Ukraina Redux: Về Quốc gia tính và Căn cước Dân tộc

Paul Robert Magosci

Trần Tuấn Hải dịch

DẪN NHẬP

Vào ngày 24 tháng Hai 2022, Nga đã mở cuộc xâm lược toàn diện vào Ukraina. Giai đoạn thứ hai này của cuộc chiến vốn bắt đầu vào 2014 đã ập tới sau những tuyên bố trước đó của tổng thổng Nga Vladimir Putin, phủ nhận quyền lịch sử của người Ukraina được có một quốc gia của riêng mình, và thậm chí còn phủ nhận rằng người Ukraina dị biệt về mặt dân tộc so với những người láng giềng Nga của mình.1 Sự gắn kết của người Ukraina với quốc gia tính và một căn cước dân tộc dị biệt không hề được hiện thực hóa từ hư không. Trái lại, đó là sản phẩm của một quá trình phát triển tự nhiên trải gần bốn thế kỉ.

Gần đây nhất, Ukraina đã tuyên bố độc lập vào tháng Tám 1991, và ngay trước cuối năm đó, sau khi Liên Sô giải thể, Ukraina đã bắt đầu vận hành như một quốc gia hoàn toàn có chủ quyền trong cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, quốc gia tính độc lập chẳng phải điều gì mới mẻ. Chỉ riêng trong thế kỉ XX, toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ Ukraina đã tuyên bố độc lập không dưới năm lần trước 1991. Ý niệm về quốc gia tính tại Ukraina cũng không chỉ giới hạn trong thế kỉ XX .Ba thế kỉ trước đó người Ukraina đã kiến tạo một quốc gia vốn tồn tại dưới hình thức nào đó từ giữa thế kỉ XVII tới cuối thế kỉ XVIII.

 

  1. Ba thế kỉ trước đó người Ukraina đã kiến tạo một quốc gia vốn tồn tại dưới hình thức nào đó từ giữa thế kỉ XVII tới cuối thế kỉ XVIII.

Tiểu luận sau đây sẽ bàn về di sản quốc gia tính tại Ukraina và cả những hình thức mà nó thể hiện trước và sau lần tuyên bố độc lập gần đây nhất vào 24 tháng Tám 1991. Tiểu luận này cũng sẽ thảo luận về việc cư dân của xứ sở đã tự định nghĩa chính mình và mối quan hệ của họ như thế nào đối với quốc gia Ukraina về mặt căn cước quốc dân hoặc căn cước dân tộc.

I.  KHÁI NIỆM DÂN TỘC CHỦ NGHĨA

Sự sáng lập các quốc gia Âu châu hiện đại có liên hệ chặt chẽ với ý thức hệ dân tộc chủ nghĩa.

Trước khi miêu tả mối quan hệ giữa căn cước và quốc gia tính Ukraina, sẽ hữu ích khi phân biệt hai hình thức dân tộc chủ nghĩa, cả hai đều đóng vai trò trong quá trình phát triển căn cước Ukraina kể từ đầu thế kỉ XIX và mối quan hệ của căn cước đó trong hình thức hiện đại đối với sự tồn tại của quốc gia Ukraina.

Về bản chất, dân tộc chủ nghĩa là ý thức hệ vốn giả định: (1) rằng nhân loại được chia thành nhiều sắc dân, hoặc dân tộc; và (2) hệ thống chính trị-xã hội tối ưu là hệ thống mà trong đó từng sắc dân/dân tộc phải được hưởng quyền tự trị về văn hóa và chính trị, hoặc được ưa chuộng hơn cả là chủ quyền trọn vẹn và quốc gia tính độc lập.

Mối quan hệ của các sắc dân với quốc gia tính chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi cuộc Cách mạng Pháp 1789 và hậu quả của nó. Cho tới lúc đó, với chút ngoại lệ, các quốc gia tại Âu châu là hiện thân của cá nhân một vị quân vương (hoàng đế, quốc vương, vương công, đại công tước) hoặc một đoàn thể gồm các cá nhân có đặc quyền (quả đầu chế). Hai biến thể này của quốc gia tính Âu châu tiền cách mạng đã được Pháp Quốc minh họa bằng câu nói nổi tiếng của Vua Louis XIV: l’état c’est moi (Ta là quốc gia), và bằng cấu trúc chính trị của Cộng hòa Venezia, vốn do một nhóm gồm những quả đầu giả xuất thân quý tộc kiểm soát, họ bầu ra một lãnh đạo (Doge) nhằm thực thi những quyết định và chỉ thị của mình. Mô hình nước Pháp cách mạng có tầm ảnh hưởng đặc biệt, tại đó các lãnh đạo chính trị áp dụng nguyên tắc rằng quốc gia là hiện thân của nhân dân (công dân), do đó họ là căn nguyên lớn nhất của uy quyền chính trị.

 

1 Vladimir Putin, “Về sự thống nhất mang tính lịch sử của người Nga và người Ukraina,” truy cập tại https://www.prlib.ru/en/article-vladimir-putin-historical-unity-russians-and-ukrainians

 

Các quốc gia quân chủ và theo hình thức công dân đều tồn tại khắp Âu châu vào thế kỉ XIX. Hơn nữa, cả hai loại đều cố sử dụng dân tộc chủ nghĩa nhằm thủ lợi; cụ thể là kích động sự ủng hộ đối với chế độ của một quốc gia đang tồn tại qua việc kiến tạo một “căn cước dân tộc” chung trong số các cư dân của họ. Lúc đó hay bây giờ, không phải tất cả các sắc dân đều có quốc gia của riêng mình. Thế nên, mọi người phải xem xét hai biến thể của dân tộc nghĩa: do quốc gia áp đặt và được giới trí thức truyền cảm hứng.

Biến thể đầu tiên, dân tộc chủ nghĩa do quốc gia áp đặt, bao gồm những quốc gia như Pháp, Anh Quốc, Tây Ban Nha, đế quốc Áo-Hung và đế quốc Nga, tất cả đều qua chính sách cai trị (nhất là hệ thống giáo dục) đã bắt đầu áp đặt căn cước “dân tộc” Pháp, Tây Ban Nha, Đức-Áo, Hungary hoặc Nga lên toàn bộ cư dân, bất chấp nguồn gốc dân tộc/dân tộc-ngôn ngữ học thực tế của họ. Biến thể thứ hai, dân tộc chủ nghĩa được giới trí thức truyền cảm hứng, áp dụng với các sắc dân không có quốc gia của riêng họ – người Bretons, Ireland, Basques, Catalans, Phần Lan,

Litva, Ba Lan, Séc, Croatia, Rutheni/Ukraina, cũng như người Italia trước 1859 và người Đức trước 1871. Giới trí thức gồm các phần tử trí thức và nhà hoạt động chính trị – thường là tự phong – lập luận dựa trên căn cứ nhân quyền phổ quát rằng các sắc dân tương ứng của họ có

quyền tự trị. Về mặt tối thiểu, tự trị có nghĩa là tự chủ về văn hóa và tự chủ ở một mức độ nào đó về chính trị trong khuôn khổ một quốc gia hiện hữu, hoặc cũng có nghĩa là sự thành lập một quốc gia mới, độc lập và hoàn toàn có chủ quyền. Nói cách khác, rất nhiều song không phải tất cả các phong trào dân tộc đều có mục tiêu tối hậu là quốc gia tính độc lập.

II.  QUỐC GIA TÍNH UKRAINA: KHÁI NIỆM VÀ THỰC TẾ

Phong trào dân tộc Ukraina rơi vào trường hợp biến thể dân tộc chủ nghĩa do giới trí thức truyền cảm hứng. Giống như các phong trào dân tộc khác trong những sắc dân vô tổ quốc tại Âu châu, quan điểm của triết gia người Đức thời Khải mông Johann Gottfried Herder đã gây cảm hứng cho các trí thức Ukraina. Ông lập luận rằng mọi sắc dân khắp thế giới, bất chấp vị thế chính trị của họ, là những người chuyên chở một nền văn hóa độc nhất, và chính nền văn hóa đó (được biểu hiện một cách tối ưu qua tiếng mẹ đẻ của một sắc dân) có giá trị đặc thù của riêng mình.2

Trong tiến trình của thế kỉ XIX, giai đoạn đầu tiên của phong trào dân tộc Ukraina, các nhà hoạt động Ukraina (Ivan Kotliarevsky, Mykola Kostamarov, Panteleimon Kulish và Taras Shevchenko trong số những người khác) chủ yếu bận tâm tới hoạt động văn hóa: miêu tả các đặc tính dân tộc chí và định nghĩa phạm vi địa lí của người Ukraina, và hệ thống hóa một hình thức ngôn ngữ thành văn của mình. Trong giai đoạn thứ hai, một thế hệ các nhà hoạt động mới (Mykhailo Drahomanov, Ivan Franko, Mykhailo Hrushevsky) nhìn về quá khứ lịch sử nhằm biện minh cho sự tồn tại của một dân tộc Ukraina dị biệt, quyền tự trị văn hóa và chính trị, và cuối cùng là quốc gia tính.

2 Câu hỏi tu từ có tầm ảnh hưởng lớn của Herder, “Một dân tộc … có gì đáng quý hơn ngoài ngôn ngữ của tổ tiên?” và thảo luận của ông về sự bình đẳng văn hóa mang tính phổ quát xuất hiện trong Johann Gottfried von Herder, Briefe zu Beförderung der Humanität (Thư tín dành cho sự tiến bộ của nhân loại, 1793), Số 10, trong Werke của ông, Tập VII (Frankfurt am Main, 1991), tr. 65.

