
Trần Quang Nghĩa dịch
16 Sự trỗi dậy và sụp đổ của Ashokadharma

Một chi tiết bị bỏ sót ở mặt trước của cột trụ bên cạnh Cổng phía Đông tại Bharhut. Nó mô tả một vị vua đang khiêng một hộp xá lợi Phật trên lưng voi. Dòng chữ khắc kèm theo ghi rõ đây là món quà của ‘Chapa Devi, vợ của Revati Devi ở Vidisha’, thị trấn gần Sanchi nơi người vợ đầu tiên của Ashoka sinh sống. (Ảnh do Benoy K. Behl cung cấp)
Câu chuyện về Ashoka bắt đầu từ ông nội của ngài – và người đã đưa ngài lên ngai vàng của Magadha: vị Bà La Môn Chanakya, Kautilya, “giống quạ”. Chanakya là sản phẩm của Taxila, một thành phố được sáp nhập vào đế chế Achaemenid vào thời Cyrus Đại đế và đến thế kỷ thứ tư trước Công nguyên đã trở thành một trung tâm học thuật thu hút thanh niên thuộc tầng lớp thượng lưu từ khắp Ấn Độ – các Bà La Môn đến để học luật, y học và khoa học quân sự, còn các Kshatriya thì học nghệ thuật chiến tranh. Nhưng Taxila cũng là một ngã tư của các nền văn hóa, nơi con người tụ họp để trao đổi ý tưởng và hàng hóa – một yếu tố quan trọng khi xem xét những ảnh hưởng đã định hình tư tưởng của Chanakya và các vị vua Mauryan thời kỳ đầu.
Một trong những người thầy của Chanakya ở Taxila có thể là nhà ngữ pháp Panini, người đã đặt ra các quy tắc của tiếng Phạn cổ điển. Tuy nhiên, phương tiện duy nhất mà Panini và các đồng nghiệp của ông có thể sử dụng để ghi lại suy nghĩ của mình là tiếng Aramaic, một phương tiện không phù hợp cho các ngôn ngữ Prakrit được nói ở miền bắc Ấn Độ. Điều đó buộc họ phải suy nghĩ kỹ lưỡng về lý do tại sao họ không có gì tương đương hoặc tốt hơn, nhưng nó cũng đòi hỏi một người cai trị đủ mạnh để thách thức truyền thống và sẵn sàng lắng nghe những lời khuyên tốt.
Thời kỳ Chanakya học tập tại Taxila diễn ra trước khi Alexander Đại đế đến khoảng hai thập kỷ. Sau đó, ông noi gương Panini, đi về phía đông đến Pataliputra và trình diện trước vua Dhana Nanda, một nỗ lực thất bại thảm hại đến nỗi ông phải bỏ trốn để bảo toàn mạng sống, ban đầu được giúp đỡ bởi những người theo phái Ajivika và sau đó là những người theo Jain (Kỳ Na giáo), đã hỗ trợ ông về mặt tài chính. Sau đó, ông bắt đầu tìm kiếm một người “có quyền thừa kế ngai vàng”, một cuộc tìm kiếm đã dẫn ông đến với cậu bé Chandragupta.
Nhưng Chandragupta là ai? Có phải ông là con trai của Dhana Nanda với hoàng hậu Mura, người cũng thuộc tầng lớp thấp, và là cháu trai của một người nuôi công? Hay ông là một Kshatriya hậu duệ của những người Sakya (dòng Thích Ca) còn sống sót đã định cư ở Champaran thuộc phía đông Magadha, nổi tiếng với những con công? Hoặc có thể ông là con trai của thủ lĩnh một thị trấn trên núi Moriyanaga, ‘núi công’? Giả thuyết cuối cùng có vẻ đáng tin cậy nhất. Triều đại Maurya có thể có liên hệ với loài công như một biểu tượng bộ lạc, nhưng gia tộc này rất có thể có nguồn gốc từ vùng núi Mer hoặc Meru ở biên giới tây bắc Ấn Độ, nơi bị thống trị bởi khối núi Mer-Koh hoặc Mahabun, hay còn gọi là núi Aornos của Alexander Đại đế. Điều này giải thích tại sao hai chỉ dụ khắc trên đá quan trọng của Ashoka tại Shahbazgarhi và Mansehra lại được đặt ở những vị trí như vậy, như những cửa ngõ dẫn vào vùng Mahabun. Điều này cũng có nghĩa là Chandragupta là một trong những Assakenoi của người Hy Lạp, những kỵ binh Ashvakan thuộc triều đại mặt trăng Chandravanshi, đã phục vụ Alexander với tư cách là kỵ binh đánh thuê.
Việc Chandragupta là một kỵ sĩ thuộc đẳng cấp Vaisya được chứng minh bằng câu chuyện rằng mẹ ông đã gửi ông cho một người chăn gia súc chăm sóc, nơi ông được Chanakya phát hiện và bắt đầu uốn nắn ông theo cách tương tự như cách mà học giả vĩ đại Aristotle đã dạy dỗ Alexander Đại đế thời trẻ. Thật là một sự trùng hợp đáng chú ý khi hai trong số những người quyền lực nhất thế giới cổ đại được giáo dục vào khoảng cùng một thời điểm bởi hai trong số những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thế giới cổ đại. Nhưng Alexander sớm từ bỏ đạo đức học của Aristotle, trong khi Chandragupta không bao giờ rũ bỏ người thầy của mình cho đến khi ông thoái vị khỏi ngôi vị người cai trị Magadha. Chanakya dường như bám lấy ông như đỉa, luôn ở bên cạnh ông ngay cả sau khi Chandragupta trở thành người quyền lực nhất mà Ấn Độ từng biết đến, cung cấp sự dẫn dắt và ảnh hưởng kiềm chế ngăn chặn quyền lực làm cho người học trò của mình trở nên kiêu ngạo.
Tất cả các ghi chép của Ấn Độ đều nhất trí rằng Chanakya đã loại bỏ được người cuối cùng của dòng họ Nanda và thay thế ông ta bằng Chandragupta, người được Mặt Trăng Che chở. Người Hy Lạp chỉ cho chúng ta biết rằng Chandragupta đã chiến đấu để giành quyền lực, ban đầu là thủ lĩnh của một cuộc nổi dậy lính đánh thuê chống lại những người bảo trợ Hy Lạp của họ, nhưng không có lý do gì để nghi ngờ rằng điều này thành tựu là nhờ Chanakya làm cố vấn chiến lược cho ông. Việc Chanakya cảm thấy đủ an tâm để chấp bút tác phẩm Luận thuyết về Kinh tế Nhà nước là bằng chứng thuyết phục nhất cho thấy cuốn sách nhập môn này ra đời từ chính kinh nghiệm của bản thân ông trong việc đào tạo Chandragupta và hướng dẫn sự thăng tiến của chàng trai trẻ – một quá trình huấn luyện gần như chắc chắn bắt đầu từ trường cũ của Chanakya ở Taxila.
Sau khi hoàn thành khóa huấn luyện, Chandragupta đã áp dụng những lời dạy của Chanakya vào thực tiễn một cách xuất sắc, đến nỗi chẳng mấy chốc chàng đã chỉ huy một nhóm lính đánh thuê, ban đầu phục vụ Bessos, thống đốc Bactria, trước khi chuyển phe gia nhập đội quân của Alexander Đại đế đang tiến quân đến. Theo người Hy Lạp, Chandragupta còn rất trẻ khi gặp Alexander, nhưng khó có thể tin rằng một chiến binh dày dạn kinh nghiệm như vậy lại có thể trẻ hơn 17 tuổi, điều này có nghĩa là năm sinh của anh vào khoảng năm 343 trước Công nguyên, tức là trẻ hơn Alexander 13 tuổi.
Alexander biết anh với cái tên Sisikottos – Sashigupta, được Mặt Trăng Bảo hộ, lính đánh thuê người Ấn Độ và là thủ lĩnh kỵ binh. Và dưới cái tên Sashigupta, chàng trai trẻ Chandragupta đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Alexander chinh phục bộ tộc miền núi của chính mình, giúp người Hy Lạp chinh phục quê hương cũ của anh để đổi lấy chức thống đốc vùng núi Aornos (Mahabun). Với tên Meroes “người miền núi”, Chandragupta càng thu phục lòng tin của Alexander dành cho mình bằng cách lôi kéo vua Poros về phe Alexander. Anh đã không hành động cho đến khi Alexander và quân đội của ngài tiến xuống sông Indus, nhưng rất có thể anh đã bị liên lụy trong vụ ám sát thống đốc Philippos của Alexander. Vào thời điểm Eudemos lên nắm quyền, Chandragupta dường như đã thống nhất các bộ lạc địa phương, thành lập liên minh với vua Parvataka của Himavatkuta, có lẽ là Kashmir.
Các ghi chép của người Hy Lạp cho rằng việc rút lui của họ hoàn tất vào năm 317 TCN, nhưng bằng chứng cho thấy toàn bộ lãnh thổ Hy Lạp phía đông sông Indus đã bị mất trong vòng một hoặc hai năm sau cái chết của Alexander vào năm 323 TCN, vào thời điểm đó Chandragupta không thể nào quá 22 tuổi. Với Chanakya làm người đánh xe ngựa – chắc chắn là một phép ẩn dụ cho vai trò người hướng dẫn và cố vấn, anh đã cố gắng thực hiện một cuộc tấn công chớp nhoáng vào Dhana Nanda nhưng đã bị đánh bại thảm hại. Sau đó là câu chuyện nổi tiếng về Chandragupta, trong tâm trạng chán nản, tình cờ nghe thấy một người phụ nữ khiển trách con trai mình vì chỉ ăn phần giữa của chiếc bánh chapatti nóng hổi và vứt bỏ phần còn lại. Cho dù có liên quan đến chiếc bánh chapatti hay không, Chandragupta và Chanakya đã từ bỏ đối đầu trực tiếp để chuyển sang ngoại giao. Hầu hết các dân tộc được liệt kê trong Mudrarakshasa là đồng minh của Chandragupta – người Yavanas (Hy Lạp), Sacas (Scythia), Cambojans (người Kamojan ở Gandhara) và Ciratas (Nepal hoặc Kashmir) – đều đến từ vùng tây bắc Ấn Độ hoặc xa hơn, điều này càng củng cố thêm lập luận rằng đây là quê hương của chàng trai trẻ.
Sau thất bại của Dhana Nanda, Chandragupta và đồng minh chính của ông là Parvataka trở thành những người cai trị không thể tranh cãi của miền bắc Ấn Độ. Cả hai đều lấy con gái của vua Nanda bại trận làm vợ lẽ, nhưng rồi Parvataka bị đầu độc: “Sau đó, thủ lĩnh vùng Himalaya qua đời”, như lời kể trong Cuộc đời của các trưởng lão Kỳ Na giáo, “toàn bộ đế chế được truyền lại nguyên vẹn cho Chandragupta. Như vậy, Chandragupta trở thành vua 155 năm sau khi Sri Mahavira [người sáng lập đạo Kỳ Na giáo] đạt được Mukti [sự giải thoát tối hậu]”. Tín ngưỡng Kỳ Na cho rằng Mahavira qua đời vào năm 527 TCN, nhưng các học giả cho rằng năm đó sớm hơn khoảng nửa thế kỷ, đưa ra mốc thời gian khoảng 322 TCN cho việc Chandragupta lên ngôi vua Magadha. Ngài lấy danh hiệu Priyadasi, hay “Người được các chư thiên yêu quý”, để ghi nhận vận may đi kèm với sự thăng tiến nhanh chóng của mình.
Cái chết của Parvataka đã giúp Chandragupta trở thành người cai trị tuyệt đối miền bắc Ấn Độ với một đội quân thường trực hùng mạnh. Ngài đã sáp nhập các vùng lãnh thổ phía bắc của người đồng minh quá cố và giành thêm các vương quốc ở phía nam dãy núi Vindhya, nhưng đừng lại ở Karnataka ngày nay, vùng đất mà sau này ngài lui về để qua đời.
