Ashoka- Đi Tìm Vị Hoàng Đế Thất Lạc của Ấn Độ (Bài 13)

CHARLES ALLEN

Trần Quang Nghĩa dịch

13 Tuyển tập Văn bản Khắc Ấn Độ

Phần trung tâm được khắc chữ trên tảng đá Girnar khổng lồ, nằm bên cạnh con đường dẫn lên đỉnh đồi Girnar, do D. H. Sykes thực hiện năm 1869. (APAC, Thư viện Anh)

 

 Jaugada là nơi tìm đến không hề dễ dàng. Lái xe hai tiếng về phía nam Bhubaneshwar trên con đường ven biển sẽ đưa bạn đến Ganjam và cửa sông Rushikulya. Tại đó, bạn rẽ vào đất liền và men theo dòng sông quanh co uốn lượn cho đến tận làng Purushottampur. Chẳng ai ở đây biết đến Jaugada cả. Nhưng hãy tiếp tục đi…

 

Hãy men theo dòng sông và ngay tại nơi dường như bạn không còn lựa chọn nào khác ngoài việc băng qua sông trên một cây cầu hẹp, một con đường mòn nhỏ rẽ khỏi đường chính và dẫn đến thôn Pandia. Ở đây, người dân địa phương biết chính xác bạn muốn gì và rất sẵn lòng chỉ đường cho bạn. Con đường mòn kết thúc dưới chân những tảng đá xếp chồng lên nhau của đồi Jaugada. Giờ thì bạn cần tìm kiếm tảng đá lớn nhất có khả năng là nơi trú ẩn, và kia rồi – nó hiện ra sừng sững như một con voi giữa đường chân trời, sườn dưới của nó được che phủ bởi một công trình bê tông và song sắt gớm ghiếc, giống như một cái chuồng thú.

 

Những gì ngày nay được biết đến với tên gọi Chỉ dụ Đá Jaugada lần đầu tiên được Đại úy Markham Kittoe báo cáo vào giữa những năm 1830. Ông đã viết thư cho James Prinsep về các báo cáo của ‘một bản chữ khắc trải rộng 270 bộ vuông’¹ nhưng không thể tìm thấy nó. Một phần tư thế kỷ trôi qua trước khi bản chữ khắc của Kittoe được tìm thấy trên đồi Jaugada, thuộc vùng đất khi đó là một phần của Phủ Madras và nay thuộc miền nam Orissa. Người phát hiện rất có thể là Walter Elliot, một viên chức chính quyền Madras, sau đó ông đã giữ kín về điều này và với lý do chính đáng.

 

Ngày nay, Elliot được nhớ đến nhiều nhất với tư cách là người đã “cứu” những tác phẩm điêu khắc bằng đá cẩm thạch Amaravati. Ông gia nhập Cơ quan Hành chính Madras năm 1820 và trải qua phần lớn sự nghiệp tại Phủ Madras, nơi niềm đam mê săn bắn thuở ban đầu nhanh chóng nhường chỗ cho những sở thích khác bao gồm động vật học, ngôn ngữ Ấn Độ và các di tích cổ. Năm 1845, Elliot tiếp quản Phân khu Guntur phía nam sông Krishna, nơi ông chịu trách nhiệm về những tàn tích của Đại Bảo tháp Amaravati. Công trình này đã bị tàn phá nặng nề hơn kể từ thời Đại tá Colin Mackenzie. Nhiều phiến đá chạm khắc được các thợ thiết kế của Mackenzie vẽ lại đã bị mất trong hố vôi và Viên chức Sưu tầm của Masulipatam đã lấy đi thêm 33 phiến đá khác để trang trí quảng trường thị trấn mới của mình. Bản ghi chép của Elliot về cuộc khai quật địa điểm bảo tháp Amaravati sau đó đã bị thất lạc trên biển, nhưng những tác phẩm điêu khắc bằng đá cẩm thạch mà ông gửi đến Madras thì không. Năm 1859, 121 mảnh “đá cẩm thạch Elliot” được vận chuyển đến London, nơi chúng bị lãng quên trong một nhà chứa xe ngựa cũ trước khi được nhà sử học kiến ​​trúc James Fergusson lần ra.

 

Walter Elliot chắc chắn là nghi phạm chính trong vụ phá hoại Bia Đá Jaugada. Đầu những năm 1850, ông đã đến thăm địa điểm này cùng với một viên chức dân sự khác của Madras, kém ông 20 tuổi. Vào thời điểm đó, tảng đá được cho là “hoàn hảo hơn” so với thực trạng sau này. Năm 1854, Elliot rời khỏi khu vực và sau đó người ta biết được rằng một quý ông người châu Âu và một viên chức  – thuật ngữ được sử dụng vào thời điểm đó để chỉ một nhân viên của Cơ quan Hành chính Dân sự Ấn Độ (ICS) – đã đến thăm tảng đá Jaugada và ra sức cạy bỏ các chữ khắc trên đó, với hậu quả thảm khốc. Theo dân địa phương, ông ta “đã đổ một lượng nước me nóng và nước lên tảng đá, rồi dùng búa đập vào nó, kết quả là ông ta đã làm vỡ một phần lớn tảng đá có khắc chữ”.

Năm chỉ dụ đầu tiên trên bia đá Jaugada cho thấy một số thiệt hại do một “quý ông châu Âu” gây ra. (Theo Alexander Cunningham, Inscriptions of Asoka, 1877)

 

Không có gì ngạc nhiên, kẻ phá hoại vẫn im lặng, đến tận năm 1872, Chỉ dụ Đá Jaugada mới được một viên chức quận tên là W. F. Grahame chính thức báo cáo. Vào thời điểm báo cáo của Grahame xuất hiện trên số đầu tiên của tạp chí Indian Antiquary, Ngài Walter Elliot, KCIE, đã nghỉ hưu khỏi Ấn Độ và trở thành một thành viên hàng đầu của Hội Hoàng gia Châu Á. Vấn đề về danh tính của “viên chức” Jaugada cũng không được điều tra thêm.

 

Bản khắc Jaugada chứng tỏ  là một trong những di tích Chỉ dụ Đá quan trọng khác của Hoàng đế Ashoka, là di tích thứ năm được phát hiện cho đến nay sau Girnar, Dhauli, Shahbazgarhi và Kalsi. Giống như các bản khắc đá khác, nó khắc các chỉ dụ RE 1-10 và 14. Tuy nhiên, các chỉ dụ RE 11-13 đã được thay thế bằng hai chỉ dụ khác: được gọi là Chỉ dụ Đá Riêng biệt (SRE 1 và 2). Những chỉ dụ này được đặt riêng biệt với các chỉ dụ chính trong hai khuôn và tương đối không bị hư hại.

