Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Vua Quang Toản (Bài 7)

Hồ Bạch Thảo

Qua việc Tổng đốc Phúc Kiến tâu trình đã bắt được bọn cướp biển, trong đó có Tổng binh An Nam; Tổng đốc Lưỡng Quảng lại tâu bắt được thuyền với  bảng hiệu Bảo ngọc hầu do An Nam phong tước. Tiếp đến bọn cướp biển La Á khai rằng từ thời Quốc vương Nguyễn Quang Bình cho đến Nguyễn Quang Toản; An Nam phong tước cho 12 Tổng binh Tàu Ô, có hơn 100 hiệu thuyền, chuyên cướp phá vùng biển Trung Quốc. Sự việc nghiêm trọng như vậy, nhưng nói ra sợ mất mặt Vua cha Càn Long; một thời ham danh đã từng tuyên bố thu phục An Nam, rồi ghi trong Thập Toàn Võ Công (十全武功). Nay Vua Gia Khánh đành phải ngậm miệng, ngầm ra lệnh cho các tỉnh miền ven biển lẳng lặng đánh bắt:

Ngày 9 tháng giêng năm Gia Khánh thứ 2 [5/2/1797]. Dụ các Quân Cơ Đại thần:

Bọn Cát Khánh dâng tấu triệp về việc thẩm tra tù phạm cướp biển, nội dung: ‘Điều tra về vùng đất Giang Bình [Dongxing, Quảng Tây]; hiện nay có bọn giặc gốc Phúc Kiến, Quảng Đông, An Nam tụ tập tại đó. Nếu muốn báo cho An Nam biết, thì lúc này nên thông báo cho họ v.v..

Suy nghĩ kỹ việc này rất khó. Nếu như viên Quốc vương không biết về vụ giặc cướp, thì nên thông báo để hợp đồng cùng bắt. Nay điều tra bọn giặc La Á, cả ba bọn chúng đều cung xưng Tổng binh Tàu Ô An Nam có 12 người, hơn 100 hiệu thuyền; lại căn cứ vào giấy tờ bắt được có ấn triện, thì bọn cướp Tàu Ô đều do viên Quốc vương phong tước, việc ra biển cướp bóc viên Quốc vương không thể không biết. Vậy nếu bảo phối hợp bắt giặc cướp, làm sao bọn họ chịu nghe lời! Vả lại dân nội địa [Trung Quốc] ra ngoài biển làm giặc, quan không cấm được, huống hồ là dân ngoại di! Nếu An Nam dùng lý do đó để bào chữa, thì lấy gì để biện luận? Hoặc đáng vì việc này mà gây hấn, rồi mang quân đánh nước họ ư!

Bọn Cát Khánh chỉ nên thông sức thuộc hạ tầm nã tại mặt biển 3 tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Chiết Giang; nếu tàu thuyền của di địch xâm phạm vào, thì không luận quan chức nào của An Nam cũng đều nghiêm trị.

 Tái bút: Từ nay trở về sau bắt được giặc cướp An Nam, thẩm tra minh bạch rồi lập tức cho chính pháp [xử tử]; không cần phải giải về kinh, để bớt được sự phiền phức trạm dịch phải giải tống. Nay đem dụ truyền để hay biết.(Nhân Tông Thực Lục, quyển 13, trang 6-7)

Phía An Nam, Quốc vương Nguyễn Quang Toản tiếp tục chơi trò hai mặt. Về mặt nổi sai người đánh bắt những bọn cướp biển,  không thống thuộc lực lượng Tàu Ô dưới quyền, rồi đem nạp cho nhà Thanh để kể công; nên Thượng hoàng Càn Long bèn sai con gửi thư khen thưởng: 

Ngày mồng một Canh Tý tháng 5 năm Gia Khánh thứ 2 [26/5/1797]. Thiên tử phụng mệnh Thái thượng hoàng gửi sắc dụ Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Toản:

‘Gần đây trên mặt biển đôi lúc có bọn giặc phỉ cướp phá, các Tổng đốc Lưỡng Quảng, Phúc Kiến từng báo tin cho Quốc vương để cùng hiệp lực đánh bắt. Nay cứ viên Tổng đốc Lưỡng Quảng tâu rằng Quốc vương đã sai phái bọn quan  Ðinh Công Tuyết mang binh thuyền đến biển Di tuần tra đánh dẹp, bắt được bọn Hoàng Trụ, Trần Lạc hơn 60 tên, đem phạm nhân, thuyền, khí giới, giải đến nội địa biện lý; cùng tại nơi giặc phỉ tụ tập, sai thuộc viên đắc lực  đồn binh trấn giữ. Thái thượng hoàng đế rất khen  Quốc vương cẩn thận  kính cẩn, cung thuận với lòng thành, nên đặc biệt ban ơn ưu thưởng thêm ngọc như ý, các kiện gấm mãng bào; sai Ủy viên mang đến ban, để làm rạng sự ưu thưởng. Viên Quốc vương ngưỡng thừa ân sủng, càng đáng ra lệnh cho các thuộc hạ  viên biền ra sức tuần phòng, kịp thời đánh bắt. Nếu như bọn cướp vẫn còn tại biển quấy nhiễu, lập tức truy bắt, giải đến nội địa truy xét. Nếu có thể bắt được đầu sỏ bọn cướp, sự phấn đấu càng đáng khen, sẽ tảo thanh được gian phỉ, gốc rễ nhổ tận, khiến người đi buôn được yên ỗn, mà hải dương cũng được yên tĩnh. Viên Quốc vương hãy  cung kính gắng sức, để có ngày được ban ân gấp bội. Khâm Thử! Ðặc dụ.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 17, trang 1-2)

Tiếp đến Tuần phủ Quảng Đông Trần Đại Văn tâu rằng có một số cướp biển từ An Nam trở về đầu thuận. Vua Gia Khánh ra lệnh ban mũ Đỉnh Đái một số người, cho gia nhập vào quân Thanh để đi đánh giặc biển; số còn lại đưa về quê an sáp:

