Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Gia Long (Bài 1)

Hồ Bạch Thảo

Ngày mồng một tháng giêng năm Gia Long thứ nhất [3/2/1802], Vương ở hành tại Động Hải [Đồng Hới]; dinh Quảng Nam chạy trạm dâng quả lòn bon [nam trân], bèn đưa chia cho tướng sĩ.

Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản sai em là Nguyễn Quang Thuỳ và Tổng quản Siêu xâm phạm luỹ Trấn Ninh [trường lũy Đồng Hới], Tư lệ Đinh Công Tuyết, đô đốc Nguyễn Văn Đằng liên  kết với hơn trăm thuyền  giặc biển Tề Ngôi bày thủy trận ở ngoài cửa biển Nhật Lệ [Đồng Hới, Quảng Bình].

Vương sai Nguyễn Văn Trương điều bát thủy binh ra biển ngăn ngừa, Phạm Văn Nhân và Đặng Trần Thường đem bộ binh chia đường chống đánh.

Tây Sơn điều quân đến lũy Trấn Ninh; lính túc trực tại ụ bắn giết được hơn một nghìn. Lại đem nhiều quân đến sát núi Đâu Mâu [huyện Quảng Ninh, Quảng Bình], bám vào như kiến mà bò lên; quân Nguyễn từ trên núi thả đá xuống, bị đè chết rất nhiều. Vợ Trần Quang Diệu là Bùi Thị Xuân cưỡi voi thúc quân liều chết đánh từ sáng đến trưa chưa chịu lui. Vừa gặp thủy binh của Nguyễn Văn Trương, theo chiều gió đông bắc đánh phá ngoài biển cướp được 20 chiếc thuyền, bộ binh Tây Sơn nghe tin thủy binh thua, sợ mà tan vỡ. Quang Toản thua chạy về Đông Cao [ huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình ]. Nguyễn Văn Kiên đem quân đầu hàng.

Vương nghe tin có 50 chiếc thuyền lương địch ở sông Gianh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình], lập tức sai Tống Phước Lương và Nguyễn Văn Vân đem binh thuyền đến đánh. Bấy giờ Quảng Toản chạy qua sông Gianh, quân đi theo chưa tới 2 phần 10. Quân Nguyễn chợt đến, lấy được hết thuyền lương, hơn 700 người bị bắt. Hoàng Văn Điểm đem bộ binh đuổi đến Tiên Cốc [huyện Quảng Trạch, Quảng Bình]; quân địch đầu hàng 3.000 người; thu được 700 cỗ súng lớn, 500 con ngựa. Thượng thư Tây Sơn Nguyễn Thế Trực, Đô đốc Trần Văn Mô, Tham đốc Bùi Văn Ngoạn và Thiếu tể Nguyên đều bị bắt.

Trận này Tây Sơn bị thua vùi giập, lòng dân Bắc Hà xôn xao; quân Nguyễn ở thế chẻ tre. Xa giá Vương đến đồn Thanh Hà [huyện Bố Trạch, Quảng Bình]; nhân dân tranh đem trâu rượu mừng rước. Bèn dụ cho các xã dân từ Quảng Bình vào Nam rằng phàm tàn quân của giặc Tây Sơn chạy về làng xóm thì cho chúng được yên nghiệp làm ăn, không được doạ nạt quấy nhiễu.

Vương bàn rút quân về, các tướng xin thừa thắng đánh miền Bắc; đáp rằng:

Bỏ nơi gần mưu nơi xa, không phải là thượng sách. Hiện nay trong bọn giặc chỉ Trần Quang Diệu là ghê nhất. Diệu chưa trừ xong, không nên khinh tiến. Hãy đợi hạ thành Bình Định, không phải lo lắng về phương Nam nữa, rồi tiến đánh Bắc Hà cũng chưa muộn.”

Ngày Tân Tỵ mồng 9 [11/2/1802], xa giá khải hoàn. Sai Tống Phước Lương, và Đặng Trần Thường giữ sông Gianh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình], Nguyễn Văn Trương giữ Động Hải, Hoàng Văn Điểm giữ cửa Ròn [huyện Quảng Trạch, Quảng Bình]; ngày Ất Dậu [15/2/1802] tới kinh đô,

Nước Vạn Tượng sai sứ dâng phẩm vật địa phương; Vương ban thưởng hậu.

Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Đức Xuyên đánh luỹ Tây Sơn ở Kỳ Sơn [huyện Tuy Phước, Bình Định], chiếm được. Trần Quang Diệu đem quân và voi theo đường sau núi xông ra vây bốn mặt; Phó tướng Nguyễn Huệ chết trận. Đức Xuyên thu quân, vừa đánh vừa lui đến đồn Sạ Dã, rồi dâng sớ xin chịu tội. Vương dụ rằng:

Nay thế lớn của thiên hạ, mười phần đã được đến tám chín phần. Chỉ còn một góc Bình Định này, thế như nốt ruồi, còn trốn vào đâu được ? Ngươi nên cố gắng cùng các tướng sĩ đồng lòng góp sức để diệt lũ hung cuồng, chớ vì một sự lầm lỡ mà nản chí.”

Vương thấy cơ hội đã đến, bèn sai Lê Văn Duyệt tiến đánh thành Bình Định. Văn Duyệt tiến đánh Lộ Bôi , bắt được Đô đốc Tây Sơn là Chu Hữu Mỹ và đồ đảng hơn 30 người, giải về kinh.

Định rõ lệnh cấm rượu ở Gia Định. Người có quan chức nấu rượu thì phạt tiền 200 quan, uống rượu thì phạt tiền 100 quan, đều xử biếm hay bãi chức; quân và dân nấu rượu thì phạt tiền 50 quan, đánh 50 roi, đi đày một năm, uống rượu thì phạt tiền 30 quan, đánh 50 roi. Lý dịch sở tại không ngăn cấm được thì bắt nộp tiền 30 quan để thưởng cho người tố cáo. Lại định rõ lệnh cấm cờ bạc ở Gia Định. Ai chơi chọi gà, chọi cá cũng phải tội.