Trong suốt 24 năm trị vì, quân đội của Chandragupta vẫn bất khả chiến bại, vì vậy khi vào năm 305 TCN, Seleukos Người Chiến thắng, vị vua mới cai trị Babylon và Ba Tư, đinh ninh mình có thể đòi lại các vùng lãnh thổ Hy Lạp của Alexander.đã bị mất ở phía đông sông Indus, nhưng Chandragupta đã chặn đứng quân địch dễ dàng, và phát động một cuộc phản công đã đẩy lùi Seleukos quay trở lại bên kia Sông Indus và lùi sâu vào lãnh thổ của chính mình Chandragupta lúc đó đã đủ khôn ngoan để dừng lại, chắc chắn là theo lời khuyên của Chanakya – người dành toàn bộ một chương trong Luận thuyết về Kinh tế Nhà nước của ông để giải quyết một địch thủ hùng mạnh và cách đáp trả những lời đề nghị hòa bình. Kết quả là một hiệp ước bất bình đẳng yêu cầu Seleukos phải từ bỏ Gandhara ở phía nam dãy núi Hindu Kush, bao gồm cả khu vực ngày nay là Kabul, Ghazni, Kandahar, Herat và Baluchistan. Đổi lại, Chandragupta bàn giao 500 voi chiến và quản tượng; một hành động có tính toán của tình bạn vì có bằng chứng cho thấy những thớt voi dạn dày này đã quá hạn sử dụng. Tuy vậy, sự xuất hiện của chúng đã mang lại cho Seleukos một lợi thế quyết định trong cuộc đấu tranh chống lại chính những tướng lĩnh từng là đồng đội của mình dưới trướng Alexander. Ít nhất 400 thớt voi Ấn Độ đã tham gia trận chiến Ipsus năm 301 TCN, dẫn đến việc đế chế của Alexander bị chia cắt giữa Ptolemy, Lysimachus và Seleukos.
Yếu tố thứ ba của hiệp ước hòa bình là hôn nhân. Sự sắp xếp khả dĩ nhất là chú rể là Chandragupta và cô dâu là một trong hai cô con gái mà Seleukos có trong cuộc hôn nhân của ông với công chúa Ba Tư tại Susa vào năm 322 TCN. Những cô gái này sẽ đến tuổi kết hôn vào năm 304 TCN và Chandragupta lúc đó khoảng 40 tuổi. Cho dù chú rể là ai, con cái của cuộc hôn nhân đó cũng sẽ bị coi thường trong mắt người Ấn Độ. Có thể mang tinh thần Alexander nhưng bất kỳ đứa trẻ nào sinh ra cũng sẽ bị coi là người ngoài lề xã hội và không đủ điều kiện làm người thừa kế hoàng gia. Tuy nhiên, tác động sau đó của một nữ hoàng Hy Lạp-Ba Tư và đoàn tùy tùng của bà đối với Pataliputra chắc hẳn là rất đáng kể.
Là một vị raja thành đạt, Chandragupta hẳn đã có nhiều vợ, bao gồm cả người vợ chiến lợi phẩm đầu tiên. con gái của Dhana Nanda. Chỉ có một trong số các bà vợ đầu tiên của ông được biết đến bằng tên: người em họ bên mẹ của ông, Dhurdara, đã sinh ra cho ông con trai và người thừa kế của ông, Bindusara. Bà là nhân vật bất hạnh trong một câu chuyện kỳ lạ trong Biên niên sử Triều đại Vĩ đại, trong đó bà vô tình uống nhầm thuốc độc khi đang ở giai đoạn cuối của thai kỳ, buộc Chanakya phải chặt đầu bà, mổ bụng bà và giữ Bindusara còn trong phôi thai quấn trong một loạt các con dê vừa mới giết mổ cho đến khi cậu bé đủ mạnh để tự sống sót. Do đó, cậu bé được biết đến với cái tên Bindusara, hay “Lốm đốm máu bầm”. Cốt lõi của câu chuyện dường như là Dhurdara đã gặp biến chứng thai sản, cần phải mổ lấy thai nhưng đứa con của bà đã chào đời thành công – đứa trẻ có thể bị một số dạng khiếm khuyết trên da, từ đó dẫn đến cái tên kỳ lạ của mình.
Yếu tố thứ tư trong liên minh Chandragupta – Seleukos là việc trao đổi sứ giả, một chính sách được tiếp tục sau khi Chandragupta qua đời khi Seleukos cử các sứ giả Deimachospta của mình đến gặp con trai của Chandragupta, Amitrochates, một cách phiên âm từ tiếng Phạn Amitraghata, hay ‘kẻ diệt địch’, một danh hiệu Bindusara sử dụng. Nhờ có Luận thuyết của Chanakya và tác phẩm Ấn Độ của Megasthenes, chúng ta có hai góc nhìn về Ấn Độ thời kỳ đầu triều đại Mauryan. Từ Luận thuyết, chúng ta có thể giả định rằng Chandragupta trị vì với tư cách là ‘Người Bảo vệ Dharma’, nhưng Dharma trong ngữ cảnh này có nghĩa là nền tảng đạo đức làm cơ sở cho các quy luật của vũ trụ và các bổn phận của đẳng cấp. Ông thừa nhận các luật lệ bất biến do Manu Người Làm Luật (Thủy tổ của loài người theo thần thoại Hindu) soạn thảo, nhưng áp dụng bộ luật hình sự do các quan đại thần của ông soạn thảo, đứng đầu là Rakshasa Katyayan, tể tướng, người soạn ra vở kịch thơ Mudrarakshasa, tác phẩm đã gây ấn tượng mạnh mẽ với Sir William Jones khi ông lần đầu tiên bắt gặp nó vào những năm 1780. Chanakya đóng một vai trò kín đáo hơn với tư cách là người đứng sau hậu trường của nhà vua, nhưng ảnh hưởng của ông rõ ràng vẫn là tối quan trọng.
Nếu Chandragupta hoặc con cháu của ngài tuân theo lời khuyên của Chanakya một cách triệt để, họ hẳn đã tuân thủ một chế độ rất nghiêm ngặt. Nhà vua sẽ bị đánh thức bởi tiếng nhạc vào những giờ đầu buổi sáng để suy ngẫm về các vấn đề chính trị, sau đó là tham vấn với các quan lại và gián điệp, rồi đến giờ cầu nguyện buổi sáng. Buổi sáng của ngài được chia thành bốn khoảng thời gian, lần lượt dành cho việc nhận báo cáo, tiếp kiến dân chúng, phân công nhiệm vụ và viết thư cũng như nhận báo cáo từ gián điệp; buổi chiều dành cho việc duyệt binh và hội đàm với các tướng lĩnh; và buổi tối dành cho việc cầu nguyện trước khi tắm và về phòng ngủ.
Tác phẩm “Ấn Độ” của Megasthenes mô tả xã hội Mauryan được định hình chặt chẽ bởi đẳng cấp, cai trị bởi một vị vua không dung thứ bất kỳ sự bất đồng nào, với sự tôn trọng rộng rãi đối với luật pháp: “Họ coi trọng sự thật và đức hạnh. . . Tính đơn giản trong luật pháp và các hợp đồng của họ được chứng minh bằng thực tế là họ hiếm khi phải ra tòa. Họ không có các vụ kiện về cam kết hay tiền vay, cũng không yêu cầu con dấu hay nhân chứng.” Tuy nhiên, Chandragupta không mạo hiểm, Megasthenes thuật lại rằng nhà vua chỉ giao phó việc chăm sóc bản thân cho phụ nữ và thay đổi giường ngủ mỗi đêm vì sợ bị ám sát. Và bất cứ khi nào Chandragupta rời khỏi cung điện, an ninh đều được đặt lên hàng đầu: ‘Đám đông phụ nữ vây quanh ngài và bên ngoài là những cận vệ quân cầm giáo. Con đường được vây kín bằng dây thừng, và đàn ông hay thậm chí phụ nữ nào vượt vào bên trong dây thừng đều có nguy cơ tử vong. Bên cạnh ngài có hai hoặc ba người phụ nữ có vũ trang.’ Các phù điêu từ Sanchi và những nơi khác xác nhận rằng việc có phụ nữ hầu cận và làm vệ sĩ là điều bình thường.
Điều mà Megasthenes quan sát kỹ hơn là sự vận hành trơn tru của một bộ máy hành chính do một đội ngũ quan chức dân sự điều hành, với nhiệm vụ và trách nhiệm tương tự với Cơ quan Hành chính Dân sự Ấn Độ được thành lập hơn hai nghìn năm sau đó. Tất cả đều xuất thân từ tầng lớp Bà La Môn, những người vừa làm thầy tế lễ vừa tạo thành một tầng lớp cố vấn ưu tú: “Tầng lớp này tuy ít người nhưng về trí tuệ và công lý thì vượt trội hơn tất cả các tầng lớp khác. Từ họ mà người ta chọn ra những người cai trị, thống đốc các tỉnh, phó thống đốc, thủ quỹ, tướng lĩnh, đô đốc, người kiểm soát chi tiêu và giám sát nông nghiệp.” Mỗi thành phố được quản lý bởi 30 viên chức dân sự, chia thành 5 bộ phận, mỗi bộ phận có trách nhiệm cụ thể, từ thu thuế đến theo dõi người lạ. Các tỉnh cũng được quản lý bởi các nhóm tương tự.
Một hệ thống chính quyền tinh vi như vậy đòi hỏi một hệ thống giao tiếp bằng văn bản tinh vi tương xứng, điều đó có nghĩa là phải áp dụng bảng chữ cái Aramaic không phù hợp ở các vùng tây bắc trước khi chữ Kharosthi và sau đó là chữ Brahmi được phát minh ra như một phương tiện viết tốt hơn cho tiếng Prakrit. Chữ Kharosthi có lẽ được sử dụng vào khoảng năm 300 trước Công nguyên khi Ashoka vẫn còn là một đứa trẻ và chữ Brahmi sau khi ngài lên nắm quyền. Chanakya, người đóng vai trò then chốt trong việc phát triển hệ thống chữ viết toàn Ấn Độ này, chắc chắn đã tham gia vào quá trình đó.
Thành tựu của vua Chandragupta là thống nhất miền bắc và miền trung Ấn Độ dưới một chế độ quân chủ và một chính phủ tập trung do một bộ máy hành chính chuyên nghiệp điều hành. Cùng với đó là luật pháp và trật tự, thông tin liên lạc được cải thiện, các mối liên kết thương mại tốt hơn, sự phát triển của các trung tâm đô thị và phát triển nền kinh tế tiền tệ, tất cả những điều đó đều giúp các tầng lớp thương mại phát triển và thịnh vượng, trong khi giảm bớt thẩm quyền của Bà La Môn. Đồng xu bạc có bấm dấu đã được lưu hành ở Ấn Độ trong hơn một thế kỷ nhưng giờ đây một nỗ lực phối hợp đã được thực hiện để tiêu chuẩn hóa tiền xu trên toàn Đế chế Mauryan về trọng lượng, hình dạng, chất liệu, biểu tượng và số lượng dấu bấm – thường là bốn hoặc năm. Các cuộc tranh cãi vẫn tiếp diễn trong giới sưu tầm tiền xu về các ký hiệu nào đúng là tiền xu của triều đại Mauryan hoặc một người cai trị nào khác, nhưng những đồng xu này luôn mang hai biểu tượng đặc biệt: một biểu tượng tượng trưng cho mặt trời và biểu tượng kia – một dấu chấm trung tâm và vòng tròn với ba mũi tên tỏa ra ngoài xen kẽ với ba vật thể giống sừng, được gọi là sadar-chakra có lẽ biểu thị cho vương quyền phổ quát. Hai biểu tượng khác thường gắn liền với thời kỳ đầu Nhà Maurya giống như ‘ba quả trứng xếp thẳng hàng’ và ‘ba ngọn đồi và mặt trăng có sừng’, biểu tượng thứ nhất gồm ba hình bầu dục nối liền nhau bằng một đoạn ở giữa, biểu tượng thứ hai gồm một kim tự tháp được tạo thành từ ba gò đất hình vòm với một hình bán nguyệt ở phía trên, gần như chắc chắn tượng trưng cho một bảo tháp Phật giáo có hình trăng non – chandra – như James Prinsep đã đề xuất ban đầu:
Mặc dù Megasthenes từng làm đại sứ tại triều đình của cả Chandragupta và Bindusara, nhưng không có tài liệu nào từ tác phẩm Ấn Độ ghi lại về quá trình chuyển giao quyền lực. Có vẻ như quá trình này diễn ra suôn sẻ và hòa bình, hoàn toàn phù hợp với lời khuyên của Chanakya trong Luận đề về Kinh tế Nhà nước rằng cần tránh xung đột nội bộ trong hoàng tộc. Nhưng, điều rất bất thường là, việc chuyển giao này diễn ra khi Chandragupta vẫn còn sống. Tất cả các văn bản Kỳ Na giáo đều nhất trí rằng ngài thoái vị để theo vị đạo sư Bhadrabahu, người đã dẫn đầu cuộc di cư về phía nam sau nạn đói kéo dài mười hai năm ở vùng Magadha. Cái chết của ngài vì tuyệt thực trong một hang động ở Sravana Belgola thuộc Mysore diễn ra 12 năm sau cái chết của người thầy Bhadrabahu.
