Trần Thanh Ái
Kỷ niệm 150 năm ngày đô thị hóa Cần Thơ 1876-2026
Khi nói đến Cần Thơ, có thể người ta muốn nói đến một thực thể địa lý có diện tích khác nhau tùy theo mốc thời gian, do trong quá khứ đã có nhiều lần thay đổi trong việc phân chia địa lý hành chánh. Gần đây, từ ngày 12 tháng 6 năm 2025, tên gọi Cần Thơ có thêm một nét nghĩa mới: đó là đơn vị hành chánh trực thuộc trung ương, được thành lập bằng cách sáp nhập ba đơn vị tỉnh thành lân cận, là Thành phố Cần Thơ cũ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng. Nhưng nếu nói về địa danh Cần Thơ, tức là lỵ sở của đơn vị hành chánh này, ban đầu đó là dãi đất nằm ở hữu ngạn sông Hậu, nằm dọc hai bên bờ sông nhánh Cần Thơ chảy về Cái Răng, Ba Láng… Sau một số thay đổi tạm thời về phân chia địa giới hành chánh và nơi đặt trụ sở, ngày 23 tháng 2 năm 1876, người Pháp ra quyết định thành lập Hạt Thanh tra Cần Thơ, và đặt lỵ sở tại làng Tân An xưa. Đó là ngày Cần Thơ chính thức được đô thị hóa, và lần đầu tiên vào năm 1996, chính quyền đã lấy ngày này để tổ chức kỷ niệm 120 năm ngày thành lập Cần Thơ.
Trong bài viết này chúng tôi sẽ điểm lại một số dữ liệu rút ra từ tài liệu xưa trong và ngoài nước, đặc biệt là những ghi chép của các nhà truyền giáo Pháp và Tây Ban Nha ít được biết đến, để cung cấp cái nhìn có cơ sở rõ ràng hơn về thời kỳ đầu mới mở đất Cần Thơ. Nhưng trước hết, chúng tôi sẽ khảo sát các giả thuyết về nguồn gốc hai chữ Cần Thơ hiện vẫn còn được lưu truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Xung quanh nguồn gốc tên gọi Cần Thơ
Có lẽ không ai có thể nói chính xác về thời gian xuất hiện cũng như nguồn gốc của nhiều địa danh ở Việt Nam, trong đó có Cần Thơ. Và dường như để thỏa mãn trí tò mò, người ta bèn nêu ra nhiều giả thuyết, nhưng rất hiếm khi chúng được kiểm chứng một cách khoa học, ngay cả đối với giả thuyết có thể kiểm chứng được. Rồi thì hể thấy giả thuyết nào “hợp nhĩ” thì từ thế hệ này sang thế hệ khác, người ta truyền cho nhau, như thể đó là sự thật.
1.1. Các giả thuyết về nguồn gốc tên gọi Cần Thơ
Nhiều tài liệu thường nhắc đến ba giả thuyết sau đây được lưu truyền rộng rãi về nguồn gốc của tên gọi Cần Thơ.
1.1.1. Giả thuyết liên quan đến Nguyễn Ánh
Huỳnh Minh trong quyển Cần Thơ Xưa và Nay (1966) đã liệt kê hai giả thuyết về xuất xứ của địa danh Cần Thơ, trong đó giả thuyết thứ nhất gắn liền với một sự kiện lịch sử:
“Tương truyền lúc chúa Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu vào Nam dấu chân của ngài đều trải qua các nơi trên lãnh thổ để lẫn tránh Tây Sơn mưu đồ phục quốc. Lúc bấy giờ Ngài ngự trên một chiếc thuyền đi ngang dòng sông Hậu, thuộc địa phận huyện Phong Phú, thả thuyền theo sóng gió lênh đênh trên mặt nước, bỗng nghe có tiếng ngâm thơ, đờn địch, hò hát, hòa nhau rất nhịp nhàng, từ xa vọng lại giữa đêm trường canh vắng. Ngài chạnh lòng nhớ đến bước đường lưu lạc trong lúc bơ vơ xứ lạ quê người, khiến tâm cang [sic!] thêm xúc động, Ngài mới có một cảm nghĩ ban cho con sông này cái tên đẹp đẽ mỹ miều, đầy thơ mộng là ‘cầm thi giang’ con sông của thi ca đàn hát. Lần lần hai tiếng cầm thi được lan rộng ra dân chúng, có người đọc trại là ‘Cần Thơ’, và danh từ ấy nghe cũng hay hay, nên được người ta dùng mãi đến ngày nay” (Huỳnh Minh 1966, tr. 49).
Vì giả thuyết này được xây dựng dựa theo một sự kiện lịch sử nên có hy vọng là người ta có thể dựa vào tài liệu lịch sử để kiểm chứng xem mức độ đúng sai thế nào của giả thuyết. Vả lại, sự kiện này xảy ra không phải quá xa nên việc kiểm chứng có cơ may thực hiện được. Bằng phương pháp loại suy, nếu tìm ra bằng chứng chắc chắn cho thấy là chữ Cần Thơ xuất hiện trước thời điểm Nguyễn Ánh có mặt ở vùng sông nước Hậu Giang thì người ta có thể kết luận là giả thuyết này không còn lý do để tồn tại. Trong chiều hướng đó, tác giả Đào Ngọc Cảnh đã cố gắng chứng minh giả thuyết trên đây là không đúng, khi xác định tên gọi Cần Thơ “đã có trước khi chúa Nguyễn Ánh đến Trấn Giang” (Đào Ngọc Cảnh, 2021, tr. 233). Có lẽ đây là tác giả đầu tiên tìm cách kiểm chứng giả thuyết này, và cách nêu vấn đề như thế hoàn toàn lô-gích. Tuy nhiên, tác giả này lại đi tìm bằng chứng trong những tài liệu được biên soạn sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, nghĩa là sau sự kiện Nguyễn Ánh đặt chân đến vùng đất Hậu Giang ít nhất một phần tư thế kỷ! Chúng tôi cho là những bằng chứng tìm được trong các tài liệu này thiếu sức thuyết phục, và chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn trong phần sau của bài viết này.