 

Đây chính xác là những gì James Prinsep đã tìm thấy trên Chỉ dụ Đá Dhauli bên ngoài Bhubaneshwar, và phát hiện này đã giúp giải thích tại sao các Chỉ dụ RE 11-13 lại bị bỏ sót cả ở đây và tại Dhauli, vì cả hai địa điểm này đều nằm trong ranh giới của Vương quốc  Kalinga cổ đại, một ở phía bắc, một ở phía nam. Ba Chỉ dụ Đá bị thiếu là những đoạn mà Hoàng đế Ashoka mô tả về cuộc chinh phạt Kalinga và nỗi ân hận sau đó của ngài về những thông khổ mà ngài đã gây ra cho dân tộc Kalinga. Tại chính Kalinga, những lời cảm thán đó đã bị cố tình bỏ qua, có lẽ để tránh làm tổn thương thêm người dân Kalinga vốn đã chịu quá nhiều tổn thương.

 

Hai chỉ dụ SRE thay thế cho các chỉ dụ RE 11-13 tại Jaugada và Dhauli được gửi đến các mahamatra, tức các quan chức tôn giáo đặc biệt của Ashoka tại Tosali (Dhauli) và Samapa (Jaugada). Họ được chỉ thị thực hiện các chỉ dụ của hoàng đế về phúc lợi tinh thần của người dân dưới sự chăm sóc của họ một cách công bằng và vô tư, để người dân Kalinga có thể sống hòa bình với nhau. Chính trong bối cảnh này, Hoàng đế Ashoka đã đưa ra điều có lẽ là học thuyết nổi tiếng nhất của mình, trong đó ngài tuyên bố rằng ngài cai trị vì hạnh phúc của tất cả thần dân (bản dịch hiện đại): ‘Tất cả mọi người đều là con cái của ta. Điều ta mong muốn cho con cái của ta là sự an lành và hạnh phúc của họ cả ở kiếp này và kiếp sau, ta cũng mong muốn điều đó cho tất cả mọi người. Các ngươi không hiểu ta mong muốn điều này đến mức nào, và nếu một số trong các ngươi hiểu được, thì các ngươi cũng không hiểu hết mức độ mong muốn của ta.’

 

SRE 2 tiếp tục theo mạch cảm hứng đó nhưng nó cũng mang một thông điệp khá đáng chú ý, dành cho ‘người dân của các vùng lãnh thổ chưa bị chinh phục’. Nếu họ đang tự hỏi ý định của nhà vua đối với họ, thì câu trả lời của ngài là như sau (bản dịch hiện đại):

 

Ý định duy nhất của ta là để họ sống mà không sợ hãi ta, để họ tin tưởng ta và để ta mang lại cho họ hạnh phúc chứ không phải đau khổ. Hơn nữa, họ nên hiểu rằng nhà vua sẽ tha thứ cho những người có thể được tha thứ, và rằng ngài muốn họ thực hành Pháp để họ có thể đạt được hạnh phúc ở đời này và đời sau. Ta nói điều này với các ngươi để trả hết những món nợ ta đang mắc phải, và để khi hướng dẫn các ngươi, các ngươi biết rằng lời thề và lời hứa của ta sẽ không bị phá vỡ. . .  Hãy đảm bảo với họ [người dân của các vùng lãnh thổ chưa bị chinh phục] rằng: ‘Nhà vua giống như một người cha. Ngài đối xử với chúng ta như đối xử với chính mình. Chúng ta đối với ngài như con cái của ngài.’

 

Thông điệp này dành cho các dân tộc sống ở phía nam và tây Kalinga, những vùng lãnh thổ của họ vẫn chưa bị Ashoka chinh phục. Họ đã chứng kiến ​​số phận khủng khiếp giáng xuống Kalinga khi vùng đất này chống lại quân đội của Ashoka. Giờ đây, hoàng đế muốn họ hiểu rằng ngài đã thay đổi, muốn chinh phục bằng sức mạnh của Dharma mà thôi.

 

Trên thực tế, Ashoka chưa bao giờ chinh phục được mũi phía nam của Ấn Độ, cũng như không chinh phục được đảo Lanka ở phía xa hơn. Ngài không cần phải làm vậy vì, như Biên niên sử Triều đại Vĩ đại cho chúng ta biết, ngài đã đạt được mục tiêu của mình bằng các biện pháp hòa bình thông qua việc truyền bá Phật pháp.

 

Và với việc phát hiện ra đá  chỉ dụ thứ 5, một mô hình rõ ràng bắt đầu xuất hiện. Cả năm đều được khắc vào sườn ngoài của một tảng đá lớn nhô ra –  và có hình voi – nằm trên sườn đồi nhìn xuống một khu định cư của con người. Cả ở Jaugada và Dhauli, các  đá chỉ dụ đều nhìn xuống tàn tích của các thành phố có tường bao quanh. Tại Dhauli, thành phố cổ Tosali nằm ở phía bên kia sông Daya gần đó, “Sông của Lòng Trắc ẩn”, nhưng những bức tường thành bằng bùn và gạch đồ sộ cùng hào nước bên ngoài vẫn còn hiện rõ nét. Tại Jaugada, ngọn đồi thực sự hòa vào một góc tường thành Samapa như để tạo thành một dạng tòa thành, giống như trong các thành phố Hy Lạp. Ở đây, các công trình đất đắp không mấy ấn tượng, nhưng điều vẫn có thể nhìn thấy bằng mắt thường là thị trấn Samapa ban đầu được quy hoạch theo hình vuông trên một lưới hướng bắc-nam, với hai cổng ở mỗi bên – một lần nữa rất giống với mô hình Hy Lạp. Từ quy mô và vị trí của nó, Samapa hẳn đã từng là một trung tâm hành chính quan trọng của nửa phía nam của Kalinga cổ đại, với vị trí gần sông và bờ biển, thuận lợi cho việc giao thương nội địa và dọc theo bờ biển.