Thầy của Chandragupta, Chanakya, hẳn không hài lòng với diễn biến này. Tuy nhiên, ông rõ ràng đã chuyển lòng trung thành sang Bindusara và tiếp tục làm cố vấn cho nhà vua cho đến khi qua đời khoảng 15 năm sau đó. Cháu nội và học trò của Chanakya, Radhagupta, được cho là đã chủ trì lễ hỏa táng của ông, sau đó theo bước ông nội trở thành tể tướng tại triều đình, kế nhiệm Rakshasa Katyayan. Chính Radhagupta này dường như đã đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Ashoka đoạt ngôi từ người anh cùng cha khác mẹ của mình. Bằng những cách này, Chanakya tiếp tục định hình nền chính trị Mauryan rất lâu sau khi Chandragupta qua đời.
Khi lực lượng Kỳ Na giáo suy yếu do cuộc di cư về phía nam, tầng lớp Bà La Môn trở thành thế lực thống trị tại triều đình, một sự thống trị mà cộng đồng Phật giáo bị áp bức vô cùng bất bình. Tác phẩm Manjusri-Mula-tantra hay ‘Cội nguồn giáo lý Manjusri’ của Ấn Độ-Tây Tạng thế kỷ thứ mười, một biên niên sử được ngụy trang dưới hình thức tiên tri theo kiểu các Puranas, tuyên bố rằng vua Bindusara sẽ là một vị vua khôn ngoan và dũng cảm, nhưng ‘Canakya, tể tướng của vua Candagupta và sau đó là con trai ông, Bindusara, sẽ đi xuống địa ngục’. Lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ của Taranatha cũng theo cùng một hướng, gán cho Chanakya những sức mạnh ma quỷ mà ông ta đã sử dụng để giết các vị vua và tể tướng của 16 vương quốc lớn, kết quả là ông ta mắc một căn bệnh hiểm nghèo khiến ‘thân thể ông ta phân hủy thành từng mảnh’.
Các Purana dường như không thống nhất về việc Bindusara trị vì trong 24 hay 28 năm, có lẽ do nhầm lẫn về thời điểm cha ông thoái vị. Ông đã chứng minh danh hiệu “Kẻ diệt địch” của mình bằng cách mở rộng đế chế của cha ra khắp vùng Deccan, bao gồm cả vùng Mysore – nhưng đã thất bại trong việc chiếm lấy vương quốc Kalinga hùng mạnh ở phía đông. Những chiến thắng này củng cố vị thế của đẳng cấp Kshatriya trong quân đội của Bindusara, đe dọa quyền lực tối cao của tầng lớp Bà La Môn tại triều đình.
Ngoài việc duy trì quan hệ với các nước láng giềng phía tây, người ta biết rất ít về triều đại của Bindusara, chẳng hạn như ông ưu ái giáo phái khổ hạnh Ajivika và có rất nhiều hoàng hậu và phi tần, lần lượt sinh ra rất nhiều con trai: 101 người theo ghi chép của Phật giáo, trong đó người con cả là Sumana (Sushima trong truyền thống phía Bắc) và người con út là Tissa (Vitashoka). Theo truyền thống phía Nam, mẹ của con trai Ashoka của Bindusara là Dharma, cha của bà là một trưởng lão Ajivika tên là Janasana. Điều này giải thích tại sao Ashoka được biết đến là người bảo trợ cho giáo phái Ajivika ít nhất cho đến năm trị vì thứ 12 của mình. Tuy nhiên, theo truyền thống phía Bắc được ưa chuộng hơn, mẹ của Ashoka là Subhadrangi, con gái của một Bà La Môn ở Champaran, người cũng sinh ra em trai của ông là Tissa/Vitashoka. Không có đề cập nào về các liên minh hôn nhân khác với nhà Seleucid, nhưng vẫn có sự hiện diện liên tục của người Hy Lạp-Ba Tư tại triều đình thông qua bà nội kế của Ashoka. Anh trai bà, Antiochos I, trở thành người cai trị Đế quốc Seleucid vào năm 281 TCN, điều này chắc chắn đã khiến bà trở thành một nhân vật rất quyền lực trong cung điện cho đến khi ông ta qua đời vào năm 261 TCN.
Rất khó có khả năng Ashoka sinh trước năm 302 TCN, vì mẹ ông là một trong số các bà vợ trẻ nhất trong hoàng tộc. Một câu chuyện phổ biến kể rằng cậu bé Ashoka đã chiếm được tình cảm của ông nội Chandragupta nhờ trí thông minh và kỹ năng chiến đấu của mình, nhưng sau đó Chandragupta trở thành một tín đồ Kỳ Na giáo và vứt bỏ thanh kiếm của mình, Ashoka đã tìm thấy và giữ nó, cho dù bị ông nội khiển trách. Tuy nhiên, rất khó để tin rằng ông nội biết đến cháu ngoại trừ khi Ashoka chỉ là một đứa bé mới chập chững. Vì Bindusara bảo trợ cho giáo phái Ajivika, nên có lý do để cho rằng con cái của ông được nuôi dạy theo tín ngưỡng Ajivika.
Sushima, con trai cả của Bindusara, là người thừa kế ngai vàng và được đối xử tương xứng, trong khi Ashoka không chỉ đứng gần cuối thứ bậc hoàng tử mà còn mắc phải một dạng bệnh ngoài da ‘thô ráp và khó chịu khi chạm vào’ – khiến ngài trở nên kém hấp dẫn đến nỗi cha ngài không màng gì đến ngài. Có không dưới ba tài liệu tham khảo khác nói về vẻ xấu xí của Ashoka trong truyền thống phía Bắc, giải thích lý do là vì trong một kiếp trước cậu bé tiền thân Ashoka gặp Đức Phật và vô tình cúng dường Ngài một ít đất. Truyền thuyết về Vua Ashoka cũng kể về việc Ashoka Nộ khí khi chưa giác ngộ đã thiêu sống toàn bộ hậu cung của mình khi nghe nói họ không thích vuốt ve da ông. Một số phiên bản của Truyền thuyết về Vua Ashoka bao gồm một câu chuyện về thầy bói của triều đình tuyên bố rằng cơ thể của Ashoka mang một số dấu hiệu không may mắn, mà ngài cố gắng loại bỏ bằng cách thực hiện các việc thiện. Bằng chứng hỗ trợ thêm cho vẻ xấu xí của Ashoka đến từ bức phù điêu trên Cổng Nam của Sanchi cho thấy hoàng đế ngất xỉu trong vòng tay của các hoàng hậu trước cây Bồ đề (xem hình minh họa, trong Chương 15). Thay vì một vị vua cao lớn và đẹp trai, như được Shah Rukh Khan thể hiện trong bộ phim Bollywood gần đây, hình ảnh miêu tả Ashoka thấp bé, bụng phệ và có khuôn mặt xấu xí giống quả bí ngô.
Sự việc ngất xỉu này là một trong số nhiều trường hợp được mô tả trong Biên niên sử Triều đại Vĩ đại của Lanka, cho thấy hoặc Ashoka là người rất dễ xúc động, hoặc ông mắc một chứng bệnh nào đó giống như động kinh- “bệnh hay té ngã” thời cổ đại. Tóm lại, Hoàng tử Ashoka dường như đã bị suy yếu về thể chất đến mức không đủ điều kiện để trở thành người thừa kế tiềm năng ngai vàng.
Tuy nhiên, ngay cả khi là một hoàng tử không được yêu mến, Ashoka vẫn được giáo dục như con trai của vị vua quyền lực nhất mà Ấn Độ từng biết đến. Mọi điều chúng ta biết về Ashoka đều cho thấy ảnh hưởng liên tục của Chanakya thông qua cháu trai Radhagupta – và có lẽ Kautilya, người “giống quạ”, là nhân vật mà vị hoàng tử xấu xí có thể đồng nhất với mình. Một điểm được Chanakya nhấn mạnh rất nhiều trong Luận đề về Kinh tế Nhà nước là tầm quan trọng của việc giao du với những người uyên bác, và Ashoka dường như đã ghi nhớ điều này, vì ngài chắc chắn có những người bạn quyền lực tại triều đình, bao gồm cả tể tướng của Bindusara, Radhagupta, dường như đã cầm đầu một âm mưu loại bỏ người thừa kế Sushima để ủng hộ Ashoka. Bindusara dường như biết được việc này, điều đó giải thích tại sao ở độ tuổi còn quá trẻ, Ashoka đã được phái đến Taxila để dẹp loạn địa phương, mặc dù cũng có thể ngay từ khi còn ở tuổi thiếu niên, Ashoka đã được coi là người có năng lực nhất trong số các con trai của nhà vua cũng như là người nguy hiểm nhất. Xét cho cùng, biệt danh thời trẻ của ông là canda, có nghĩa là “nộ khí” hoặc “như cuồng phong”, và biệt danh này rất có thể đã có trước những hành động tàn bạo được cho là của Ashoka khi trị vì. Chắc chắn, chỉ cần sự xuất hiện của ngài ở Taxila dường như đã đủ để lập lại trật tự.
Vào khoảng năm 287 trước Công nguyên, Taxila vẫn là một ngã tư quốc tế sầm uất, nơi tiếng Hy Lạp, tiếng Ba Tư và tiếng Aramic được sử dụng rộng rãi như tiếng Prakrit của Ấn Độ. Hoàng tử Ashoka được chào đón như cháu trai của người anh hùng địa phương Chandragupta, đã giải phóng và đánh bại Seleukos Người Chiến thắng, và sự chào đón đó dường như đã để lại dấu ấn trong lòng vị thiếu niên. Việc làm mới lại mối quan hệ gia đình với các thủ lĩnh vùng núi sẽ hỗ trợ ngài rất nhiều một thập kỷ sau đó.
Phần thưởng dành cho Hoàng tử Ashoka vì có công bình định Taxila là được phái xuống phía nam làm phó vương cho vua cha tại Ujjain, kinh đô của Avanti (nay là Madhya Pradesh). Cuộc sống lưu đày kéo dài này đã đưa Ashoka đến với cộng đồng các Phật tử và chính tại đây ông đã gặp Devi, con gái của một thương gia đến từ Vidisha. Việc bà là một Sakyakumari, một công chúa tự nhận mình là hậu duệ của Phật Thích Ca Mâu Ni, có thể chỉ là một câu chuyện hư cấu mang tính sùng đạo, nhưng không thể phủ nhận bà là một Phật tử mộ đạo. Chúng ta có bằng chứng cảm động từ dòng chữ khắc trên hang đá ở Panguraria cho thấy đây là một mối quan hệ thân thiết, yêu thương, khác hẳn với những sắp xếp hôn ước triều đình thông thường. Devi đã sinh cho Ashoka hai người con đầu lòng – con trai Mahendra/Mahinda, sinh khoảng năm 285 trước Công nguyên, và con gái Sanghamitta, sinh khoảng ba năm sau đó.
Tuy nhiên, Devi đã không thể thuyết phục Ashoka cải đạo và ngài đã bỏ lại bà và các con ở Vidisha khi cuối cùng được triệu hồi về Pataliputra. Thật không thích hợp cho một vị hoàng tử Maurya lấy con gái của một thương gia làm vợ, và một người vợ thích hợp hơn đã được tìm thấy cho ngài, đó là Asandhimitra, sau này trở thành hoàng hậu chính thất của ngài. Bà có lẽ đến từ một vương quốc nhỏ ở vùng nay là Đông Haryana, phía bắc Delhi, bởi vì dường như không phải ngẫu nhiên mà thị trấn nhỏ Assandh lại tự hào tuyên bố sở hữu bảo tháp Ashoka lớn nhất ở Ấn Độ, cao 80 bộ và đường kính 250 bộ.