Sai các dinh ở Gia Định chia cấp ruộng hoang cho dân nghèo, cho vay thóc giống, đợi thu hoạch xong sẽ y số trả lại nhà nước. Người nào ăn chơi lêu lổng, không chịu làm ruộng thì phạt 3 hộc thóc và sung làm lính.

Miễn thuế cửa biển năm nay cho thuyền buôn ngoại quốc; cấm quan quân không được mua rẻ hóa vật.

Sai giám quân Thần sách Phạm Văn Nhân lãnh các vệ Hậu quân, quản dinh Hậu thủy Lê Văn Quế lãnh thủy binh, đến Bình Định để họp đánh giặc.

Ngày Nhâm Dần mồng 1 tháng 2 [4/3/1802], Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản sai bọn Nguyễn Đăng Sở sang nhà Thanh xin cứu viện. Tri phủ Thái Bình [Quảng Tây] tâu lên, Vua Gia Khánh ban chỉ dụ rằng:

Hai nước đánh nhau khẩn cấp, bọn cống sứ ấy bất tất phải diệu vợi tiến kinh, hãy cho về [ải] Nam Quan để tỏ lòng thể tất.”

Đăng Sở trở về, cảm khái làm thơ có câu như sau:

Bình ngạnh thử thân tằng lý lịch,

Tang thương để cục kỷ thôi di.

Dịch nghĩa:

Bèo bọt thân này qua trải mấy,

Bể dâu cuộc ấy đổi thay hoài.

Nguyễn Văn Thành đánh thắng quân Tây Sơn ở Kỳ Sơn [huyện Tuy Phước, Bình Định], đuổi đến Lang Viên [Vườn cau]; sai quân đóng đồn để chặn sau lưng. Thế địch cùng quẫn, Đô đốc Thị cùng với bộ hạ hơn 100 người đến cửa quân đầu hàng.

Đô thống chế Trung đồn quân Ngự lâm là Phan Tiến Hoàng tự trong lòng địch đem quân lẻn về, đặt dưới quyền Lê Văn Duyệt.

Lê Văn Duyệt và Lê Chất đánh nhau với tướng Tây Sơn Từ Văn Chiêu ở Thạch Tân [Bến Đá, chỗ tiếp giáp huyện Hoài Nhơn và Quảng Ngãi] cả phá được. Quân thủy quân bộ cùng tiến, phá nhiều đồn, bắt được đồ quân dụng, và  khí giới rất nhiều, chỉ một mình Chiêu chạy thoát. Bọn Duyệt bèn đem bộ binh tiến đóng ở Tùng Châu, sai Phan Văn Triệu và Phan Tiến Hoàng đem thủy binh tiến đến Đạm Thủy [huyện Phù Mỹ, Bình Định] và Tam Quan [huyện Hoài Nhơn, Bình Định]. Tin thắng trận báo lên, ban thưởng một vạn quan tiền.

Vương chia quân hai đạo đánh thành Bình Định, sợ chém giết bừa bãi, bèn dụ rằng:

Quân vương giả đánh giặc chỉ cầu yên dân. Trong khi lâm trận phàm bắt được quân giặc đừng nên giết bừa. Vả đất Bình Định từ khi có việc binh giáp tới nay đã bị tàn tệ rất nhiều. Nên răn cấm quân nhân không được cướp bóc, để cho nhân dân đều được yên ổn làm ăn”.

Nước Xiêm La sai tướng là Ốc Nha Trà Tri đem 5.000 quân theo đường thượng đạo hợp với quân Vạn Tượng đánh phá quân Tây Sơn ở Sa Nam,Nghệ An, rồi sai Sứ đến đưa tin thắng trận; Vương  phúc thư khen ngợi.

Phó đô thống chế Phan Văn Kỳ, thống chế Lê Văn Niệm, Khâm sai cai đội Võ Viết Bảo trở về. Trước kia trong trận Càn Dương [huyện Phù Cát, Bình Định]; Kỳ đánh thua bị  bắt. Niệm và Bảo thì ở trong thành Bình Định, khi thành bị hãm, đều bị địch bắt. Về sau đem nhau trốn ra, đến nay được triệu về. Vương hỏi về tình hình hư thực của giặc, cho mỗi người 50 quan tiền và quần áo nhiễu, rồi cho Viết Bảo làm Chánh quản đội Tiểu sai.

Ngày Quý Hợi 22 [25/3/1802], Vương bái yết lăng tổ tiên, tha việc binh dịch cho các xã giữ lăng.

Nguyễn Gia Cát dâng bộ Đại Việt Sử Ký; Vương xem lâu, nhân cùng bầy tôi bàn những truyện cũ của các triều đại, đến mặt trời xế bóng mới thôi.

Sai Lưu trấn thần Gia Định dùng phép tam trường khảo thí học trò, chia cấp bậc khác nhau. Kỳ đệ nhất thi chế nghĩa về kinh truyện, lấy đỗ 92 người; kỳ đệ nhị thi chiếu, chế, biểu, lấy đỗ 46 người; kỳ đệ tam thi thơ, phú, lấy đỗ 41 người.

Tha thuế thiếu cho các sách dân tộc thiểu số ở đạo Đồng Môn dinh Trấn Biên [Biên Hòa]. Dân thiểu số thuộc mười một sách hàng năm phải nộp nhựa trám và sáp ong; năm nay đói, có người trốn thiếu, Lưu thủ Võ Tiến Đẩu tâu lên, bèn tha cho.

Ngày Bính Dần 25 [28/3/1802], hào trưởng làng Tây Đam [huyện Hoài Đức, Hà Tây] là Trương Chi dấy quân hẹn đánh thành Thăng Long, dán tờ yết thị tại cửa Nam, dụ bảo cư dân trở về nguyên quán. Cho 50 tráng sĩ bí mật làm lái buôn, ngủ tại chợ; đến nữa đêm phóng hỏa đốt nhà từ cửa Nam đến nhà Giám hơn 1.000 nóc, vào phá dinh Tư mã Dụng. Đề lãnh Thái đem quân lùng bắt, đóng các cửa ô, bắt được Trương Chí, đem chém.