 

Walter Elliot đã tiến hành một cuộc khai quật sơ bộ tại Jaugada vào năm 1858 và phát hiện ra một bộ sưu tập tiền xu Kushan có niên đại từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Một cuộc khai quật kỹ lưỡng hơn đã được bà Debala Mitra thuộc Cục Khảo cổ Ấn Độ thực hiện vào năm 1956-1957. Bà đã chứng minh rằng Samapa được thành lập dưới thời trị vì của Ashoka vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên. Các đồng tiền được đục lỗ thời kỳ Maurya và một loạt các vật liệu được sử dụng và trang trí cho thấy đó là một cộng đồng thịnh vượng và phát triển. Mô hình tương tự cũng được tìm thấy ở Tosali, do đó cả hai dường như đều là những thị trấn mới được thành lập ngay sau cuộc chinh phục Kalinga, trở thành các trung tâm hành chính mới của đế chế Ashoka.

 

Nhà Phạn học đầu tiên xem xét và viết về Chỉ dụ Đá Jaugada là một người Ấn Độ: học giả và nhà cải cách xã hội Tiến sĩ Ramakrishna Gopal Bhandarkar, lúc đó là trợ giảng tiếng Phạn tại Đại học Bombay, nơi lúc bấy giờ đã trở thành trung tâm nghiên cứu Ấn Độ học ở Ấn Độ.

 

Vùng bờ biển phía Tây Bombay (thủ phủ Bang Maharashtra) đã vượt trội hơn Calcutta (thủ phủ Bang Tây Bengal, ở bờ biển phía đông) – và nếu tin lời Tướng Sir Alexander Cunningham, thì đó là vì Hội Á Châu Bengal đã bị thâu tóm bởi thành phần mà ông gọi là “các nhà tự nhiên học”, lúc đó độc chiếm quyền điều hành Bảo tàng, đến nỗi khi ông đến thăm bảo tàng để xem xét lại một bức tượng Phật do ông khai quật tại Sravasti, ông thấy nó bị cất giấu ‘giữa một đàn hươu và linh dương nhồi bông, khiến bệ khắc chữ của nó bị che khuất hoàn toàn khỏi tầm nhìn’. Tuy nhiên, yếu tố thực sự trong sự trỗi dậy của Bombay là vì nó ít bị ràng buộc bởi chủng tộc lẫn đẳng cấp và được hưởng lợi từ một loạt các thống đốc sáng suốt, trong đó có nhà Đông phương học Jonathan Duncan – đã qua đời khi đang tại chức ở Bombay vào năm 1811 – vốn đã nhận ra sự cần thiết phải đưa người Ấn Độ tham gia.

 

Tinh thần xông xáo vốn từng đặc trưng cho Calcutta thời kỳ đầu giờ đây đã trở thành dấu ấn của Bombay, điều này được thể hiện rõ nét trong lĩnh vực học thuật qua sự vươn lên nổi bật của trường Elphinstone College. Trường trở thành hạt nhân của Đại học Bombay vào năm 1860 và trong vòng một thập kỷ, Khoa Nghiên cứu Phương Đông của trường đã trở thành ngọn hải đăng của giới học thuật, phần lớn nhờ vào sự hiện diện của Giáo sư Georg Bühler, dưới sự dẫn dắt của ông, ngành nghiên cứu chữ khắc Ấn Độ đã được chuyển đổi từ một sở thích thành một bộ môn học thuật. Tiếng Phạn và sau đó là tiếng Pali trở thành một môn học được coi trọng ở trường đại học và tạo ra một thế hệ sinh viên được đào tạo bài bản mới.

Những học giả chuyên nghiên cứu tiếng Phạn bắt đầu xuất hiện, họ không còn bằng lòng với việc chỉ đóng vai trò là học giả phục vụ người châu Âu nữa.

 

Một kỷ nguyên vàng thứ ba của Ấn Độ học bắt đầu, trong đó các học giả Ấn Độ có thể tham gia bình đẳng không chỉ với các nhà nghiên cứu chữ khắc nước ngoài đang làm việc tại Ấn Độ, như Tiến sĩ Bühler và Tiến sĩ John Fleet của ICS, mà còn với các đồng nghiệp của họ ở châu Âu. Tại Bombay, người địa phương tốt nghiệp đầu tiên tạo được dấu ấn là học trò của Giáo sư Bühler, Ramakrishna Bhandarkar, một Bà La Môn của bang Maharashtra, sinh năm 1837. Khi Bühler đảm nhận một chức vụ cao hơn vào năm 1868, chính Tiến sĩ Bhandarkar đã kế nhiệm ông làm Giáo sư tiếng Phạn, nhưng chỉ bốn năm sau, vị trí này lại được trao cho một học giả trẻ 25 tuổi đến từ Oxford, Tiến sĩ Peter Peterson. Bất chấp sự phản đối của Bühler và những người khác, chính quyền vẫn không chịu nhượng bộ, vì vậy Bhandarkar không còn lựa chọn nào khác ngoài việc làm trợ lý cho Peterson – sự sỉ nhục càng trầm trọng hơn khi Peterson khăng khăng đòi chia sẻ công lao trong những gì mà Bhandarkar coi là thành tựu lớn nhất của mình:  sưu tầm và biên tập hàng loạt bản thảo tiếng Phạn và tiếng Pali chưa từng được biết đến trước đây. Khi rõ ràng là Peterson đang đứng yên tại vị trí, một chức vụ đặc biệt đã được tạo ra cho Bhandarkar với tư cách là Giáo sư tiếng Phạn tại trường Cao đẳng Deccan ở Poona, nơi mà Tiến sĩ Bhandarkar sẽ sống để chứng kiến ​​nó phát triển thành Viện Nghiên cứu Phương Đông Bhandarkar, được Phó vương chính thức khai trương vào năm 1917, thời điểm mà chính Tiến sĩ Bhandarkar cũng đã được phong tước hiệp sĩ.

Thầy và trò; guru và chela. (Trái) Giáo sư Georg Bühler, người có sự nghiệp bị gián đoạn khi bị chết đuối năm 1898. (Phải) Ngài Ramakrishna Gopal Bhandarkar, KCIE, ngày nay được nhớ đến ở bang Maharashtra như một nhà cải cách xã hội hơn là một học giả.