 

Các quốc gia Ukraina sơ kì

Trong bối cảnh của niềm hứng thú với quá khứ lịch sử mà người ta đã nhấn mạnh các tỉ dụ trước đó về quốc gia tính trên các vùng đất thuộc Ukraina. Thực thể trung đại được biết đến với danh xưng Rus’, vốn đã vận hành như một liên minh lỏng lẻo gồm các vương công quốc từ thế kỉ IX đến XIV,* là tỉ dụ đầu tiên cần được đề cập. Đây là điều khó tránh khỏi, xét tới thực tế rằng trung tâm chính trị, xã hội-kinh tế và văn hóa của Rus’ là thành Kyiv nằm trong trung tâm Ukraina. Tuy nhiên, Rus’ Kyiv đã mở rộng ra cả bên ngoài Ukraina thời nay và bao gồm toàn bộ Belarus và phần lớn Nga thuộc Âu châu.

Về mặt lãnh thổ, một quốc gia Ukraina đặc trưng hơn cả là Quân đoàn Zaporozhia hoặc Hetmanate, được sáng lập vào 1649 dưới quyền vị thủ lĩnh Kozak vùng Zaporozhia là Bohdan Khmelnytskyi, trong số những người kế vị xuất chúng nhất của ông vào thế kỉ XVIII có Ivan Mazepa. Hetmanate vận hành chủ yếu như một chính thể tự trị tại Trung phần Ukraina trong hơn một thế kỉ cho tới khi bị chính quyền đế quốc Nga dưới thời Yekaterina II thủ tiêu vào 1780s.

Mặc dù đã cáo chung, Hetmanate của người Kozak sau này đã khơi niềm cảm hứng cho các tác phẩm của một số lượng ngày càng lớn các nhà văn, nghệ sĩ, sử gia, và nhà hoạt động công dân Ukraina vào thế kỉ XVIII, và điều này đã cung cấp cho họ một tỉ dụ cụ thể về một chính thể tự trị có thể được khôi phục theo hình thức này hoặc hình thức khác trong tương lai.

Khi ý thức hệ dân tộc chủ nghĩa vươn tới các trí thức Ukraina trong những thập niên đầu tiên của thế kỉ XIX, lãnh thổ Ukraina đã bị phân chia giữa Đế quốc Nga ở phía “Đông” và Đế quốc Áo (sau này là Áo-Hung) ở phía “Tây.” Thái độ của hai quốc gia này đối với khát vọng của Ukraina khác nhau một trời một vực, nhất là trong hậu bán thế kỉ XIX “dài hơi,” từ 1848 tới 1914. Các nhà cai trị của Áo thuộc gia tộc Habsburg đã khoan dung và thậm chí còn khích lệ phong trào dân tộc ở những người Ukraina (danh xưng chính thức là người Ruthenen/Ruthenia vào lúc đó) trú tại thành Lviv “phía Tây”, trong khi chính quyền Nga Sa hoàng hung hãn tìm cách đàn áp phong trào dân tộc Ukraina ở những người Ukraina (danh xưng chính thức là người Tiểu Nga/Malorossy) trú tại thành Kyiv “phía Đông.”3

Dẫu vậy, vào 1890s, các chính đảng đậm chất Ukraina đã hoạt động ở cả Đế quốc Nga và Đế quốc Áo-Hung. Đây cũng là thời điểm các lãnh đạo nhất định – Yulian Bachynskyi (tác gia của Ukraina irredenta, 1895) và Mykola Mikhnovskyi (soạn giả Samostiina Ukraïna/Ukraina Độc lập, 1900) – đã đưa ra ý niệm một quốc gia độc lập sẽ bao gồm lãnh thổ có người Ukraina cư trú từ cả hai đế quốc. Chưa đầy hai thập niên sau đó, những ý niệm tưởng chừng như viển vông đã thành hiện thực.

* Các học giả Nga và Tây phương giả định rằng Rus’ Kyiv đã cáo chung vào 1240 cùng với cuộc xâm lược của Mông Cổ, không nhận ra rằng quốc gia Rus’ tiếp tục tồn tại thêm ít nhất một thế kỉ nữa dưới hình thức Vương quốc Galicia-Volhynia tọa lạc tại Tây phần Ukraina ngày nay.

3 Paul Robert Magosci, Lịch sử Ukraina: Lãnh thổ và Các sắc dân của mình, ấn bản thứ hai đã tu đính và mở rộng (Toronto, Buffalo, và London: Xuất bản xã Đại học Toronto, 2010), tr. 389-407, 423-442 và 467-488.

 

Thời kì cách mạng thế kỉ XX

Vào tháng Hai 1917, khi Đệ nhất Thế chiến tiếp tục diễn ra ác liệt khắp Âu châu và Trung Đông, chính quyền đế quốc Nga Sa hoàng đã sụp đổ. Nó đã được thay thế bởi Chính phủ Lâm thời mang tính Âu châu khai phóng và thiên hướng dân chủ. Tuy nhiên trong chưa đầy một năm, Chính phủ Lâm thời đã bị lật đổ và thay thế bằng chế độ cách mạng do Bolshevik lãnh đạo, họ quyết tâm kiến tạo một cấu trúc chính trị hoàn toàn mới: một quốc gia của công nhân do các nghị hội (soviet) của công nhân, binh sĩ và nông dân điều hành theo đường lối ý thức hệ của Đảng Cộng sản. Sự thay đổi không đến nhanh lắm. Phe Bolsheviks mất ba năm nữa để tiêu diệt hoàn toàn kẻ thù nội bộ và ngoại bang, sáng lập nên vài nước cộng hòa theo kiểu soviet trong

quá trình đó, và rốt cuộc (tháng Mười Hai 1922) đã thống nhất các quốc gia đó thành Liên minh các nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Soviet – Liên Sô.

Ngay từ đầu thời kì cách mạng, người Ukraina đã tiến hành giành quyền tự trị và tất yếu là quốc gia tính độc lập. Vào tháng Ba 1917, một cơ quan với danh xưng Rada Trung ương Ukraina (Nghị hội) được thành lập tại Kyiv. Nó gồm 800-900 đại biểu được bầu ra, những người đại diện cho nhiều giai tầng trong xã hội Ukraina: nông dân ở nông thôn, công nhân ở nhà máy, binh sĩ, và các hiệp hội công dân. Trước khi năm 1917 khép lại, Rada Trung ương đã sáng lập nước Cộng hòa Dân tộc/Nhân dân Ukraina,** và vào tháng Một 1918 đã trở thành “một Quốc gia độc lập, không bị ai khuất phục, Tự do, có Chủ quyền của Nhân dân Ukraina.”4 Do đó đối với Rada Trung ương, khái niệm “Nhân dân Ukraina” có nghĩa là “toàn bộ dân chúng thuộc lãnh thổ chúng ta”; cụ thể là dân tộc Ukraina và “các sắc dân khác thuộc Ukraina.”5 Hơn nữa, tất cả các sắc dân đều có “quyền tự chủ dân tộc-cá nhân.”6

Trên thực tế, ba mươi phần trăm số thành viên của Rada Trung ương được dành cho các sắc dân có số lượng lớn nhất của nền cộng hòa: dân tộc Nga, Ba Lan và Do Thái. Từng nhóm dân tộc này có bộ trưởng chính quyền đại diện cho lợi ích của họ trong Ban Tổng thư kí về Vấn đề Dân tộc thuộc Rada Trung ương, và một Bộ Do Thái Sự vụ đặc biệt được thành lập nhằm giám sát quyền tự trị dành cho các cộng đồng Do Thái. Mang tính biểu tượng trong bản chất đa dân tộc của Cộng hòa Nhân dân Ukraina là tiền mặt, trên đó ngoài tiếng Ukraina ra thì cũng có các ngôn ngữ khác như tiếng Nga, Ba Lan và Yiddish.

Cộng hòa Dân tộc Ukraina có khả năng tập hợp một quân đội quốc gia để bảo vệ lãnh thổ mà họ đã tuyên bố: chín tỉnh (huberniya) chủ yếu do người Ukraina cư trú trong cựu Đế quốc Nga. Xứ Ukraina độc lập được Liên minh Trung tâm công nhận thông qua Hiệp ước Brest- Quốc gia Kozak cũng sử dụng thuật ngữ tương tự đối với các đạo luật của chính phủ được ban hành trong thế kỉ XVII và XVIII. Tính từ narodniy trong tiếng Ukraina (gốc là narod: nhân dân) có thể được chuyển ngữ thành “của nhân dân” hoặc “dân tộc.” Dạng thứ hai được sử dụng trong hầu hết các cứ liệu Anh văn về chủ đề này và cũng được sử dụng ở đây.

** Bản tuyên ngôn dưới hình thức một universal (nghĩa là tuyên bố hoặc nghị quyết) được Rada Trung ương sử dụng để gợi lại tiền lệ trong lịch sử của Quốc gia Kozak, các hetman và chức viên khác thuộcLitovsk (Tháng Hai-Ba 1918), Đức và Áo-Hung đã chấp nhận lời thỉnh cầu nhằm điều quân tới bảo vệ Ukraina trước Nga Soviet. 

 

4 “Universal thứ tư của Rada Trung ương Ukraina, 09 tháng Một 1918,” trong The Ukraine, 1917-1921: A Study in Revolution (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1977), Taras Hunczak biên tập, tr. 392.

5 “Second Universal of the Ukrainian Central Rada, 3 July 1917,” in ibid., p. 386.

6 “Fourth Universal,” in ibid., p 394.