Khoảng năm 274 trước Công nguyên, một cuộc nổi dậy thứ hai nổ ra ở Taxila và lần này Thái tử Sushima được cử đến để giải quyết. Cuộc nổi dậy lần này nghiêm trọng hơn lần đầu và Thái tử Sushima buộc phải ở lại. Trong khi đó, Vua Bindusara lâm bệnh nặng và ra lệnh triệu hồi Sushima, giao quyền lại cho Ashoka thay thế. Tuy nhiên, đồng minh của Ashoka tại cung điện, tể tướng Radhagupta, đã can thiệp để giấu nhẹm mệnh lệnh của hoàng gia. Bản thân Ashoka đã câu giờ bằng cách giả vờ ốm nhưng sau đó đã đối mặt với cha mình để yêu cầu vua cha tuyên bố mình là nhiếp chính lâm thời – một hành động gây sốc đến mức khiến Bindusara lên cơn đột quỵ và qua đời. Sushima trở về Pataliputra và thấy người em trai cùng cha khác mẹ của mình đang chiếm đóng thành trì, còn cổng thành được bảo vệ bởi những chiến binh to con Hy Lạp, có lẽ là lính đánh thuê với danh tiếng đáng sợ đến mức gieo rắc nỗi kinh hoàng, hoặc thậm chí là dư âm dai dẳng của Sikander (tên Ba Tư của Alexander), người mà tên tuổi vẫn được dùng để răn đe những đứa trẻ hư cho đến tận thế kỷ XIX. Sự hiện diện liên tục của lính đánh thuê Hy Lạp ở Ấn Độ được thể hiện qua bức tượng chiến binh Hy Lạp được Cunningham khai quật tại Bharhut.
Vụ giết chết Sushima tại cổng phía đông Pataliputra là vòng đầu tiên trong cuộc chiến tranh giành quyền kế vị kéo dài bốn năm mà các Phật tử phương Bắc (những người theo trường phái Phật giáo Đại thừa) sau này nhớ đến như thời kỳ đen tối của Ashoka Hung bạo, khi đủ loại tội ác kinh hoàng được thực hiện nhân danh Ashoka, bao gồm cả việc giết hại 99 anh em cùng cha khác mẹ còn lại của ông và Tòa Địa ngục của Ashoka; rất có thể đó là những sự phóng đại về các sự kiện có thật được các tác giả của Truyền thuyết về Vua Ashoka thêu dệt thêm tuồng tích cho câu chuyện Ashoka, kẻ độc ác bỗng cải tà quy chính. Tuy nhiên, ngay cả cuốn Biên niên Triều đại Vĩ đại với những ghi chép ôn hòa hơn cũng thừa nhận rằng Ashoka đã phải chiến đấu để giành lấy ngai vàng và phải mất bốn năm trước khi ngài cảm thấy đủ khả năng tự xưng là người cai trị Magadha.
Ashoka sau đó đã làm điều mà những kẻ tranh giành quyền lực mạnh nhất luôn theo đuổi khi không có bất kỳ ràng buộc xã hội nào ngăn giữ họ, đó là loại bỏ tất cả các đối thủ trong dòng dõi nam giới, ngoại trừ người em cùng mẹ khác cha Tissa/Vitashoka. Chỉ khi tất cả các mối đe dọa đã được loại bỏ, Ashoka mới cảm thấy đủ an tâm tiến hành nghi lễ thanh tẩy, xức dầu và đăng quang bởi các thầy tế Bà La Môn, điều này biến ngài thành một vị vua được thần thánh yểm trợ. Sau đó, ngài lấy danh hiệu Devanamapriya, ‘Người được các chư thiên yêu quý’, danh hiệu đầu tiên được ông nội ngài sử dụng và sau đó được cháu trai Dasharatha bắt chước, và danh hiệu Priyadasi, ‘người được yêu quý’, có lẽ để bù đắp cho những khiếm khuyết về thể chất của mình. Em trai ngài trở thành phó nhiếp chính, một vị trí mà ông ta đã lạm dụng trước khi bị Ashoka chỉ ra lỗi lầm của mình và từ chức để trở thành một ẩn sĩ Phật giáo – một câu chuyện phức tạp, có thể là để đánh bóng cho việc người em trai yêu quý nhưng hay gây rắc rối của ngài bị cưỡng bức lưu đày.
Vua Devanamapriya Priyadasi bắt đầu trị vì vào khoảng năm 270 TCN bằng cách noi gương cha mình, bảo trợ một số lượng lớn các Bà La Môn tại triều đình. Rõ ràng là ngài không có thiện cảm với Phật giáo vào giai đoạn này. Truyền thống phương Bắc kể rằng cả Ashoka và hoàng hậu đều là những kẻ dị giáo, đã từng ra sức phá hủy cây Bồ đề, và ra lệnh cho binh lính phá hủy các địa điểm khác gắn liền với Đức Phật. Điều này có vẻ không hợp lý đối với một người có bà vợ đầu tiên là Phật tử, nhưng nó có thể thể hiện sự thờ ơ của ngài đối với thái độ thù địch công khai của hoàng hậu đối với Phật giáo.
Trong vòng bốn hoặc năm năm sau khi lên ngôi, Ashoka đã thực hiện những bước đi đầu tiên định hình phần đời còn lại và triều đại của ngài, và ở đây chúng ta không nên bỏ qua khả năng rằng Ashoka, sau khi đã vững vàng trên ngai vàng ở Pataliputra, cho triệu tập vợ và hai con đang ở lại Vidisha – cả ba người đều được nuôi dạy theo truyền thống Phật giáo. Việc ngài cải sang đạo Phật được thúc đẩy bởi tấm gương của vị tiểu tăng Samudra, người đã an nhiên chịu đựng cực hình tra tấn tại Tòa nhà Địa ngục của Ashoka (truyền thống phương Bắc), hoặc bởi cậu bé tiểu tăng Nigrodha, con trai của người anh cùng cha khác mẹ mà ngài đã giết (truyền thống phương Nam), có thể được coi là một câu chuyện hư cấu mang tính tôn giáo che đậy một phần sự thật: rằng để đáp lại việc quyền lực của mình bị hạn chế bởi quyền lực của các Bà La Môn tại triều đình Ashoka đã chuyển sự bảo trợ của mình cho một nhóm ít đe dọa hơn, đó là tăng đoàn Phật giáo – kết quả là ảnh hưởng của Phật giáo đã mở rộng đáng kể nhờ vào việc họ có thể tiếp cận nhà vua.
Nhà vua có ít nhất sáu người vợ được nêu tên, ngoài các thê thiếp, và có ít nhất 11 con trai và 3 con gái..Chỉ có Biên niên sử Triều đại Vĩ đại đề cập đến hai người con lớn nhất của Ashoka với người vợ đầu tiên, Mahinda và Sanghamitta, nhưng nguồn tài liệu sớm hơn của nó, Dipavamsa, hay ‘Biên niên sử Đảo’, có trước tất cả các nguồn tài liệu khác, và tính xác thực của nó ở các khía cạnh khác, đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận nó một cách nghiêm túc. Các Chỉ dụ Đá Nhỏ thông báo cho chúng ta rằng Ashoka trở thành một Phật tử tại gia vào khoảng năm 265 trước Công nguyên, mặc dù theo lời thú nhận của chính ngài, trong hai năm rưỡi đầu, ngài không coi trọng việc cải đạo này. Một hoặc hai năm sau khi Ashoka quy y với Phật giáo, Mahinda và Sanghamitta đã được thọ giới thành tỳ kheo và tỳ kheo ni. Khi đó, cậu bé khoảng mười một hoặc mười hai tuổi và em gái Sanghamitta khoảng tám hoặc chín tuổi – tuy nhiên vẫn còn những nghi ngờ nghiêm trọng về việc quy y quá sớm của Sanghamitta, vì dường như sau đó cô đã lấy chồng và sinh cho chồng một con trai, cả hai người đều theo cô gia nhập Tăng đoàn.
Khoảng năm 263 trước Công nguyên, Ashoka phát động cuộc tấn công vào Kalinga, vương quốc quan trọng duy nhất ở tiểu lục địa đã chống lại vua cha. Với việc chinh phục Kalinga và kiểm soát hiệu quả các vùng lãnh thổ chưa bị chinh phục còn lại ở phía nam, Ashoka giờ đây có thể tự coi mình là người cai trị toàn bộ Ấn Độ, thực sự là một hoàng đế có quyền lực hơn cả cha và ông nội của mình. Một thời kỳ hòa bình Ashoka (Pax Ashokanica) được thiết lập trên tiểu lục địa, và liên tục không gián đoạn trong suốt ba thập kỷ tiếp theo. Không có điều gì tương tự xảy ra ở Ấn Độ cho đến thời kỳ Pax Britannica của Đế quốc Anh.
Nhưng như RE 13 tại Girnar, Kalsi, Shahbazgarhi, Mansehra và Erragudi đã thừa nhận, sự tàn bạo của cuộc chinh phạt Kalinga đã gây ra tác động khủng khiếp đối với cả người dân Kalinga và chính Ashoka. Có thể ngài đã mất hai hoặc ba năm để chấp nhận sự thật này và bắt đầu hành động chuộc lỗi. Cuộc chiến Kalinga dường như thực sự là một bước ngoặt, một yếu tố quyết định biến cãi ngài từ một Phật tử tại gia trên danh nghĩa thành một tín đồ sùng đạo và theo chủ nghĩa hòa bình – một trường hợp điển hình của người cải đạo tìm thấy chốn nương tựa trong Phật pháp, như giới Phật tử thường nói. Từ thời điểm này trở đi, hoàng đế đã dốc toàn bộ nỗ lực vào việc xây dựng một hệ thống chính quyền dựa trên một nền đạo đức mới, dựa trên lời dạy của Phật pháp.
Chương trình hành động mới này chỉ có thể thực hiện được nhờ Kalinga và nỗi kinh hoàng mà nó gây ra. Và thực tế vẫn là trong quá trình chuyển đổi từ vua sang vị trí hoàng đế toàn Ấn Độ, Priyadasi không còn là Ashoka Nộ khí nữa mà trở thành Ashoka Dharma, một sự chuyển đổi chưa từng có tiền lệ và mang tính độc đáo cùng cực đến mức chắc chắn rồi sẽ thất bại.
Tuyên bố công khai đầu tiên của Hoàng đế Ashoka được đưa ra ba năm sau trận Kalinga, khoảng năm 260 trước Công nguyên, dưới hình thức các Chỉ dụ Đá Nhỏ. Trong đó, hoàng đế yêu cầu mọi người biết rằng ngài giờ đây là một Phật tử tại gia thuần thành, đã viếng thăm Tăng đoàn và rằng chư thiên và con người đã xích lại gần nhau hơn nhờ những nỗ lực của ngài. Ngài không nói rõ những nỗ lực đó là gì, nhưng ngài mong muốn tất cả thần dân của mình làm điều tương tự, và vì mục đích này, ngài đã đưa ra thông báo này ở bất cứ nơi nào ngài đi kinh hành, những lời này được khắc trên đá và cột trụ ở bất cứ nơi nào có thể.
Chúng ta có thể hình dung chuyến công du hoàng gia này di chuyển trên khắp vùng đất như một đội quân đang tiến công: hoàng đế và hoàng gia được bao quanh bởi một vòng vây bên trong gồm các cận thần, quan lại, gia nhân và nữ vệ sĩ, với một vòng vây bên ngoài được tạo thành từ hàng ngàn người tùy tùng và binh lính; một trại lều khổng lồ mọc lên ở mỗi địa điểm mới, và thành viên của nó tiêu tốn và khai thác triệt để tài nguyên của mỗi vùng trước khi di chuyển tiếp đến vùng khác. Giống như tất cả các vị vua tốt, Ashoka luôn sẵn sàng tiếp xúc với thần dân, nhưng lời nói của ngài chỉ có một số ít người được đặc quyền nghe thấy. Ashoka muốn tất cả mọi người đều nghe thấy những lời đó – và muốn những lời đó trường tồn. Do đó, ngài cần một ngôn ngữ viết và một phương tiện có thể tồn tại lâu dài.