 

Ngày nay, Tiến sĩ Bhandarkar được nhớ đến nhiều nhất với vai trò là người đấu tranh chống lại những tệ nạn của hệ thống đẳng cấp và giáo điều Bà La Môn, cũng như đấu tranh cho các cuộc cải cách tôn giáo trong Ấn Độ giáo. Nhưng ông cũng nên được nhớ đến như người đã tái dựng lại lịch sử chính trị ban đầu của vùng Deccan, cho thấy triều đại Satavahana, hay còn gọi là Andhra, đã thống trị miền trung Ấn Độ trong hơn bốn thế kỷ sau sự sụp đổ của triều đại Maurya và đóng vai trò quan trọng là những nhà bảo trợ Phật giáo, dẫn đến sự hưng thịnh của những công trình Phật giáo sơ khai vĩ đại nhất, trải dài từ hang động Ellora và Ajanta ở phía tây đến Amaravati ở phía đông nam.

 

Hai học giả tiên phong khác về tiếng Phạn ở Ấn Độ, cũng đóng vai trò quan trọng trong những phát hiện về Ashoka, là Tiến sĩ Bhau Daji và Bhagavan Lal Indraji. Người trước là một cựu sinh viên xuất sắc của trường Elphinstone College, một bác sĩ y khoa đã học tiếng Phạn để làm quen với y học cổ truyền Hindu và tiến lên trở thành một trong những ánh sáng đẫn đường của chi nhánh Bombay thuộc RAS và viết bài đều đặn cho tạp chí của hội. Những đóng góp của Tiến sĩ Bhau Daji cho ngành nghiên cứu Ấn Độ cuối cùng đã được công nhận vào năm 1975 khi Bảo tàng Victoria và Albert ở Bombay được đổi tên thành Bảo tàng Bhau Daji Laud. Tuy nhiên, người trợ lý và nhà nghiên cứu thực địa của Tiến sĩ Bhau Daji, Bhagavan Lal Indraji, lại ít được ghi nhận, bởi vì phần lớn nhờ vào tính khiêm nhường của Indraji, người trong suốt mười ba năm đã đi khắp Ấn Độ và Nepal để tìm kiếm các bản khắc, bản thảo và tiền xu cổ, nhờ đó người chủ của ông mới có thể đóng góp to lớn vào sự phát triển của ngành nghiên cứu chữ khắc Ấn Độ.

 

Bản thân Indraji xuất thân từ tiểu vương quốc Junagadh, trong lãnh thổ của nó có núi Girnar và tảng đá khắc Chỉ dụ Ashoka ở chân núi. Thật vậy, chính tảng đá lớn này đã thu hút Indraji đến với ngành cổ văn học. Từ lâu người ta đã biết rằng tảng đá Girnar mang một bộ chữ khắc thứ hai bằng chữ Brahmi, nhưng chính sự kết hợp tính uyên bác của Bhau và Indraji đã đưa ra được bản đọc rõ ràng đầu tiên về bản khắc sau này được biết đến với tên gọi là bản khắc Rudradaman, được xuất bản năm 1863. Phần lớn nội dung dành để ca ngợi vị chinh phục vĩ đại Rudradaman, người đã được xác định từ tiền xu của ông là vua Scythia hay Shaka Rudradaman I,  đã cai trị Malwa vào giữa thế kỷ thứ hai sau Công nguyên. Bản đọc mới cho thấy bản khắc đánh dấu việc hoàn thành các công trình sửa chữa lớn đối với một con đập và hồ chứa nước dưới chân núi Girnar. Con đập đã bị vỡ trong một cơn bão và nhiệm vụ sửa chữa chỗ vỡ đã được giao cho tể tướng kiêm thống đốc địa phương của vua Rudradaman, Suvishakha, người tự mô tả mình là “có năng lực, kiên nhẫn, không dao động, không kiêu ngạo, chính trực, không thể mua chuộc, người bằng tài cai trị tốt của mình đã chấn hưng công đức, tiếng thơm và vinh quang tinh thần cho chủ nhân của mình”.

 

Nhưng điều gây ấn tượng nhất trong bản khắc Rudradaman là tuyên bố rằng công trình con đập và hồ chứa ban đầu này đã được xây dựng bởi một người tên là Pushagupta, một thống đốc tỉnh dưới thời vua Chandragupta của triều đại Maurya. Sau đó, nó đã được “bổ sung thêm các đường dẫn nước cho Ashoka Maurya bởi vua Hy Lạp Tushaspha trong thời kỳ trị vì”. Nói cách khác, con đập ban đầu, được xây dựng vào thời Chandragupta, đã được cải tiến bởi thống đốc địa phương của vua Ashoka, người Hy Lạp-Bactria tên là Tushaspha. Những ghi chú khác trên bia đá, chẳng hạn như sự gắn bó mạnh mẽ của vua Rudradaman với Dharma, lòng từ bi của ông và lời thề không giết người, trừ trong chiến trận, cho thấy rõ rằng ít nhất ở đây, tên tuổi và tinh thần của Ashoka đã tồn tại đến thế kỷ thứ hai sau Công nguyên.

 

Cái chết của Tiến sĩ Bhau Daji vào năm 1874 đã khiến Bhagavan Lal Indraji rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, điều đó lại giúp cho công trình nghiên cứu của ông được phát huy vượt ra khỏi cái bóng của người chủ cũ, một ví dụ điển hình là công trình điều tra dẫn đến việc phát hiện ra cái mà ngày nay được biết đến với tên gọi Chỉ dụ Đá Sopara.

 

Năm 1882, hành động dựa trên thông tin nhận được từ Viên chức Sưu tầm của Quận Thana, Indraji đi tàu dọc bờ biển từ Bombay đến Sopara, nằm bên cạnh một con lạch cách tàn tích khu định cư Bassein của người Bồ Đào Nha vài dặm. Từ lời kể của viên chức này, Indraji nghi ngờ rằng thứ y mô tả là một pháo đài thực chất là một bảo tháp Phật giáo, và điều này đã được chứng minh là đúng. Một hồ nhân tạo được xác định là bến cảng từ thời Sopara còn có cảng riêng, và tại đây Indraji tìm thấy một khối đá được đánh bóng có khắc vài dòng chữ Brahmi mà ông nhận ra ngay lập tức là một phần của RE 7. Theo người dân địa phương, đây là một phần của một tảng đá lớn hơn nhiều có khắc chữ đã biến mất gần đây.