 

 

Khi Đức bất bình với điều họ cho là sự kém hiệu quả của Rada Trung ương, vào tháng Tư 1918 họ đã hỗ trợ đưa một lãnh đạo thân Đức, Hetman Pavlo Skoropadskyi, lên điều hành chính thể tại Kyiv có danh xưng chính thức là Quốc gia Ukraina. Chính chức danh của Skoropadskyi đã gợi lại truyền thống lâu đời của quốc gia tính Ukraina truy ngược về Hetmanate của người Kozak vào thế kỉ XVII và XVIII.

Sau khi Đức đầu hàng phe Đồng minh vào tháng Mười Một 1918, thuộc quốc Hetmanate của họ sụp đổ. Tuy nhiên, quốc gia tính Ukraina vẫn tồn tại với việc khôi phục ngay lập tức Cộng hòa Dân tộc Ukraina, lần này dưới sự lãnh đạo của một cơ quan hành pháp, Đốc chính phủ (Dyrektoriya) do Symon Petliura đứng đầu. Trong bối cảnh nội chiến, các cuộc khởi nghĩa nông dân và ngoại xâm vốn đặc trưng cho Ukraina vào giai đoạn 1919-1920, Cộng hòa Dân tộc Ukraina do Đốc chính phủ lãnh đạo đã xoay xở để tồn tại, dù rất chật vật, cho tới khi binh lực của họ bị đẩy lùi khỏi Ukraina vào tháng Mười Một 1920.

Dù hoàn cảnh rối loạn vào thời hậu Đế quốc Nga Sa hoàng, một quốc gia Ukraina dù theo hình thức cộng hòa nhân dân hay hetmanate đã xoay xở nhằm sinh tồn theo một hình thức nào đó trong thời kì cách mạng 1917-1920. Chứng cứ về sự tồn tại của nó đã được xác nhận trên trường quốc tế. Ukraina được công nhận theo pháp luật và/hoặc trên thực tế bởi 25 quốc gia, và với tư cách một quốc gia độc lập nó đã được kết nạp vào vài tổ chức quốc tế (hàng hải, bưu chính, điện báo và liên minh vô tuyến điện).7

Ý thức rất rõ về thực tế và sức mạnh của phong trào dân tộc Ukraina và tầm quan trọng của quốc gia tính Ukraina như một lực thống nhất đối với những người tự nhận là người Ukraina, phe Bolsheviks đã phản ứng bằng cách sáng lập một thực thể đối địch vào tháng Mười Hai 1917, Cộng hòa [các] Nghị hội Ukraina đặt tại Kharkiv. Nhu cầu được viện dẫn nhằm bảo vệ Cộng hòa Nghị hội, không lâu sau được đổi tên thành Cộng hòa Ukraina Soviet, sau này đã cung cấp cái cớ “hợp pháp” để nước Nga Bolshevik phái Hồng quân vào Ukraina nhằm đẩy lùi lực lượng đối thủ là Cộng hòa Dân tộc Ukraina.8

Trong khi đó, trong lãnh thổ có người Ukraina/Ruthenia cư trú ở Đế quốc Áo-Hung (đã sụp đổ vào cuối tháng Mười 1918), một nước Cộng hòa Dân tộc Tây Ukraina đặt tại tỉnh Galicia cũ thuộc Áo được thành lập tại Lviv vào 1 tháng Mười Một 1918. Hai tháng sau Cộng hòa Tây Ukraina tuyên bố hợp nhất với Cộng hòa Dân tộc Ukraina tại Kyiv. Giống như quốc gia tương ứng của họ tại Kyiv, Cộng hòa Dân tộc Tây Ukraina hiểu khái niệm “người Ukraina” theo nghĩa công dân; cụ thể là bao hàm toàn bộ các sắc dân sống trên lãnh thổ của mình. Tại nghị viện mới được đề xuất trong nền cộng hòa, ba mươi phần trăm các đại biểu được dành riêng cho người Ba Lan, Do Thái và Đức-Áo.9


7
Vasyl Markus, “International Legal Status of the Ukrainian State,” in Ukraine: A Concise Encyclopedia, Vol. 2 (Toronto University Press, 1971), pp. 67-68.

8 Jurij Borys, The Sovietization of Ukraine, 1917-1923 (Edmonton: Canadian Institute of Ukrainian Studies, 1980), pp. 184-188.

 

 

Mặc dù tuyên bố thống nhất, Cộng hòa Tây Ukraina duy trì Quân đội Galicia Ukraina của riêng mình (trong đó có một đơn vị tác chiến độc lập của người Do Thái). Hai quân đội có sự khác biệt về mặt tác chiến của hai nước cộng hòa thường xuyên tham gia vào cuộc đấu tranh sinh tồn. Cộng hòa Tây Ukraina ủng hộ chống lại Ba Lan, và bị Ba Lan đả bại vào tháng Bảy 1918.

Cộng hòa Dân tộc Ukraina chiến đấu chống lại Nga Soviet do Bolshevik lãnh đạo, lực lượng Bạch Nga kháng Bolshevik, và vài “đạo quân” nông dân cát cứ đang hoạt động trên lãnh thổ Ukraina thuộc Đế quốc Nga cũ. Dù Cộng hòa Dân tộc Ukraina đóng tại Kyiv và cả Cộng hòa Dân tộc Tây Ukraina đặt tại Lviv rốt cuộc đã bị đả bại, họ đã xoay xở huy động hàng vạn quân để chiến đấu và hi sinh vì xứ sở Ukraina của mình. Sức mạnh của niềm tin vào quốc gia tính Ukraina, vốn đã thể hiện trong thời kì cách mạng (1917-1921), đã khiến giới lãnh đạo Bolshevik tại Moskva (Lenin và Stalin) tin rằng Nga Soviet chỉ có thể hi vọng sẽ duy trì sự kiểm soát đối với Ukraina nếu phái Hồng quân đi xâm chiếm xứ sở đó. Chiến thuật đó đã phản ánh quan điểm trong các lãnh đạo chính trị (Trotsky, Manuilskyi, Rakovskii) và quân sự Boshevik (Muraviev, Antonov-Ovseenko). Các chiến dịch quân sự được tiến hành đi đôi với sự hợp tác với một Đảng Cộng sản Ukraina riêng biệt (Bolshevik) đảm nhiệm việc điều hành một quốc gia Ukraina Soviet được liên minh chặt chẽ song tách biệt về hành chính với Nga Soviet.

Thời kì Soviet

Cộng hòa [các] Nghị hội Ukraina, được cải thành Cộng hòa Soviet Xã hội Chủ nghĩa Ukraina, có tất cả mọi hình thức của quốc gia tính. Nước cộng hòa đặt thủ đô tại Kharkiv và thông qua hiến pháp của riêng mình (tháng Ba 1919), theo đó quy định một nghị viện (Đại hội các Soviet gồm các Ủy viên của Nông dân, Công nhân và Binh sĩ) và một cơ quan hành pháp chính phủ (Nhân dân Ủy viên hội). Đạo luật quốc tế quan trọng đầu tiên của nó là một hiệp ước liên minh (tháng Mười Hai 1920) được đại diện hai quốc gia riêng biệt kí kết, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Soviet Nga (từ giờ trở đi gọi tắt là Nga Soviet) và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Soviet Ukraina (từ giờ trở đi gọi tắt là Ukraina Soviet).10 Ngay cả khi hiệp ước quy định một liên minh quân sự và kinh tế, Ukraina Soviet trong một thời gian vẫn là một “quốc gia có chủ quyền,” có quyền kiểm soát lĩnh vực nông nghiệp, tư pháp, giáo dục và ngoại giao của mình.

Trên thực tế, trong thời kì 1920-1923, Ukraina Soviet vận hành – và được thế giới bên ngoài nhìn nhận – như một quốc gia độc lập. Họ duy trì đại diện ngoại giao và/hoặc là một bên trong các hiệp ước với vài quốc gia hậu chiến (Ba Lan, Tiệp Khắc, Áo, Litva, Latvia, Estonia, Thổ Nhĩ Kì), và đã kí các thỏa thuận song phương với vài quốc gia khác.11

Là một phần trong quá trình chuyển hóa không gian lãnh thổ đế quốc Nga cũ, “chủ quyền” của Ukraina Soviet đã kết thúc vào tháng Mười hai 1922. Vào thời điểm đó các tư tưởng gia Bolshevik đã gác lại mục tiêu dài hạn của cách mạng thế giới, và dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Toàn Liên minh Iosif Stalin – người hiểu rất rõ sức mạnh vĩnh cửu của dân tộc chủ nghĩa mang tính tộc quần – đã quyết định sáng lập một liên bang gồm các nước cộng hòa “dân tộc.” Hiệp ước liên minh 1922 đã hợp nhất Nga, Byelorussiya, Ukraina và Ngoại Kavkaz để hình thành Liên minh [các nước] Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Soviet (từ giờ trở đi gọi tắt là Liên Sô). Có thể đưa thêm các nước cộng hòa Soviet khác vào cấu trúc quốc gia liên bang này dựa trên nền tảng “tự nguyện,” điều quả thực đã xảy ra trong thập niên 20 cùng với sự sáng lập ba nước cộng hòa khác ở Trung Á (Turkmenistan, Uzbekistan, Kirgizstan) tách ra từ Nga Soviet và việc tổ chức lại vùng Ngoại Kavkaz thành ba nước cộng hòa khác nhau (Gruziya, Armenia, Azerbaijan). Trong liên minh có tính chất liên bang trên danh nghĩa này, Ukraina Soviet đã vận hành như một không gian chính trị chung, tại đó cư dân được đồng nhất (và họ cũng tự đồng nhất) với một thực thể gọi là Ukraina vốn được hưởng một mức độ tự trị trong vài năm.

