nếu chief chẳng còn năng lực đó thì sẽ bị các người vợ hoặc người hầu giết bỏ (hoặc chief tự sát), rồi các con của chief chọn một người lên thay.[17]
Hai manh mối đó cho ta hiểu sự việc như sau:
- Năm 978 liên tiếp xảy ra các điều kiện bất lợi trong tự nhiên, làm cho mùa màng gia súc đều bị thất bát chớ chẳng được dồi dào như những năm trước, và người ta bắt đầu tin rằng chuyện đó là do Đinh Tiên Hoàng chẳng còn năng lực tạo ra ‘fertility’ nữa.
- Một khi người ta tin rằng Đinh Tiên Hoàng chẳng còn năng lực tạo ra ‘fertility’, thì sớm hay muộn cái điều tệ nhứt cũng sẽ xảy ra. Tháng mười năm 979, các bà vợ [chánh và thứ] của Đinh Tiên Hoàng quyết định thí bỏ ông, giao việc đó cho một người hầu.
- Tiếp theo, vì các con của Đinh Tiên Hoàng chẳng có ai xứng đáng (một người giết em, một người còn nhỏ), cho nên Lê Hoàn (một nhơn viên trong chieftaincy giúp việc cho Đinh Tiên Hoàng) được chọn làm chief-bự.
Nói tóm lại:
- Động đất, mưa đá, nắng hạn, theo quan điểm của người xưa, là bằng chứng rằng Đinh Tiên Hoàng chẳng còn năng lực để cai trị: đây là ‘lý do đầu tiên’ (root cause) làm cho Đinh Tiên Hoàng bị loại bỏ.
- Người quyết định loại bỏ Đinh Tiên Hoàng có lẽ là bà vợ chánh của ông, dân gian hay gọi là Dương Vân Nga. Bà này mà chẳng quyết định việc đó, thì có lẽ chẳng ai dám hết.
6.2 Thảo luận
Sử gia thời nay chưa bỏ cái tật ưa xài cliché (sáo ngữ) làm như mình biết rành, mà thực ra chẳng biết gì ráo trọi. Thí dụ, họ lặp đi lặp lại rằng Đinh Bộ Lĩnh ‘dẹp loạn mười hai sứ quân’ để ‘thống nhứt đất nước’,[18] nhưng hồi đó có ‘loạn’ nào đâu mà ‘dẹp’, và có ‘nước’ nào đâu mà ‘thống nhứt’?
Dân gian thời nay thì hàng năm vẫn tổ chức lễ hội tri ơn Đinh Bộ Lĩnh mà bỏ qua các vị sứ quân khác. Bài này cho thấy: mọi vị sứ quân đều góp công lập nên chiefdom, Đinh Bộ Lĩnh góp mười thì các vị kia cũng góp chín.
Tôi xin góp một ý:
Nếu muốn tri ơn, thì nên tri ơn Đinh Bộ Lĩnh và hết thảy những vị sứ quân khác mà nay còn thờ ở những nơi khác: Nguyễn Siêu, Nguyễn Thủ Tiệp, Phạm Bạch Hổ, vân vân.
[1] https://nghiencuulichsu.com/2026/04/19/su-ta-chep-hoai-chua-trung-bai-5/
[2] Henri Claessen, Renée Hagesteijn, Pieter van de Velde. Early state today. Social Evolution & History, vol 7 no 1, March 2008.
[3] Henri Claessen. On early states – structure, development, and fall. Social Evolution & History, vol 9 no 1, March 2010.
[4] Timothy Earle. Chiefs, chieftaincies, chiefdoms, and chiefly confederacies: power in the evolution of political systems. Social Evolution & History, vol 10 no 1, March 2011.
[5] Võ Thị Phương Thúy. Hoa Lu – the 10th century capital of Vietnam – an abandoned city by the sea. Asia Pacific Conference on Maritime & Underwater Cultural Heritage 2023.
[6] Vu Hướng Đông. Tiền đúc thời xưa ở Việt Nam qua ghi chép của Hồng Tuân về đồng tiền thời Đinh-Lê trong sách Tuyền Chí. Nghiên cứu lịch sử số 8 (2006).
[7] Ngô Sỹ Liên et al (thế kỷ 17). Đại Việt sử ký toàn thơ.
[8] https://nghiencuulichsu.com/2023/11/27/nguon-goc-nguoi-viet-bai-15/
[9] Hà Văn Tấn (1965-2006) Về tín ngưỡng cột kinh Phật đỉnh Tôn thắng ở thế kỷ X. https://his.ussh.vnu.edu.vn/
[10] https://nghiencuulichsu.com/2026/03/19/su-ta-chep-hoai-chua-trung-bai-4/
[11] Nguyễn Tài Cẩn. Về quốc hiệu nước ta đời nhà Đinh. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 27 (2011).
[12] Trần Trọng Dương (2020) Khảo về ‘Đại Cồ Việt’ (nước Việt – nước Phật giáo). http://nguvan.hnue.edu.vn/
[13] J. Baley, N. Hill, E. Caldwell (2023) Chinese transcription of Buddhist terms in the Late Han Dynasty. Journal of Open Humanities Data, 9:10.
[14] http://sealang.net/monkhmer/dictionary/
[15] Huình-Tịnh Paulus Của (1834–1907). Đại Nam quấc âm tự vị (1896)
[16] https://tanuyen.binhduong.gov.vn/dia-diem/9
[17] Henri Claessen. From incidental leaders to paramount chiefs: the evolution of socio-political organization. Social Evolution & History, vol 13 no 1, March 2014.
[18] Trần Thị Vinh et al (2013) Lịch sử Việt Nam, tập 2: từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 14.