Tháng 3 [2/4-1/5/1802],Vương lên Gác Rồng để xem hình thế núi sông kinh thành, rồi đến cửa Eo [cửa Thuận An, Thừa Thiên] duyệt chiến thuyền; diễn thủy quân ở các cửa biển Tư Dung [cửa Tư Hiền, Thừa Thiên] và Đại Chiêm [Quảng Nam].

Ngày Đinh Sửu mồng 7 tháng 3 [8/4/1802], Tiến sĩ đời Lê là Nguyễn Trọng Tông đánh nhau với Tây Sơn tại Phao Sơn [huyện Chí Linh, Hải Dương] bị thua. Tông khởi binh từ năm Canh Thân [1800], đóng quân tại bãi trám xã Sùng Nghiêm, lập 3 sở nhà chòi ở Lạc Sơn [huyện Chí Linh, Hải Dương]. Ngày mổng 9 [10/4/1802] quân trấn Hải Dương cùng Kinh Bắc tiến quân, giao chiến trên sông từ Triều Dương [huyện Thanh Miện, Hải Dương]  đến Phả Lại [huyện Quế Võ, Bắc Ninh]; 2 viên Vũ phân [chức quan võ cấp huyện của Tây Sơn] đều trúng đạn chết. Ngày 14 [15/4/1802] quân trấn Hải Dương mai phục tại thượng lưu sông Nam Giản, cho quân từ hạ lưu khiêu chiến; quân Tông không có kỹ luật, bị đánh dập, quân trấn Kinh Bắc cùng đánh đuổi, nên bại vong; quân 2 trấn đốt 3 tổng, lấy sản vật gia súc đem về.

Nguyễn Văn Vân bắt được ba người con của Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc là Thanh, Hán và Dũng đem nộp, sai giết cả.

Chở 15.000 phương gạo từ Kinh đô đến Tam Quan [huyện Hoài Nhơn, Bình Định], 40.000 phương gạo ở Gia Định đến Thị Nại [thành phố Qui Nhơn, Bình Định]. Lại sắc cho Lưu trấn thần Gia Định sai người đi mua 500 xe thóc ở Xiêm La và thu ở Chân Lạp 1.000 xe để cấp cho quân.

Bộ binh của Lê Văn Duyệt và Lê Chất tiến đến núi Bích Kê; thủy binh của Phan Văn Triệu và Phan Tiến Hoàng từ Đạm Thủy [huyện Phù Mỹ, Bình Định] tiến theo đường bộ; quân địch nghe hơi bỏ chạy, không ai dám chống.

Quân nhà Nguyễn lấy lại thành Bình Định. Trước kia bọn tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đem vài vạn quân cầm cự đến 8,9 tháng, nay lương thực hết, sức mòn; quân Nguyễn chia ba đạo tiến đánh, thế càng ngày càng cùng quẫn. Diệu, Dũng mưu tính theo đường thượng đạo rút ra Nghệ An, bèn sai bộ hạ là bọn Từ Văn Chiêu, Nguyễn Văn Mân, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Văn Điểm, Lê Văn Hưng làm tiên phong đêm quân mạnh 3.000 người, voi đực 86 thớt, ban đêm bỏ thành trốn đi. Nguyễn Văn Thành dò biết tình trạng, truyền hịch cho quân các đạo đuổi theo, nhưng không kịp, bèn tâu lên. Vương mừng lắm; hạ lệnh cho các xứ Quảng Nam và Cam Lộ [huyện Cam Lộ, Quảng Trị]  phái quân đóng giữ các đầu nguồn để chặn đường, lại gửi thư cho Xiêm La, Vạn Tượng biết.

Lê Văn Duyệt bắt được Đại đô đốc Tây là Trần Đại Cựu giải về kinh.; Vương tha và gọi đến hỏi rằng:

Dư đảng của giặc Diệu hãy còn nhiều, cớ sao không đánh mà chạy ?”.

 Thưa rằng:

Quân của Diệu ngoài tuy mạnh, nhưng trong thì yếu, nên phải nhổ trại trốn đi, để cầu trộm sống, không có mưu chước gì khác”.

 Vương cho là phải, bèn ban cho áo mặc. Quân Nguyễn bắt được tướng địch rất nhiều, đều tha tội cả, sai Lê Đình Chính trông nom, nhưng những kẻ bị bắt vẫn lo sợ về tương lai; Vương biết ý, dụ Nguyễn Văn Khiêm rằng:

 “Bọn Trần Đại Cựu trước làm tướng giặc, nay làm bầy tôi của ta. Ta suy lòng thành mà đãi, thương yêu không phân cách gì. Ngươi nên yên ủi vỗ về, cho họ yên lòng”.

 Rồi lựa kẻ đầu hàng bổ vào quân Túc trực, ngày đêm quây quần, những người ngờ sợ bèn yên.

Ngày Canh Dần 20 [21/4/1802], đúc năm quả ấn:

– “Thảo tội an dân chi bảo” (dùng để sai tướng ra quân).

– “Sắc chinh vạn dân chi bảo” (dùng để sức răn thần dân).

– “Mạnh đức chi bảo” (dùng về việc thăng thụ các hoàng thân đại thần từ tước công trở lên).

– “Chế cáo chi bảo” (dùng về việc thăng thụ từ tước hầu trở xuống).

– “Quốc gia tín bảo” (dùng làm việc thường).

Hạ lệnh cho các đạo quân thủy bộ ở Bình Định rút về; để  Nguyễn Văn Thành đóng giữ đất ấy, với nhiệm vụ chiêu tập vỗ về cư dân, truy bắt dư đảng.

Lấy Khâm sai thống binh cai cơ đạo Hưng Phước là Lê Văn Lân làm Lưu thủ Bình Định, cải bổ Cai bạ Quảng Nam là Nguyễn Văn Khiêm làm Cai bạ Bình Định, Cai bạ Quảng Trị là Ngô Triều Cao làm Ký lục Bình Định. Vương dụ rằng:

Đất này trải binh cách đã lâu, sức dân hao mòn, bọn ngươi nên tuyên dương đức ý, ra sức vỗ về, khiến cho kẻ ốm lâu ấy được hồi lại nghỉ ngơi, mới khỏi phụ sự ủy thác”.