9 Vasyl Kuchabsky, Western Ukraine in Conflict with Poland and Bolshevism, 1918-1923 (Edmonton and Toronto: Canadian Institute of Ukrainian Studies Press, 2009), p. 57.

10 “Treaty of Union Between the Russian Soviet Socialist Republic and the Ukrainian Soviet Socialist Republic, 28 December 1920,” in Magocsi, History of Ukraine, pp. 563-564.

11 Borys, Sovietization of Ukraine, pp. 309-311.

 

Tỉ dụ, Ukraina Soviet trong một thời gian đã tiếp tục duy trì quyền kiểm soát đối với hệ thống giáo dục và sự phát triển văn hóa của mình. Được chính quyền Toàn Liên minh tại Moskva khuyến khích, chính phủ của Ukraina Soviet vào 1923 đã khởi động một chương trình gọi là Ukraina Hóa.12 Mục tiêu chiến lược của chương trình này là nhằm hợp thức hóa uy quyền của Đảng Cộng sản (Bolshevik) Ukraina bằng cách thu hút quần chúng địa phương với xuất thân đa dạng vào hàng ngũ của họ. Nhận thấy sức mạnh thực tế và tiềm tàng của tình cảm dân tộc Ukraina, đảng hi vọng sẽ thu hút sự ủng hộ và các thành viên mới qua việc cổ xúy ngôn ngữ Ukraina và văn hóa Ukraina dưới mọi hình thức.

Chương trình Ukraina Hóa đã đem lại kết quả đáng kinh ngạc tới mức vào 1929, ba phần tư số học sinh thuộc nước cộng hòa đã theo học tại các trường mà ở đó tiếng Ukraina là ngôn ngữ giảng dạy. Số lượng xuất bản phẩm và các viện văn hóa (các cơ quan khoa học, thư viện, kịch trường, viện bảo tàng) sử dụng ngôn ngữ Ukraina cũng tăng vọt.

Chương trình Ukraina Hóa thành công tới nỗi chính quyền Cộng sản Toàn Liên minh tại Moskva (dưới uy quyền ngày càng lớn của Iosif Stalin sau 1929) lo sợ rằng họ đang vô tình đóng góp cho dân tộc chủ nghĩa Ukraina, vốn luôn được coi là mối đe dọa với sự cai trị của Soviet.

Chính vào thời điểm này, Stalin đã khởi động Kế hoạch Năm năm Đầu tiên của Liên Sô nhằm công nghiệp hóa đất nước nhanh hơn và tập thể hóa khu vực nông nghiệp bằng vũ lực, nếu cần thiết. Cụ thể là Ukraina đã cảm nhận được tác động tai hại của tập thể hóa mang tính cưỡng bách, dẫn tới việc lưu đày hơn một triệu nông dân tư hữu (kulaki hoặc phú nông) và gây ra một nạn đói nhân tạo mang tính diệt chủng được gọi là Holodomor (Sát nhân bằng bỏ đói) hoặc Nạn đói Lớn tới mức chỉ riêng giai đoạn 1932-1933 đã có gần bốn triệu người chết.13

Những diễn biến thảm khốc này đi kèm việc phá dỡ hoàn toàn chương trình Ukraina Hóa và một cuộc tiến công trực diện vào các lãnh đạo văn hóa và trí thức Ukraina. Việc phối hợp tiến công đồng thời vào nông dân và giới trí thức thành thị Ukraina đầu thập niên 30 đã không tiêu diệt được tình cảm dân tộc của Ukraina. Trên thực tế, kết quả tích cực của quá trình Ukraina Hóa và nhất là nỗi thống khổ chung trong suốt Nạn đói Lớn (Holodomor) đã cung cấp một lượng kí ức tập thể dồi dào mà trong tương lai sẽ trỗi dậy bất cứ khi nào hoàn cảnh chính trị thay đổi cho phép phong trào dân tộc Ukraina phục hưng.

12 Terry Martin, The Affirmative Action Empire: Nations and Nationalism in the Soviet Union, 1923-1939 (Ithaca and London: Cornell University Press, 2001), pp. 75-124.

13 Oleh Wolowyna, “The Famine-Genocide of 1932-1933: Estimation of Losses and Demographic Impact,” in Bohdan Klid and Alexander J. Motyl, eds., The Holodomor Reader (Edmonton and Toronto: Canadian Institute of Ukrainian Studies Press, 2012), p. 63.

 

Không phải tất cả người Ukraina đều sống trong biên giới Ukraina Soviet trong suốt những năm giữa hai cuộc chiến vào thế kỉ XX. Hơn 7.2 triệu người (1930) tiếp tục cư trú tại bản quốc lâu đời của mình vào thời điểm bị các lân quốc Ba Lan, Romania và Tiệp Khắc cai trị.14 Đại đa số (5.9 triệu) những người sống tại Ba Lan (xứ Galicia mang tính lịch sử) thuộc thành phần ái quốc nồng nhiệt nhất trong toàn thể người Ukraina. Trong một thời gian ngắn ngủi họ đã có quốc gia của riêng mình, Cộng hòa Dân tộc Tây Ukraina vốn đã vận hành từ tháng Mười Một 1918 cho tới tháng Bảy 1919 khi bị quân lực Ba Lan đả bại.

Tiếp theo, người Ukraina vùng Galicia đã thành lập một số phong trào quân sự và chính trị ngầm (Tổ chức Quân sự Ukraina – UVO, Tổ chức Những người Dân tộc chủ nghĩa Ukraina – OUN, và Quân Phản kháng Ukraina – UPA), những nhóm này đã chiến đấu chống Ba Lan, Đức Quốc Xã và Liên Sô từ thập niên 20 tới đầu thập niên 50. Mục đích của họ là sáng lập một quốc gia Ukraina độc lập, phi Soviet. Tỉ dụ, trước và trong Đệ nhị Thế chiến, quốc gia tính Ukraina đã được tuyên bố tại đông phần Tiệp Khắc (Ukraina Karpattiya, tháng Mười Một 1938-tháng Ba 1939) và ở xứ Galicia cũ do Ba Lan quản lí (cái gọi là Đạo luật Tái lập Quốc gia Ukraina, 30 tháng Sáu 1941). Dù cả hai thực thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, họ đã bồi đắp kí ức lịch sử cho dân chúng về một quốc gia độc lập từng hiện hữu và có thể tồn tại trong tương lai.

Thắng lợi của Liên Sô khắp trận tuyến phía đông và việc Stalin khăng khăng đòi mở rộng biên giới xứ sở của ông xa hơn về phía tây đã có tác động trực tiếp tới Ukraina Soviet. Lãnh thổ do người Ukraina cư trú tại Ba Lan vào thời kì giữa hai cuộc chiến (đông phần Galicia và tây phần Volhynia), Romania (bắc phần Bukovina và lãnh thổ thuộc Bessarabia), Tiệp Khắc (Rus’ Hạ Karpattiya/Ngoại Karpattiya) – với tổng diện tích 64.500 dặm vuông/165.000 ki-lô-mét vuông cùng 11 triệu cư dân – đã được thêm vào Ukraina Soviet. Những vùng đất này chiếm một phần tư lãnh thổ của xứ sở thời hậu chiến – 232.000 dặm vuông/604.000 ki-lô-mét vuông cùng

41.9 triệu cư dân (1959).15 Lần đầu tiên trong lịch sử, đại đa số lãnh thổ do dân tộc Ukraina cư trú (được các học giả Ukraina định nghĩa) đều nằm trong biên giới của một quốc gia Ukraina duy nhất, dù là quốc gia Soviet. Hơn nữa, có những vùng đất (nhất là Galicia mang tính lịch sử), tại đó phong trào dân tộc Ukraina đã khởi phát sớm nhất và là nơi căn cước dân tộc và dân tộc-ngôn ngữ học vẫn còn mạnh mẽ nhất và lan rộng nhất.

Mặc dù vào cuối thập niên 40, mục tiêu độc lập của Ukraina rõ ràng đã không đạt được, khái niệm quốc gia tính Ukraina không hề biến mất, về mặt nào đó trên thực tế nó còn được tiếp thêm sinh khí. Vào 1945, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Soviet Ukraina (Ukraina Soviet) trở thành một trong 51 thành viên sáng lập Liên hiệp quốc.

14 Paul Rober Magosci, Ukraine: An Illustrated History (Seattle, University of Washington Press, 2007), Table 35.1, p. 222.

15 Magocsi, History of Ukraine, pp. 3 and 688.

 

Ukraina Soviet tất nhiên vẫn là một bộ phận của Liên Sô, song nó vận hành theo pháp luật như một quốc gia dị biệt gồm: Phái bộ Thường trực tại Liên hiệp quốc mà tại đó các đại sứ đại diện cho Ukraina Soviet trên danh nghĩa là tách biệt với Liên Sô; tư cách thành viên trong nhiều cơ quan khác nhau thuộc Liên hiệp quốc (Năng lượng Nguyên tử, Lao động, Viễn thông, UNESCO, Tổ chức Y tế Thế giới, trong số các cơ quan khác); và là bên kí kết trong hơn 120 hiệp định, công ước, và tuyên bố quốc tế – trong số đó gồm Hiệp định Hòa bình Paris (1947), Tuyên ngôn Nhân quyền Phổ quát (1948), Hiệp ước Moskva về Hạn chế Vũ khí Hạch tâm (1963).16

Đúng là hành động của Ukraina Soviet trên trường quốc tế chỉ có thể được thực hiện khi hợp tác đầy đủ với và tuân thủ chính quyền trung ương Liên Sô. Tuy nhiên, Ukraine Soviet hành động với tư cách một quốc gia và được nhìn nhận như vậy trong một số bối cảnh quốc tế.