Ngày 23 Nhâm Thìn tháng 6 năm Gia Khánh thứ 2 [17/7/1797].  Dụ các Quân cơ đại thần:

“ Trần Ðại Văn tâu rằng có bọn Ngô Ðại Tướng, Trang Ðắc Lợi, Lý Ðại An từ An Nam trở về đầu thuận; đem đồng bọn, gia thuộc hơn 100 người, cùng nạp thuyền và khí giới, tình nguyện cùng quân lính đi đánh bắt cướp biển. Ðã thưởng mũ đỉnh đái cho  bọn Ngô Ðại Tướng, gồm 3 người đứng đầu xướng xuất. Một khi được thưởng mũ đỉnh đái, thì coi như quân lính trong doanh không khác, hà tất trong lòng còn có kỳ thị, chỉ cần tùy lúc lưu tâm tra xét. Những người không theo quan quân đi đánh bắt cướp, thì phải chế ngự ỗn thỏa, ân uy đều dùng. Tức sau khi trở về quê quán an sáp, thì không thể không đề phòng, để biến hóa kẻ gian ngoan thành lương thiện. Ðem dụ này truyền để hay biết.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 18, trang 14-16)

Tại miền Nam, vào tháng mười một năm ngoái [29/11-28/12/1796], Tù trưởng đất Ba Phủ [Hàm Thuận, Bình Thuận] là Toàn Phù tụ họp người Chiêm, từ núi Đàn Linh [huyện Tánh Linh, Bình Thuận] ngầm xuống miền xuôi cướp bóc; vẫn chưa dẹp xong. Vào tháng giêng năm nay [28/1-26/2/1797], Nguyễn Vương sai Đô đốc hiệu úy Tiền chi Trung quân là Nguyễn Công Thái điều bát quân các đạo quân từ Ma Li [huyện Bắc Bình, Bình Thuận] đến Phố Châm [Bình Thuận] đánh dẹp. Khâm sai đô đốc quản chi Hùng võ là Nguyễn Kế Nhuận làm phó ; Quản đạo Phố Hài [đông thị xã Phan Thiết, Bình Thuận] Nguyễn Huệ, Chưởng cơ trấn Thuận Thành Nguyễn Văn Hào, Chánh phó trấn Nguyễn Văn Chấn và Nguyễn Văn Điển tiến từ Đàn Linh [huyện Tánh Linh, Bình Thuận] lên, Chánh vệ vệ Nhuệ phong Ngô Văn Sở, Quản đạo Đông Môn Cao Văn Cửu đi đường tắt ra sau lưng giặc, đều theo lệnh Công Thái điều khiển.

Chở 3.000 phương gạo lương ở Gia Định đến Ma Li để cấp lương cho quân. Lại đặt ngựa trạm tại các trạm dọc đường từ Xích Lam [Hàm Tân, Bình Thuận] đến Ma Li, để tin tức ngoài biên nhận được nhanh.

Tháng hai [27/2-27/3/1797] Đô đốc Nguyễn Công Thái tiến đến Phố Châm [Bình Thuận], đánh úp phá quân Ba Phủ. Tù trưởng  là Toàn Phù vượt núi trốn chạy. Quân chúa Nguyễn đốt trại kho vựa, bắt sống hơn 100 người Ba Phủ đem về trú ở bảo Đăng Trại. Được tin thắng trận, Vương dụ rằng :

Tội phản trắc của Ba Phủ vốn không đáng khoan dung, nhưng nghĩ bọn man mọi ngu dại, chưa thấm nhuần phong hóa, vì Toàn Phù lừa dối đến nỗi bị tội, sao nỡ khép vào pháp luật ! Vậy tha cho hết. Và nay tù trưởng nghịch còn chạy trốn xa, sợ khi bèo tan lại hợp, ngươi nên chọn đất hiểm yếu ở hai bên sông Dã Dương [nhánh bắc sông La Ngà] mà đặt ba sở bảo để bọn Nguyễn Văn Hào ở lại, chia nhau đóng giữ và dỗ bảo các sách dân Đê khiến họ hàng phục, còn thì cho triệt về”.

Sau Hào ốm, sai Khâm sai cai cơ Trung quân là Lê Văn Niệm thay giữ; Niệm tuyên bố hảo ý của Nguyễn Vương; dân Ba Phủ dần dần trở về hơn 480 người.

Tống Viết Phước dâng biểu nói bọn  dân thiểu số ở Đồng Môn ngang ngạnh chưa phục, xin đem quân đánh dẹp, Vương dụ rằng :

Nó chưa phục, vì chưa nghe tin đảng nó ở Ba Phủ đã vỡ, chẳng mấy ngày nữa cũng sẽ tự tan vỡ, cần gì phiền đến quân nữa !”

Liền sai Quốc thúc là Tôn Thất Thăng đến bảo Đồng Môn, Cai cơ hành Lưu thủ Trấn Định là Trần Văn Búa quản ba vệ Thiết kỵ, Cường uy, Tín uy theo đi. Thăng đến nơi, không đầy một tuần mà quân dân tộc thiểu số tan rã; ra lệnh vỗ về ở yên như cũ.

Trong tháng này, nước Chà Và [Java] lại sai sứ đến cống.

Tháng ba [28/3-26/4/1797], sai Phó tướng tiền quân là Phan Tiến Hoàng tạm quản dinh Bình Thuận [Phan Rí, Bình Thuận], Phó Hậu chi dinh Trung thủy  Lưu Tiến Hòa coi giữ đạo Phan Rang. Lấy Chánh trưởng chi Trung chi Phạm Tiến Tuấn quản đạo Phố Hài [thị xã Phan Thiết, Bình Thuận], kiêm hai thủ Phan Thiết và Vị Nê [Mũi Né, thị xã Phan Thiết, Bình Thuận].