Sai Hoàng Viết Toản, Trịnh Ngọc Trí, Tôn Thất Liêm đi Gia Định, rước quốc mẫu [mẹ Vương] về Kinh. Nhân dịp giảm sưu thuế cho dân Gia Định; Vương dụ rằng:

Từ khi vận nước nửa chừng suy đốn, Tây Sơn nổi loạn, ta rước quốc mẫu về Gia Định, tôi dân miền ấy không ai là không cùng lòng tôn kính. May được ngày nay khôi phục đất cũ, ta rước từ giá (1) về Kinh, nên đặc biệt thi ân điển này cho thoả lòng dân mong đợi. Vậy hạ lệnh phàm thuế sai dư và các hạng sưu… đều giảm một phần ba”.

Tháng 4 [2/5-30/5/1802], sửa đắp hoàng thành, định các điều cấm trong ngoài kinh thành.

Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Nguyễn Huỳnh Đức, Phạm Văn Nhân từ Bình Định về yết kiến; Vương yên ủi rồi ban cho áo mũ.

Vương sắp cử đại quân Bắc phạt, sai Nguyễn Văn Trương và Tống Phước Lương sửa soạn thuyền ghe, Lại bộ Trần Văn Trạc và Hộ bộ Nguyễn Kỳ Kế kiểm kê số lương thực khí giới. Lại sai Nguyễn Huỳnh Đức thao duyệt thuyền đi biển, Lê Văn Duyệt lựa chọn voi chiến.

Vương cùng bầy tôi bàn về danh nghĩa dụng binh Bắc phạt, bảo rằng:

Bắc Hà là nước cũ của nhà Lê, từ khi liệt thánh ta xây dựng cơ nghiệp ở miền Nam, hơn 200 năm vẫn theo chính sóc (2) nhà Lê. Gần đây Tây Sơn trộm quyền, ta phải lo dụng binh chỉ là để phục thù, mà thôi. Nay bờ cõi cũ đã được khôi phục, mà đầu sỏ giặc lại trốn ra Bắc, nếu ta cử binh Bắc phạt thì sau khi bắt được tội nhân rồi đối với nhà Lê sẽ thế nào ?”.

 Bọn Đặng Đức Siêu và Trần Văn Trạc đều tâu rằng:

Từ khi vua Lê chạy sang nước Thanh, đi không thấy trở lại, đất Bắc Hà đã lọt vào tay giặc Tây Sơn rồi. Huống chi từ khi quân nhà vua lấy lại đô cũ tới nay, những tôi dân nhà Lê không một người nào ứng nghĩa để đánh giặc, nhà Lê không dấy lại được đã có thể biết rõ rồi. Nay ta diệt được giặc Tây Sơn, chiếm được đất đai, đó là ta lấy ở giặc Tây Sơn chứ không phải lấy ở nhà Lê. Công việc xong rồi, thì sẽ xử trí. Duy việc cất quân thì quý ở có danh nghĩa, mà đội quân ứng mệnh trời thuận lòng người thì trước phải đổi chính sóc. Nay ta đánh miền Bắc mà còn vẫn dùng niên hiệu nhà Lê, thực e người Bắc bảo ta mượn tiếng phù Lê, chi bằng cứ chính đế vị, đổi niên hiệu, tỏ bày đại nghĩa với thiên hạ, như thế thì được nước là chính đáng, không ai dị nghị được”.

Vương nói:

Đó là việc lớn, bọn khanh nên nghĩ kỹ xem”.

Rồi bầy tôi dâng biểu xin Nguyễn Vương lên ngôi Vua và đổi niên hiệu, đại lược như sau:

Trời sinh dân chúng, cần có người coi giữ chăn nuôi, cho nên nghĩa kinh Xuân Thu (3) lấy nhất thống làm lớn. Nhà nước ta gây nền vương nghiệp, thần truyền thánh nối hơn 200 năm. Giữa chừng vận nhà Lê suy, quyền họ Trịnh nắm, gây nên binh biến mà lấn bờ cõi của ta, rồi tiếp đến giặc Tây Sơn nổi loạn, thôn tính đất đai, thiên hạ không yên. Vương thượng ta chí mưu khôi phục, khó nhọc hơn hai mươi năm, dẹp yên tiếm nghịch, quân đi tới đâu người đều hướng theo, dẫu các vua hiền trung hưng ngày xưa cũng chẳng hơn thế. Nếu cứ dùng theo hiệu cũ Cảnh Hưng nhà Lê thì trong ngoài bỡ ngỡ không biết hướng về đâu. Bằng nay không sớm chính vị hiệu thì sợ không lấy gì giữ vững lòng người. Cúi xin vương thượng nghĩ việc rạng rỡ công liệt của tổ tiên và hết đạo hiếu của con cháu, trên vâng ý trời, dưới theo lòng dân, sớm lên ngôi tôn, xuống chiếu đổi niên hiệu cho hợp lòng tôn kính của thần dân, để bền nghiệp vô cùng cho miếu xã”.

Vua dụ rằng:

Thành Gia Định vừa lấy lại, đã lên ngôi vương là vì lòng người tôn kính lâu rồi. Nay kinh đô cũ dẫu mới khôi phục, mà giặc nước chửa trừ xong, việc lên ngôi tôn chưa thể bàn được. Duy vương giả đổi họ chịu mệnh, nghĩa cần đổi mới, năm phải có hiệu, cho nên đổi niên hiệu là phải. Bọn khanh nên bàn mà làm”.

Nguyễn Văn Thành dâng sớ nói:

Thần nghe các thánh vương đời xưa giết trừ  kẻ bạo loạn, bạo loạn đã trừ thì có thể làm chính trị kế tiếp lâu dài được. Nay nước nhà dựng lại, mọi việc bắt đầu, những chế độ về quan lại, lễ nghi và hình luật đều là việc đầu tiên của chính trị. Xin sắc cho bầy tôi tìm tòi điển cũ, châm chước bàn bạc để thi hành….”