Ngay cả tại quê nhà, các lãnh đạo Đảng Cộng sản tại Kyiv đã cố gắng tăng cường lợi ích của Ukraina Soviet bằng việc vận động chính quyền trung ương tại Moskva nhằm nhận được nhiều khoản đầu tư hơn cho nước cộng hòa của mình từ ngân sách Toàn Liên minh. Một tỉ dụ của mối bận tâm như vậy là Krym (Crimea). Sau khi Nga Soviet “nhượng” Krym vào 1954, chính phủ Ukraina Soviet rất coi trọng vấn đề này và đã làm sức hết nhằm cải thiện nền kinh tế của lãnh thổ mới nhận được.

Trong khi đó, ý niệm về quốc gia tính không phụ thuộc vào Liên Sô cứ thế tồn tại. Dù chỉ là giấc mộng, song trong suốt thập niên 60 và 70 chúng vẫn sống trong tác phẩm của những trí thức bất đồng chính kiến bị đàn áp tại Ukraina Soviet (Ivan Dzyuba, Valentin Moroz, Ivan Svitlichniy, Tướng Petro Hrihorenko) và trong sáu triệu người Ukraina lưu tán hiện đang sống tại nhiều quốc gia khắp thế giới, nhất là Mĩ và Canada.

UKRAINA ĐỘC LẬP

Vào ngày 24 tháng Tám 1991, nghị viện được bầu ra của Ukraina Soviet (Verkhovna Rada) đã tuyên bố Ukraina là một “quốc gia dân chủ độc lập.”17 Động thái mới nhất hướng về quốc gia tính độc lập này là một quá trình chậm rãi có liên hệ tới những cải cách và sự chuyển biến của xã hội Soviet được khởi xướng sau 1985 bởi chủ tịch đảng Cộng sản Toàn Liên minh, Mikhail Gorbachyov.

Những cải biến tại Liên Sô không khởi đầu một cách chân thành cho tới 1989 và được thúc đẩy bởi một tổ chức công dân với danh xưng Rukh – Phong trào Nhân dân nhằm Tái cấu

trúc Ukraina. Những người ủng hộ Rukh được bầu làm đại biểu tại nghị viện, và nhờ sự hợp tác với một số đại biểu Cộng sản, họ đã chỉ đạo cơ quan đó tuyên bố Ukraina là một một quốc gia có chủ quyền (tháng Bảy 1990). Bước tiếp theo hướng tới quốc gia tính đã được kích hoạt nhờ những sự kiện không ngờ tới tại Moskva: một nỗ lực đảo chính (tháng Tám 1991) nhằm lật đổ Gorbachyov. Sau khi cuộc đảo chính thất bại, nghị viện Ukraina tuyên bố độc lập (ngày 24 tháng Tám).

16 Theofil I. Kis, Nationhood, Statehood and the International Status of the Ukrainian SSR/Ukraine (Ottawa, London, and Paris: University of Ottawa Press, 1989), pp. 57-62.

17 “Resolution of the Supreme Soviet of the Ukrainian S.S.R. on the Declaration of Independence of Ukraine, 24 August 1991,” cited in Magocsi, History of Ukraine, p. 723.

 

 

Nhằm hợp pháp hóa lời tuyên bố đó hơn nữa, nghị viện đã kêu gọi tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc trong ba tháng nữa, vào ngày 1 tháng Mười Hai. Những công dân đủ

tư cách bầu cử được yêu cầu tán thành hoặc phản đối tuyên bố của nghị viện. Ngay cả với những người ủng hộ độc lập nồng nhiệt nhất, kết quả cũng không ngờ tới. Tỉ lệ đáng kinh ngạc với 92 phần trăm số cử tri đã tán thành tuyên bố. Thậm chí tại những khu vực dường như ít có khả năng ủng hộ nền độc lập của Ukraina hơn, hơn một nửa số cử tri đã làm vậy (vùng Donetsk với 84%, vùng Luhansk 84%, Krym 54%).18

Điều gì đã thôi thúc số lượng người dân đông đảo như vậy tán thành nền độc lập? Điều chắc chắn là niềm tin rằng có quốc gia của chính mình là điều đảm bảo tốt nhất cho dân tộc Ukraina sinh tồn đã truyền cảm hứng cho nhiều người. Tuy nhiên, số khác lại chỉ muốn bất kì sự thay đổi nào, với niềm hi vọng cuộc sống của họ và con cái sẽ cải thiện. Độc lập dường như đáp ứng được nguyện vọng của cả hai nhóm người.

Trong vòng vài tuần kể từ cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 1 tháng Mười Hai, Liên Sô đã chấm dứt tồn tại (ngày 31 tháng Mười Hai 1991). Trong những tháng tiếp theo, các quốc gia trên toàn thế giới, Liên hiệp quốc, và các nước láng giềng hậu Soviet, Liên bang Nga và Belarus đã công nhận nền độc lập của Ukraina.

Với tư cách một quốc gia độc lập, Ukraina đã bước vào thời kì quá độ trong đó những ưu tiên tối thượng bao gồm: 1. Chuyển hóa kinh tế (từ nền kinh tế chỉ huy sang thị trường tự do); 2. Kiến thiết các thể chế quốc gia (từ mô hình hình độc tài sang dân chủ); và 3. Tái tổ chức quan hệ ngoại giao (từ phụ thuộc vào thế giới Soviet cũ sang liên kết chặt chẽ hơn với EU và Bắc Mĩ).

Bước trọng yếu đầu tiên trong thời kì quá độ là nhu cầu phải thông qua một bản hiến pháp mới.

Các cuộc thảo luận rộng rãi đã diễn ra khắp mọi tầng lớp trong xã hội Ukraina về hiến pháp tương lai. Ukraina có nên là một quốc gia trung ương tập quyền theo mô hình của Pháp, hoặc một quốc gia liên bang theo mô hình của Đức không? Thực tế của nhiều vùng đa dạng thuộc Ukraina, mỗi vùng với quá khứ lịch sử đặc thù và cư dân đa dân tộc, dường như sẽ ưu ái

cấu trúc quốc gia liên bang hơn. Rốt cuộc, bản hiến pháp được thông qua vào 1996 quy định một cấu trúc quốc gia đơn nhất với một chính phủ được lãnh đạo bởi một tổng thống được bầu trực tiếp, và một cơ quan lập pháp theo hình thức quốc hội nhất viện (Verkhovna Rada), các đại biểu được các đảng lựa chọn căn cứ vào số phiếu giành được. Ngoại lệ duy nhất đối với cấu trúc quốc gia đơn nhất là Krym, vốn được công nhận là một nước cộng hòa tự trị thuộc Ukraina và có quốc hội của riêng họ.

SỰ ĐA DẠNG VỀ DÂN TỘC-NGÔN NGỮ HỌC

Là một quốc gia Âu châu điển hình, Ukraina từng và hiện vẫn đa dạng về dân tộc. Trong quá khứ, tất cả các cuộc điều tra nhân khẩu của Soviet đều ghi lại – thực tế là yêu cầu – mỗi cư dân (gồm tất cả trẻ em không phân biệt tuổi tác) phải ghi rõ dân tộc của mình, thường là trùng với thông tin được liệt kê trong giấy tờ chứng minh cá nhân – thứ được gọi là hộ chiếu nội bộ. Danh xưng dân tộc (người Ukraina, Nga, Ba Lan, v.v) khác với quốc tịch (Soviet hoặc “ngoại quốc” trong một số trường hợp).19

 

18 Atlas istoriï ukraïns’koï dezhavnosti (L’viv: Naukove tovarystvo imeni Shevchenka, 2013), pp. 120-121.

 

Theo cuộc điều tra nhân khẩu cuối cùng của Liên Sô (1989), trong tổng nhân khẩu của Ukraina gồm 51.4 triệu người, gần 73 phần trăm là dân tộc Ukraina. Hơn 100 dân tộc thiểu số của xứ sở thuộc 27 phần trăm nhân khẩu còn lại. Nhóm thiểu số có dân số lớn nhất gồm 11.3 triệu người dân tộc Nga (chiếm 22 phần trăm tổng dân số Ukraina), theo sau là số lượng nhỏ hơn rất nhiều (tất cả chưa đầy một phần trăm) gồm người Belarus, Moldova, Tatar Krym, Bulgaria, Hungary, Romania, Ba Lan, Do Thái và Armenia.20 Mặc dù có quy mô dân số khiêm tốn, vài nhóm thiểu số này gần như là “đa số” ở địa phương nếu họ tình cờ quần cư tại những khu vực nhất định như người Hungary tại Ngoại Karpattiya, người Moldova ở vùng Kherson, người Bulgaria ven biển Azov, người Tatar Krym trên đảo Krym, và người Hi Lạp tại và quanh thành phố cảng Mariupol ở bờ biển Azov. Nhóm dân tộc thiểu số đông nhất, dân tộc Nga, trên thực tế chiếm đa số cư dân trong các khu vực cực bắc, đông và nam Ukraina (các vùng Chernihiv, Kharkiv, Donietsk, Kherson và đảo Krym).

Điều quan trọng cần lưu ý là bất chấp pháp quy hiện tại của Ukraina, toàn bộ các “nhóm dân tộc thiểu số” kể trên đều là hậu duệ của người Nga, Ba Lan, Hungary, Romania, Moldova, v.v. vốn đã cư trú ở cùng một nơi trong nhiều thế kỉ. Nói cách khác, đất tổ của họ tọa lạc tại Ukraina ngày nay; tổ quốc hoặc bản quán của họ là Ukraina, không phải Nga, Ba Lan, Hungary, Romania, Moldova, Bulgaria hoặc nơi nào khác.