Tháng tư [27/4-25/5/1797], Nguyễn Vương đích thân đem binh thuyền đi đánh Quy Nhơn, Đông cung Cảnh đi theo. Sai chưởng Tiền quân Tôn Thất Hội  trấn Gia Định; có Cai cơ Nguyễn Văn Nhân, Hộ bộ Phan Thiên Phước, Trương Đức Khoan, Lễ bộ Ngô Tòng Chu, phụ tá. Tham tri bộ Hộ Nguyễn Kỳ Kế và Nguyễn Văn Phú đốc suất thuyền lương theo quân; chở 12.700 phương gạo, 500 phương muối.

Binh thuyền tiến đóng ở cửa biển Cù Huân [Nha Trang, Khánh Hòa], Vương triệu  Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức đem quân theo đi đánh, để Phó tướng Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Văn Lợi ở lại giữ thành Diên Khánh. Trên đường tiến quân, Chưởng cơ Nguyễn Văn Trương đem binh thuyền tiến đánh đô đốc Tây Sơn là Thiêm  ở Tiên Châu [thuộc tỉnh Phú Yên], Thiêm thua chạy. Lại phá được đô đốc  Tính  ở Đạm Thủy [huyện Phù Mỹ, Bình Định], bắt được 6 chiếc thuyền.

Về đường bộ, Chưởng Hậu quân Võ Tánh và Tiên phong Nguyễn Văn Thành đánh ở chợ Hội An [Phú Yên] phá được đồn; Đô đốc Tây Sơn Hiếu lùi chạy về La Thai [Phú Yên].

Thuyền Vương tiến thẳng đến cửa biển Thị Nại [Qui Nhơn], đánh phá quân Tư lệ  Lê Trung, tịch thu thuyền ghe, súng ống, khí giới; Trung lui quân  chống giữ.

Tháng năm [26/5-24/6/1797] Vương cho rằng thành Quy Nhơn quân Tây Sơn đóng nhiều, thế chưa đánh được; bèn đích thân đem hơn 100 chiếc chiến thuyền tiến ra cửa biển Đà Nẵng và Quảng Nam. Thống lĩnh quân Tây Sơn là Nguyễn Văn Chân đem hết tàu thuyền lùi đậu vào trong cảng Đà Nẵng; Thiếu bảo Nguyễn Văn Huấn đóng quân ở hai bên bờ, quân thủy quân bộ tiếp nhau chống giữ.

Vương sai các quân dàn thuyền bao vây ở ngoài cảng; điều quân lên bộ đến sát lũy địch mà đánh, hai lần giao chiến. Lại sai Nguyễn Văn Trương cùng với Vệ úy Nguyễn Văn Thịnh, Chánh vệ Trần Văn Tứ và Cai cơ Trần Văn Búa, chia nhau đến Cu Đê [Đà Nẵng], và cửa ải Hải Vân, chọn chỗ hiểm mà đặt đồn giữ. Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản nghe tin , sai Thiếu phó Trần Quang Diệu giữ cửa Eo và Đô đốc Lê Văn An đem quân Thuận Hóa vào cứu.

Sai Đông cung Cảnh đem tướng sĩ dinh Tả quân vào cửa biển Đại Chiêm để đánh lấy Chiêm Dinh [ dinh Quảng Nam, Hội An]; lại triệu Võ Tánh ở Phú Yên đem quân đến tăng viện. Vua dụ Võ Tánh rằng :

Giặc nay đem hết quân ra giữ Đà Nẵng, Chiêm Dinh không có phòng bị. Khanh nên kíp tiến cùng Đông cung chiếm đoạt đất ấy, rồi sau đem quân ra mặt sau Đà Nẵng, như thế thì quân giặc sau lưng trước bụng đều bị đánh, lấy dễ như trở bàn tay”.

Vương  ra lệnh đặc biệt tưởng thưởng kẻ giết được tượng binh địch:

 “Quân mạnh ở đánh giết. Ngày này quân giặc chỉ đánh bộ, cậy có nhiều voi. Từ nay gặp giặc ai đâm giết  được người ngồi đầu voi và trong bành voi, giết mỗi người thưởng 50 quan tiền, lại thăng một cấp; như cai đội thì thăng lên cai cơ, phó đội thì thăng lên cai đội, đội trưởng thì thăng lên phó chánh đội trưởng, binh đinh thì thăng đội trưởng“.

Đông cung Cảnh tiến quân lấy chợ Đông An ở Hội An, Quảng Nam, thẳng tới Chiêm Dinh, chia đặt đồn để phòng địch. Võ Tánh dẫn quân ra Đại Chiêm, gặp Đô đốc Tây Sơn Nguyễn Văn Ngũ và thuyền của bọn giặc biển Tề Ngôi ở ngoài khơi, đánh tan, bắt được tù binh, thu được thuyền chiến và Tàu Ô hơn 30 chiếc.

Tư lệ Lê Trung đem thêm quân đánh bảo Hội An [Phú Yên]; Vương nghe tin, dụ Nguyễn Văn Thành triệt quân về Bình Khang [Ninh Hòa, Khánh Hòa], phòng giữ nơi trọng yếu.

Lấy Khâm sai tham mưu Võ Tiến Trung làm Khâm sai thống binh quản đạo Trung Chấn. Tiến Trung trước đây vâng mật lệnh đến Quảng Nam ngầm tổ chức được hơn 300 nghĩa quân; nay đến hành tại bái yết, xin lập làm 6 hiệu đạo Trung Chấn; Vương chuẩn y, cho lệ thuộc Võ Tánh đánh giặc.

Tháng sáu [25/6-23/7/1797], Vương sai Võ Tánh chở quân sang Mỹ Khê [quận Sơn Trà, Đà Nẵng] đánh Tiết độ Tây Sơn Nguyễn Văn Giáp. Lại thấy Tham tri bộ Binh Hồ Văn Định là người Mỹ Khê biết việc binh, bèn sai đi bàn thảo việc quân với Tánh.