Ngôn ngữ Prakrit, tiếng nói của chính Ashoka và cũng là ngôn ngữ giao tiếp của Magadha, giờ đây đã được ghi chép lại bằng một bảng chữ cái mới được chuẩn hóa, được thiết kế để thể hiện ngôn ngữ đó tốt hơn so với bảng chữ cái Kharosthi. Tuy nhiên, nó vẫn chưa hoàn hảo, đến nỗi khi sau nhiều thế kỷ bị lãng quên, giá trị của mỗi ký tự được hiểu lại, thì ý nghĩa chính xác của những từ mà chúng thể hiện vẫn còn mơ hồ một cách khó hiểu. Tuy nhiên, những lời này rõ ràng là của một nhà chuyên chế không hoàn toàn chắc chắn mình muốn nói gì nhưng vẫn quyết tâm nói ra, và được truyền đạt cho một thư lại ghi chép mà không dám đặt câu hỏi. Những lời đó có thể xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhưng lại ngây thơ, thiếu mạch lạc và đầy tính tự cao tự đại.
Việc hoàng đế nhắc đến cột và đá từ sớm cho thấy cả hai đều được sử dụng ngay từ đầu, ngay cả khi chỉ có đá còn tồn tại đến ngày nay – trừ khi chúng ta tính cả một loạt Chỉ dụ khác của Ashoka thời kỳ đầu: cái gọi là Chỉ dụ Ly giáo. Những chỉ dụ này không ghi ngày tháng nhưng cách thức thẳng thắn mà Ashoka tự mình chỉ bảo các tăng ni trong Tăng đoàn về cách cư xử, trang phục và kinh điển cho thấy rõ ngài tự coi mình là người đứng đầu Giáo hội Phật giáo theo cách của Henry VIII ở Anh thời Tudor. Những Chỉ dụ Ly giáo này cung cấp bằng chứng được ghi chép sớm nhất về sự chia rẽ ngày càng tăng trong Tăng đoàn Phật giáo, dẫn đến sự phân mảnh thành 18 giáo phái khác nhau và sự phân chia lớn giữa truyền thống Bắc tông và Nam tông.
Từ thời điểm này trở đi, đời sống công cộng của Ashoka ngày càng tập trung vào việc thể hiện đức tin Phật giáo của mình và làm thế nào để hỗ trợ Giáo hội Phật giáo một cách tốt nhất. Chuyến hành hương mà ngài ấy nhắc đến trong Chỉ dụ Đá Nhỏ có thể đề cập đến chuyến đầu tiên trong ít nhất hai cuộc hành hương đến những thánh tích Phật giáo, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của một vị đại sư trong Tăng đoàn. Nhưng là vị sư nào? Độc giả của Biên niên sử Triều đại Vĩ đại tin chắc không còn nghi ngờ gì nữa, nhân vật nổi bật trong đời sống tôn giáo của Ashoka là đại sư Moggaliputta thuộc giáo phái Sthaviravada (sau này là Therevada) của Phật giáo, một số tro cốt của ngài đã được Tướng Cunningham tìm thấy tại Sanchi. Tuy nhiên, trong “Truyền thuyết Ashoka”, nhân vật anh hùng chính của cuốn sách lại là Ưu-ba-cúc-đa (Upagupta), nhân vật nổi bật của giáo phái đối lập Sarvastivada (Sarvastivadas) ở Mathura (về sau thuộc Đại thừa – Mahayana). Để làm vấn đề thêm phần rắc rối, sử gia Tây Tạng Taranatha đưa ra ứng cử viên của riêng mình: Hòa thượng Yashah, tu viện trưởng Kukkutarama (còn gọi là tu viện “Gà Trống”) ở ngoại thành Pataliputra. Tu viện này cũng được biết đến với tên Ashokarama, do vua Asoka sáng lập và tài trợ. Rõ ràng Yashah không phải là Upagupta, người mà trong văn bản đó đã biến mất từ rất lâu trước khi Ashoka ra đời. Quả thực, Upagupta dường như trở thành người xâm nhập ở đây, được hồi sinh để gây thêm thành thế cho Phật giáo Đại thừa. Những lời kể mâu thuẫn này cho thấy sự tranh giành quyền lực gay gắt trong cộng đồng Phật giáo khi mỗi phe phái đều tìm cách đặt giáo lý và thực hành của mình vào trung tâm của giáo hội do hoàng đế thiết lập.
Có thể tìm ra hướng đi xuyên qua bãi mìn tôn giáo này với sự trợ giúp của các chỉ dụ Ashoka, đợt thứ hai bắt đầu xuất hiện vào khoảng năm 259 trước Công nguyên, có lẽ trước tiên từ các vùng lãnh thổ bị chinh phục của Kalinga và tiến về phía bắc từ đó – mặc dù vẫn còn là một bí ẩn tại sao chưa từng có Chỉ dụ khắc trên đá nào được tìm thấy ở lưu vực sông Hằng. Phỏng đoán hợp lý nhất là những Chỉ dụ như vậy đã được dựng lên ở khu vực đó, được khắc trên các cột trụ chứ không phải trên đá, và không có Chỉ dụ nào còn tồn tại đến ngày nay.
Bước tiến vượt bậc giữa các Chỉ dụ Đá Nhỏ và Chỉ dụ Đá được tóm gọn trong từ “Dharma”. Từ này xuất hiện trong câu đầu tiên của Chỉ dụ Đá đầu tiên và được lặp lại nhiều lần sau đó. Nó đã trở thành nền tảng triết lý chính trị của Ashoka, và một chiến lược để truyền bá Dharma đã được hình thành dựa trên cơ chế bao gồm đội ngũ quản lý tôn giáo kiêm ủy viên đặc biệt được thành lập: các Dharma Mahamatras, có nhiệm vụ truyền bá Phật pháp và thúc đẩy phúc lợi đạo đức cho người dân.
Một giọng điệu mới có thể được nghe thấy trong các Chỉ dụ Đá. Như câu mở đầu của mỗi chỉ dụ đã nêu rõ, hoàng đế vẫn nắm quyền điều hành, nhưng ngài muốn người dân biết ngài đã thay đổi như thế nào, không chỉ đơn thuần là do ngài ân hận về Kalinga. Có lẽ lần đầu tiên trong đời, Ashoka đã bắt đầu hiểu ý nghĩa thực sự của sự khiêm nhường, đến mức ngài cảm thấy có nghĩa vụ phải nói với thần dân của mình về những nỗ lực đang được thực hiện để cải thiện cách thức điều hành công việc nhà nước và cách chính ngài tham gia vào đó. “Quả thật ta coi phúc lợi của tất cả mọi người là bổn phận của ta”, ngài nói với thần dân của mình, “và gốc rễ của điều này là sự nỗ lực và việc giải quyết công việc nhanh chóng. Không có công việc nào tốt hơn việc thúc đẩy phúc lợi của tất cả mọi người.”
Đã mười hai hoặc mười ba năm trôi qua kể từ lễ tấn phong của mình, và Hoàng đế Ashoka đang bước vào tuổi tứ tuần, ngài đã cam kết chính quyền của mình thực hiện một chương trình cải cách xã hội và tôn giáo mang tính cách mạng, đánh vào tận gốc rễ của trật tự cũ. Chương trình này có ba mục tiêu chính: bất bạo động như một phương tiện để đạt được mục đích, chỉ cho phép chinh phục bằng chính đạo đức; tự do ngôn luận tôn giáo với sự tôn trọng quan điểm của người khác; và thúc đẩy “những yếu tố cốt lõi của mọi tôn giáo” dựa trên hành vi đúng đắn, bao gồm sự thanh tịnh trong tâm hồn, tự chủ, lòng sùng kính vững chắc, tôn trọng lẫn nhau, hào phóng, làm việc thiện, lòng biết ơn, kiềm chế, công bằng, không làm tổn thương hay gây hại cho người khác, và tha thứ cho những người làm điều sai trái “khi có thể tha thứ”.
Đây không phải là Pháp theo cách hiểu của Phật tử – hay Bà La Môn. Không có bất kỳ sự đề cập cụ thể nào đến Đức Phật hay Tăng đoàn như là nguồn gốc của Pháp này. Và điều đó hoàn toàn có lý, bởi vì các chỉ dụ được ban bố cho toàn dân chứ không chỉ riêng cộng đồng Phật giáo, phù hợp với tuyên bố của Ashoka rằng tất cả mọi người đều là con cái ngài. Điều này giải thích tại sao chúng chứa đựng những giáo huấn về đạo đức hơn là tôn giáo. Lần duy nhất Ashoka nhắc đến các vị thần là trong tên và tước hiệu của chính ngài, và lần duy nhất ngài đề cập đến các nghi lễ tôn giáo là trong bối cảnh tiêu cực rõ rệt, khi ở RE 2, ngài nói về “những nghi lễ thô tục và vô giá trị”. Mặc dù Ashoka liên tục kêu gọi tôn trọng tầng lớp Bà La Môn, nhưng câu nói đó chắc chắn đã gây khó chịu cho giới Bà La Môn, vì nó còn có thể nhắm đến ai khác nữa?
Cả ở đây lẫn trong các Chỉ dụ sau này đều không có bất kỳ đề cập nào đến chương trình xây dựng bảo tháp quy mô lớn được cho là do Ashoka thực hiện trong truyền thống Nam tông, và đã hoàn thành trong vòng ba năm. Một lời giải thích là việc này diễn ra giữa thời điểm khắc Chỉ dụ trên đá vào khoảng năm 259-258 TCN và thời điểm dựng Chỉ dụ trên cột trụ vào năm 243-242 TCN. Việc xây dựng bảo tháp và tu viện trên quy mô toàn tiểu lục địa thực sự đã diễn ra là điều không thể nghi ngờ, được chứng minh bằng tàn tích của hàng trăm khu định cư tu viện Phật giáo được xây dựng xung quanh các bảo tháp rải rác khắp nơi. Khu vực này trải dài từ Ấn Độ đến sâu trong lòng Afghanistan, xa về phía tây đến tận Herat. Những tàn tích này chủ yếu cho thấy các bảo tháp thời Kushan hoặc Gupta, nhưng trong nhiều trường hợp, chúng nằm trên các công trình kiến trúc thô sơ thời Mauryan. Không thể phủ nhận sự tồn tại của tín ngưỡng thờ bảo tháp trong Phật giáo sơ khai, vốn đã trải qua sự phát triển mạnh mẽ vào thời Ashoka.
Trước thời Ashoka, không có công trình tôn giáo nào được xây dựng bằng vật liệu nào khác ngoài gỗ, bùn và vữa, vậy mà giờ đây các công trình bằng gạch, vữa và đá mọc lên khắp nơi. Sự chuyển đổi đột ngột này trong cảnh quan tôn giáo của Ấn Độ chắc hẳn đã có tác động sâu sắc, bởi vì bất kể ý định của Ashoka là gì, thông điệp mà những công trình này truyền tải là không thể nhầm lẫn. Điều được xiển dương ở đây không phải là Pháp phổ quát được ghi trên các phiến đá, mà là Phật pháp.
Việc thờ cúng bảo tháp thời Ashoka gắn liền với việc thờ cúng cây Bồ đề và bánh xe Pháp. Ngay khi những tác phẩm điêu khắc đầu tiên xuất hiện trên các công trình Phật giáo, ba biểu tượng này đã thể hiện rõ nét.
Các biểu tượng được trưng bày như những biểu tượng tinh túy của đức tin Phật giáo, cả ba đều có vị thế nổi bật trong nghệ thuật Phật giáo nhờ Ashoka. Việc thờ cúng cây cối và việc thờ cúng các nữ thần sinh sản có liên quan mật thiết với nhau luôn là một yếu tố quan trọng của tín ngưỡng dân gian Ấn Độ, nhưng nay được coi trọng hơn nhờ sự ám ảnh ngày càng tăng của Hoàng đế Ashoka đối với cây Bồ đề ở Bodhgaya trong những năm cuối triều đại của ngài. Còn về Bánh xe Pháp, người không theo Phật giáo sẽ hiểu nó như thế nào – liệu nó là biểu tượng của Pháp toàn Ấn Độ theo Veda hay là Phật pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni? Trong việc đề cao cái này, Ashoka đã làm suy yếu tính phổ quát của cái kia.