Việc khu biệt giữa bản ngữ (được lưu trong các cuộc điều tra nhân khẩu) và dân tộc của một cá nhân cũng là điều quan trọng. Không phải mọi cư dân Ukraina vốn coi tiếng Nga là bản ngữ/ngôn ngữ thường nhật/ngôn ngữ thông dụng đều là dân tộc Nga. Về khía cạnh lịch sử, một tỉ lệ đáng kể những người tự nhận mình thuộc dân tộc Ukraina lại là người nói tiếng Nga. Hiện

tượng ngôn ngữ này được củng cố trong bảy thập niên dưới sự cai trị của Liên Sô (1921-1991), khi đó tiếng Nga được trao cho vị thế đầy hãnh diện là ngôn ngữ quan trọng nhất của quốc gia.

Hơn nữa, nhiều nhóm dân tộc thiểu số khác, nhất là người Belarus, Tatar Krym, Bulgaria, Hi Lạp và Do Thái (trong quá khứ họ có số lượng đông đảo hơn) – từng là và hiện vẫn là người nói tiếng Nga.

III.  CĂN CƯỚC DÂN TỘC UKRAINA

Cùng với việc giành được quốc gia tính Ukraina vào 1991, đã nảy sinh vấn đề liệu thực thể chính trị mới này có bao gồm dân chúng với căn cước dân tộc chung dựa trên những nguyên tắc công dân hay dân tộc. Nói cách khác, một căn cước dân tộc dựa trên nền tảng công dân lại dựa vào việc liên kết với một quốc gia đại diện cho một cộng đồng cư dân, vốn được kết nối bằng quyền công dân chung, gồm những người cư trú trong một lãnh thổ cụ thể và ý thức được rằng mình mình đứng dưới một pháp điển chung và các kiến chế chính trị chung? Hay một căn cước dân tộc dựa trên nền tảng tộc quần mà ở đó quốc gia được liên kết chủ yếu với một dân tộc/sắc dân cụ thể được định nghĩa theo ngôn ngữ, truyền thống lịch sử và các giá trị văn hóa? Bản hiến pháp 1996 đã hồi đáp một cách rõ ràng trước câu hỏi đó bằng việc định nghĩa “nhân dân Ukraina” là “công dân thuộc mọi dân tộc.”21

 

19 Dominique Arel, “Demography and Politics in the First Post-Soviet Censuses,” Population, Vol. 57. No. 6 (2002), pp. 812-813.

20 Magosci, History of Ukraine, Table 53.3, p. 745.

 

Tiến trình phát triển của căn cước Ukraina

Việc hiến pháp đề cao một căn cước công dân đã không thủ tiêu những ý niệm truyền thống về điều gì cấu thành nên căn cước Ukraina. Hiến pháp cũng kêu gọi “quốc gia cổ xúy sự củng cố và phát triển của dân tộc Ukraina cùng với nhận thức về lịch sử, truyền thống và văn hóa của mình.”22 Một yếu tố củng cố đặc biệt quan trọng là ngôn ngữ chính thức duy nhất của quốc gia, tiếng Ukraina, “sự phát triển toàn diện” của nó phải được cổ xúy “trong mọi phạm vi thuộc đời sống xã hội.”23

Trong khi tiếng Ukraina được trao cho vị thế lớn hơn, nhất là trong hệ thống giáo dục quốc gia do nhà nước kiểm soát, “các ngôn ngữ dân tộc thiểu số” được đảm bảo “tự do phát triển.”24 Đáng lưu tâm nhất là tiếng Nga, tiếng mẹ đẻ của 30 phần trăm cư dân Ukraina (theo điều tra nhân khẩu 2001).25 Mặc dù nhiều người nói tiếng Nga thường bày tỏ sự bất bình với việc phân loại thành “ngôn ngữ thiểu số,” trên thực tế tiếng Nga là ngôn ngữ giảng dạy tại 1275 trường tiểu học/trung học trên toàn quốc.26 Chí ít là tới đầu thế kỉ XXI, tiếng Nga vẫn là ngôn ngữ giảng dạy tại hầu hết các trường cao đẳng (đại học, chuyên khoa học hiệu/trường dạy nghề, học viện kĩ thuật), và tiếng Nga thống lĩnh truyền thông ấn loát và nhất là truyền thông phi ấn loát trên khắp Ukraina.

Từ khi độc lập, những cải cách trong giáo trình tại trường học đã thúc đẩy sự nổi lên của một thế hệ mới trẻ trung hơn với một khung tham chiếu lịch sử chung và sự trải nghiệm chung đậm chất Ukraina. Bằng việc tuân thủ chỉ dẫn được Bộ Giáo dục thiết lập đối với toàn quốc, giáo trình đã được tu đính một cách đáng kể. Lịch sử Ukraina đã trở thành môn bắt buộc, khởi đầu vào những năm cuối bậc tiểu học và tiếp tục xuyên suốt trung học, cũng như tại các trường cao đẳng, đại học, trường kĩ thuật bất luận chuyên môn của học sinh là gì. Phiên bản lịch sử mang tính Soviet-Marxist được thay thế bằng đề cương dân tộc Ukraina vốn đã được Mykhailo Hrushevsky, sử gia trứ danh nhất kiêm vị tổng thống đầu tiên của xứ sở (1918), viết thành công thức trước Đệ nhất Thế chiến. Theo đề cương Hrushevsky, chính thể trung đại Rus’ Kyiv được coi là quốc gia tiền-Ukraina, song quốc gia Kozak vào thế kỉ XVII và XVIII được đề cao hơn cả, mọi người hiểu rằng quốc gia đó là đã đấu tranh giành độc lập từ – chứ không phải thống nhất với – Moskoviya/Nga. Còn về kỉ nguyên Soviet vào thế kỉ XX, nó không còn được miêu tả thuần túy như một thời kì với những thành tựu xã hội và kinh tế, mà còn là thời kì với nỗi thống khổ tràn lan của con người được khái quát qua sự áp chế ý niệm dân tộc Ukraina và số người tử vong kinh hoàng từ Holodomor mà người Ukraina phải gánh chịu trong Nạn đói lớn từ 1932-1933.

 

21 Constitution of Ukraine: Preamble p. 1, accessed at https://rm.coe.int/constitution-ukraine/168071f58b.

22 Constitution: Article 11, p. 2.

23 Constitution: Article 10, p. 2.

24 Ibid.

25 Svitlana Mel’nyk and Stepan Chernychko, Etnichne ta movne rozmaïttia Ukraïny (Uzhhorod: PoliPrint, 2010), p. 12.

26 State Statistical Services of Ukraine, “Zahal’noosvitni navchal’ni zaklady Ukraïny na pochatok 2013/14 navchal’noho roku,” sheet 64.

 

Sự hình thành tính nhạy cảm chung của Ukraina đã được khích lệ hơn nữa nhờ nỗ lực của các cộng đồng địa phương nhằm chuyển hóa không gian công cộng. Những biểu tượng dưới thời Soviet cai trị – nhất là tượng của Lenin, vị quốc phụ Liên Sô – đã bị dỡ khỏi quảng trường tại nhiều đô thị, thị trấn, làng mạc, và thường được thay thế bằng những đài tưởng niệm dành cho thi sĩ dân tộc Ukraina vào thế kỉ XIX, Taras Shevchenko. Các sự kiện và danh nhân từng bị chế độ Soviet trấn áp vào thế kỉ XX được khôi phục qua những hoạt động đa dạng của các học giả đại học và soạn giả giáo khoa thư; qua các phân viện thuộc Học viện Khoa học Quốc gia Ukraina; và Học viện Tưởng niệm Quốc gia Ukraina mới được sáng lập. Không gian công cộng của Ukraina đồng thời cũng được bồi đắp bằng các đài tưởng niệm công cộng nhằm kỉ niệm Nạn đói lớn (Holodomor) và để tôn vinh các nhân vật (gồm Andrei Sheptytskiy, Mykhailo Hrushevsky, Mykola Skrypnyk, Stepan Bandera trong số nhiều người khác) từng chống đối các khía cạnh – hoặc chống đối chính tiên đề trong sự thống trị của Soviet. Danh xưng lấy cảm hứng từ Soviet của các thị trấn hoặc đô thị được thay đổi (Dnipropetrovsk cải thành Dnipro; Kirov thành Kropyvnytsky) cũng như tên đường phố và quảng trường, trong khi tiền giấy của xứ sở thể hiện chân dung các anh hùng Ukraina ái quốc (Taras Shevchenko, Bohdan Khmelnytskiy, Ivan Mazepa, Mykhailo Hrushevsky).

Một mặt, việc giảng dạy lịch sử Ukraina và việc tái tưởng tượng không gian công cộng dường như nhằm nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc mang tính tộc quần. Mặt khác, quá trình phi Soviet hóa của Ukraina đã phản ánh nguyên tắc của chủ nghĩa dân tộc công dân rằng đã có nỗ lực để tất cả các sắc dân của Ukraina được quyền lên tiếng.

Các sử phẩm mới của Ukraina, nhất là giáo khoa thư bắt buộc được sử dụng trong tiểu học và trung học, đã dần chấp nhận cách tiếp cận đa văn hóa cùng với việc dành sự chú ý nhiều hơn cho thành tựu của các cá nhân và cộng đồng không thuộc dân tộc Ukraina. Tỉ dụ, Bộ Giáo dục và Khoa học đã tổ chức các chương trình đặc biệt nhằm cung cấp chương trình đào tạo giáo viên và nhận thức về Đại đồ sát người Do Thái (Holocaust) và những nạn nhân gốc Do Thái tại Ukraina.27

Trong phạm vi công cộng, những địa điểm tập trung các cộng đồng dân tộc thiểu số có tên đường phố đặt theo các nhân vật kiệt xuất của họ. Điều này đặc biệt rõ ràng với số lượng đường phố hiện mang tên Do Thái (tại Lviv, Chernivtsi, Uman), tên Hi Lạp (ở Mariupol), và tên Hungary (khắp Nam Ngoại Karpattiya).