Vương khen lời ấy là phải.

Ngày Canh Ngọ mồng 1 tháng 5 [31/5/1802] , lập đàn ở đồng An Ninh [huyện Hương Trà, Thừa Thiên] hợp tế trời đất, cáo về việc đặt niên hiệu Gia Long; rồi ban chiếu rằng :

Ta nghe kinh Xuân thu trọng nghĩa nhất thống là để chính danh nghĩa khi mở đầu. Từ Tiên Thái vương ta dựng nền ở miền Nam, thần truyền thánh nối đã 200 năm. Gần đây Tây Sơn nổi loạn, vận nhà Lê đã hết, hơn vài mươi năm trong nước không có chính thống. Ta phải xiêu dạt một nơi, rất lo nghĩ về miếu xã và sinh dân. Nằm gai nếm mật, mong sao cho được yên vui. Năm Canh Tý [5/2/1780-23/1/1781] ta mới ở thành Gia Định, được các tướng sĩ suy tôn, đã lên ngôi Vương để giữ lòng người. Duy đô cũ chưa phục, nên còn theo niên hiệu cũ. Nay ơn trời giúp đỡ, các thánh để phước, bờ cõi cũ đã lấy lại, cơ nghiệp xưa đã trở về, các quan văn võ tại triều dâng sớ chương khuyên ta lên ngôi Hoàng đế và đổi niên hiệu. Nhưng ta nghĩ rằng giống giặc chưa trừ xong, đất nước chưa thống nhất, không nên vội lên ngôi tôn. Duy cứ theo niên hiệu đã qua mà thi hành những lệnh đổi mới thì không phải là nêu rõ được khuôn phép. Vậy nên chuẩn lời xin đặt niên hiệu mới, định lấy ngày mồng 1 tháng 5 năm nay [31/5/1802] kính cáo trời đất, ngày hôm sau kính cáo liệt thánh, chép niên hiệu là Gia Long, để thống nhất kỷ cương, làm mới tai mắt. Vậy xuống 6 điều ân điển :

  1. Những số tiền thóc thuế nhà nước còn lưu khiếm ở dân từ tháng 12 năm Tân Dậu [4/1-2/2/1802] trở về trước đều tha cả.
  2. Lệnh xá đến ngày nào thì số tiền thóc nhà nước các nha còn thiếu đều tha cả.
  3. Những tù hiện đương bị giam, không kể đã xử án hay chưa xử án, đều được tha hết, duy kẻ giết người và kẻ đầu đảng kẻ cướp thì không tha.
  4. Phàm số tiền thuế sai dư của các dân chính hộ, khách hộ, biệt nạp và các sắc thuộc quân từ năm Quý Hợi [23/1/1803-10/2/1804] trở về sau, thì cho giảm 2 phần 10.

5 – 6. Các hạng thóc đồn điền, lĩnh láng, lĩnh thâm, dầu rái, than gỗ, sáp ong, vải trắng, dầu lạc, nhựa trám, buồm lá và hết thảy các thứ thuế vặt, từ năm Quý Hợi [23/1/1803-10/2/1804] trở về sau, đều được giảm 2 phần 10.

Ôi ! Hiệu lớn ban ra, đã cùng thiên hạ mà đổi mới ; đổi mà giữ tín, để giữ cơ đồ khó chuyển lay”.

Từ nay những cáo dụ mệnh lệnh đều dùng chữ chiếu,  trong ngoài dâng chương sớ đều dùng chữ tấu;  các chương sớ đều phải tuyên đọc ở trước mặt Vua, đợi được chuẩn y mới thi hành.

Ban ấn cho Quốc thúc quận công Tôn Thất Thăng (ấn khắc chữ triện “Quốc thúc chi ấn”).

Phong Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Nhân, Phạm Văn Nhân tước Quận công. Cho Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách Lê Văn Duyệt làm Khâm sai chưởng Tả quân bình Tây tướng quân; cho Lê Chất làm Khâm sai chưởng Hậu quân bình Tây tướng quân.

Năm ngoái Vua Gia Long sai Triệu Đại Nhiệm sang nhà Thanh dâng thư cảm ơn nước này cứu giúp thuyền bị bão; nay trở về, Vua vời đến hỏi tình hình. 

Hai năm về trước nước Chân Lạp sai Cao La Hâm Sâm mang 5.000 quân giúp đánh Tây Sơn; Sâm ngầm gửi thư liên lạc với tướng Trần Quang Diệu, Vua biết nhưng vẫn để yên; đến đây cho 30 lạng vàng, 300 lạng bạc, 3.000 quan tiền yên ủi, bảo về.

Nguồn Quang Hóa [Tây Ninh] sản nhiều gỗ, mỗi khi đóng thuyền, thường sai dân đội Mộc đĩnh đi tìm đem nộp, lên xuống khe suối, sức người rất khó nhọc; Vua hạ lệnh lấy trâu làm thay, phát ra 3.000 quan tiền mua 300 con trâu để kéo, dân khen là tiện.

Vua cùng bầy tôi bàn việc thông sứ với nhà Thanh, bèn dụ rằng :

Nước ta tuy cũ nhưng mệnh đã đổi mới. Nghĩa lớn phục thù, người Thanh còn chưa hiểu rõ. Gần đây thủy binh ta bị bão, người Thanh hậu đãi cho về, ta chưa có gì đáp lại. Nay bắt được ấn sách của giặc Tây Sơn là do nhà Thanh phong cho, bắt được giặc biển, cũng là giặc trốn của nhà Thanh, ta có thể sai người đưa sang trả trước và đem việc Bắc phạt báo cho họ, đợi khi bình định được Bắc Hà sẽ nối lại việc bang giao cũ thì khéo hơn. Các khanh nên chọn người có thể sai đi được”.