1.1.2. Giả thuyết mang tính chất từ nguyên học dân gian
Giả thuyết thứ hai mà tác giả Huỳnh Minh ghi nhận thuộc về “từ nguyên học dân gian” (étymologie populaire), vì nó không dựa trên cơ sở nào ngoài cách liên kết một số từ ngữ cận âm mà người ta có thể tìm ra, cái cách mà người miền Tây thường gọi là “cắt nghĩa đùi”. Phương pháp này, nếu có thể gọi đó là phương pháp, nhằm cố tìm ra một nét nghĩa gần gũi nào đó mà địa danh Cần Thơ gợi ra, bất chấp thực tế ra sao: “Cần” được gán cho “rau cần”, và “Thơ” cho (rau) “thơm”, rồi đọc trại ra là “thơ”, kết hợp lại thì thành “Cần Thơ”! Khi đề ra giả thuyết này, người ta đã quên rằng thời khai phá vùng đất này, rau quả mọc hoang đầy ruộng vườn đa số là vô chủ, mà người dân gọi là “trời sanh”, chỉ cần bước vô mương ruộng bất kỳ là có ngay cái ăn không cần phải mua, dân cư lại còn rất thưa thớt, nền kinh tế còn ở giai đoạn manh nha chủ yếu là tự cung tự cấp. Vì thế, hoàn toàn không thể có cảnh người dân chèo thuyền rao hàng ơi ới dưới sông; huống hồ chi lại chỉ để chuyên bán một loại rau mà thôi! Sách Đại Nam Nhất thống chí có ghi:
“Đời Gia Long xét đất ấy [Tầm Phong Long] còn bỏ trống, mộ dân đến ở gọi là Châu Đốc tân cương, đặt chức Quản đạo thuộc tỉnh Vĩnh Long quản hạt. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) chia đất ấy ra làm 2 phủ: Tuy Biên, Tân Thành và đặt 4 huyện: Tây Xuyên, Phong Phú, Đồng Xuyên, Vĩnh An” (Quốc Sử Quán 1959, tr. 37).
Còn thôn Tân An, tiền thân của Cần Thơ, theo Trịnh Hoài Đức, mới được thành lập dưới thời Gia Long, thuộc huyện Vĩnh Định, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh. Vì “địa giới [huyện Vĩnh Định] tuy rộng nhưng người dân chưa đông, nên chưa chia tổng” (Trịnh Hoài Đức 2019, tr. 393). Thật vậy, huyện Vĩnh Định thời này rất rộng: nó bao gồm cả một số địa phương ở xa về hướng Tây như Bình Đức (Long Xuyên), Thốt Nốt, Ô Môn… và chạy dài ra hướng Đông gồm Long Phú, Kế Sách, Cù lao Dung (Trịnh Hoài Đức 2019, tr. 395-396). Sau đó Tân An trở thành lỵ sở của huyện Phong Phú mới thành lập, được mô tả như sau: Huyện trị Phong Phú “Chu vi 50 trượng, trồng rào tre, ở địa phận thôn Tân An. Nguyên trước là huyện trị Vĩnh Định, nay dùng làm huyện trị Phong Phú” (Quốc Sử Quán 1959, tr. 44). Từ đó dân chúng mới bắt đầu kéo về cư ngụ đông dần lên, hình thành cộng đồng dân cư ổn định với các sinh hoạt văn hóa (như xóm Bà Đồ, Bình Thủy) và tín ngưỡng đặc trưng của từng sắc dân: ban đầu chỉ có Chùa Long Quang (Bình Thủy) được xây dựng năm 1835, chùa Thới Long cổ tự (đường Hùng Vương) năm 1844, Đình Bình Thủy năm 1844…
Việc người Pháp chiếm Nam kỳ Lục tỉnh dẫn đến nhiều thay đổi trong hoạt động kinh tế – xã hội, nhất là trong cách thức tổ chức hành chánh: từ ngày 5 tháng 1 năm 1876 Tân An được gọi là làng, thuộc hạt Thanh tra Trà Ôn. Sau đó, họ dời lỵ sở hạt Thanh tra từ Trà Ôn về Cái Răng rồi lại dời về Cần Thơ và lấy tên hạt Thanh tra Cần Thơ theo quyết định đề ngày 23 tháng 2 năm 1876 (Société des Etudes indo-chinoises 1904, tr. 28). Lần lượt nhiều cơ sở tín ngưỡng và văn hóa ra đời đánh dấu sự cư trú bền vững tại địa phương: Đình Tân An (cất năm 1880), Nam Nhã 1895, chùa Ông của người Hoa (1896-1897), nhà thờ Chánh tòa (1899), còn các chùa Khmer nổi tiếng nhất Cần Thơ là Munirensay và Khôsa Răngsây thì mãi đến năm 1948 mới được xây dựng! Điều đó cho thấy là vào thời Nguyễn Ánh bôn ba đến đây, Cần Thơ chỉ là một xóm ven sông, dân cư còn rất thưa thớt, chưa đủ đông đúc để có các hoạt động mua bán tấp nập như giả thuyết đã nêu, lại thêm các loài thú dữ như cọp, beo, heo rừng…: Baurac cho biết là vào năm 1886 cọp, heo rừng và cả những thớt voi to tướng vẫn còn xuất hiện ở các vùng giáp ranh của các tỉnh (Baurac J. C. 1894, tr. 344).