Chính quyền quốc gia và địa phương Ukraina cung cấp sự hỗ trợ trực tiếp và khuyến khích đầu tư ngoại quốc nhằm xây mới hoặc phục hồi các đài tưởng niệm tôn giáo hoặc thế tục đang hiện hữu vốn đại diện cho nhiều sắc dân của đất nước. Các tỉ dụ nổi bật nhất gồm: với người Do Thái, các địa điểm đồ sát tại Kyiv (Babyn Yar) và Kharkiv (Drobytskiy Yar), trung  tâm cộng đồng Menorah và bảo tàng TKUMA tại Dnipro, khu phố cổ Do Thái và trại lao động Yanovsky tại Lviv, và vô số các giáo đường Do Thái khắp cả nước; với người Tatar Krym, Hãn cung tại Bakhchysarai, các thánh đường Hồi giáo khắp Krym, và tượng các nhà hoạt động văn hóa và chính trị; các học viện bậc đại học cho người Hi Lạp (tại Mariupol) và cho người Hungary (tại Berehovo). Đặc biệt hơn cả, Odesa với tính đa văn hóa được khuyến khích sáng lập các trung tâm công dân và văn hóa dành riêng cho các cộng đồng Hi Lạp, Đức, Do Thái, Armenia và Bulgaria của thành phố. Thậm chí có cả các đài tượng niệm được tu bổ hoặc xây mới nhằm thỏa mãn khát vọng hoài cổ của một số công dân đối với các nhân vật mang tính biểu tượng từ các đế quốc tiền Đệ nhất Thế chiến, dù là Áo-Hung (Hoàng đế Franz Joseph thuộc gia tộc Habsburg tại Chernivtsi) hoặc Nga (Nữ hoàng Yekaterina II thuộc vương triều Romanov tại Odesa và sủng thần của bà là Gregory Potyomkin tại Kherson).

27 Official site of the Ministry of Education and Science of Ukraine. Accessed at https://mon.gov. ua/ua/ovsita/zagalna-serednya-osvita/navchalni-programi/navchalni-programi-5-9-klas; https://mon.gov.ua/ua/ovsita/zagalna-serednya-osvita/navchalni-programi/navchalni-programi-dlya-10-11-klasiv

 

Những điều kể trên đã ngụ ý rằng ý nghĩa hiện đại của căn cước Ukraina là một hiện tượng phức tạp và đang tiến triển. Dấu hiệu dân tộc của căn cước Ukraina như ngôn ngữ và văn hóa trong những thập niên gần đây đã bị bao phủ bởi một căn cước công dân, vốn tác động tới việc dân tộc Ukraina sẽ nghĩ về quốc gia Ukraina như thế nào và cho phép những cư dân Ukraina không sẵn có những dấu hiệu đó được nắm lấy tư cách thành viên của mình trong cộng đồng chính trị đó. Đồng thời, những căn cước dân tộc và công dân này đã cùng tồn tại với những thế giới quan khác do các nhóm đặc thù trong xã hội Ukraina nắm giữ, thường do tuổi tác và địa điểm địa lí quyết định.

Các loại căn cước tại Ukraina

Nhằm mục đích phân tích, người ta có thể nói về bốn căn cước “dân tộc” được sắp đặt theo những nguyên tắc dân tộc hoặc công dân. Tuy nhiên, trên thực tế những căn cước này không hề tách biệt hoặc loại trừ lẫn nhau, và hai hoặc trên hai căn cước có thể kết hợp trong căn cước bản ngã của bất kì công dân Ukraina nào.

  1. Căn cước dân tộc Ukraina. Căn cước dân tộc Ukraina được xác định bằng niềm tin rằng một cá nhân là người Ukraina nếu anh/cô ta nói tiếng Ukraina, tự xác định là người Ukraina, và tin vào ý niệm Ukraina là một quốc gia-dân tộc có thể sinh tồn được. Trước khi giành độc lập, tư tưởng dân tộc Ukraina mạnh nhất ở trong các cư dân thuộc Tây phần Ukraina, nhất là những vùng mang tính lịch sử như Galicia và Kể từ khi giành độc lập, số lượng người trẻ khắp mọi miền Ukraina (chào đời vào hoặc phần lớn đã quen với thời đại hậu Soviet) chấp nhận cách tiếp cận mang tính dân tộc đối với căn cước “dân tộc” của mình ngày càng gia tăng.
  2. Căn cước dân tộc Căn cước dân tộc Nga áp dụng với những công dân có tổ tiên là người gốc Nga đã sống qua nhiều thế hệ, thậm chí là hàng thế kỉ, tại Ukraina, hầu hết song không hoàn toàn sống tại các vùng phía đông và nam xứ sở. Tiếng Nga không những là ngôn ngữ giao tiếp chủ yếu, thường là duy nhất của họ, mà tình cảm văn hóa của họ (thường được thể hiện qua việc tuân thủ Tòa Thượng phụ Moskva thuộc Chính thống giáo hội) cũng hướng về Nga, họ hoặc tổ tiên họ từng là một bộ phận của Nga, dù theo hình thức Đế quốc Nga hoặc Liên Sô.

 

  1. Căn cước công dân Soviet. Căn cước công dân Soviet chỉ những người (thường được gọi là Sovoks) được sinh ra, nuôi nấng, và giáo dục tại bất cứ nơi nào trong Liên Sô. Ngôn ngữ giao tiếp của họ là tiếng Nga, vốn từng là ngôn ngữ có thanh thế nhất tại quốc gia từng tồn tại đó. Vì vậy, họ khinh thường tiếng Ukraina và coi nó chỉ hơn thứ tiếng của nông dân hơn một chút, chẳng phải là một ngôn ngữ, và từ chối nói tiếng Ukraina (thường mang tính biểu thị) bất chấp luật và chỉ dẫn ngôn ngữ được chính quyền Ukraina thông qua, điều mà họ oán giận một cách công khai.

Những kiểu người Soviet (Sovok) này có định danh dân tộc trong các giấy tờ xác minh thời Soviet, không phần lớn đó là căn cước trên danh nghĩa. Bởi dân tộc, dù là người Nga hay người nào khác, không được xem là điều quan trọng. Thế nên mối liên hệ với quốc gia Soviet cùng những giá trị văn hóa và chính trị của nó đã trở thành đặc điểm chính của căn cước công dân Soviet. Khi Liên Sô chỉ còn là dĩ vãng, người Sovok tại Ukraina đành trông cậy vào quốc gia kế thừa nó là Liên Sô như miền đất tổ mà một ngày nào đó họ có thể trở lại làm một bộ phận của nó về mặt chính trị. Sovok gần như thuộc thế hệ lớn tuổi hơn (hiện tại là 50 tuổi trở lên) và ở khắp Ukraina, song đa số họ cư trú tại những vùng thuộc đông phần và nam phần xứ sở, nhất là Krym.

  1. Căn cước công dân Ukraina. Căn cước công dân Ukraina nhìn nhận quốc gia được định nghĩa bởi một tập hợp những giá trị chung mà nhân dân với tất cả thành phần dân tộc có thể đồng ý. Trọng yếu trong những giá trị đó là lòng trung thành với quốc gia và lợi ích của nó, bất luận thành phần dân tộc và ngôn ngữ của một công dân. Thế nên người nói tiếng Tatar Krym hoặc tiếng Nga cũng là người Ukraina như những người nói tiếng Chính trong bối cảnh này mà người ta có thể bàn về một quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa gồm người Ukraina, người Ukraina gốc Nga, người Ukraina gốc Ba Lan, người Ukraina gốc Do Thái, người Ukraina gốc Tatar Krym, v.v.

Cũng vô cùng quan trọng là những giá trị chung về mô hình quốc gia nào xứng đáng với lòng trung thành của công dân. Tương phản với người Nga (dù là công dân Liên bang Nga hay các Sovok sống tại Ukraina và những vùng khác thuộc không gian hậu Soviet), vốn coi quốc gia là mục đích cố hữu, những công dân ủng hộ căn cước công dân Ukraina kì vọng quốc gia của mình tuân thủ nguyên tắc dân chủ, bao gồm pháp trị và bảo vệ nhân quyền. Mô hình của họ rõ ràng là Âu châu Liên minh (EU) mà họ khao khát được làm thành viên chứ không phải Liên bang Nga hay bất cứ hệ thống chuyên chế nào.

Tác động của những sự kiện gần đây

Chắc chắn rằng những sự kiện gần đây có tác động sâu sắc đối với những khái niệm về căn cước công dân Ukraina và quốc gia tính. Sự kiện đầu tiên trong số này là Cách mạng Cam 2004. Tầm quan trọng của sự kiện này không những dẫn tới một cuộc tuyển cử tổng thống thứ hai đảo ngược kết quả cuộc tuyển cử đầu tiên, mà nó còn chứng minh được sức mạnh của nhân dân. Đối với những xã hội như Ukraina vốn đã quen với sự cai trị cường quyền và độc tài, cuộc Cách mạng Cam đã chuyển hóa tinh thần quốc dân của nhiều bộ phận đáng kể trong dân chúng.

Các công dân bình thường không những có thể tràn ra đường phố và biểu tình, mà họ còn có thể thay đổi một cách thực chất. Hơn nữa, họ đã xả thân bảo vệ lợi ích quốc gia – quốc gia “của mình” trong vài tuần (khi phải đối diện với nhiệt độ giá rét vào giữa mùa đông).