Quần thần đều cử Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh và Hoàng Ngọc Uẩn. Bèn cử Trịnh Hoài Đức làm Thượng thư bộ Hộ sung Chánh sứ, Ngô Nhân Tĩnh làm Hữu tham tri bộ Binh, Hoàng Ngọc Uẩn làm Hữu tham tri bộ Hình sung chức Phó sứ; đem quốc thư và phẩm vật sang nhà Thanh, lại đem cả ấn sách đã bắt được do nhà Thanh phong cho Tây Sơn, cùng bọn giặc biển là Mạc Quang Phù, Lương Văn Canh, Phàn Văn Tài. Dùng hai thuyền Bạch yến và Huyền hạc, vượt biển đến cửa Hổ Môn tỉnh Quảng Đông để nộp, Tổng đốc Lưỡng Quảng Cát Khánh đem việc ấy chuyển đạt. Vua Thanh vốn ghét Tây Sơn vô đạo, lại chiêu nạp bọn Mạc Quang Phù cho cướp bóc ở ngoài biên, đã lâu ngăn trở đường biển, đến nay được tin báo, rất vui lòng. Hạ lệnh cho Quảng Đông nhận lấy bọn Quang Phù, Văn Canh, Văn Tài đem giết; lưu bọn Hoài Đức ở lại tỉnh thành, cung cấp rất hậu.

Phái đoàn Trịnh Hoài Đức đến Trung Quốc vào tháng 8, tức 3 tháng sau đó. Sự việc do Thanh Thực Lục thuật lại tương tự như sử Việt; riêng Vua Gia Khánh hài tội Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, và cho biết nếu y chạy đến quan ải hoặc bị phía nhà Nguyễn giải giao, sẽ bắt đem giam:

Ngày 6 tháng 8 năm Gia Khánh thứ 7 [2/9/1802]. Lại dụ các Quân Cơ Đại thần;Cát Khánh tấu rằng:

 ‘Nông Nại sai Sứ dâng biểu tiến cống, trói giải giao 3 phạm nhân là bọn Mạc Quan Phù; bèn đưa ra chính pháp [xử tử] tại Lưỡng Quảng.v.v..

Đã xem kỹ tờ tấu; đầu đuôi liên quan đến việc trước đây bọn Nguyễn Quang Bình hết sức khẩn khoản cung kính tại quan ải, cầu xin nội phụ. Hoàng khảo ta xét rõ lòng thành, bèn phong tước. Nguyễn Quang Bình cảm khích ân vinh, đích thân đến kinh khuyết chiêm cận. Hoàng khảo ta tăng thêm ân, nhiều lần ban thưởng. Nguyên do Nguyễn Quang Bình biết khắc kỷ kính sợ, mới được đón nhận sự đãi ngộ. Đến lúc Nguyễn Quang Toản kế thừa đất Nam Giao, lại được ban sắc mệnh, để nối đời giữ chức. Rồi mấy năm gần đây phát hiện trong số các thuyền cướp phá tại vùng biển Phúc Kiến, Lưỡng Quảng, thỉnh thoảng có bọn hải tặc tóc dài; nghe rằng nước này [nhà Tây Sơn] tung ra biển cướp. Trẫm chưa vội tin, nghĩ rằng bọn tóc dài có thể là những người nghèo tại An Nam gia nhập vào đảng cướp; nên đã giáng chỉ ra lệnh cho nước này truy nã, nhưng chưa bắt và dâng hiến  được một tên nào!

Nay Nguyễn Phúc Ánh cho trói giải giao bọn Mạc Quan Phù 3 tên, lấy cung từ đều xưng bọn chúng là trộm cướp nội địa [Trung Quốc], bị nước này chiêu dụ, phong cho các ngụy chức như Đông Hải vương, Tổng binh v.v..và ra lệnh đến biển nội địa cướp phá khách thương. Nguyễn Quang Toản không những không chịu tuân chỉ truy nã bọn cướp, mà lại còn dung nạp chúng, ban chức tước, cướp phá vùng biển, bội nghĩa vong ân đến như vậy là cùng! Còn như sắc thư ấn tín do Thiên triều ban cho, danh khí tối quan trọng, phải hết sức kính cẩn giữ gìn, mất còn cùng với nước. Cớ sao Nguyễn Quang Toản không biết thận trọng, khi Nguyễn Phúc Ánh tấn công thành Phú Xuân năm ngoái, bèn bỏ sắc ấn chạy trốn, tội không thể tránh được.

Riêng việc Sứ thần của Nguyễn Phúc Ánh đến, Cát Khánh nên dụ như sau:

 ‘Những tình tiết mà Quốc trưởng ngươi cung kính trình bày trong biểu văn đã được trình tấu, mong đại Hoàng đế ngó xuống thấy được lòng thành cung thuận của nước ngươi, để ban thưởng nhiều. Trước đây Nguyễn Quang Bình xưng thần thờ Thiên triều, được Tiên Hoàng đế ban sắc mệnh, đặc cách gia ân. Rồi con y, Nguyễn Quang Toản, dám dung dưỡng bọn tội phạm nội địa, thông đồng cướp phá, táng tận bội ân, thực lẽ trời không dung, nên cơ nghiệp mất nhanh không kịp quay gót. Nay bỏ nước chạy trốn, ngay cả sắc ấn Thiên triều ban cho cũng không giữ được; vậy Nguyễn Quang Toản không những riêng phụ lòng nhân từ rộng lượng của Tiên Đại Hoàng đế, mà cũng là đứa con bất hiếu của Nguyễn Quang Bình, tội lỗi y thật lớn lao.

Quốc trưởng ngươi cho mang sắc ấn giao nạp, trói hiến bọn đạo tặc, biết sâu đạo nghĩa thờ nước lớn; lại tiến dâng biểu chương, thấy đủ lòng chí thành. Nhưng Thiên triều mỗi lần thấy thuyền bè các nước bị nạn, đều được đối xử chung một lòng nhân, tư cấp tống hồi, không vì lý do đó mà phải nạp cống. Vả lại Quốc trưởng ngươi việc nước cũng chưa ổn định (4), không hoàn bị để được phong làm Phiên thần, xét theo thể chế còn chưa đáng theo lệ nhận chức cống. Nay cho các ngươi trở về, cáo tri lại cho Quốc trưởng ngươi hay biết.