Đông cung Cảnh điều  quân đi đánh giặc ở La Qua, giết được voi giặc, giặc vỡ chạy; báo tin thắng trận, Vương thưởng cho 1.000 quan tiền. Mật dụ Phạm Văn Nhân quản lý chiến thuyền giữ cửa biển Đại Chiêm [Hội An, Quảng Nam], Võ Bá Diên theo Đông cung đóng đồn ở Phú Chiêm, Nguyễn Công Thái đóng đồn ở Tam Thai [quận Ngũ Hành sơn, Đà Nẵng], chờ chỉ thị thì đánh úp sau lưng địch.

Sai Phó vệ úy vệ Túc trực Nguyễn Văn Khiêm và Thuộc nội vệ úy Ô Li Vi [Olivier de Puymanel, ông Tín]  đóng thuyền tam bản đánh hỏa công, kén quân chiến tâm cưỡi thuyền ấy, đêm phóng lửa đốt được mấy chiếc thuyền ; quân Tây Sơn tử thủ xin quân viện từ Quy Nhơn. Tư lệ Lê Trung sai bọn Đại đô đốc Lê Chất và Đoàn Văn Cát, Đô đốc Nguyễn Văn Xuân, Đô đốc Hàn đem 2.000 quân cùng 40 thớt voi đến cứu viện; quân Nguyễn đánh  mấy trận, giết được nhiều voi, bắn Đô đốc Hàn chết ngay tại trận.

Sai quan Lưu trấn Gia Định chở tiền gạo đến đậu ở cửa biển Cù Huân [Nha Trang, Khánh Hòa] gồm 12.000 quan tiền, 12.800 phương gạo; rồi sai Trương Phước Luật hộ vệ chở đến quân thứ Quảng Nam để kế tiếp cấp phát cho quân.

Người thiểu số Ba Phủ [Hàm Thuận, Bình Thuận] là Toàn Phù lại họp đảng hơn nghìn người đến đánh bảo Ma Đế. Thủ binh Thuận Thành [ Ninh Thuận] chống không được, phải bỏ bảo chạy. Phó tướng quản dinh Bình Thuận là Phan Tiến Hoàng nghe tin báo đem quân thẳng tới, gặp địch ở Cà Tán, bắn chết mười mấy người. Gặp trời mưa dầm, Hoàng bèn chia quân đóng đồn giữ các đường trọng yếu để phòng bị.

Tháng bảy [24/7-21/8/1797] Nguyễn Vương sai Phó tướng Hậu quân Nguyễn Văn Biện và Binh bộ Nguyễn Đức Thiện đem quân vào cửa biển Hiệp Hòa [vũng An Hòa,huyện Núi Thành, Quảng Nam] đóng đồn ở Bản Tân [ huyện Núi Thành, Quảng Nam] để ngăn đường cứu viện của Tây Sơn từ Quy Nhơn đến. Vương mật dụ Khâm sai thống binh cai cơ Hoàng Công Khanh và Khâm sai cai đội Tôn Thất Lịch đem quân ứng nghĩa tại Quảng Nam lệ thuộc theo. Bọn Cai cơ Nguyễn Văn Soạn và Cai đội Lê Văn Nhị cũng xin về Quảng Ngãi chiêu lập nghĩa binh , Vương ưng cho.

Sai Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường tiến lấy Phú Yên. Bọn Thành dâng biểu nói rằng không có quân tiếp ứng, sợ không có công mà bị tội. Vương dụ rằng :

Quân và voi ở Quy Nhơn đã họp hết ở Đà Nẵng, mà Phú Yên chỉ còn một tên giặc Hiếu, quân cũng không nhiều, hễ đánh là được, còn có tội gì ? Nên sắp quân tiến ngay, chớ ngần ngại nữa”.

Nguyễn Văn Biện và Nguyễn Đức Thiện đánh tan quân đô đốc Tây Sơn là Gia ở Thạch Đậu [huyện Núi Thành, Quảng Nam], đặt đồn đóng giữ; rồi dâng biểu báo tin và xin tiến lấy kho tàng ở Trà Khúc [Quảng Ngãi], nhắm dùng lương của địch.

Vương dụ rằng :

Trà Khúc  giặc còn nhiều quân, đánh chưa chắc lấy được, hãy ở yên đợi, bất nhật quân bộ ta tiến đến Phú Yên, tướng giặc Lê Trung tất phải lấy binh ở Trà Khúc, bấy giờ có thể thừa cơ hội đó lấy cũng chưa muộn”.

Bèn sai Nguyễn Công Thái đem bốn vệ quân đến họp với Văn Biện.

Vua sai người mật bảo Tham tán giặc là Từ Văn Tú khuyên Tiểu triều Nguyễn Văn Bảo [con Nguyễn Nhạc] rằng :

 “Nay quân ta tiến lấy Quảng Nam, sau tới Quy Nhơn, ngươi muốn rửa thù cho cha thì nên chiêu tập quân cũ, chờ quân ta tới dưới thành thì giết Lê Trung để đón quân vua, mang tội lập công. Làm được việc ấy thì không nên ngờ tội cha sẽ lây tới con. Ta quyết không giết kẻ đầu hàng. Nên liệu đi”.

Trương Phước Luật hộ vệ thuyền lương bị ngược gió, lâu không đến được, nhiều lần bị giặc biển ngăn chặn; trong quân chỉ còn có 5 ngày lương. Vương cho rằng đại binh vào sâu trong đất địch, mà quân nhu không tiếp tế được; bèn sai các tướng đem quân về.

Bấy giờ Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường đánh Phú Yên, phá được luôn các bảo Hội An và La Thai của địch. Tin báo đến, Vương dụ rằng:

 “Quân ta đánh Đà Nẵng, đảng giặc gần nguy, mà tin thuyền lương lâu không thấy, nay đem quân về. Đất Phú Yên kia có thể đánh mà không có thể giữ, nên rút quân về”.