Sự kiện thứ hai rốt cuộc đã đánh dấu phương diện công dân của căn cước dân tộc Ukraina là cuộc Cách mạng Phẩm giá. Nó đã diễn biến trong bốn tháng (tháng Mười Một 2013-tháng Hai 2014) tại quảng trường trung tâm ở thủ đô Kyiv, được gọi là Maidan. Lần này các cuộc biểu tình liên quan tới lợi ích của Ukraina với tư cách một quốc gia và trạng thái địa chính trị của Ukraina, cụ thể là kể từ Cách mạng Cam mười năm trước, xã hội và căn cước Ukraina ngày càng hướng về EU. Tổng thống Ukraina Viktor Yanukovych đã đồng ý kí giác thư hợp tác với EU. Song vào phút chót, ông ta đã từ chối kí kết dưới áp lực từ tổng thống Nga Vladimir Putin. Quyết định đó đã thổi bùng lên các cuộc biểu tình tại Maidan ở Kyiv và trở nên đẫm máu khi Yanukovych triệu tập lực lượng đặc biệt chống bạo động, họ đã nổ súng và sát hại hơn 100 người biểu tình. Rốt cuộc, người biểu tình đã đả bại lực lượng đặc biệt của chính quyền và phế truất Tổng thống Yanukovych. Quyền lực nhân dân đã chiến thắng. Một tân chính phủ thân Âu châu, cùng với sự ủng hộ đầy nhiệt huyết của toàn thể công dân Ukraina, giờ đây đã quản lí đất nước.

Thắng lợi này tràn ngập niềm vui song cũng cay đắng bởi ngay sau cuộc Cách mạng Phẩm giá, Nga đã xâm lược (cuối tháng Hai) và thôn tính Krym (ngày 24 tháng Ba), đồng thời kích động và tích cực hậu thuẫn phe li khai ở vùng Donbas (lãnh thổ phía đông của xứ sở gồm vùng Donietsk và Luhansk) nhằm thoát li khỏi Ukraina. Giờ đây chính phủ tại Kyiv rơi vào cảnh liên đới tới một cuộc chiến dọc vùng biên giới phía đông. Sau tám năm xung đột với lực lượng li khai được Nga hỗ trợ, hơn 13000 người Ukraina đã thiệt mạng và hai triệu người phải di tản từ nơi cư trú tại Donbas tới những khu vực khác của Ukraina.28

Cuộc thôn tính cưỡng bách Krym và cuộc chiến với Nga và phe li khai thân Nga tại Donbas đã tác động hơn hẳn những việc khác vào sự tăng cường căn cước quốc dân trong lòng dân Ukraina, bất luận xuất thân về dân tộc của họ. Tỉ dụ, điều trớ trêu hơn cả là người biểu tình đầu tiên bị sát hại tại Maidan ở Kyiv vào cuối 2013 lại là một thanh niên Ukraina gốc Armenia. Hơn nữa, trong số các diễn giả lớn tiếng nhất tại các buổi tuần hành hàng ngày tại Maidan là Yosyf Zisels, lãnh đạo của Hiệp hội các Tổ chức và Cộng đồng Do Thái tại Ukraina – VAAD.29 Đa số các binh sĩ trong quân đội Ukraina từng chiến đấu với quân li khai thân Nga ở Đông phần Ukraina hóa ra lại là cư dân địa phương nói tiếng Nga. Rõ ràng là người biểu tình tại Maidan và binh sĩ nói tiếng Nga đã lên tiếng, chiến đấu, và xả thân vì quốc gia của mình – Ukraina.

Giai đoạn mới nhất của cuộc chiến tranh với Nga bắt đầu vào tháng Hai 2022 đã cho thấy căn cước Ukraina, dù mang tính dân tộc hay công dân, mạnh mẽ và được san sẻ rộng rãi ra sao. Sự phản kháng anh dũng của người Ukraina thuộc mọi giai tầng trước cuộc xâm lược của Nga là minh chứng cho, cũng như củng cố thêm xu hướng trong căn cước bản ngã Ukraina nhằm tự định nghĩa nó trong sự đối chiếu với Nga về một mặt, và trong sự điều chỉnh với các giá trị Âu châu về mặt khác.

 

28 Radio Svoboda, The UN has counted the number of victims of hostilities in Donbass (19 February 2021), accessed at https://www.radiosvoboda.org/a/news-oon-kst-gerty-boyovyh-donbas/31110937.html 29 Zissels also authored a letter signed by several dozen prominent Jewish organizations and individuals protesting the mischaracterization of the status of Ukraine’s Jews. It appeared on 26-27 March 2014 as a full-page statement in The New York Times, The International New York Times (Paris), The National Post (Toronto), and Haaretz (Jerusalem). “To the President of the Russian Federation Vladimir Vladimirovich Putin,” reproduced in Paul Robert Magosci and Yohanan Petrovsky-Shtern, Jews and Ukrainians: A Millennium of Co-Existence, 2nd revised ed. (Toronto: University of Toronto Press, 2018), pp. 277-278

 

IV.  TỔNG KẾT

Ý niệm về quốc gia tính Ukraina đã có một truyền thống lâu đời có thể truy ngược ít nhất là về giữa thế kỉ XVII. Vào thời điểm đó một quốc gia Kozak đã được sáng lập tại trung phần Ukraina hiện đại, nó đã tồn tại với tư cách một thực thể độc lập và sau này là thực thể tự trị cho tới thập niên 80 của thế kỉ XVIII.

Phong trào dân tộc Ukraina đã duy trì sức sống cho ý niệm quốc gia tính trong suốt thế kỉ XIX. Rốt cuộc quốc gia tính đã thành hiện thực, dù ngắn ngủi, trong thời kì cách mạng hậu Đệ nhất Thế chiến (1917-1920), giai đoạn đã chứng kiến sự sụp đổ của Đế quốc Nga và Đế quốc Áo-Hung và sự thành lập của không dưới bốn quốc gia dưới năm chế độ khác nhau: Cộng hòa Dân tộc Ukraina (Rada Trung ương và Đốc chính phủ), Cộng hòa [các] Nghị hội Ukraina/Ukraina Soviet, Quốc gia Ukraina (Hetmanate) và Cộng hòa Dân tộc Tây Ukraina.

Chỉ một nước cộng hòa trong số này sống sót là Ukraina Soviet. Điều này chủ yếu là do sự liên minh chặt chẽ và phụ thuộc vào Nga Soviet, và Ukraina Soviet đã cùng Nga Soviet thành lập Liên minh các nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Soviet/Liên Sô vào tháng Mười Hai 1922. Ukraina Soviet đã duy trì rất nhiều hình thức của quốc gia tính (bao gồm các quan hệ ngoại giao trong một khoảng thời gian), cho tới đầu thập niên 30 nó đã hoàn toàn quy phục chính phủ Soviet Toàn Liên minh tại Moskva. Dẫu vậy, Ukraina Soviet vẫn là một thực thể hành chính dị biệt với lãnh thổ được mở rộng thêm một phần tư khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc.

Trạng thái quốc gia của Ukraina Soviet trên thực tế đã được cải thiện vào 1945 khi trở thành một thành viên sáng lập và thường trực của Liên hiệp quốc nhờ tự thân vận động. Vào cuối thập niên 80 khi Liên Sô bước vào thời kì chuyển hóa, ngày càng có nhiều lời kêu gọi cho một Ukraina có chủ quyền cho tới năm 1991, khi đó một Ukraina hoàn toàn độc lập đã được hiện thực hóa.

Sau khi giành độc lập, quốc gia Ukraina hiện tại đã thông qua bản hiến pháp (1996), trong đó thảo ra cấu trúc của mình là một quốc gia đơn nhất (không phải liên bang). Dẫu vậy vẫn còn để ngỏ câu hỏi liệu Ukraina sẽ là một quốc gia dựa trên những nguyên tắc dân tộc hay công dân; mặt khác, một quốc gia được định nghĩa bởi những giá trị văn hóa của dân tộc Ukraina, hay một quốc gia được định nghĩa bởi căn cước chung của toàn thể công dân bất luận dân tộc hoặc ngôn ngữ của họ?

Tiến trình phát triển của Ukraina kể từ khi lập quốc vào 1991, và đặc biệt là sau hai biến cố xã hội – cuộc Cách mạng Cam (2004) và Cách mạng Phẩm giá Maidan (2013-2014) – đã cho thấy Ukraina đã dịch chuyển nhiều hơn theo hướng trở thành một quốc gia-dân tộc mà ở đó “chất Ukraina” được định nghĩa chủ yếu theo nguyên tắc công dân vốn đã được nêu rõ trong hiến pháp: “người Ukraina” là “công dân Ukraina gồm tất cả các dân tộc.”30

 

30 Constitution of Ukraine: Preamble, p. 1.

Trong số những khát vọng chung về căn cước công dân Ukraina là một sự cam kết đối với một quốc gia được điều hành theo những giá trị dân chủ Âu châu cùng với sự đề cao tự do ngôn luận, nhân quyền và pháp trị. Sức mạnh của nguyên tắc công dân đã được chứng minh vượt trên mọi kì vọng qua sự phản ứng trước cuộc xâm lược hiện tại của Nga – “Cuộc chiến của Putin” vào 2022 – trong thời gian đó công dân Ukraina từ tất cả các vùng, dân tộc và giới tính đã đứng lên, chiến đấu và hi sinh thân mình bảo vệ quốc gia mà họ gắn bó khăng khít: UKRAINA.

Bình luận về bài viết này