![]() |
![]() |
| Vàm sông Cần Thơ nhìn từ đường bến sông (Rue du Quai), bên trái là cầu tàu | Sông Cần Thơ nhìn từ một con rạch (Baurac J. C. 1894) |
1.1.3. Giả thuyết liên ngôn ngữ
Một giả thuyết khác gắn liền nguồn gốc của địa danh với ngôn ngữ của những cư dân bản địa, tức người Khmer, mà nhiều nhà nghiên cứu đã nêu ra. Giả thuyết này hoàn toàn có cơ sở, vì người Khmer thuộc Thủy Chân Lạp đã có mặt rất sớm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, và họ còn để lại nhiều dấu vết rõ rệt trong nhiều địa danh của vùng này. Vì thế, khi khảo sát một địa danh không phải là từ Hán Việt, các nhà nghiên cứu có khuynh hướng truy tìm xuất xứ địa danh trong vốn từ Khmer mà họ có được. Cần Thơ là một trường hợp như vậy: một số nhà nghiên cứu cho rằng địa danh này là kết quả đọc trại ra từ một từ trong ngôn ngữ Khmer, bởi vì Cần và Thơ đứng riêng thì vẫn có nghĩa, nhưng khi kết hợp chúng lại với nhau thì cho ra nghĩa rất ngây ngô, không tương thích với bất cứ tình huống nào trong đời thường. Trong Tự vị tiếng nói miền Nam (1999, tr. 81), Vương Hồng Sển đã dè dặt nêu giả thuyết như sau:
“Về điển vì sao ta đặt tên là tỉnh Cần Thơ, theo tôi, xứ này cũng như vùng Hậu Giang có một thứ cá sặt lớn con, trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tịnh Của viết ‘cá dề tho’(1), thì người Cơ Me gọi ‘treay kình thua’ (chính tả tôi không viết đúng), theo tôi, hay là xưa ta lấy tên này mà đặt cho tỉnh này chăng” (Vương Hồng Sển 1999, tr. 81).
Lê Trung Hoa cũng thận trọng khi nhắc đến giả thuyết mà Bùi Đức Tịnh đã nêu ra: “Nhưng có một thuyết có khả năng đúng, là thuyết cho rằng địa danh Cần Thơ bắt nguồn từ tên cá kin tho, một loại cá sặt rằn, mà có nơi còn gọi là cá lò tho” (Lê Trung Hoa 2013, tr. 274). Đến nay chưa có gì chứng minh được giả thuyết này là đúng. Và cũng không phải là vô cớ khi nhiều người không tin ở giả thuyết này: cho đến giữa thế kỷ XX đâu đâu ở miền Tây nguồn lợi thủy sản cũng vô cùng phong phú về chủng loại lẫn sản lượng, thì hà cớ gì lại lấy tên cá sặt lớn (cá sặt rằn hay cá sặt bướm?) để gọi tên cho Cần Thơ mà thôi? Việc đặt tên như vậy chỉ có thể xảy ra khi đã từng có một giai thoại dân gian được lưu truyền khá rộng rãi trong cộng đồng dân cư khá đông đúc, đủ để duy trì giai thoại ấy qua nhiều thế hệ. Vậy có một sự tích hay giai thoại đặc biệt gì liên quan đến cá sặt ở nơi này không? Cho đến ngày nay không ai biết gì về giai thoại “cá sặt” liên quan đến địa phương này. Vương Hồng Sển còn cung cấp thêm một giả thuyết khác, cũng có liên quan đến tiếng Khmer:
“Một thuyết nữa, trong chữ Xép Chông Cần Lung, chữ “Lung” này thấy khá giống chữ “Thư”, “Thơ”, vậy xin các học giả thâm Hán tự duyệt kỹ lại và cho biết tỷ dụ Xép là mảnh đất hẹp và dài, chông (Miên tự) là ngọn, đầu: Cần Lung viết sai và đọc Cần Thơ, tức Xép chông Cần Lung là xẻo đất trên ngọn Cần Lung và Cần Lung đây biến thể ra Cần Thơ được chăng?” (Vương Hồng Sển 1999, tr. 81).
