A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật?      

Nguyễn Cung Thông[i]

Mục Di – Tự điển Việt La Tinh (Béhaine 1772/1773)

Lam Tì Ni (Lam Bì Ni) thường đọc là Lâm Tì/Tỳ Ni/Ny: là nơi Ma Da phu nhân sinh ra đức Phật. Lam/Lâm Tì Ni là phiên âm của tiếng Phạn Lumbini लुम्बिनी, còn gọi là Lam Bì Ni 嵐 毘 尼, Lạp Phạt Ni 臘 伐 尼, Lâm Vi Ni 林 微 尼, Lưu Tì Ni 留毘尼 hay Long Di Ni 龍彌尼 … Di là âm Bì ngạc hóa. Đây là trường hợp phụ âm môi/tắc/hữu thanh b- ngạc hóa trở thành d-, so với phụ âm môi răng v- cũng có thể ngạc hóa trở thành d như vô > dô (giọng Nam Bộ).

2.3.4 Tu Di 須彌

Núi Tu Di còn gọi là Tô Mê 蘇迷, Tô Mê Lâu San 蘇迷盧山, Di Lâu San 彌樓山 … là trung tâm của mọi thế giới theo huyền thoại Ấn giáo và đã có trước thời đức Phật Tổ, dịch ý là Diệu Quang, Diệu Cao, An Minh, Thiện Tích, Thiện Cao … Gốc Phạn ngữ sumeru với tiền tố su- (hàm ý tốt, tuyệt vời) hợp với tên chính thức là meru मेरु (tên núi). Để ý âm me/mi ngạc hóa thành Di. Tu Di còn có thể chỉ núi Hy Mã Lạp Sơn.

2.3.5 Di Lan Đà 彌蘭陀

Trong lịch sử Phật giáo, vị vua nước Di Lan Đà[ix] ngộ đạo và quy y sau khi đàm đạo với Tỳ Kheo Nagasena. Di Lan Đà là phiên âm tiếng Phạn Milinda (cũng như tiếng Pali) so với các các phiên âm khác như Tất Lân Đà 畢鄰陀 (tất âm cổ là *b/pid, hiện tượng trùng nữu b/p > t), hay Mân Lân Đà 旻鄰陀. Di Lan Đà còn gọi tắt là Di Lan.

2.3.6 Sa Di 沙彌

Sa Di có tiếng Phạn Śrāmaṇera श्रामणेर. Người phái nam tuân theo 10 giới Sa Di còn gọi là 室羅摩拏洛迦 Thất La Ma Noa Lạc Già/Ca, phái nữ thì gọi là Sa Di Ni.

2.3.7 Cù Đàm Di 瞿曇彌

Danh từ này có gốc tiếng Phạn Gautami गौतमि hay dạng nữ (female form/A) của danh từ Gautama – chỉ nữ giới thuộc họ Cù Đàm, một tên gọi của họ Thích Ca; cũng từng dùng để gọi bà dì của đức Phật Tổ (Thích Ca Mâu Ni). Cù Đàm Di là người phụ nữ đầu tiên được Đức Phật cho phép xuất gia, trở thành vị Tỳ kheo ni đầu tiên trong lịch sử Phật giáo.

2.3.8 Xa Di 奢彌

Xa Di là phiên âm của tiếng Phạn Sa Mi, tên một loại cây, dịch là Câu Kỉ. Để ý hai âm Sa Di và Xa Di nếu không viết ra chữ (Phạn hay Hán) thì có thể đọc giống nhau trong tiếng Việt.

2.3.9 Ca/Già Thấp Di La 迦濕彌羅

Ca Thấp Di La là phiên âm của tiếng Phạn kâsmîra  काश्मीर, còn có những cách gọi như Yết Thấp Nhị La Quốc 羯濕弭羅國, Ca Diệp Di La Quốc 迦葉瀰/彌羅國, Ca Thất Mật Quốc 箇失蜜國 … Các âm Di và Nhị 弭 đều là dạng ngạc cứng hóa của Mi 彌. Đây là vùng đất Kashmir ở tây bắc Ấn Độ và hiện nay dưới quyền quản lý của ba nước Ấn Độ, Pakistan và Trung Quốc.

2.3.10 Di Cà/già 彌伽

Di già là phiên âm của tiếng Phạn megha मेघ nghĩa là mây. Sau dùng để gọi tên một vị Bồ Tát lương y[x] có khả năng tạo ra mây (mưa) giúp chúng sinh (kinh Hoa Nghiêm).

2.3.11 Di Cà 彌迦

Một dạng kí âm tiếng Phạn Meka, tên cô gái dâng cháo sữa bò cho đức Phật Tổ khi vừa thành đạo. Việc này xẩy ra sau khi đức Phật Tổ tu khổ hạnh 6 năm và kiệt sức. Không nên lẫn lộn với các danh nhân cùng tên qua dạng Di Cà: td. Di Cà ~ Mi-ca là một Thánh/Tiên tri của Do Thái cổ đại – xem thêm phần dưới.

2.3.12 Di để 彌底

Một dạng kí âm tiếng Phạn miti, chỉ đo lường, kiến thức chính xác … Tam di để 三彌底 là kí âm của tiếng Phạn sammiti, hàm ý đo lường đúng đắn hay Chính lượng 正量… Tam Di Để Bộ (三彌底部 – Sāmmatīya): đây là tên gọi của một bộ phái Phật giáo thuộc Thượng tọa bộ (Sthāvira), nổi tiếng với quan điểm “Chính lượng bộ”, tách ra từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda) …v.v…

Qua vài thí dụ trên, ta thấy chữ Di đã được dùng để kí âm (gần đúng) tiếng Phạn trong quá trình dịch kinh Phật. Các cách phiên âm trong thư tịch cổ TQ hay kinh Phật thường là những nguồn tài liệu dùng để phục nguyên âm cổ một cách chính xác. Không những rất phổ biến trong Phật giáo, điều thú vị là di cũng dùng để kí âm các thuật ngữ hay tên các vị thánh, tiên tri trong Thiên Chúa giáo: td. Di Ca 彌迦 Mi-ca là Tiên tri ở TK 8 TCN trong kinh Cựu Ước. Messiah là đấng cứu thế (đức Chúa Giê Su, nghĩa gốc Do Thái là người được xức dầu) có một dạng kí âm là 彌賽亞 Di Tái Á; Misa là thánh lễ (mass/A) trong Thiên Chúa giáo thường có một dạng kí âm là 彌撒 Di Tát …v.v… Cũng nên ghi lại ở đây nhận xét về danh từ riêng Artemis (tên của một nữ thần cổ Hi Lạp của săn bắn, hay mặt trăng ….), td. chương trình thám hiểm mặt trăng của Hoa Kỳ từ năm 2024 có tên là Artemis, được kí âm tiếng Trung Quốc là 阿耳特彌斯 A Dĩ Đặc Di Tư; di cũng dùng để kí âm mi cho trường hợp này.

Một nhận xét nữa là trong các cách đọc mi, di và zi thì mi dễ đọc nhất vi vị trí cấu âm đơn giản, chỉ cần phụ âm môi môi/hữu thanh m so với phụ âm (bán nguyên âm) lướt d/y, và phụ âm xát đầu lưỡi/răng hữu thanh /z/. Phụ âm môi môi m cũng la một trong những âm được đọc đầu tiên trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ của trẻ em[xi] (khoảng trước và cho đến 3 tuổi), so với phụ âm d (khoảng 4 tuổi) và z (khoảng 8 tuổi) – xem bảng tóm tắt bên dưới:


Bình luận về bài viết này