 

Indraji tin chắc rằng việc tìm kiếm trong một số công trình tôn giáo tại khu vực sẽ giúp phát hiện thêm những mảnh đá khắc chỉ dụ, nhưng vì lý do chính trị, không có cuộc kiểm tra nào được cho phép. Tuy nhiên, vào năm 1955, một mảnh đá mài bóng thứ hai đã được tìm thấy ở Sopara, lần này mang một phần của RE 9. Nó sẽ xác nhận điều  Indraji khẳng định rằng một Chỉ dụ Đá quan trọng của Ashoka hẳn đã được đặt tại đây. Nhà địa lý Hy Lạp Ptolemy đã đề cập đến một cảng biển tên là Sopara, cũng như nhiều nhà địa lý Ả Rập khác, và tất cả những gì Indraji đã đọc đều chỉ ra rằng đây từng là kinh đô của Aparanta, vùng ven biển phía bắc Bombay. Ông viết: “Nó xuất hiện như một thành phố linh thiêng trong các sách Phật giáo, Bà La Môn giáo và Kỳ na giáo. Ashoka đã cử một nhà truyền giáo của mình đến Aparanta, Dhammarakhita người Yona hay Yavana, tức là người Hy Lạp hoặc Bactria. Tôi tin rằng Dhammarakhita đã biến Sopara thành trung tâm của các nỗ lực truyền giáo của mình, và chính từ Sopara mà Phật giáo đã lan rộng khắp Tây Ấn Độ.”

 

Trong khi đó, các học giả nghiên cứu tiếng Phạn cũng tìm thấy một hình mẫu lý tưởng ở nhà ngôn ngữ học đa tài Rajendra Lala Mitra, một người Bengal thuộc tiểu đẳng cấp Kayastha, người được bổ nhiệm làm Thủ thư và Trợ lý Thư ký của Hội Á Châu Bengal vào năm 1846. Mitra sau đó trở thành Thư ký của Hội và giữ chức Phó Chủ tịch trong 19 năm tại Bengal.

 

Trước khi cuối cùng trở thành chủ tịch người Ấn Độ đầu tiên của tổ chức này, ông đã đóng góp không dưới 114 bài báo học thuật cho JRAS. Ngày nay, Mitra được nhớ đến nhiều nhất với tư cách là “nhà đấu tranh không khoan nhượng” đã sử dụng báo chí để thúc đẩy các lý tưởng dân tộc và vận động cải thiện điều kiện làm việc trong các đồn điền chàm ở Bihar và Bengal. Tuy nhiên, ông cũng là một người ủng hộ mạnh mẽ việc bảo tồn quá khứ của Ấn Độ và vào cuối những năm 1860, ông đã nhận được sự ủng hộ của chính phủ Bengal cho một cuộc điều tra có hệ thống về tất cả các công trình kiến ​​trúc cổ, đền thờ và “tumuli” (gò mộ, nhưng thực chất là tháp Phật giáo) của tỉnh Orissa, kết quả của cuộc điều tra này sau đó được xuất bản trong hai tập lớn với tựa đề “Cổ vật của Orissa”, một trong những ấn phẩm đầu tiên ở Ấn Độ sử dụng hình ảnh minh họa. Từ thời điểm này trở đi, Mitra và Tướng Sir Alexander Cunningham thường xuyên thư từ qua lại, với việc Cunningham thường xuyên tìm kiếm ý kiến ​​của Mitra về các vấn đề từ các phong cách kiến ​​trúc đến các văn khắc cổ.

 

Phần lớn công việc khảo sát thực địa mà vị tướng trước đây đã thực hiện ở Bắc Ấn Độ giờ đây được hai trợ lý của ông là Joseph Beglar và Archie Carllyle tiếp tục. Người thứ nhất đã xác định được tàn tích của ít nhất hai quần thể bảo tháp cổ – tại Deoria, trên biên giới phía đông của Các tỉnh thống nhất (Uttar Pradesh), và tại Beshnagar, cách Vidisha và đồi Sanchi vài dặm về phía bắc, cả hai đều có lan can và cổng được chạm khắc tương tự như những gì được tìm thấy ở Bharhut nhưng bị hư hại nghiêm trọng đến mức cho thấy đó là hành động phá hoại thánh tích có chủ đích.

 

Cơ hội tỏa sáng của Archie Carllyle đến trong hai mùa Lạnh giá năm 1874-1875 và 1875-1876, khi ông quay lại thăm nhiều địa điểm Phật giáo ở Bắc Bihar mà Francis Buchanan đã ghi nhận lần đầu. Điều này bao gồm việc đánh giá lại một số cột Ashoka và trong khi Carllyle đang lấy bản dấu ấn mới của Chỉ dụ Cột Lauriya-Araraj thì ông được một nhóm người Tharu sống trong rừng tiếp cận.

Họ là cư dân bản địa của vành đai rừng dưới Himalaya, được gọi là tộc Tarai.

 

Người Tharu báo cáo về sự tồn tại của một cột đá rất giống cách một khoảng đường về phía bắc – ‘một khối đá nhô lên khỏi mặt đất mà họ gọi là Cột trụ của Bhim, và họ nói rằng nó giống với đỉnh cột trụ ở Laoriya’. Được người Tharu dẫn đường, Carllyle tiến vào vùng đất vẫn được coi là hoang dã và nguy hiểm do rừng rậm và khí độc chết người đã giết chết tất cả những người lạ dám mạo hiểm vào vùng đó và ở lại sau khi màn đêm buông xuống. Bên ngoài làng Rampurva, gần biên giới với Nepal, Carllyle bắt gặp đầu một cột đá ‘nhô lên khỏi mặt đất theo hướng nghiêng về phía bắc’. Gần đó là tàn tích của đỉnh cột có hình dạng một con sư tử ngồi, với bệ đỡ và chuông gắn liền, bị gãy làm đôi ngay phía trên chân nó. Xung quanh các mặt bệ đỡ là những cặp ngỗng cúi đầu, có tư thế và kiểu dáng tương tự như những con ngỗng được tìm thấy trên các cột đá ở Sanchi và Lauriya-Nandangarh.

 

Với sự giúp đỡ của người Tharus, Carllyle đã khai quật thành công đủ phần cột đá, nằm nghiêng trong lòng đất lầy lội, để lộ ra nửa trên của một bản chữ khắc bằng chữ Brahmi. Vì quá ngập nước nên không thể đào sâu hơn, do đó Carllyle chỉ có thể bằng lòng với một bản dấu ấn sơ sài, nhờ các công nhân phải đứng ngập đến thắt lưng trong nước. Điều này đủ để xác định dòng chữ khắc là một trong những Chỉ dụ Cột, nâng tổng số bộ được phát hiện cho đến nay lên con số năm.