Thế nhưng cụm từ Xép Chông Cần Lung hay Cần Lung dường như chỉ xuất hiện trong quyển Tự vị và quyển Bên lề sách cũ (2013) của Vương Hồng Sển mà thôi! Xét cho cùng, giả thuyết thuộc loại này cũng gần với cách giải thích bằng từ nguyên học dân gian: nếu chỉ mò mẫm để tìm ra từ cận âm với địa danh cần tìm hiểu thì cách làm này không khác gì việc giải thích Cần Thơ xuất phát từ rau cần và rau thơm! Tuy nhiên, điều khiến người ta còn chú ý vào loại giả thuyết này là vì nhiều địa danh trong vùng đã được xác định là có nguồn gốc từ tiếng khmer, như Sóc Trăng, Ba Thắc, Trà Vinh…
1.2. Về việc kiểm chứng giả thuyết Nguyễn Ánh đặt tên cho Cần Thơ
Nếu giả thuyết liên ngôn ngữ còn rất mơ hồ, chưa đủ dữ liệu để làm sáng tỏ, và giả thuyết dựa trên từ nguyên học dân gian thì lại thiếu chuyên nghiệp như bản chất của nó, thì ngược lại, giả thuyết cho rằng Nguyễn Ánh đã đặt tên cho Cần Thơ không khó để phản bác. Đào Ngọc Cảnh đưa ra nhận xét: “Khi tra cứu các sử liệu về thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn thì thấy tên gọi ‘Cần Thơ’ đã có từ rất sớm, trước khi xuất hiện đạo Trấn Giang” (tr. 232). Thế nhưng để chứng minh điều đó, tác giả lại lấy sử liệu trong những tài liệu ra đời sau khi Nguyễn Ánh đã lên ngôi lấy hiệu là Gia Long (Gia Định thành thông chí, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí). Thế mà cách khảo sát như thế chỉ có giá trị khi ta biết chắc chắn rằng tác giả của các tài liệu này chỉ sử dụng địa danh đã có trước năm 1777 mà thôi. Tuy nhiên, không có gì bảo đảm điều đó, và cũng không có gì giúp chúng ta xác định những địa danh nào đã có trước khi sự kiện lịch sử xảy ra, và những địa danh xuất hiện sau đó nhưng các tác giả lại dùng tên gọi mới khi viết về các sự kiện lịch sử trước đó. Thay vì nói chính xác “tại nơi mà ngày nay là X” thì họ lại nói “tại X”, như thể là khi sự kiện lịch sử xảy ra thì địa điểm ấy đã được gọi là X vậy! Thành ra vì muốn tránh cách viết rườm rà, không ít tác giả lại khiến người đọc có nguy cơ hiểu nhầm về thời điểm ra đời của địa danh có liên quan! Ngay cả trong câu tường thuật trực tiếp lời của Mạc Thiên Tứ trong Đại Nam Liệt truyện tiền biên: “Trấn Giang không phải là nơi hiểm trở có thể đóng giữ để chống giặc. Xin chúa do đường Cần Thơ, theo dòng sông vòng ra đất Kiên Giang” (1993, tr. 180), thì không gì ngăn được người đọc nghi ngờ rằng các sử quan nhà Nguyễn đã sử dụng cách gọi tên vào thời họ đang sống, nghĩa là sau sự kiện lịch sử này nhiều thập kỷ! Thật vậy, việc người chép sử sử dụng từ ngữ của thời đại mình, trong đó có những địa danh, nhất là những địa danh được ít người biết đến, là chuyện không thể nào tránh được. Chính vì vậy mà cách khảo sát nói trên chưa đủ cơ sở để phản bác giả thuyết nêu trên; nó chỉ có thể giúp ta có ý tưởng ban đầu là tên gọi Cần Thơ có trước khi Nguyễn Ánh đến đó, và từ ý tưởng đó ta phải tìm những chứng cứ xác đáng hơn để chứng minh. Vì thế, điều kiện tiên quyết để kiểm chứng giả thuyết này và để lập luận có tính thuyết phục cao là phải tìm trong những tài liệu ra đời trước khi sự kiện lịch sử ấy diễn ra, nghĩa là trước khi Nguyễn Ánh bôn ba về miền sông Hậu.
1.2.1. Tài liệu Hán Nôm
Có lẽ tài liệu Hán Nôm duy nhất được biên soạn trước khi Nguyễn Ánh đến Trấn Giang có nhắc đến địa danh Cần Thơ là bộ Phủ Biên Tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776 khi ông được cử làm Hiệp Trấn Tham tán quân cơ ở Thuận Hóa. Nhờ tiếp cận nguồn tài liệu của chúa Nguyễn ở Đàng Trong bỏ lại sau khi Hoàng Ngũ Phúc xua quân tiến đánh kinh đô Phú Xuân mà Lê Quý Đôn đã ghi chép được nhiều thông tin liên quan đến việc nội trị ở Đàng Trong. Và tuy đó chỉ là tài liệu thứ cấp nhưng nó vô cùng quý giá, vì nó được viết lại từ những tài liệu gốc, ngày nay không còn nữa sau bao năm loạn lạc triền miên. Quyển 3 của bộ sách nói trên có đoạn nói về việc chia đặt quân hiệu ở các dinh trấn trên toàn lãnh thổ Đàng Trong, từ Dinh Quảng Bình, Dinh Cát, đến Hà Tiên, được Viện Sử học dịch như sau:
“Dinh Phiên Trấn có Trung cơ, thuộc về đấy là các thuyền Nhưng bính, Thắng súng, Hậu súng, Tiểu bính, Tiểu súng, Tiền súng, Nội súng, 7 thuyền, cùng mã đội. […] Có đội Hậu tiệp, thuộc về đấy là các thuyền Kiên nhất, Kiên nhị, Kiên tam, 3 thuyền, cùng giữ xứ Cần Thơ sông Ba Xắc. Bốn đội 12 thuyền này, mỗi thuyền 50 người, đều lấy thổ dân, được miễn tiền gạo; chánh thứ đội trưởng đều cho tiện nghi sung bổ, được miễn tiền gạo” (Lê Quý Đôn 2007, tr. 245).
Trong khi ấy, bản dịch của Ngô Lập Chí lại có đến 2 lần nhắc đến địa danh Cần Thơ, trong đó chỉ có trường hợp này được ngữ cảnh cho phép kết luận là đúng: “Có đội Hậu tiệp, thuộc vào đội ấy có 3 thuyền là Kiên nhất, Kiên nhị, Kiên tam, cùng giữ cửa sông Ba-thắc và xứ Cần-thơ”. Trường hợp kia thì rất dễ nhận ra là do người dịch nhầm lẫn với Cần Giờ.
1.2.2. Tên Cần Thơ xuất hiện lần đầu trong tài liệu phương Tây
Nhà truyền giáo người Tây Ban Nha thuộc dòng Phan Sinh Juan Salguero trong báo cáo gửi về tỉnh dòng Philippines đề ngày 28 tháng 2 năm 1774 có nhắc một sự kiện liên quan đến một nơi mà ông viết là Canthu:
“Tháng 8 [1773], theo lệnh của tôi, linh mục Julian [Virgen del Pilar] đến một nơi thuộc lãnh thổ của Cảng Khẩu, có tên là Canthu (sic!), lúc đó viên Tổng trấn đang đóng quân ở đó, ông xây một nhà thờ nhỏ và một ngôi nhà”(2) (Pérez L. 1928, tr. 226).