Ashoka hẳn đã gần năm mươi tuổi khi bắt đầu chương trình xây dựng bảo tháp của mình. Việc này đã đưa ngài vào trung tâm của Tăng đoàn Phật giáo và các bậc cao tăng, nhưng những mâu thuẫn và bất hòa trong và ngoài Giáo hội Phật giáo vẫn tiếp tục đeo bám triều đại của ngài. Khoảng năm 254 trước Công nguyên, một vị quan được phái đến để giải quyết vấn đề xảy ra giữa nhóm Phật tử và một giáo phái khổ hạnh khỏa thân gọi là Nirgranthas, nhưng lại làm trầm trọng thêm tình hình khi giết hại một số nhà sư. Em trai của Ashoka là Tissa/Vitashoka bằng cách nào đó đã bị cuốn vào cuộc xung đột và bị giết chết. Những sự kiện này dường như là chất xúc tác khiến hoàng đế triệu tập toàn bộ cộng đồng tu sĩ Phật giáo đến tu viện Kukkutarama/Ashokarama của ngài ở ngoại ô Pataliputra. Theo truyền thống Nam tông, sự việc kết thúc bằng việc trục xuất những ai từ chối chấp nhận giáo lý của các cao tăng bảo thủ hơn, tiếp theo là một đại hội nhằm hệ thống hóa những gì mà phe chiến thắng trong cuộc tranh chấp cho là đúng về mặt giáo lý, sau đó một chương trình truyền đạo lớn được bắt đầu, với các nhà truyền giáo được phái đến mọi nơi, bao gồm cả phái đoàn của Hoàng tử Mahinda đến Lanka.
Truyền thống Bắc tông không hề đề cập đến đại hội hay chương trình truyền giáo nào như vậy, ngụ ý rằng chính họ mới là phe thua thiệt nhất. Vì không thể tìm thấy thông tin về Đại hội Phật giáo Lần ba trong các Chỉ dụ của Ashoka, người ta cho rằng sự kiện trọng đại này là do phái Nam tông bịa đặt. Tuy nhiên, có bằng chứng khảo cổ học nổi bật về một đại hội như vậy trong Đại Sảnh cột được Waddell, Mookerji và Spooner phát hiện từng bước bên cạnh đường ray xe lửa ngoại thành Patna. Công trình độc đáo này, với cầu thang gỗ và cầu tàu, được xây dựng có chủ đích ở bên ngoài thành phố như một hội trường lớn, có thể tiếp cận từ cả Pataliputra và vùng nông thôn xung quanh. Nó không thể chứa tất cả sáu mươi nghìn người tham dự Đại hội Phật giáo lần thứ ba, nhưng chắc chắn sẽ cung cấp chỗ ở cho các đại diện của họ.
Điều ấn tượng không kém là tính xác thực của câu chuyện trong Biên niên sử Triều đại Vĩ đại về các nhà truyền giáo được gửi đến Lanka, các vùng xa xôi của Ấn Độ và hơn thế nữa, bởi vì làm sao người ta có thể nghi ngờ tính xác thực của tên các nhà sư truyền giáo được liệt kê khi mà di vật có tên của một số họ đã được Cunningham và Maisey tìm thấy tại Sanchi. Thật vậy, người ta có thể lập luận rằng đồi Sanchi là một đài tưởng niệm cho việc truyền bá Phật pháp, ban đầu bởi Đức Phật ở Ấn Độ, sau đó bởi vua Ashoka đến toàn thế giới.
Từ thời Đại hội Phật giáo lần thứ ba trở đi, các ghi chép Bắc tông trở nên rời rạc nghiêm trọng, trái ngược hoàn toàn với Biên niên sử Triều đại Vĩ đại Sri Lanka. Đối với truyền thống phương Bắc, điều thực sự quan trọng là chứng minh mối quan hệ phục tùng của Hoàng đế Ashoka đối với Phật giáo ở Mathura, vì vậy ngài được miêu tả là quỳ lạy trước Upagupta, được Upagupta giúp đỡ trong việc xây dựng bảo tháp, được Upagupta dẫn dắt trong các cuộc hành hương, ủng hộ giáo phái của Upagupta thông qua những cúng dường ngày càng hào phóng của mình cho giáo hội. Cách hiểu này được xác minh ở một mức độ nào đó bởi bản khắc chữ ở Lumbini và Nigliva Sagar gần đó, và con đường hoàng gia với các cột đá Ashoka ở Bắc Bihar. Những miêu tả không thể nghi ngờ về Ashoka ở Sanchi cũng xác nhận việc hoàng đế thu thập xá lợi Phật, việc xây dựng bảo tháp và lòng sùng kính ngày càng tăng của ngài đối với cây Bồ đề, một trong số ít lĩnh vực mà hai truyền thống đều nhất trí. Chúng cũng củng cố thêm độ tin cậy cho hình ảnh Ashoka trong giai đoạn cuối đời, được mô tả trong Truyền thuyết về Ashoka, như một người quá si mê thúc đẩy Tăng đoàn đến nỗi hầu như không có thời gian cho bất cứ điều gì khác.
Các Chỉ dụ Cột, được dựng lên 26 năm sau lễ tấn phong của Ashoka, đã cung cấp một sự đối trọng với hình ảnh được quảng bá trong cả hai truyền thống Phật giáo về một vị vua hoàn toàn tận tâm với việc bảo trợ Phật giáo. Chúng cho thấy rằng Hoàng đế Ashoka và các vị quan của ngài đã điều hành một chính quyền vừa hiệu quả vừa nhân từ đến mức hiếm thấy trước đây hoặc sau này, những minh chứng cho điều đó có thể được thấy trong các cải cách như việc bãi bỏ tục hiến tế động vật, đấu chọi động vật, săn bắn và ăn thịt (Chỉ dụ Đá 1); việc xây dựng bệnh viện, vườn bách thảo, giếng nước và trồng cây che bóng mát dọc theo các con đường (Chỉ dụ Đá 2); việc cung cấp viện trợ y tế cho các khu vực biên giới và giữa các nước láng giềng (Chỉ dụ Đá 2); việc thiết lập các chuyến tuần du 5 năm cho các quan chức tôn giáo và hành chính (Chỉ dụ Đá 3); quyền tài phán độc lập được trao cho các thống đốc về luật pháp và trật tự, và các cải cách liên quan đến việc hoãn thi hành án tử hình đối với những người bị kết án tử hình (Chỉ dụ Cột 4). Nếu tất cả các cải cách được liệt kê trong Chỉ dụ Đá được thực hiện đầy đủ thì có thể lập luận rằng chế độ Ashoka là nhà nước phúc lợi đầu tiên trong lịch sử, ngay cả khi bằng chứng khảo cổ học hỗ trợ cho đến nay còn ít ỏi. Các cuộc khảo sát gần đây ở vùng Sanchi đã phát hiện ra bằng chứng về một mạng lưới đập và thủy lợi rộng lớn có niên đại từ thời Mauryan, và ở những nơi khác, các cột đá và giếng Ashoka dường như song hành cùng nhau.
Việc những cải cách đó đã được thực hiện được thể hiện qua tuyên bố công khai cuối cùng của Ashoka, được ghi trong Chỉ dụ Cột thứ bảy bổ sung vào Cột trụ Firoz Shah. Đây là bản tóm tắt những thành tựu mà Hoàng đế Ashoka đã đạt được trong 37 năm trị vì. Chỉ dụ liệt kê những việc thiện mà ngài và các quan lại tôn giáo đã thực hiện nhân danh Dharma và tác động của chúng, kết luận rằng những tiến bộ đã đạt được là nhờ các quy định và sự thuyết phục, nhưng chủ yếu là thông qua sự thuyết phục. Tuy nhiên, dù lòng sùng đạo cá nhân của Ashoka đối với Phật giáo ngày càng lớn mạnh, trong các vấn đề quốc sự, ngài vẫn tiếp tục duy trì sự công bằng: “Ta đã tôn vinh tất cả các tôn giáo bằng nhiều hình thức tôn kính khác nhau” (PE 6), và “Các ủy viên Pháp của ta cũng đang bận rộn với nhiều việc thiện cho các nhà tu khổ hạnh và gia chủ của tất cả các tôn giáo” (PE 7) – vẫn xiển dương một Pháp dựa trên nền đạo lý phổ quát hơn là bất cứ điều gì có thể được coi là thực hành tôn giáo của riêng mình. Cũng như trong Chỉ dụ Đá, ở đây điều được đề cao là đạo đức công và tư, chứ không phải tôn giáo hay thực hành tôn giáo. Trong PE 2, Ashoka thậm chí còn hỏi một cách hùng hồn: “Pháp là gì?” và tóm tắt nó là “ít điều ác, nhiều điều thiện, lòng tốt, tính hào phóng, tâm chân thật và sự thanh tịnh” – và ngài bổ sung thêm, từ RE 1, “nhiều việc tự kiểm điểm, nhiều lòng tôn trọng, nhiều nỗi sợ hãi (điều ác) và nhiều sự nhiệt tình”. Không hề nhắc đến lời cầu nguyện, lễ vật, cúng tế, nghi lễ hay thần linh.
Hoàng đế kết thúc PE 7 bằng những lời cuối cùng vẫn còn sức lay động lòng người sau rất nhiều thế kỷ:
Về vấn đề này, Người được các chư thiên yêu quý, nói rằng: Ở bất cứ nơi nào có cột đá hoặc phiến đá, thì kinh pháp này phải được khắc ở đó để trường tồn mãi mãi. Nó được khắc để trường tồn chừng nào các con trai và cháu chắt của ta còn sống, chừng nào mặt trời và mặt trăng còn chiếu sáng, và để mọi người có thể thực hành theo như lời chỉ dạy. Bởi vì bằng cách thực hành nó, hạnh phúc sẽ đạt được ở kiếp này và kiếp sau. Kinh pháp này được ta viết vào năm 27 sau khi ta lên ngôi.
Những lời cuối cùng này được khắc vào khoảng năm 242 trước Công nguyên, khi đó Hoàng đế Ashoka đã gần sáu mươi tuổi – một người đàn ông lớn tuổi theo tiêu chuẩn thời bấy giờ.
Những năm cuối đời của Ashoka chìm trong bóng tối và sự hỗn loạn. Tất cả bằng chứng đều cho thấy hoàng đế ngày càng trở nên sùng đạo Phật và ủng hộ Tăng đoàn Phật giáo, thậm chí đến mức cuồng tín tôn giáo. Sự nhiệt tình thái quá này dường như bắt đầu từ nỗi ám ảnh ngày càng lớn đối với cây Bồ đề ở Bodhgaya, có lẽ xuất phát từ cảm giác tội lỗi về việc ngài đã hủy hoại cây này trong những năm đầu trị vì. Cây Bồ đề xuất hiện rất nhiều trong mọi ghi chép về những năm cuối đời của Ashoka. “Niềm tin của ngài đặc biệt được khơi dậy bởi cây Bồ đề”, theo Truyền thuyết về Ashoka, trong đó hoàng đế tuyên bố: “Khi ta nhìn vào vua của các loài cây, ta biết rằng ngay cả lúc này ta đang nhìn vào Bậc Thầy Tự Tại.” Biên niên sử Triều Đại Vĩ đại dành nhiều trang để mô tả quá trình Ashoka chọn lựa và gửi cành chiết từ cây Bồ đề cho vị đồng đạo mới của mình là vua Devanamapiyatissa của Lanka, chưa kể đến việc hoàng hậu độc ác Tishyarakshita đã khiến cây héo tàn và chết đi – một hành động, dĩ nhiên, đã khiến cây Bồ đề mới trồng ở Lanka trở thành biểu tượng sống duy nhất cho sự Giác Ngộ của Đức Phật.