Tháng bảy nhuần [22/8-19/9/1797] , thuyền Nguyễn Vương về đến cửa biển Hiệp Hòa [vũng An Hòa, huyện Núi Thành, Quảng Nam]; nghe tin thuyền lương đã đến Vũng Quýt [Dung Quất, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi], bèn bảo các tướng rằng :

Thế mới biết mưu người không bằng ý trời”.

 Bèn rút về đóng ở Diên Khánh [tỉnh lỵ Khánh Hòa]; thấy quân sĩ đi chinh chiến lâu ngày, nhiều người đau ốm, sai chở 1.500 cân thuốc ở Gia Định đến để chữa.

Tháng tám [20/9-19/10/1797] đặt đàn tế tướng sĩ trận vong tại Diên Khánh, sau đó Vương đem quân trở về Gia Định. Giao cho Khâm sai tổng nhung Nguyễn Văn Thành trấn thủ thành Diên Khánh, Tán lý Đặng Trần Thường hiệp đồng trù biện việc quân, Phó tướng Tiên phong Nguyễn Văn Lợi và Nguyễn Văn Tánh, Hiệu úy Hoàng Văn Khánh, Phó hiệu úy Nguyễn Tiến Nghị, Chánh vệ Phạm Văn Tự đều dưới quyền.

Cho Khâm sai cai cơ đạo Phú Yên là Nguyễn Văn Nguyện các thứ sa đoạn để chia cấp cho thuộc hạ; Vương có lời dụ:

 “Từ khi khanh đóng giữ đèo Gian Nan [ranh giới Phú Yên, Khánh Hòa], giữ vững bờ cõi, không phụ ủy thác của triều đình, ta khen ngợi. Vả lại gần nước biết cá, gần núi biết chim, nay nên kén người tâm phúc làm thám tử để đi dò xét tình hình giặc ở Phú Yên, Quy Nhơn và chiêu dụ những sách Man ở các đầu nguồn khiến họ quy thuận. Còn việc phòng bị ngoài biên thì nên lưu ý canh giữ. Người ta nói một người giữ ải muôn kẻ khó địch, khanh nên suy nghĩ đấy.”

Vương sai Khâm sai cai cơ Trần Phước Chất mang quốc thư sang Xiêm để báo việc binh, và nói nghe tin Diến Điện mượn thủy binh Hồng Mao để đánh Xiêm, nếu họ đánh thực, sẽ đem thủy quân đón đánh. Người Xiêm viết thư cảm tạ, hiến 10 vạn cân diêm tiêu; trong thư hứa giúp đánh Tây Sơn:

Ngày nào quân ta đánh Tây Sơn, nếu thiếu quân dụng sẽ xin giúp. Lại xin chọn người giỏi họp với bộ binh Xiêm theo đường thượng đạo thẳng tới Vạn Tượng để đánh úp lấy Nghệ An, một là để chặn đường viện binh từ Bắc Hà, một là để đánh sau lưng Thuận Hóa, đến đâu thì quân nhu sẽ có người Man Lào cung ứng, không phải lo.”

Vương nhận được thư, rất mừng.

Tháng chín [20/10-17/11/1797], chuẩn định thuyền buôn Xiêm La từ nay về sau sang buôn, hạng thuyền lớn phải chở 30.000 cân sắt, hạng trung 20.000 cân, hạng nhỏ 10.000 trở lên ; còn diêm tiêu thì không kỳ nhiều ít, đều nộp vào quan, tính theo giá trả tiền; thì mới được mua các thứ thổ sản, nếu không thì cấm không cho vào.

Giặc Ba Phủ là Toàn Phù đem quân vây bảo Tà Lạp, lại ủy cho người trong bọn giữ núi La A để ngăn quân viện. Phó tướng Phan Tiến Hoàng thống quản quân sở bộ và quan binh Thuận Thành, chia đường tiến đến La A. Hoàng cùng Quản đạo Phố Hài là Phạm Tiến Tuấn đánh mặt trước, Cai cơ Lê Văn Niệm đánh mặt sau, quân địch thua to. Hoàng thấy vùng thượng đạo đường núi hiểm trở, chuyển vận rất khó, lại thêm mưa lụt lam chướng, quân nhiều người ốm, bèn rút quân về; để quân Thuận Thành [Ninh Thuận] đóng giữ các đồn Đăng Trại, Cà Tán. Dâng sớ xin đợi đến mùa đông tạnh ráo sẽ cất quân đánh dẹp, Vương chấp nhận.

Tháng mười [18/11-17/12/1797], định lệnh cứu hỏa. Phàm quan quân ở trong thành ban ngày thấy trên cột cờ treo cờ cứu hỏa, ban đêm thấy treo đèn lồng, nghe một hồi thanh la và ba hồi trống lệnh của Trung quân; thì đều phải theo vị trí của mình, đem quân cầm khí giới, hoặc ở trên thành, hoặc ở ngoài quách, dàn hàng nghiêm chỉnh lo cứu hỏa; đợi khi thôi mới lui về trại. Quan quân ở ngoài thành thì ngày đêm nghe  nơi nào bị cháy, tức thì đánh ba tiếng trống lệnh, đến nơi cứu chữa, lửa tắt mới về.

Giặc Chân Lạp họp đảng cướp đạo Tuyên Uy [Đồng Tháp]; sai Thống binh cai cơ đạo Tiền du Lê Văn Tự, Thống binh cai cơ Hữu quân Phạm Đắc Chất đốc suất binh thuyền dẹp yên.

Tháng mười một [18/12/1797-16/1/1798] ,Vua nước Chân Lạp là Nặc Ấn chết, con là Nặc Chăn nối ngôi. Vương sai Chưởng cơ Tống Viết Phước và Tham tri bộ Lễ Trần Hưng Đạt sang phúng và biếu 100 cân sáp ong, 500 cân đường cát.