Trong một đoạn sau của bức thư, Juan Salguero nhắc lại chi tiết nhà truyền giáo Julian Virgen del Pilar đã cất một nhà ở và một nhà thờ ở “làng Canthù”, với chữ u có dấu bên trên (Pérez L. 1928, tr. 240). Sử gia người Tây Ban Nha L. Pérez dựa vào thư của Juan Salguero đã viết lại như sau: “Cha Julián de la Virgen del Pilar tháp tùng Mạc Thiên Tứ về nơi ở mới ở Can-tho, ở đó cha xây một nhà thờ nhỏ với một ngôi nhà làm nơi ở cho các nhà truyền giáo” (Pérez L. 1928, tr. 218). Liệu L. Pérez có vội vàng không khi nhận dạng địa danh Canthu và Canthù trong thư của Juan Salguero thành Can-tho, tức Cần Thơ? Ngoài sử kiện “tổng trấn [Hà Tiên] đang đóng quân ở đó” tức là ở Trấn Giang, đã được nhiều tài liệu lịch sử xác nhận, còn một bằng chứng khác gián tiếp cho thấy là L. Pérez không sai: ngày 18 tháng 11 năm 1775 giám mục Bá Đa Lộc với tư cách đại diện tông tòa (Vicaire apostolique) các xứ Đàng Trong, Campuchia và Champa ký bản tuyên bố gửi Linh mục Ủy viên Giáo khu của Hội Truyền giáo dòng Phan Sinh và các nhà truyền giáo khác trong dòng tu này về việc linh mục Louis không có thẩm quyền truyền đạo trong các giáo phận này. Trong thư có đoạn(3):
“Vì linh mục Julianus de Columna [tức Julián de la Virgen del Pilar viết theo tiếng la-tinh], ủy viên giáo khu, trong một bức thư đề ngày 12 tháng 11 năm 1775 gửi từ Can-tho (sic!), thông báo cho chúng tôi biết rằng linh mục Ludovicus [tức Louis, A. Launay cho biết thêm đó là linh mục Louis-Edouard], thành viên cũ của Dòng Tên, đã nhận áo dòng Thánh Francisco tại Chợ Quán ngày 29 tháng 8 cùng năm để hành chức truyền đạo; vì những điều khoản ấy đã bị sắc chỉ Dominus ac Redemptor(4) ban hành tại La Mã ngày 21 tháng 7 năm 1773 hủy bỏ…” (Launay A. 1925, tr. 29).
Mấy năm sau đó, trong một bức thư đề ngày 21 tháng 6 năm 1777 gửi linh mục phụ trách tỉnh dòng, nhà truyền giáo Jean de Jesus có nhắc đến cuộc tấn công của quân Tây Sơn cùng với địa danh Can-thu: “Trong lần tấn công thứ ba này, quân Tây Sơn đã tiêu diệt quân Đông Sơn, và thâu tóm cả vương quốc. Họ buộc nhà vua phải chạy về Can-thu” (Pérez L. 1944, tr. 86).
Bản tường trình của linh mục Faulet viết từ kinh đô Campuchia đề ngày 18 tháng 5 năm 1778 kể lại cuộc tấn công chủng viện Cây Quao ở Hà Tiên của người Campuchia ngày 1 tháng 8 năm 1777, trong có đoạn nói về Cần Thơ:
“Sau khi lọt vào giữa vòng vây của quân thù và bị lột sạch, không biết phải đi đâu và sẽ ra sao, theo lời khuyên của Đức Ông, tôi quyết định đi đến trạm thuế quan đầu tiên của Campuchia để biết người ta nghĩ gì về chúng tôi. Và tôi đã đến đó sau một ngày đường. Nơi đó được gọi là Can-tho, ở đó có một giáo xứ và nhà của giám mục” (Launay A. 1925, tr. 134).
Chúng ta thấy là những văn bản trên được tạo ra trước sự kiện Nguyễn Ánh chạy về vùng sông Hậu để lánh nạn, ngoại trừ tường trình của nhà truyền giáo Faulet được viết sau đó vài tháng, nhưng khoảng thời gian đó quá ngắn không đủ để một địa danh mới ra đời lan truyền trong xã hội thời kỳ khai phá miền Tây. Những bằng chứng trên cho thấy là giả thuyết cho rằng Nguyễn Ánh là tác giả của tên gọi Cầm thi giang và sau đó biến thành Cần Thơ hoàn toàn bị sụp đổ.
- Vài chỉ dấu liên quan đến người Việt ở Cần Thơ
Như đã nói ở phần nhập đề, bài viết này không nhằm mục đích đưa ra cách giải thích về tên gọi Cần Thơ, vì chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào có thể cho phép đạt được mục tiêu ấy. Vì vậy chúng tôi chỉ giới hạn trong việc cung cấp cho độc giả những dữ liệu mà chúng tôi nghĩa rằng có thể góp phần tìm ra thêm manh mối mới nào đó về địa danh Cần Thơ.
2.1. Người Việt có mặt ở Cần Thơ từ khi nào?
Trong bản dịch bộ sách Chroniques Royales khmer (Biên niên sử Hoàng gia Khmer) từ tiếng Thái ra tiếng Pháp, có đoạn nói đến Brēk rsī mà dịch giả M. Piat đã chú giải là Cần Thơ:
“Lúc ấy [năm con Thỏ, 1109 lịch Thái, tức 1747], Ốc-nha Narend Tak, tổng trấn vùng Pāsȧk [Ba Thắc], một người thủ đoạn và độc ác, đi đầu trong việc giết hại người Việt, ông ta chỉ huy một đội quân đông đúc lên đường tấn công người Việt ở Koh Hon, Bām Me sah Phsār tēk, Brēk rsī. Ông ta đã hung hăng tấn công người Việt vào năm con Thỏ” (Piat M. 1974, tr. 54).