 

Cách cột sư tử khoảng ba trăm thước về phía nam ló ra khỏi mặt đất là phần còn lại của một cột đá thứ hai. Vì Carllyle và những người của ông muốn nhanh chóng trở về vùng đất an toàn hơn nên việc này phải được để lại cho thế hệ các nhà khảo cổ học sau này, họ sẽ tìm thấy một đầu cột có hình dạng một con bò lưng gù hoàn chỉnh với chuông và bệ đỡ, thể hiện độ bóng đặc trưng của thời kỳ Mauryan và trong tình trạng gần như hoàn hảo. Phần đầu và thân trên của sư tử đầu cột của Carllyle cũng được tìm thấy, khuôn mặt bị hư hại nhưng nhìn chung vẫn còn tốt.

Việc khai quật cột đá Rampurva đầu tiên của Carllyle, được hoàn thành vào năm 1907 dưới sự chỉ đạo của Tiến sĩ Day Ram Sahni. Có thể nhìn thấy phần đầu cột hình sư tử ở phía trên bên trái. (APAC, Thư viện Anh)

 

Tượng đầu bò Rampurva hiện đang đứng trên một bệ đá ở hành lang của Rashtrapati Bhavan tại New Delhi, dinh thự chính thức của Tổng thống Ấn Độ, nơi gần như không thể tham quan và chụp ảnh, cũng giống như cột Ashoka trong pháo đài Allahabad.

 

Việc Carllyle phát hiện ra hai cột đá Rampurva gần biên giới với Nepal và chân đồi dãy Himalaya khiến ông suy đoán rằng chúng được dựng lên bởi Hoàng đế Ashoka để đánh dấu một cuộc hành hương hoàng gia nào đó: “Hiện nay người ta biết rằng có bốn cột trụ khác nhau của Ashoka nằm dọc theo con đường phía bắc cũ dẫn từ Magadha đến Nipal. . . Do đó, tôi cho rằng sẽ tìm thấy một cột trụ khác, hoặc một bản chữ khắc trên đá, xa hơn về phía bắc ở đâu đó trong vùng Nipal Tarai.” Hơn hai thập kỷ sau, dự đoán của Carllyle mới được xác nhận là chính xác

 

Thành tựu lớn nhất của Carllyle là việc ông khai quật được bức tượng Niết bàn khổng lồ tại Kasia, bức tượng được Huyền Trang mô tả từ lâu, xác nhận rằng đây chính là địa điểm của Kushinagara cổ đại, nơi Đức Phật đã nhập niết bàn. Các cuộc khai quật của ông tại đây, tại bảo tháp Kesariya vĩ đại gần đó, và tại các địa điểm khác ở Bắc Bihar, cho thấy tính phổ biến rộng rãi của tín ngưỡng thờ bảo tháp trong khu vực này, một tập tục đã làm thay đổi cảnh quan của Bihar và có nguồn gốc từ Ashoka, mặc dù chính những người kế vị ngài là Shungas, Kushans và Guptas mới là những người đã đưa nó đến thành quả trọn vẹn.

 

Archibald Carllyle tiếp tục thực hiện những công việc xuất sắc cho Cunningham và Cục Khảo cổ học Ấn Độ trong nhiều năm nữa, đặc biệt là trong lĩnh vực tiền sử Ấn Độ, nơi công trình tiên phong của ông về tranh vẽ trong hang động ở vùng cao nguyên trung tâm Ấn Độ và các công cụ đá nhỏ ở Bhagelkhand Bundelkhand đã giúp ông được xếp trong số những người sáng lập ngành cổ sinh vật học. Các báo cáo của ông đọc rất thú vị nhưng không phải lúc nào cũng vì những lý do tốt đẹp nhất, bởi vì ông không bao giờ ngần ngại bày tỏ những suy nghĩ tốt hơn nên giữ kín, đặc biệt là quan điểm của ông về chủng tộc, rằng người Anh, cùng với người Parsi, là tinh hoa của chủng Aryan, còn người Hindu chỉ là “cặn bã cà phê”. Đến năm 1885, tính lập dị của Carllyle đã chuyển thành chứng hoang tưởng và Cunningham buộc phải cho ông nghỉ hưu. Lúc đó, Alexander Cunningham đã bước sang tuổi bảy mươi nhưng biện minh cho việc không nghỉ hưu của mình với lý do ông là người không thể thiếu, và quả thực là như vậy.

 

Công tác khảo sát thực địa do Beglar và Carllyle thực hiện đã cho phép Cunningham phác họa bức tranh về khảo cổ học Ấn Độ. Ông thực hiện điều này với sự tham khảo chặt chẽ với các nhà nghiên cứu chữ khắc hàng đầu thời bấy giờ, những nhân vật có uy tín như Georg Bühler và Ramakrishna Gopal Bhandarkar ở Bombay, Rajendra Lal Mitra ở Calcutta, Max Müller ở Oxford và học giả trẻ tài năng Émile Senart ở Paris. Chính sự hợp tác này đã cho phép Cunningham xuất bản vào năm 1877 tác phẩm “Inscriptions of Aśoka (Những bản văn khắc của Asoka)“, là Tập I của “Corpus Inscriptionum Indicarum” – một dự án đồ sộ mà James Prinsep đã mơ ước khởi xướng từ năm 1836. Lần đầu tiên, tất cả các bản chữ khắc của Ashoka đã biết được tập hợp trong một tập sách, mỗi bản chữ khắc đều có nhiều bản dịch khác nhau, từ bản đầu tiên đến bản mới nhất và có tính xác thực cao nhất.

 

Tổng số các văn khắc thời Ashoka được biết đến hiện nay bao gồm 6 địa điểm Chỉ dụ Đá, 7 địa điểm Chỉ dụ Đá Nhỏ, 7 Chỉ dụ Cột và 15 văn khắc trong hang động. Theo quan điểm của Cunningham, chúng chỉ là một phần nhỏ trong số rất nhiều chỉ dụ ban đầu được khắc theo lệnh của Ashoka. Ngay cả Chỉ dụ Cột, ông cho rằng, hẳn đã từng có rất nhiều, mặc dù có lẽ rõ ràng vì lý do hậu cần nên chỉ giới hạn ở ‘trung tâm lãnh thổ của Asoka từ sông Jumna đến sông Gandak [sông Gandaki]’, vì chúng phải được vận chuyển bằng hệ thống sà lan giống như Sultan Firoz Shah đã chứng minh.