Giai đoạn cuối đời của Ashoka bắt đầu bằng việc ngài tổ chức pancavarsika hay ‘lễ hội mùa mưa năm năm một lần’, có thể bắt nguồn từ các lễ hội tiền Phật giáo nhưng dù sao cũng đã tạo ra một khuôn mẫu cho các vị vua Phật giáo hoặc ủng hộ Phật giáo khác noi theo. Hơn tám thế kỷ sau, nhà du hành Trung Quốc Huyền Trang đã chứng kiến một lễ hội tương tự do vị vua vĩ đại Harsha tổ chức tại Prayag (Allahabad), tại đó ngài đã ban phát một lượng lớn vàng, bạc và các quà tặng khác cho hàng ngàn tăng lữ và nhà sư tụ tập ở đó, tượng trưng cho tất cả của cải tích lũy được trong năm năm trước đó. Ngay cả theo lời kể thiên về Phật giáo của Huyền Trang, Harsha đã đảm bảo rằng tất cả các tôn giáo đều được đại diện và đối xử bình đẳng – trong khi dường như pancavarsika của Ashoka chỉ dành riêng cho Phật giáo, ở đó ông dâng hiến mọi thứ từ vương quyền của mình đến con trai Kunala cho Tăng đoàn.
Hoàn toàn có thể, dĩ nhiên, rằng tác giả của Truyền thuyết về Vua Ashoka và Taranatha trong cuốn Lịch sử của mình đã thêm mắm dặm muối vào câu chuyện Phật giáo, nhưng do không có bất kỳ manh mối nào về tính bao trùm, chúng ta buộc phải giả định rằng Ashoka đã hành xử như truyền thống phương Bắc ghi nhận. Sự thiên vị quá lộ liễu như vậy chắc hẳn đã không được lòng các tầng lớp Bà-la-môn, Kỳ Na giáo, Ajivika và các nhóm phi Phật giáo khác trong cộng đồng. Sự ưu ái Phật giáo quá mức này ảnh hưởng trực tiếp nhất đến các Bà La Môn chính thống vì phần lớn các nhà sư Phật giáo được tuyển chọn từ hàng ngũ của họ. Những đệ tử đầu tiên của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đều là Bà La Môn và xu hướng này tiếp tục, đến nỗi càng nhiều Bà La Môn cải đạo sang Phật giáo thì cộng đồng của họ càng trở nên yếu đi. Một phản ứng là điều không thể tránh khỏi.
Lễ hội 5 năm một lần đầu tiên của Ashoka kết thúc bằng việc Ashoka bước lên một bục đặc biệt được xây dựng xung quanh cây Bồ đề để tắm cho nó “bằng sữa thơm mùi nghệ tây, gỗ đàn hương, và long não [được đổ từ] năm nghìn chiếc bình bằng vàng, bạc, pha lê và ngọc mắt mèo, chứa đầy các loại nước hoa khác nhau”, như được thể hiện trên tấm phù điêu bên ngoài của vòm cuốn phía dưới trên Cổng phía Đông của Đại bảo tháp ở Sanchi (xem hình minh họa chương trước). Sự kiện này rất có thể đã diễn ra vào khoảng năm 240 trước Công nguyên và, vì theo truyền thống nó được tổ chức cứ 5 năm một lần, nên lễ hội thứ hai tương tự có thể đã được lên kế hoạch vào năm 235 trước Công nguyên.
Nhưng vào năm 239 TCN, Ashoka đã mất người vợ là Asandhimitra, hoàng hậu chính thất đã sinh cho ông người thừa kế yêu quý, Kunala, có đôi mắt rất đẹp. Bốn năm sau, khoảng năm 235 TCN, vị trí của bà được thay thế bởi Tishyarakshita, người mà cả truyền thống Bắc và Nam tông đều miêu tả là một kẻ dị giáo độc ác, âm mưu chống lại Phật giáo. Hành động đầu tiên của bà là khiến cây Bồ đề héo tàn. Hành động tiếp theo nghiêm trọng hơn, khi bà tìm cách tiêu diệt Kunala khi chàng từ chối tình cảm của bà. Cơ hội đến với bà khi Kunala được cử đi giải quyết cuộc nổi loạn ở Taxila và bà đã chữa khỏi căn bệnh dạ dày bí ẩn của Ashoka. Sau đó, bà tìm cách làm mù mắt Kunala theo lệnh được cho là của nhà vua, nhưng bị nhà vua phát hiện và bà bị xử tử khi Kunala tìm cách trở về Pataliputra để kể lại câu chuyện của mình. Vì bị mù Kunala không còn đủ tư cách để cai trị và con trai ông, Samprati (Sampadin), trở thành người thừa kế ngai vàng.
Phần lớn câu chuyện này có thể bị coi là thêm thắt. Yếu tố cốt lõi dường như là vị hoàng hậu mới đứng đầu một phe phái phi Phật giáo tại triều đình, chống lại người thừa kế Phật giáo Kunala và ngày càng lớn mạnh trong khi Kunala đi làm thống đốc Taxila. Phe chống Phật giáo đã thành công trong việc làm mù mắt Kunala nhưng sau đó bị bại lộ, dẫn đến việc hoàng hậu bị hành quyết và phe chống Phật giáo tan rã. Để ủng hộ luận điểm này, Huyền Trang cung cấp một chi tiết không có trong các phiên bản khác của câu chuyện, đó là sau khi hành quyết hoàng hậu, Ashoka ‘đã quở trách các vị đại thần và lên án các phụ tá của ngài tại triều đình, và cách chức, trục xuất, giáng chức hoặc hành quyết họ, và nhiều gia đình quyền lực và giàu có đã bị đày đến sa mạc phía đông bắc dãy núi Tuyết Sơn’.
Những sự kiện này có thể đã xảy ra cùng thời điểm với một số hiện tượng kỳ lạ tại Pataliputra, vì vị hoàng đế đang hấp hối tìm cách tổ chức lễ hội Pancavarsika lần thứ hai, nhưng đã bị các vị quan khuyên can. Truyền thuyết về vua Ashoka đã tóm tắt điều này một cách khái quát trong một đoạn văn:

Ashoka đã xây dựng 84.000 bảo tháp (dharmarajika) và quyên góp 100.000 đồng vàng cho mỗi bảo tháp. Sau đó, ngài đã tặng 100.000 đồng cho nơi Đức Phật sinh ra, cho cây Bồ đề, cho nơi Ngài chuyển Bánh xe Pháp và cho nơi Ngài nhập Niết bàn. Tiếp đó, ngài đã tổ chức một lễ hội lớn năm năm một lần và chi 400.000 đồng cho việc chiêu đãi 300.000 vị Tỳ kheo… Ngài cũng đã cúng dường 400.000 đồng vàng cho Tăng đoàn Arya. Như vậy, tổng số tiền ngài dâng tặng cho Giáo pháp của Đức Phật lên tới 96 koti [1 koti = 10 triệu]. Tuy nhiên, lúc đó Ashoka lâm bệnh, và nghĩ rằng mình sắp qua đời, ngài đã trở nên chán nản.
Quyết tâm của vị hoàng đế ốm yếu muốn gửi thêm tiền vàng đến trung tâm tu viện Kukkutarama/Ashokarama dường như là giọt nước tràn ly đối với các vị quan lại của ngài. Họ quay sang người thừa kế mới, Thái tử Samprati, và Thái tử đã ra lệnh cho kho bạc nhà nước ngừng chi trả bất kỳ khoản tiền nào theo lệnh của nhà vua. Đây là một hành động bất kính trắng trợn, một sự thách thức trực tiếp đến quyền lực của hoàng đế, tương đương với tội phản quốc. Nhưng Ashoka quá yếu để phản ứng và không ai đến giúp đỡ ngài. Trên thực tế, ngài đã không còn cai trị nữa. Vì vậy, Samprati trở thành người cai trị thực tế của Magadha và cả nước, được Radhagupta và các vị quan lại khác ủng hộ nhưng bị Tăng đoàn Phật giáo phản đối, vì sợ mất mát nhiều thứ.
Chính trong bối cảnh bất đồng ngày càng gia tăng đó mà vị hoàng đế hấp hối đã trải qua những ngày cuối đời, như Huyền Trang đã kể lại trong chuyến viếng thăm tàn tích tu viện Kukkutarama của Ashoka:
‘Khi vua Asoka lâm bệnh, trên giường bệnh, ngài biết rằng mình không thể qua khỏi và dự định từ bỏ đá quý và châu báu của mình để làm việc thiện. Nhưng các vị quan có thế lực của ngài đã nắm quyền và không cho phép ngài làm điều mình mong muốn.’
Tiếp theo là câu chuyện bi thương về quả mận anh đào, khi Ashoka tuyên bố rằng giờ đây ngài chỉ có quyền lực tối cao đối với một nửa quả và ra lệnh dâng nó cho các nhà sư ở Kukkutarama, nơi nó được nghiền nát và dùng làm súp. Sau đó, trong những giây phút cuối cùng, hoàng đế dâng toàn bộ đất đai đế chế cho Tăng đoàn, ghi lại tuyên bố này trong một văn bản, niêm phong bằng răng và trút hơi thở cuối cùng.
Trong tất cả các tài liệu, cái chết của Ashoka và việc hỏa táng ngài sau đó bởi các vị đại thần được mô tả rất ngắn gọn và không hề có lời than khóc nào. Trong truyền thống phương Bắc, vị tể tướng Radhagupta xuất hiện như nhân vật chủ chốt, giải quyết vấn đề về khoản quyên góp cuối cùng của Ashoka bằng cách lấy 4 koti từ kho bạc nhà nước và dâng chúng cho Tăng đoàn để chuộc lại đất.
Sau đó, các quan đại thần làm lễ tấn phong Samprati làm vị vua mới.
Kịch bản phía Bắc tông này có những điểm yếu nghiêm trọng, chẳng hạn như sự hiện diện liên tục của Radhagupta, tể tướng, người đã chủ trì cả việc Ashoka lên ngôi lẫn việc ngài bị phế truất 41 năm sau đó. Cũng khó tin rằng con trai của Kunala là Samprati lại có thể đóng vai trò tích cực nào trong việc phế truất này vì lúc đó cậu ta chắc hẳn còn nhỏ tuổi. Điều đáng tin hơn là phe chống Phật giáo đã thực hiện một số hình thức đền bù để mua chuộc những người theo Phật giáo.
Tuy nhiên, yếu tố đáng ngạc nhiên nhất ở đây là sự im lặng tuyệt đối của truyền thống phương Nam về hoàn cảnh xung quanh cái chết của vị vua được họ yêu mến nhất, người bạn xoay chuyển bánh xe pháp của Lanka, người đã mang Phật pháp đến hòn đảo của họ. Biên niên sử đảo, Biên niên sử Triều đại Vĩ đại và chú giải Biên niên sử Triều đại Vĩ đại hoàn toàn không đề cập gì đến cái chết của Ashoka hay việc kế vị. Sự im lặng này thật đáng sợ. Ít nhất, nó cho thấy sự thất vọng và nỗi bất mãn sâu sắc đối với bất cứ điều gì đã xảy ra, điều này chắc chắn là một trở ngại lớn đối với sự nghiệp Phật giáo.
Điều đáng chú ý không kém là sự bất đồng giữa các Purana về người kế vị Ashoka. Chỉ có hai cái tên xuất hiện hai lần và theo cùng một thứ tự là Dasharatha và Samprati (Samgata) – và tất cả những gì chúng ta biết chắc chắn là Dasharatha là tác giả của ba bài văn cúng dường trong hang động Ajivika ở đồi Nagarjuni. Có lẽ điều quan trọng là, cuốn “Cuộc đời các đạo sư Kỳ Na giáo” gọi Samprati là cháu trai của Ashoka và mô tả ông là một người cải sang đạo Kỳ Na, và đã cai trị từ Pataliputra và Ujjain.
Cách hiểu hợp lý nhất về những sự kiện này là vào năm 235 TCN, thái tử theo đạo Phật Kunala, sau khi bày tỏ sự bất mãn với tân hoàng hậu và phe chống Phật giáo của bà, đã bị đày đi cai trị Taxila, để lại con trai sơ sinh Samprati làm con tin như thường lệ. Cũng trong năm đó, Ashoka bắt đầu tổ chức lễ hội ngũ niên lần thứ hai trước sự phản đối ngày càng tăng từ hoàng hậu với sự ủng hộ ngầm của các quan đại thần ngày càng lo ngại về việc Ashoka rút cạn ngân khố nhà nước để hỗ trợ Phật sự. Lo sợ cho tương lai của chính mình, Thái tử Kunala đã tự mình tìm cách giành quyền lực – một cuộc nổi dậy thất bại, dẫn đến việc ông bị chọc mù mắt và bị loại khỏi hàng kế vị để nhường chỗ cho con trai còn nhỏ tuổi của mình là Samprati, nhưng cũng dẫn đến sự tan rã của phe chống Phật giáo của hoàng hậu và bà bị hành quyết. Tất cả những sự kiện này đã làm hoen ố danh tiếng của Ashoka như một vị vua chính trực của Phật pháp và gây tổn hại đến danh tiếng của con trai ông là Kunala như một đại cư sĩ Phật giáo, vì vậy chúng phải bị loại bỏ khỏi sử sách Phật giáo. Điều này giải thích tại sao trong ba tập Purana, Kunala xuất hiện với tư cách là người kế vị của Ashoka, thời gian trị vì của ông không được nêu rõ.