Dụ một cách rõ ràng như vậy mới đúng cách. Sắc ấn giao nạp, cho Cát Khánh tạm thu nhận.

Tái bút: Trước đây theo lời tâu của Thanh An Thái, Nguyễn Quang Toản bị Nguyễn Chủng (5) bắt; Nguyễn Chủng có phải là Nguyễn Phúc Ánh hay không, cũng không thể căn cứ vào lời nói suông được. Trong tấu triệp ngày hôm nay Cát Khánh tâu rằng Sứ thần Nông Nại khởi hành trước lúc Nguyễn Quang Toản bị bắt, nên chưa nhận được tin này. Trước đây có dụ bọn Cát Khánh nếu như Nguyễn Quang Toản mang thuộc hạ đến đầu thuận, thì cho an trí ổn thỏa. Nay tội trạng y rõ ràng, thực không đáng tiếc. Nếu y đến gõ cửa quan xin dung nạp, Cát Khánh hãy cho xem sắc ấn Nguyễn Phúc Ánh giao nạp, cùng cung từ của bọn cướp Mạc Quan Phù; sau khi trách mắng xong, bèn truyền chỉ cách tước Vương, rồi đem giam cấm, đợi chiếu chỉ định đoạt. Trường hợp Nguyễn Quang Toản bị Nguyễn Phúc Ánh bắt; nếu Nguyễn Phúc Ánh không dám tự quyết định, đem y giải giao đến trấn Nam Quan, thì cũng đối xử giống như trên. Còn 3 phạm nhân, bọn Mạc Quan Phù, chiếu theo luật đại nghịch mà liệu biện; nếu như gia thuộc phạm nhân có sự liên can, cũng cho tra xét cùng một lần. Lúc này Cát Khánh đáng tuân theo chỉ dụ trước, đến trấn Nam Quan điều binh phòng thủ, để địa phương được trấn tĩnh. Đợi lúc Nguyễn Phúc Ánh chiếm được toàn lãnh thổ An Nam, sai Sứ đến cầu phong, hoặc biết rõ thực trạng về Nguyễn Quang Toản thì hãy tấu lên rồi đợi chiếu chỉ. Đem dụ này cáo tri để hay biết.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 102, trang 8-11)

Vua sắp cử đại binh Bắc phạt, truyền hịch dụ quân dân Bắc Hà sáu điều, đại lược như sau:

Nghĩa lớn kinh Xuân thu không gì lớn bằng trả thù, mà quân của vương giả thì giết loạn thần là việc trước hết. Ngẫm từ khi Tây Sơn gây biến, từ Thuận Quảng ra Bắc, nhân dân khổ sở đã lâu. Ta đây cố chí giết thù là chỉ nghĩ đánh kẻ có tội để cứu dân. Từng đã định nghiêm quân lệnh, khiến mảy may không được phạm của dân. Thế mà còn sợ bọn giả danh mạo chữ, ức hiếp binh dân, làm điều phi pháp, nên xuống dụ này. Bọn ngươi nên dặn bảo nhau, kẻ nào tuân mệnh thì được hậu thưởng, trái mệnh thì giết.

  1. Người hào mục mà đánh được đồn giặc và đón bắt được giặc thì lượng công mà thưởng ; ai có lòng hướng thuận, đến nơi quân để ứng nghĩa thì tùy tài thu dụng.
  2. Người dân mà bắt sống được giặc Nguyễn Quang Toản thì cho quan chức nhất phẩm, cấp ruộng 100 mẫu, thuộc binh 100 người ; bắt được các em Quang Toản thì cho chức quan nhị phẩm, cấp ruộng 50 mẫu, thuộc binh 50 người ; bắt được bọn quận công đầu sỏ giặc thì cho chức quan tam phẩm, cấp ruộng 30 mẫu, thuộc binh 30 người. Chém chết được cũng thưởng như thế. Nếu lại dung chứa và dẫn đi, biết được thì sẽ xử theo quân pháp.
  3. Người ở Thuận Quảng đều là con đỏ của triều đình, bị giặc Tây Sơn hiếp bách xua đi thú miền Bắc, họ trốn ở chỗ nào sở tại đều nên cho ở và nuôi tử tế, dẫn đến nộp ở trước quân, sẽ lượng gia thưởng. Nếu lại oán mối thảm năm Bính Ngọ [30/1/1786-17/2/1787] (6) bị giặc giết ở thành Phú Xuân mà tự tiện giết hay đánh bị thương, và nếu ẩn giấu không giải nộp thì đều xử theo tội nặng.
  4. Những sổ sách lương tiền có ai thu giữ cẩn thận, đợi khi xong việc đem nộp thì tất có trọng thưởng. Nếu dám đốt phá cướp bóc là phạm quân pháp.
  5. Bọn côn đồ vô lại mặc giả quân nhân tự tiện vào nhà dân cướp bóc thì cho xã dân sở tại bắt giải, nếu thế lực không thể bắt được thì cho đến cửa quân trình bày để bắt xét trị.
  6. Đại binh tới đâu, hào mục địa phương biết được tình hình hư thực của giặc mà đến trình bày thì có khen thưởng. Nếu không nói thực và còn dung ẩn bọn giặc thì xử theo quân pháp”.

Cho tổng duyệt các quân thủy bộ, định rõ tám điều quân chính:

“1. Quan quân mà bắt hay chém được giặc Nguyễn Quang Toản và những đầu sỏ thì được thưởng như trong lời hịch trước.