 

Bằng cách kết hợp tất cả các bằng chứng đã biết, từ niên đại của triều đại Maurya được ghi trong các Purana, biên niên sử Ceylon, Truyền thuyết về Vua Ashoka và các Câu chuyện Thần thánh, các ký sự du hành của Pháp Hiển và Huyền Trang, cho đến thông tin được ghi trên các Chỉ dụ Đá và Cột, Cunningham giờ đây cảm thấy có thể lập ra một niên đại cho các sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Ashoka và tổ tiên triều đại Maurya của ngài:

 

  • Năm 478 TCN: Đức Phật Thích Ca viên tịch.
  • Năm 316 TCN: Chandragupta Maurya lên ngôi, trị vì 24 năm.
  • Năm 292 TCN: Bindusara Maurya lên ngôi, trị vì 28 năm.
  • Năm 277 TCN, Hoàng tử Ashoka được bổ nhiệm làm Thống đốc Ujjain.
  • Năm 276 TCN. Mahinda ra đời.
  • Năm 264 TCN, Bindusara qua đời. Ashoka bắt đầu cuộc chiến kéo dài bốn năm với các anh em của mình.
  • Năm 260 TCN Ashoka Maurya lên ngôi hiệu là Piyadasi.
  • Năm 257 TCN, Ashoka cải sang đạo Phật.
  • Năm 256 TCN Hiệp ước của Ashoka với Antiochus.
  • Năm 255 TCN, con trai cả của Ashoka là Mahinda thụ giới tỳ kheo.
  • Năm 251 TCN: Thời điểm sớm nhất xuất hiện các Chỉ dụ Đá.
  • Năm 244 TCN, Đại Hội Kết tập Thứ ba dưới sự lãnh đạo của Moggaliputta Tissa.
  • Năm 243 TCN Mahinda dẫn đầu phái đoàn đến Ceylon.
  • Năm 234 TCN Chỉ dụ Cột được ban hành.
  • Năm 231 TCN, Hoàng hậu Asandhimitra băng hà.
  • Năm 228 TCN, Ashoka kết hôn với Hoàng hậu Tishyarakshita.
  • Năm 226 TCN Hoàng hậu Tishyarakshita tìm cách phá hủy cây Bồ đề.
  • Năm 225 TCN, Ashoka trở thành một nhà tu khổ hạnh.
  • Năm 224 TCN, Ashoka qua đời.

 

Nhưng ngay cả trước khi cuốn Những bản văn khắc của Asoka của Cunningham được xuất bản những niên đại được công bố này đã bị nghi ngờ bởi Giáo sư Hà Lan Johann Hendrik Kern uyên bác, người từng giữ chức Giáo sư tiếng Phạn trong một thời gian ngắn vào những năm 1860 tại các trường Cao đẳng tiếng Phạn và Queen’s ở Benares trước khi chuyển đến Đại học Leiden. Kern lập luận rằng Đức Phật Thích Ca không qua đời vào năm 478 TCN mà là vào năm 388 TCN, và khoảng cách giữa sự Tịch Diệt Vĩ đại Tối thượng của Ngài và lễ đăng quang của Ashoka là 118 năm, do đó lễ tấn phong Ashoka đã diễn ra vào năm 270 TCN. Tóm lại, Cunningham đã sai lệch 10 năm trong việc xác định niên đại của Ashoka.

 

Cunningham viết: “Tôi hầu như không cần phải nói rằng mình hoàn toàn phản đối kết luận này.” Nhưng Cunningham (có lẽ) đã sai và Kern (có lẽ) đã đúng – ít nhất là về niên đại của Ashoka. Quan điểm đó được nhiều học giả sau này chia sẻ, với các niên đại sau đây thể hiện sự đồng thuận chung hiện nay:

 

  • 322-299 TCN Triều đại Chandragupta.
  • 299-274 TCN Triều đại Bindusara.
  • Năm 302 TCN: Ashoka ra đời.
  • Năm 285 TCN: Mahinda, trường nam của Ashoka, ra đời.
  • Năm 282 TCN: Sanghamitta, trưởng nữ của Ashoka, ra đời.
  • 274-270 TCN Khoảng thời gian bốn năm.
  • Năm 270 TCN Lễ tấn phong Ashoka
  • Năm 265 TCN , Ashoka cải đạo trở thành một cư sĩ Phật tử tại gia. Bắt đầu chương trình chấn hưng Phật giáo.
  • Năm 263 TCN, Ashoka chinh phục Kalinga.
  • Năm 260 TCN, Ashoka ban hành những Chỉ dụ Đá Nhỏ đầu tiên, thực hiện chuyến thị sát đầu tiên đến các địa điểm Phật giáo, bắt đầu chương trình xây dựng bảo tháp, và hoàng hậu Padmavati sinh ra Kunala.
  • Năm 259 TCN, Ashoka ban hành Chỉ dụ Đá Kalinga.
  • Năm 258 TCN, Ashoka ban hành các Chỉ dụ Đá, trao hang động Barabar cho tu sĩ Ajivika.
  • Năm 253 TCN, Ashoka khai mạc Đại hội Kết Tập Phật giáo giáo Thứ ba.
  • Năm 252 TCN, Mahinda đến Lanka. Ashoka thành lập chương trình truyền giáo Phật pháp.
  • Năm 252 TCN, Ashoka thực hiện chuyến hành hương thứ hai, bao gồm cả Lumbini.
  • 243-242 TCN Ashoka ban hành các Chỉ dụ Cột.
  • Năm 240 TCN Ashoka tổ chức lễ hội Pancavarsika năm năm một lần.
  • Năm 239 TCN Hoàng hậu Asandhimitra của Ashoka qua đời.
  • Năm 235 TCN Ashoka kết hôn với Tishyarakshita. Con trai và người thừa kế của Ashoka, Kunala, được phái đến Taxila.
  • Năm 234 BCE Kunala bị mù. Hoàng hậu Tishyarakshita lãnh đạo phe chống Phật giáo tại triều đình và bị xử tử. Ashoka ngày càng trở nên già yếu. Con trai sơ sinh của Kunala là Samprati được chỉ định làm người thừa kế.
  • Năm 233 trước Công nguyên, Ashoka băng hà.