Sau khi vị hoàng đế vĩ đại băng hà, một cuộc tranh giành quyền lực hỗn loạn nổ ra khi các con trai ông tranh giành ngai vàng từ người thừa kế được chỉ định, Samprati, lúc đó còn nhỏ tuổi. Người chiến thắng ban đầu có lẽ là Dasharatha, có thể trước đó đã được bổ nhiệm làm nhiếp chính trong thời gian Samprati còn nhỏ tuổi, nhưng việc ông ủng hộ giáo phái Ajivika đã khiến ông không được lòng cả Phật tử lẫn người dân thường và các Bà La Môn. Dasharatha trị vì tối đa tám năm, sau đó một cuộc tranh giành quyền lực thứ hai nổ ra, với việc các Phật tử tập hợp xung quanh người thừa kế được Ashoka lựa chọn, Samprati, một thiếu niên, nhưng cậu ta đã làm họ thất vọng khi quay sang phe Kỳ Na, dẫn đến việc cậu bị lật đổ khỏi Pataliputra, có thể bởi người anh em họ hoặc cháu trai của mình là Shalishuka, và buộc phải thiết lập kinh đô mới ở Ujjain.
Dù đây có phải là một phần của sự phản kháng từ tầng lớp Bà La Môn hay không, dường như chắc chắn rằng trong vòng một thập kỷ sau khi Ashoka qua đời, đế chế hùng mạnh của ngài đã bị chia cắt thành bốn hoặc năm vương quốc khu vực, mỗi vương quốc do các con trai hoặc cháu trai của ngài cai trị, trong đó có Jalauka ở Kashmir, người đã đảo ngược chính sách của vua cha để ủng hộ giáo phái Shaivism và lãnh đạo một chiến dịch thành công chống lại người Hy Lạp-Bactria, đang tìm cách lợi dụng khoảng trống quyền lực ở tây bắc Ấn Độ để giành lại Taxila.
Sự nhầm lẫn về tên gọi thời Mauryan tiếp diễn trong khoảng bốn mươi năm cho đến khi Shatadhanvan nổi lên và trở thành nhân vật mà tất cả các Purana đều đồng ý là vị vua áp chót của triều đại Mauryan, mặc dù vương quyền của ông có thể không mở rộng ra ngoài phạm vi Magadha. Các Purana cũng nhất trí rằng vị vua Maurya cuối cùng của Magadha là Brihadratha, người đã chết dưới tay tướng Shunga của mình là Pushyamitra vào khoảng năm 183 TCN, 50 năm sau cái chết của Ashoka.
Pushyamitra Shunga đặt mục tiêu khôi phục quyền lực trung ương của Bà La Môn giáo, nổi tiếng là một người chống Phật giáo bạo lực khi phá hủy một số địa điểm Phật giáo Ashoka nổi tiếng, bao gồm tu viện Con Gà Trống, Deorkothar, Bharhut và Sanchi. Tuy nhiên, ông hoặc người kế nhiệm trực tiếp của ông là Agnimitra (khoảng 150-142 TCN), từng là phó vương của Vidisha dưới thời cha mình, đã sớm đảo ngược chính sách đó để trở thành người bảo trợ Phật giáo, giống như một số vị vua Shunga sau này.
Nhưng ngay cả trước khi triều đại Shunga trỗi dậy, các vương quốc địa phương khác đã lợi dụng sự hỗn loạn sau cái chết của Ashoka để ly khai, trong đó thành công nhất là Vương triều Satavahana đến từ vùng đất phía nam và tây Kalinga. Từ khoảng năm 180 trước Công nguyên, vị vua thứ sáu của Satavahana, Satakarni (180 -124 trước Công nguyên), bắt đầu đẩy lùi người Shunga, người Kalinga và người Hy Lạp để thiết lập triều đại của mình như là thế lực tối cao trên toàn bộ miền trung và nam Ấn Độ. Ít nhất một số thành viên của vương triều Satavahana được cho thấy là theo đạo Phật hoặc bảo trợ Phật giáo.
Nhờ lòng khoan dung của một số vị vua thuộc triều đại Shunga và Satavahana mà chúng ta có được những tác phẩm điêu khắc huy hoàng ở Bharhut, Amaravati và Sanchi. Tại Bharhut, Ashoka không có sự hiện diện rõ ràng, điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì chính người sáng lập triều đại Shunga đã chấm dứt triều đại Mauryan bằng bạo lực, mặc dù bức phù điêu điêu nhà vua cưỡi voi ôm xá lợi Phật trên cột trụ phía trước bên cạnh Cổng phía Đông của bảo tháp Bharhut (xem hình minh họa ở đầu chương) rất có thể là một sự tôn kính ngầm đối với Ashoka.
Sanchi cũng từng bị một nhà vua thuộc triều đại Shunga phá hủy trước khi được sửa chữa và mở rộng dưới thời một người kế vị ông ta, nhưng đến đây triều đại Satavahana đã tiếp bước. Và chính nhờ sự chúc phúc của Raja Satakarni Satavahana mà bốn cổng thành tráng lệ đã được xây dựng. Không chắc những kiệt tác này được tạo ra trước năm 150 TCN, vào thời điểm đó, ký ức về Ashoka chỉ còn là gián tiếp, nhưng vẫn đủ tươi mới để người ta nhớ đến những điểm yếu của ngài và thấy ngài thực sự là ai: một vị vua thấp bé, mặt béo và yếu đuối, dễ ngất xỉu khi căng thẳng. Tuy nhiên, tại Amaravati, Hoàng đế Ashoka được lưu giữ không phải với hình ảnh thực sự của ngài mà là hình ảnh lý tưởng về vị vua chuyển pháp luân, người ban phước lành cho thế giới. Ở đây, vị vua hay ngất xỉu đã được biến đổi thành bậc Pháp Vương toàn năng.

Ashoka biến chuyển. Tại Sanchi (bên trái), hoàng đế được thể hiện như một con người dễ bị tổn thương và không hoàn hảo. Hai thế kỷ sau, tại Amaravati (bên phải), ngài đã trở thành một vị Chuyển luân Pháp Vương hoàn hảo, hiện thân của Phật pháp trên trần gian. (Andrew Whittome / Bảo tàng Anh)
Bất chấp những thảm họa trong những năm cuối đời, thành tựu lớn nhất của Ashoka là ngài đã làm cho lý tưởng cai trị bằng sức mạnh đạo đức trở nên được chấp nhận, một khái niệm vẫn còn phổ biến ở nhiều nơi tại châu Á. Một số người cho rằng thành tựu vĩ đại nhất của ngài là, bằng cách chấp nhận Phật giáo, tài trợ cho nó, giúp đỡ nó vượt qua thời kỳ khủng hoảng, truyền bá nó khắp tiểu lục địa và xa hơn nữa, thậm chí định hình lại nó ở một mức độ nào đó, Ashoka đã biến một giáo phái nhỏ thành một tôn giáo thế giới. Trong sáu đến bảy thế kỷ tiếp theo, Phật giáo nở rộ ở nhiều vùng của Ấn Độ, trở thành tín ngưỡng chủ đạo của phần lớn dân số. Ở bất cứ nơi nào các trung tâm tu viện được sự bảo trợ của các nhà cai trị địa phương và sự hỗ trợ của cộng đồng thương mại, Phật giáo đều phát triển mạnh mẽ. Nó đã sống sót qua các cuộc đàn áp của các vị vua Hung Nô và các nhà cai trị Bà La Môn như Simhavarma, Trilochana và Sassanka của Bengal – những người mà ách chuyên chế của họ đã bị lật đổ bởi Harsha Đại đế, có lẽ là vị vua cuối cùng của Ấn Độ khao khát noi gương vua Dharmashoka.
Nhưng giống như cây Bồ đề ở Bodhgaya, Phật giáo cần mảnh đất mới để phát triển, và nó đã tìm thấy ở Sri Lanka, Nepal, Gandhara và phía bắc dãy Himalaya. Chính tại đây, lý tưởng Ashoka về vị vua vận hành bánh xe pháp bằng sức mạnh đạo đức vẫn tồn tại. Tại chính Ấn Độ, Phật giáo đã khuất phục trước vòng tay định mệnh của các giáo thuyết Bà La Môn và trên thực tế đã trở thành một thế lực suy yếu vào thời Adi Shankaracharya (triết gia Bà-la-môn củng cố học thuyết Advaita Vedanta, một trường phái trong Vedanta. bắt đầu cuộc hành trình chinh phục (digvijaya) của mình vào đầu thế kỷ thứ tám. Có vẻ như hành động bạo lực chống lại Phật tử chưa bao giờ là một phần trong chương trình nghị sự của nhà cải cách vĩ đại này, thực sự là vì không cần thiết phải làm vậy. Bà La Môn giáo đã học hỏi được nhiều điều từ Phật giáo và bản thân nó đã phát triển thành Ấn Độ giáo mà chúng ta biết đến ngày nay. Các nghi lễ hiến tế máu và lửa do các thầy tế chủ trì đã nhường chỗ cho bhakti, hay lòng sùng kính cá nhân; các vị thần và nữ thần cổ xưa khó tiếp cận đã tiến hóa thành các vị thần nhân từ hơn, chẳng hạn như Krishna, được người Hindu ngày nay yêu mến; và thậm chí cả Đức Phật cũng đã được đưa vào hệ thần Ấn giáo như là hóa thân thứ chín (và có phần không thân thiện) của Thần Vishnu, một sự thừa nhận rằng Phật giáo chia sẻ với kinh Vedanta cổ đại niềm tin rằng mục tiêu tối hậu của con người là vượt lên bản ngã và đạt được sự hợp nhất với nguyên tắc khởi thủy, cho dù nó được gọi là Brahma hay Niết bàn. Tình trạng thất thế của Phật giáo là ở Ấn Độ, các thánh địa của nó đã bị sáp nhập, lịch sử của nó bị cắt xén và những ai bám vào Phật giáo bị tuyên bố là kẻ tiện dân dơ bẩn không nên đụng chạm vào. Bởi vì sau “chuyến hành trình chinh phục” của Shankaracharya, và đặc biệt ở Nam Ấn Độ, tầng lớp Bà La Môn vẫn giữ nguyên vị thế bất khả xâm phạm, cũng như lời nguyền của chế độ đẳng cấp vẫn tiếp tục cản trở sự tiến bộ của Ấn Độ cho đến tận ngày nay.
Tháng 8 năm 2010, một dự luật rất bất thường đã được trình lên Quốc hội Ấn Độ, cho phép thành lập Đại học Quốc tế Nalanda, được xây dựng bên cạnh tàn tích của thành phố cổ Nalanda ở Bihar. Một liên đoàn gồm các đại diện từ Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore và các quốc gia Nam Á và Đông Nam Á khác hiện đang nỗ lực huy động một tỷ đô la Mỹ để xây dựng và điều hành trường đại học này, vốn sẽ có ký túc xá giống như ngôi trường tiền thân và bao gồm năm trường trực thuộc: Trường Quan hệ Quốc tế và Hòa bình; Trường Ngôn ngữ và Văn học; Trường Nghiên cứu Môi trường và Sinh thái; Trường Quản lý và Phát triển Kinh doanh; và Trường Nghiên cứu Phật giáo. Đã nhận được cam kết của Chính phủ và sự hỗ trợ quốc tế và kế hoạch đang được triển khai và việc xây dựng sẽ được tiến hành vào năm 2011 và các lớp học sẽ khai giảng vào năm sau.
Những lý tưởng siêu việt của Ashoka, vốn thường xuyên bị chà đạp trong lịch sử đẫm máu, vẫn tiếp tục trường tồn.
Dịch xong ngày 6 tháng 4 năm 2026