Sai các quân đóng thêm 50 chiếc thuyền đi biển, 100 chiếc thuyền sai và 200 chiếc thuyền chiến.

Tháng chạp [17/1-15/2/1798], lập đền Tinh Trung ở núi Hà La phủ Diên Khánh, tại phía bắc cửa biển Cù Huân. Trong chiến dịch Diên Khánh năm Ất Mão [1795], tướng sĩ có nhiều người chết trận và ốm. Vương nhớ đến, sai lập đền ở núi Hà La để thờ cúng, gọi là đền Tinh Trung, hằng năm mùa xuân, mùa thu cúng tế; đặt 20 người phu và một người Tự thừa trông coi. Chính giữa đền thờ 10 Chưởng cơ; tả hửu đền thờ 141 người chết trận, 99 người chết bệnh; tổng cộng 250 người.

Ngoài biển Bình Khang [Ninh Hòa, Khánh Hòa] có một chiếc thuyền của bọn giặc biển Tề Ngôi đậu ở Hòn Tre, Lưu trấn Diên Khánh Nguyễn Văn Thành sai Cai cơ Lê Quang Tường đem binh đội Thắng Thủy đánh bắt được. Việc tâu lên; Vương thưởng 3 tấm sa đoạn và 100 quan tiền.

Tháng giêng năm Mậu Ngọ [16/2-16/3/1798], Nguyễn Vương sai Cai phủ Dư Hải Quan đi Hạ Châu [Singapore] tìm mua vũ khí.

Tháng hai [17/3-15/4/1798] Xiêm La bị Diến Điện đánh, sai Sứ xin nhà Nguyễn giúp quân. Vương sai Chưởng Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức và Chưởng cơ Nguyễn Văn Trương đem hơn  7.000 thủy binh, 100 chiến thuyền viện trợ. Khi quân đến đảo Côn Lôn, hay tin người Xiêm đã phá được quân Diến Điện, lại sang báo tin thắng trận. Nhân đó Vương sai Nguyễn Huỳnh Đức cùng với Bảo hộ Nguyễn Văn Nhàn sang Xiêm bàn về việc quân; số còn lại thì rút về.

Sai các đội xuồng gỗ ở Chính dinh đi Quang Hóa [Tây Ninh] tìm chở ván gỗ để đóng chiến thuyền lớn và thuyền kiểu Tây dương.

Hai chiếc thuyền giặc biển Tề Ngôi vào vụng biển dinh Trấn Biên [Bà Rịa, Vũng Tàu] xin hàng; hạ lệnh đưa về Gia Định.

Tháng ba [16/4-15/5/1798] Đông cung Cảnh xin làm sách Hiển trung chư thần liệt truyện để khích lệ lòng người; Vương cho là phải.

Người Hồng Mao [Âu Tây] đến hiến phương vật.

Giặc biển Tề Ngôi đóng ở phần biển Cù Huân [Nha Trang, Khánh Hòa], Lưu trấn Diên Khánh Nguyễn Văn Thành nghe báo, sai bọn Cai cơ Lê Quang Tường đem quân đuổi theo bắt, tới Diên áo [Khánh Hòa] bắt được hai chiếc thuyền, số còn lại chạy thẳng về đông. Vương thưởng cho bọn Tường các thứ nhiễu 2 tấm, sa mát 4 tấm và tiền 100 quan.

Tháng tư [16/5-13/6/1798], định lệ đúc tiền. Cứ 100 cân kẽm thì đúc thành 35 quan tiền, mỗi quan tiền cân nặng 1 cân 14 lạng làm hạn. Sai Tri đồ gia Cáp Văn Hiếu và Nguyễn Thành Chẩn mộ người Hoa Kiều để đúc.

Sai Lễ bộ Ngô Tòng Chu hiệp cùng nguyên Lễ bộ kiêm Đốc học Nguyễn Thái Nguyên phụ giáo Đông cung. Tòng Chu là người Tân Bình, dinh Phiên Trấn, tính thanh liêm, học hạnh thuần chính, Vương đặc biệt để ý, nên có mệnh này. Tòng Chu từ tạ nói rằng :

 “Thần tài sơ đức mỏng, lạm dự văn ban còn sợ chưa được xứng chức, trách nhiệm phụ đạo, thần sợ làm không nổi”.

Vương nói :

Đông cung là ngôi trừ nhị (1) của nhà nước, kén người Sư phó, không phải khanh thì không được, đừng nên chối nữa”.

Tòng Chu vâng mệnh, hết lòng uốn nắn, nói thẳng không giấu giếm; Đông cung rất kính trọng.

Tháng năm [14/6-12/7/1798] Lưu trấn Diên Khánh Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường nhận định rằng giữa Tây Sơn và nhà Thanh có nhiều mối mâu thuẫn. Nhân bắt được giặc Tàu Ô, xin sai Sứ giải giao cho nhà Thanh, rồi tùy cơ tranh thủ ngoại giao, cùng tìm cách liên lạc với Cựu hoàng Lê Chiêu Thống. Sớ dâng lên Nguyễn Vương như sau :