 

Tướng Sir Alexander Cunningham tiếp tục các chuyến đi khảo sát Mùa Lạnh. Vào năm 1882-1883, ông trở lại thành phố linh thiêng Mathura, bị tàn phá nặng nề bởi nạn bài trừ thánh tượng của Hồi giáo, nơi còn lưu giữ một số gò đất cổ, đang trong quá trình tiết lộ những bí mật của mình, hé lộ một kho tàng các tác phẩm điêu khắc Phật giáo và Kỳ Na giáo tuyệt đẹp từ thời kỳ Kushan. Nhưng những tác phẩm điêu khắc Phật giáo sớm hơn cũng được tìm thấy, bao gồm một bức tượng nam khổng lồ cao hơn 2 mét, bị hư hại nhiều nhưng vẫn còn dấu vết của lớp đánh bóng cao cấp. Trên bệ tượng có một dòng chữ khắc thô sơ được viết bằng chữ Brahmi thời Ashoka, cho phép Cunningham xác định niên đại của nó là thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên – bức tượng cổ nhất từng được tìm thấy ở Ấn Độ. Ông suy đoán trong báo cáo của mình rằng đó có thể là một á thần Yaksha nhưng lại bỏ qua không đề cập đến chi tiết bức tượng có thân hình to béo, vốn không phải là đặc điểm của Yaksha trừ các Yaksha thuộc giống người lùn, và rằng bức tượng có khuôn mặt rất tròn, hầu như không có đường nét nào.

Tượng khổng lồ bí ẩn ở Parkham, được xác định là thuộc thời kỳ Mauryan dựa trên dòng chữ khắc trên bệ. (APAC, Thư viện Anh)

 

Đóng góp cuối cùng của Cunningham cho nghiên cứu về Ashoka là công trình nghiên cứu về ngôi đền hiện được biết đến với tên gọi đền Mahabodhi ở Bồ Đề Đạo Tràng và việc phục dựng nó. Công việc này bắt đầu vào năm 1877 sau một nỗ lực phục dựng thất bại do các công nhân  Miến Điện thực hiện theo lệnh của vua Miến Điện. Chính phủ Bengal đã yêu cầu Rajendra Lal Mitra báo cáo về tình hình và kinh hoàng trước những gì ông tìm thấy: ‘Những tai họa mà họ gây ra do sự nhiệt tình sai lầm của họ là rất nghiêm trọng,’ ông viết trong một báo cáo lên án. ‘Việc phá hủy và khai quật mà họ đã tiến hành đã quét sạch hầu hết các dấu tích cổ và không còn gì của thời cổ đại có thể được tìm thấy trên khu vực mà họ đã làm việc.’ Người Miến Điện được lệnh rời khỏi khu vực và nhiệm vụ được giao cho ASI, Joseph Beglar đảm nhận việc kiểm soát tại chỗ, với Mitra làm cố vấn. Lịch sử phức tạp của đền Mahabodhi và vùng xung quanh đã được tiết lộ một cách tỉ mỉ, cho thấy rằng ngôi đền Mauryan ban đầu và hàng rào bảo vệ bao quanh cây Bồ đề đã được thay thế bằng một cấu trúc và khu vực bao quanh lớn hơn vào thời vua Kushan Huvishka vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên. Nhiều phần của hàng rào Ashoka ban đầu đã được tìm thấy, bao gồm các phần của bốn cột trụ đã đỡ ngôi đền Ashoka ban đầu và – ấn tượng nhất – phiến đá làm Ngai Kim Cương được Ashoka đặt dưới gốc cây Bồ đề. Tất cả những đặc điểm này đều tương ứng với những miêu tả đầu tiên về Bồ Đề Đạo Tràng được thể hiện trên một số phù điêu tại Bharhut.

 

Ngày nay, bề mặt trang trí phía trên của Ngai Kim Cương của Ashoka thường bị che khuất dưới những lớp phủ hoa văn cầu kỳ, trong khi phần dưới của bệ hoàn toàn bị vùi lấp dưới đất do sự phát triển của cây Bồ đề. Tuy nhiên, người ta thường có thể nhìn thấy thoáng qua họa tiết lá acanthus lặp đi lặp lại trang trí hai bên bệ, gợi nhớ đến những họa tiết được tìm thấy trên một số đầu cột của Ashoka.

(Ảnh trên) Ngai Kim cương của Hoàng đế Ashoka dưới gốc cây Bồ đề, được bao bọc trong một gian che bảo vệ được nâng đỡ bởi bốn cột, một cột có đầu hình voi. Chi tiết từ một bức phù điêu của bảo tháp Bharhut. (Cunningham, Bảo tháp Bharhut, 1879)

(Ảnh dưới) Ngai Kim cương của Hoàng đế Ashoka sau khi trùng tu chùa Mahabodhi vào những năm 1880, cho thấy cây Bồ đề vài năm sau khi được Alexander Cunningham trồng lại. Người ngồi là Angarika Dharmapala, một nhân vật quan trọng trong phong trào cải cách Phật giáo bắt đầu sau chuyến thăm Bồ đề Đạo Tràng năm 1891 của ông. (Hội Thông Thiên Học Ấn Độ)

 

 

Với sự trợ giúp của một mô hinh đá cổ của đền Mahabodhi được phục dựng từ đống tàn tích, Cunningham, Mitra và Beglar đã nỗ lực hết sức trong hoàn cảnh khó khăn. Khi cuối cùng Sir Alexander Cunningham được thuyết phục từ chức, ông đã 71 tuổi. Ông rời Bombay vào tháng 9 năm 1885 trên tàu hơi nước Indus, con tàu ngay sau đó đã đâm phải đá ngầm ngoài khơi Ceylon và bị chìm, kéo theo phần lớn bộ sưu tập tiền xu của Cunningham. Bản thân Cunningham được vào bờ an toàn và có thể tự an ủi mình vì đã gửi trước những đồng tiền vàng và bạc quý giá nhất, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Anh. Ông qua đời tại South Kensington tám năm sau đó, vào thời điểm hầu hết các mảnh ghép còn thiếu trong bức tranh Phật giáo mà ông đã cố gắng hoàn thiện với sự hỗ trợ của Pháp Hiển và Huyền Trang đã được tìm thấy – hầu hết nhưng chưa hoàn toàn.

 

 

Bình luận về bài viết này