Sự kiện này được hai tác giả người Nhật Sakurai Y. & Kitagawa T. trích dịch biên niên sử Preah Reac Pongsavada Mahakhsat Khmae do vua Monivong tổ chức biên soạn (xuất bản năm 1934) như sau:
“Năm 1748, khi được tin nội tình Cambodia đang rối ren, vua Việt Nam liền cho quân đội hộ tống cựu vương Somdec Preah Borom Reacea Ang Ci về nước. Các viên tướng Ong Kham Say Ceay Neat và Ong Ba Hao đã đánh bại Ốc-nha Noren Tok, tổng trấn vùng Basak” (Sakurai Y. & Kitagawa T. 1999, tr. 161).
Sakurai Y. & Kitagawa T. chú thích về hai nhân vật này như sau: có lẽ Ong Kham Say Ceay Neat là “Khâm Sai Trấn Ninh” [nguyên văn: Cam Sai Tran Ninh] và Bảo Hộ, nhưng cũng cho biết rằng những tước hiệu này không được dùng trong Biên niên sử Việt Nam (tr. 210). Hai tác giả này cũng nhận ra Ốc-nha Noren Tok trong biên niên sử vua Monivong, hay Ốc-nha Narend Tak trong bản dịch của Piat, chính là Suu Lien Toc trong sách Đại Nam Thực lục (tr. 162). Không rõ nguyên văn chữ Hán của tài liệu này như thế nào, nhưng bản dịch năm 2002 gọi người đó là Sô Liên Tốc:
“Mậu thìn năm thứ 10 [1748], mùa xuân, tháng giêng, sai Điều khiển Nguyễn Hữu Doãn đi đánh Chân Lạp dẹp yên. Trước là Nặc Tha nước Chân Lạp lên ngôi vua. Nặc Thâm từ nước Xiêm về, Tha không chịu nhận. Thâm cử binh đánh. Tha chạy sang Gia Định. Thâm liền chiếm lấy đất. Đến khi Thâm chết, con là Đôn, Hiên, Yếm (tên ba người) tranh nhau làm vua. Bề tôi là Sô Liên Tốc nhân nổi lên cướp phá Mỹ Tho. Hữu Doãn đem quân tiến đánh, Sô Liên Tốc thua to” (Quốc Sử Quán 2002, tr. 155).
Vậy là Đại Nam Thực lục chỉ ghi chuyện Sô Liên Tốc tấn công Mỹ Tho, trong khi Biên niên sử hoàng gia Khmer do Piat dịch cung cấp chi tiết Ốc-nha Narend Tak là tổng trấn vùng Pāsȧk (Ba Thắc), và đã tấn công người Việt sinh sống ở các vùng Koh Hon, Bām Me sah Phsār tēk, Brēk rsī, trong đó có lẽ Koh Hon là Cà Hôn (Chợ Gạo), Bām Me sah là Vàm Mỹ Tho, Phsār tēk là Sa Đéc, và cuối cùng Brēk rsī là Cần Thơ như M. Piat đã chú giải.
Năm 1883, được Quốc vương Norodon [sic!] cho phép vào thư viện Hoàng gia Campuchia, J. Moura đã đọc các bản chép tay của Biên Niên sử Fongsa Voda và dịch ra tiếng Pháp rồi công bố ở chương 1 quyển 2 sách Le Royaume du Cambodge. Đoạn trích sau đây cung cấp thêm một số chi tiết làm sáng tỏ các ghi chép đã trích bên trên:
“Năm 1748, Hoàng đế An Nam xua quân vào địa phận Sóc Trăng, và các hoàng tử Campuchia đang lánh nạn ở An Nam không ngần ngại chấp nhận sự chỉ huy của đội quân này […]. Viên trấn thủ Bassac chống cự quyết liệt, nhưng vẫn bị đánh bại và buộc phải nhường đất cho đối phương. Chính từ đó mà người An Nam chiếm giữ những phần đất nằm ven hai bờ nhánh phía Tây của sông Mêkong, còn được gọi là sông Bassac hay sông Hậu” (Moura J. 1883, tr. 79).
Cũng trong Biên niên sử này có ghi sự kiện năm 1758, Prea-outey được đưa lên ngai vàng năm 19 tuổi, và được chúa Nguyễn Đàng Trong nhìn nhận. Để trả ơn cho sự giúp đỡ của chúa Nguyễn trong cuộc tranh giành quyền lực này, Prea-outey(5) đã nhượng hai vùng Trà Vinh và Sóc Trăng (Moura J. 1883, tr. 85). Mặc dù trên danh nghĩa là hai vùng này đã được nhượng cho chúa Nguyễn, nhưng trên thực tế việc cai quản cảng Bãi Xàu vẫn còn nằm trong tay người Khmer chiếm thiểu số như ghi nhận của nhà truyền giáo người Pháp Levavasseur năm 1768 (Levavasseur, 1821, tr. 211).
Mặc dù ghi chép của các tài liệu nói trên xuất phát từ nhiều góc nhìn khác nhau, liên quan đến nhiều sự kiện khác nhau, nhưng nó hé lộ cho chúng ta thêm một số chi tiết vào hai năm 1747-1748, đó là bằng chứng về sự có mặt của người Việt tại nơi mà M. Piat cho biết là Cần Thơ, cũng như tại nhiều nơi trong vùng Pāsȧk, tức Ba Thắc!