 “Hiện nay ta với Tây Sơn chính là nước nọ địch với nước kia, thế không thể không đánh về ngoại giao để cầu viện, khiến cho thế giặc ngày càng cô, thế mới là mưu hay vạn toàn. Vả người Thanh từ khi có chuyện với Bắc Hà, bị Tây Sơn đánh bại, sao lại không đau lòng nhức óc, chứa thẹn ngậm hờn, tạm để đó chờ cơ hội tốt. Nay vua Gia Khánh nhà Thanh nối ngôi, buổi đầu hăng hái, tưởng không phải khí tượng đời Càn Long. Vả lại người Thanh lo giặc biển chưa có cách khống chế đã từng thông hịch cho Tây Sơn tìm bắt, nhưng nó lơ đi thì mối căm giận của người Thanh không những là ở giặc biển mà cũng lan đến Tây Sơn. Duy vì non sông hiểm trở, phong tục và tiếng nói khác nhau, nếu lại dùng binh, sợ khó thắng được. Vả Nam Bắc đường xa dặm cách, sự thế khó hiểu, họ cũng cho Tây Sơn đã chiếm cả bờ cõi Nam Việt, không ai đối địch nổi, sự thực hư mạnh yếu chỉ nghe bọn khách buôn truyền tin, chưa lấy gì làm chắc, nên vẫn bồi hồi ngóng trông, chưa định ngày xuất quân hoặc giả đó cũng là một cớ. Ngày nay từ khi quân ta thắng trận ở Đà Nẵng, bọn giặc biển Tàu Ô bắt được nhiều, bọn thần muốn nhân việc làm việc, soạn một bài biểu, lấy mấy chiếc thuyền giặc đem dâng để làm mối lái, tất vua Thanh phải khen nhận, không nỡ cho ta là tầm thường mà lơ. Nếu được đến chầu tận nơi, thì tùy nghi mở đóng, biện bạch phải trái. Một là nói rõ Tây Sơn xưng thần ở Trung Quốc mà xưng Đế ở ngoài, đập vào chỗ kỵ của họ để gây sự hiềm khích. Hai là ta thăm hỏi vua Lê, ngầm thông tin tức, để cùng nài xin. Nếu họ còn giữ được cái thói lễ nghĩa liêm sỉ thì sao nỡ bỏ đấy mà không hỏi ! Làm được thế thì lợi có nhỏ đâu ? Ví họ lại lần chần, lấy nghĩa nói khích mà không đồng lòng, thì cũng tỏ rõ được danh tiết của ta, làm nổi tiếng văn hiến, đủ làm cho người ta kính sợ, đối với việc cũng không hại gì. Nhưng nghĩ việc đi sứ không phải là nhẹ, chỉ nhờ một lời nói mà làm hay cho nước, thực không phải người rộng học suốt lý thì không thể làm nổi. Bọn thần xin cử hai người, một là Đông cung thị học họ Ngô tên Tĩnh, hai là Vĩnh Trấn ký lục họ Phạm tên Thận, dẫu không phải là tài lương sứ đời xưa, nhưng lòng trì thủ khá chắc, học vấn khá rộng, cũng không đến nỗi nhục quân mệnh đâu”.

Vương cho là phải, bèn dùng Hàn lâm viện Ngô Nhân Tĩnh làm Tham tri Binh bộ, đem quốc thư theo thuyền buôn người Thanh sang Quảng Đông. Nhân Tĩnh đến, nghe tin Cựu hoàng Lê Chiêu Thống  đã mất, nhà Thanh vẫn chưa chịu chính thức liên lạc ngoại giao với Nguyễn vương, nên đành trở về.

Tháng sáu [13/7-11/8/1798], bắt đầu đặt năm đồn quân Thần sách; gồm:Trung đồn, Tiền đồn, Tả đồn, Hữu đồn, Hậu đồn. Mỗi đồn đặt một Chánh thống và một Phó thống; lấy Khâm sai Tả quân là Phạm Văn Nhân làm Chưởng cơ giám quân quân Thần sách, cai quản tướng sĩ năm đồn.

Sai Chánh thống Tả đồn Thần sách là Lê Văn Duyệt đốc suất chở thóc gạo và thuốc men từ Gia Định đem chứa ở Diên Khánh; gồm: 22.100 phương gạo, 53.500 phương thóc, vị thuốc 300 cân.

Tháng bảy [12/8-9/9/1798], triệu Lưu trấn Diên Khánh Nguyễn Văn Thành về Gia Định để thương nghị việc binh. Sai Lê Văn Duyệt quản tướng sĩ dinh Tiên phong, cùng Đặng Trần Thường tạm trấn Diên Khánh; hơn một tháng sau Thành trở lại trấn, bèn gọi Duyệt về.

Dân Chân Lạp ở miền Hậu Giang dinh Vĩnh Trấn  nhiều người bị dân Việt xâm chiếm vườn đất, kiện lên quan. Sai Khâm sai chưởng cơ Hồ Văn Lân hội đồng với Cai bạ Phạm Ngọc Uẩn đi khám, hễ nơi nào dân Chân Lạp có trồng cây rồi thì trả lại; còn đất hoang thì cho dân Việt lập vườn tược, chia vạch giới hạn, để dứt mối tranh chấp.

Tháng tám [10/9-8/10/1798], tục dân Gia Định hay thờ Phật. Có nhà sư tên là Cao phạm tội, Vương muốn giết ngay; có kẻ nói sư là bậc chân tu, Vương nói : “Có chân tu nữa thì ích gì cho nước ?”. Nhân dịp sai các quan xét hết những chùa trong hạt, từ Hòa thượng cho đến Đạo đồng phải ghi hết số người vào sổ để dâng, rồi sai bộ Lại truyền bảo rằng : Phàm tăng đồ tuổi từ 50 trở lên thì vẫn miễn dao dịch, chưa đến 50 thì phải chịu dao dịch như dân, kẻ nào dám trốn tránh thì bắt tội. Bầy tôi bàn ra nói vào nhiều, nên Vương còn chưa quyết. Lễ bộ Ngô Tòng Chu nói với Đông cung Cảnh rằng :

Nhà vua bài trừ đạo Phật làm việc rất hay, bầy tôi không biết tán thành lại còn rườm lời. Tôi sợ việc này mà nửa chừng bỏ thì kẻ kia lại ngông cuồng hơn trước. Tôi không ghét riêng gì nhà sư. Nhưng mối hại của Phật Lão (2) còn quá hơn Dương Mặc (3), không thể không nói được”.

Đông cung nói :

 “Phải đấy”.

Tòng Chu bèn dâng sớ chỉ trích; Vương quyết ý theo.