  1. Bọn giặc đầu hàng và bị bắt sống, trước phải gạn hỏi tình hình hư thực của giặc rồi giải đến hành tại chờ lệnh, không được tự tiện bổ vào quân mình, để khỏi lỡ việc.
  2. Đại binh tới đâu mà lấy lửa làm hiệu thì nên đốt ở nơi rừng rú rộng rãi, nếu đốt càn nhà dân là phạm quân pháp.
  3. Kho tàng sách vở không được đốt cướp, nếu có thu được giấy tờ của giặc về việc quan trọng thì do thống tướng tiến lãm, sẽ lượng gia thưởng.
  4. Đại binh tiến đi cần phải mau chóng, người nào ốm không thể đi được thì cho lấy dân ở dọc đường chở đi giúp, ngoài ra không được quấy nhiễu.
  5. Đại binh đóng nghỉ nên chiếu theo thứ tự ở đồ bản mà đóng đồn trại, không được tự tiện vào nhà dân. Đạo quân nào lương thực chuyển đến chưa đủ thì cho tạm lấy lương của dân mà phát, phải lưu phái tích làm bằng để đợi sau chiếu trừ.
  6. Hào mục địa phương có ai thành tâm xin theo giúp việc đều do thống tướng chuyển tâu, tùy việc sai khiến, không được thiện tiện cấp phát văn bằng và gọi mộ binh lương mà sinh rối tệ. Duy xã dân có xin chiêu an thì xét thực cấp bằng để khỏi rối động.
  7. Các quân đến địa phương nào, không được cướp bóc của cải, gian dâm phụ nữ, ai phạm thì trị tội nặng”.

Sai Chưởng Trung quân bình Tây đại tướng quân Nguyễn Văn Trương lãnh thủy binh, Chưởng Tả quân bình Tây tướng quân Lê Văn Duyệt và Chưởng Hậu quân bình Tây tướng quân Lê Chất lãnh bộ binh đi trước.

Sai Tham tri Hộ bộ Nguyễn Hữu Đồng chở gạo lương ra Thanh Hà [huyện Bố Trạch, Quảng Bình] trước để cấp cho quân.

Sai chọn hai thớt voi ngự lấy xuyến vàng trang sức.

Ngày Đinh Hợi 18 [17/6/1802], đem việc Bắc phạt kính cáo liệt thánh. Mệnh cho Quốc thúc quận công Tôn Thất Thăng cùng Đô thống chế dinh Túc trực là Nguyễn Văn Khiêm, và Tả tham tri Hình bộ là Nguyễn Đăng Hựu ở lại giữ kinh đô.

Ngày Canh Dần 21 [20/6/1802], xa giá phát tự Kinh sư. Hoàng tử thứ tư đi theo. Ngày Nhâm Thìn 23 [22/6/1802], xa giá đến An Lạc [huyện Hướng Hóa, Quảng Trị]. Tên Tứ ở đội Nội hầu nạt bắt dân đệ trạm, vua nghe tin, lập tức đem chém để rao. Quân Thần võ đi trước cũng có kẻ phạm tội ấy, bị Cai bạ Trần Văn Tuân hặc. Vua vời Phó tướng Trần Quang Thái trách rằng :

Quân đi đã có kỷ luật, ngươi làm tướng không ngăn cấm được quân lính, tội đáng chết. Nhưng vì mới phạm lần đầu, hãy tha cho”.

Rồi sai đánh roi đau, do đó các quân đều nghiêm, không ai dám phạm mảy may của dân.

Ngày Ất Mùi 26 [25/6/1802], đến hành cung Động Hải [Đồng Hới], sai Thủ thần Quảng Bình chia quân đóng đồn ở các đường hiểm yếu.

Lại sai Tống Phước Lương đi trước thăm dò tình hình giặc mà báo lên.

Ngày  Bính Thân 27 [26/6/1802], đến hành cung Thanh Hà [huyện Bố Trạch, Quảng Bình], phân phái các tướng :

Sai Đặng Trần Thường đem quân bản bộ ngầm theo đường thượng đạo đánh úp Hoành Sơn [biên giới Hà Tĩnh, Quảng Bình] để chặn đường sau lưng giặc ; Nguyễn Văn Trương điều bát thủy binh giã vào lòng giặc ; Lê Văn Duyệt điều bát bộ binh theo đường trung đạo thẳng tiến, xông đánh vào trước mặt giặc ; Nguyễn Đức Xuyên đem quân voi do miền đầu nguồn sang sông Gianh để chờ sai phái; tham quân Thần sách là Nguyễn Trí Hòa lưu giữ châu Bố Chính ngoại ; Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Hữu Đồng kiểm duyệt các thuyền chở gạo lương để tiếp tế lương quân.

Thủy binh của Nguyễn Văn Trương đến cửa Ròn [huyện Quảng Trạch, Quảng Bình], đánh phá được đồn thủy của giặc, đô đốc giặc là Nguyễn Văn Ngũ và Nguyễn Văn Lục thua chạy. Văn Trương lại tiến lấy được dinh Hà Trung [huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh].

Bộ binh của Lê Văn Duyệt thẳng đến đồn Đại Nại [huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh], quân giặc vỡ chạy. Tin thắng trận báo lên; Vua đốc các quân sang sông Gianh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình].

 

Chú thích:

1.Từ giá: Xa giá của mẹ Nguyễn Vương.

2.Chính sóc: Chính là chính nguyệt tức tháng giêng, sóc là ngày mồng một ; vậy chính sóc là lịch. Thời xưa nhận lịch chính sóc, hàm nghĩa phục tùng Vua cai trị. Trước đây chúa Nguyễn vẫn nhận lịch chính sóc của Vua Lê, nay các quan xin đổi lịch chính sóc, có nghĩa Nguyễn Vương sẽ lên làm Vua, không còn lệ thuộc vào nhà Lê nữa.

3.Xuân Thu: Bộ sử của nước Lỗ, do Khổng Tử biên soạn.

4.Chưa ỗn định: Ý nói lúc này chưa dẹp xong nhà Tây Sơn, đất nước chưa thống nhất.

5.Nguyễn Chủng: Lời hiệu triệu của vua Quang Trung gửi cho văn võ quân dân Quảng Ngãi, Qui Nhơn xác nhận Nguyễn Chủng tức Nguyễn Phúc Ánh “Kể chi cái thằng Chủng hèn nhát; nó đã chạy trốn đi các nước khốn nạn bên Tây vv..” (Theo Trần Gia Phụng, Nhà Tây Sơn, nhà xuất bản Non Nước, Toronto, 2005)

6.Mối thảm năm Bính Ngọ [30/1/1786-17/2/1787]: Chỉ việc Tây Sơn xua quân chiếm kinh thành Huế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này