2.2. Về khoảng thời gian xuất hiện tên Cần Thơ
Trước hết, điều dễ nhận ra nhất là địa danh Cần Thơ chắc chắn đã xuất hiện trước năm 1776, là năm mà Lê Quý Đôn biên soạn xong bộ Phủ Biên Tạp lục. Thậm chí có thể nói là những sổ sách, giấy tờ có những ghi chép về Cần Thơ và các vùng lân cận bắt đầu xuất hiện trong thư khố của triều đình chúa Nguyễn có thể khá lâu trước khi được Lê Quý Đôn phát hiện và sao chép lại. Thật vậy, không khó để hình dung là có những báo cáo về những biến động của vùng đất mới này đã được gửi về triều đình, và chắc chắn rằng trong số đó có báo cáo về sự kiện năm 1747-1748! Cũng cần nhắc lại là mùa hè năm 1744, chúa Nguyễn Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng đế mới lên ngôi đã ban bố nhiều quy định mới, trong đó có việc phân chia giang sơn thành 12 dinh, từ cựu dinh Ái Tử đến Long Hồ dinh ở Định Viễn, và Hà Tiên được biệt làm một trấn (Quốc Sử Quán 2002, tr. 153). Điều đó có nghĩa là bên cạnh việc tổ chức lãnh thổ đó là những quy định về cơ chế tiếp nhận chiếu chỉ từ triều đình gửi xuống và tấu trình từ các địa phương gửi về kinh đô.
2.3. Tại sao chữ Cần Thơ được viết là Canthu, Canthù và Can-thư?
Khi đọc các bức thư trên đây của các nhà truyền giáo, chúng tôi nhận ra sự khác biệt của các dạng chánh tả theo bảng chữ cái la-tinh của địa danh Cần Thơ. Chúng tôi cho rằng sự khác biệt đó xuất phát từ hai cách tiếp cận địa danh này. Những người biết “Cần Thơ” qua văn bản Hán Nôm 芹苴 sẽ ký âm là Canthu, Canthù và Can-thư, còn những người biết địa danh này qua giao tiếp bằng lời nói sẽ ký âm là Can-tho như Bá Đa Lộc và Faulet là những người có trải nghiệm thực tế phương ngữ miền Tây trong nhiều năm.
Tiêu biểu cho trường hợp thứ nhất là G. Aubaret: trong bản tiếng Pháp của Gia Định Thành thông chí xuất bản năm 1863, G. Aubaret đã chuyển âm địa danh này từ bản chữ Hán Nôm thành Can-thư, trong bối cảnh là địa danh này chưa xuất hiện dưới dạng chữ quốc ngữ trong bất cứ tài liệu được công bố nào. Thật vậy, khi đọc 芹苴, người không phải dân bản địa, lại không có kiến thức về địa lý vùng này như G. Aubaret, sẽ chỉ có một cách dịch duy nhất là “cần thư”.
![]() |
![]() |
| Bản đồ Nam kỳ Lục tỉnh của triều Nguyễn được người Pháp dịch ra chữ quốc ngữ ngày 23/8/1861 (chỉ có Phong Phú huyện)
https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/btv1b531580140/f3.item.zoom |
Bản đồ Nam kỳ Lục tỉnh do người Pháp vẽ lại theo bản đồ triều Nguyễn đăng trên tạp chí Revue Maritime et Coloniale số 1 năm 1861 (có Châu Đốc, Vĩnh Long, Bassac nhưng chưa có Cần Thơ) |
Có lẽ các nhà truyền giáo dòng Phan Sinh đã nói ở trên cũng vậy: họ chỉ biết được địa danh này qua các ghi chép bằng chữ Hán Nôm, hoặc qua trung gian của những người biết chữ Hán Nôm. Thật vậy, vì dòng tu này có cơ sở đầu tiên ở Huế ngay từ năm 1719, nên họ có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin về các địa phương xa xôi qua văn bản Hán Nôm hơn là qua lời nói. Khi chưa bao giờ trực tiếp nghe dân địa phương nói về vùng đất này, nên họ đã ký âm hai chữ 芹苴 là Canthu hay Canthù, tức là “cần thư”. Thật ra không phải chỉ có người nước ngoài ngày xưa mới mắc phải lỗi này: không ít tài liệu được người Việt dịch từ Hán Nôm sang chữ quốc ngữ vẫn có nhiều sai sót tương tự, đặc biệt là những địa danh mà họ chưa từng nghe nói, như Thốt Nốt thành Thốc Nục/Mục, Trà Nóc thành Trà Nục, rạch Cái Khế thành Khế đà, thậm chí Cần Thơ thành Cần Trực… Đó chính là hệ quả của việc dùng chữ Hán Nôm để ghi lại các địa danh của người Việt, rồi lại dịch từ văn bản Hán Nôm sang chữ quốc ngữ.
![]() |
![]() |
| G. Aubaret (1863 tr. 253) viết chữ Cần Thơ (ư viết là u’ trong tất cả các chữ như Mac-Cu’u (Mạc Cửu), Dinh-su’u (Đinh sửu)… | Bản đồ Cochinchine Possession franҫaise 1868 do Nha Nội Chính công bố, có các địa danh Cần Thơ, Bình Thủy, Cái Răng… |
- Thay cho lời kết
Như đã nói bên trên, theo ghi nhận của những tài liệu được tìm thấy thì người Việt bắt đầu hiện diện ở Cần Thơ cách nay chưa tròn ba thế kỷ. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là những tài liệu ấy phản ảnh đầy đủ sự di trú của người Việt trên vùng đất này: theo nhiều tài liệu phương Tây, ngay từ thế kỷ XVII có không ít người từ Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đã lần lượt đến định cư ở các nước lân cận như Campuchia, Xiêm, thậm chí còn xa hơn. Và trong dòng người ấy chắc hẳn cũng có một số đã dừng chân dọc đường và hình thành những cụm dân cư rải rác trên đồng bằng sông Cửu Long, nhất là ven hai dòng sông Tiền và sông Hậu. Trong những bài sắp tới, chúng tôi sẽ tìm hiểu những cộng đồng người Việt sống trên các nước láng giềng mà các nhà truyền giáo, các doanh nhân, các nhà ngoại giao… đã ghi chép và truyền lại ngày nay.