Sai Phó tướng Hữu quân Nguyễn Đức Thành và Tham tri Hình bộ Nguyễn Hoài Quỳnh đi sứ sang Xiêm.

Tháng mười [8/11-6/12/1798] , triệu Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường về; sai Đông cung  Cảnh trấn giữ Diên Khánh, Giám mục Bá Đa Lộc đi theo, Phó tướng Tống Viết Phước và Nguyễn Công Thái đều lệ theo.

Đặt đài phong hỏa (4) ở các cửa biển thuộc Bình Thuận và Bình Khang.

Lấy Cựu Hàn lâm Đặng Đức Siêu làm Tham mưu Trung dinh. Siêu người huyện Bồng sơn, bình định. Đậu Cử Nhân,  là người văn học súc tích, gặp loạn đi ở ẩn. Giặc Tây Sơn thấy là danh sĩ, vời ra nhưng không đến. Năm Tân Hợi [1791], Vương thấy Siêu là cựu thần mật sai người đến triệu. Sau đó Siêu lẻn vào Gia Định, hiến phương lược đánh Tây Sơn; Vương khen, bèn trao cho chức này. Từ đó Siêu thường theo Vương ở chốn binh nhung, dự mưu cơ mật, càng ngày càng được yêu.

Tháng mười một [7/12/1798-5/1/1799] Sai Chưởng dinh Tiên phong Nguyễn Văn Thành và Tán lý Đặng Trần Thường đem quân đóng ở sông Đà Diễn thuộc Phú Yên. Trước đó phe Tây Sơn Tiểu triều Nguyễn Văn Bảo đánh úp thành Quy Nhơn, bọn Thái úy Nguyễn Văn Hưng thua chạy, Bảo sai thuộc hạ là Đại đô đốc Đoàn Văn Cát và Đô đốc Nguyễn Văn Thiệu giữ chợ Hội An [Phú Yên]; rồi sai người dâng biểu xin hàng Nguyễn Vương, nội dung :

Xưa Vi Tử (5) về nhà Chu, Trương Lương (6) theo nhà Hán, thực vì mệnh trời đã cho nhà Chu nhà Hán. Xin quân nhà vua cứ đến, nguyện làm quân đi trước.”

Vương sai bọn Thành đến tiếp ứng. Nhưng chưa đến kịp; thì Nguyễn Quang Toản đã đem quân vây thành, bắt Bảo giết đi, rồi sai đại tổng quản Lê Văn Thanh làm Lưu thủ. Cát và Thiệu đến Diên Khánh  xin theo; bọn Thành dẫn quân về.

Giặc Nguyễn Quang Toản tính hay nghi kỵ, nghe lời gièm pha. Trong việc biến Tiểu triều, Toản ngờ Tư lệ Lê Trung ở Trà Khúc có dự mưu, gọi Trung về Thuận Hóa, rồi hỏi Phụng chính là Trần Văn Kỷ rằng : “Tội Trung có đáng không ?” Kỷ nói : “Đáng”. Toản bèn giết Trung. Lại nghe lời nói vu của Thượng thư Hồ Công Diện mà giết Thiếu bảo Nguyễn Văn Huấn. Từ đó các tướng Tây Sơn lòng đâm ly tán, nhiều người có chí bỏ theo Nguyễn Vương.

Chưởng Tiền quân điều bát chư đạo bộ binh bình Tây đại tướng quân quận công Tôn Thất Hội chết. Hội là con thứ ba của Cai đội Tôn Thất Thăng, theo cha cùng Nguyễn vương vào Gia Định; từng hai lần hộ giá sang thành Vọng Các, khi trở về Gia Định cầm quân đánh giặc, công trạng rực rỡ, tính nghiêm trang, giữ gìn lễ độ, các tướng đều kính mà sợ. Lê Văn Duyệt từng bình luận mặt mạnh và mặt yếu của các tướng như sau:

Tống Viết Phước hăng mạnh mà không có mưu; Nguyễn Văn Thành có mưu mà ít hăng mạnh; duy Hội trí dũng gồm đủ, thật là bậc danh tướng,”

Đến bấy giờ chết, Vương rất thương tiếc truy tặng Nguyên phụ công thần đặc tiến thượng trụ quốc Chưởng dinh.

Lấy Chưởng dinh Tiên phong Nguyễn Văn Thành làm Chưởng dinh Tiền quân, Phó tướng Tiên phong Nguyễn Văn Tánh quản dinh Tiên phong. Sai chánh thống Tiền đồn quân Thần sách là Phan Văn Triệu quản Tàu vụ.

Nước Nhu Phật [Nước Johore ở đầu phía nam bán đảo Mã Lai] sai sứ là A Băng Cà Trạc đến dâng phẩm vật địa phương; Vương tặng rất hậu.

Tháng chạp [6/1-4/2/1799], Vương sai Khâm sai thuộc nội vệ úy Ô Li Vi [Olivier de Puymanel, ông Tín]  đi thuyền đến Hạ Châu [Singapore] tìm mua binh khí.

 

 

Chú thích:

1.Trừ nhị: nhân vật số hai, chuẩn bị lên làm Vua.

2.Phật Lão: Phật tức Phật giáo; Lão tức Lão Tử, triết gia xuất thế đời Chu.

3.Dương Mặc: Dương tức Dương Chu, Mặc tức Mặc Địch là hai triết gia thời Chiến Quốc. Dương chủ trương vị ngã, Mặc chủ tương kiêm ái.

4.Đài phong hỏa: đài đốt lửa báo động.

5.Vi Tử : anh vua Trụ nhà Thương, thấy Trụ bạo ngược, tất mất nước, bèn đem đồ tế khí  theo nhà Chu.

6.Trương Lương: Người nước Hàn, biết trước Hán Cao Tổ có thể nên nghiệp Đế nên theo  giúp để đánh Tần, trả thù cho Hàn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này