Tài liệu tham khảo
Baurac J. C. 1894. La Cochinchine et ses Habitants (Provinces de L’Ouest). Saigon: Imprimerie commerciale Rey, CURIOL & C.
Bouchut Mgr. 1913. Mission du Cambodge historique et Division des Districts. Tạp chí Annales de la Société des Missions Etrangeres, số 96, Nov-Dec. 1913.
Đào Ngọc Cảnh 2021. Bàn về nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh “Cần Thơ”. Trong Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, Tập 57, Số 3C.
Huỳnh Minh 1966. Cần Thơ Xưa và Nay. Sài Gòn: Cánh Bằng.
Launay A. 1925. Histoire de la Mission de Cochinchine, Documents historiques III 1771-1823. Paris: Anciennes Maisons Charles Douniol et Retaux.
Lê Quý Đôn 1959. Phủ biên tạp lục (Ngô Lập Chí dịch). Hà Nội: bản pdf.
Lê Quý Đôn 1972. Phủ biên tạp lục (Lê Xuân Giáo dịch). Sài Gòn: Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc trách Văn hóa.
Lê Quý Đôn 2007. Phủ biên tạp lục (Viện Sử học dịch). Hà Nội: Nxb Văn hóa – Thông tin.
Lê Trung Hoa 2013. Địa danh học Việt Nam. Hà Nội: Nxb Văn Hóa Thông Tin.
Levavasseur 1821. Abrégé du journal de M. Levavasseur. Trong Nouvelles Lettres Edifiantes des Missions de Chine et des Indes Orientales Tome VI. Paris: Chez Ad. Le Clere, Imprimeur de S. Em. Mgr. le Cardinal Archevêque de Paris.
Moura J. 1883. Le Royaume du Cambodge, Tome 2. Paris: Ernest Leroux Editeur.
Pérez L. 1928. Los españoles en el Imperio de Annam. Tạp chí Archivo Ibero-Americano, số 89, tháng 9-10/1928.
Pérez L. 1940. La révolte et la guerre des Tayson d’après les Franciscains Espagnols (bản dịch từ tiếng Tây Ban Nha của M. Villa). Tạp chí Bulletin de la Société des Études Indochinoises, 1940, tome xv.
Quốc Sử Quán, 1959. Đại Nam Nhất thống chí – Lục tỉnh Nam Việt, tập Hạ (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch). Sài Gòn: Nha Văn Hóa, Bộ Quốc Gia Giáo Dục.
Quốc Sử Quán 1993. Đại Nam Liệt truyện tiền biên, tập 1 (Viện Sử học tổ chức biên dịch). Huế: Nxb Thuận Hóa.
Quốc Sử Quán 2002. Đại Nam Thực lục, tập 1. Hà Nội: Nxb Giáo Dục.
Sakurai Y. & Kitagawa T. 1999. Ha Tien or Banteay Meas in the Time of the Fall of Ayutthaya. Trong Breazeale K. (Ed.) From Japan to Arabia: Ayutthaya’s Maritime Relations with Asia. Bangkok: The Foundation for the Promotion of Social Sciences and Humanities Textbooks.
Société des Etudes indo-chinoises 1904. Monographie de la Province de Cân-tho. Saigon: Imprimerie Ménard & Rey.
Trịnh Hoài Đức 2019. Gia Định thành thông chí (bản dịch của Phạm Hoàng Quân). Saigon Books.
Vương Hồng Sển 1999. Tự vị tiếng nói miền Nam. TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Trẻ.
(1) Thật ra bản in năm 1896 của Đại Nam Quấc âm Tự vị viết là “cá dầy tho” (Tập 2, 1896, tr. 400).
(2) Nguyên văn tiếng Tây Ban Nha là: “Por el mes de Agosto pasó Fr. Julian al territorio de Kankao por orden mio, y en un pueblo de dicho territorio, llamado Canthu, en donde a la sazon hacia su residencia el Gobernador, edificó una iglesilla y puso casa.”
(3) Nguyên văn tiếng la-tinh của đoạn có liên quan: Quoniam P. Julianus de Columna, Commissarius provincialis, per epistolam ad Nos datam e Can-tho, die novembris XII, an MDCCLXXV, certiores Nos fecerit P. Ludovicum olim e Societate Jesu, habitum S. Francisci suscepisse in Cho-quan die augusti XXIX jam dicti anni: Significamus eidem Patri Commissario, caeterisque ejusdem Ordinis missionariis, praefatum P. Ludovicum etiam familiae eorum coptatum, nullibi in Vicariatu Nostro posse missionarii facultațes exercere ; quippe quae jam ei sublatae sunt per bullam Dominus ac Redemptor, datam Romae die XXI julii an MDCCLXXIII.
(4) Sắc chỉ Dominus ac Redemptor mà Bá Đa Lộc nhắc tới do Đức Giáo hoàng Clément XIV ký ngày 21 tháng 7 năm 1773 nhằm giải tán Dòng Tên và chấm dứt các hoạt động của dòng tu này.
(5) Đại Nam Thực lục gọi là Nặc Tôn hay Nặc Ông Tôn. Trong sách này, Moura cũng nhắc đến một Obbarach tên là Prea-outey người đã từng giúp vua đánh thắng quân Xiêm năm 1621.





