Tư liệu quân Pháp đánh Bắc Kỳ năm 1873

PHÁP ĐÁNH THÀNH HẢI DƯƠNG

Tranh màu nước vẽ cảnh quân Pháp do trung úy thuyền trưởng Balny d’Avricourt chỉ huy tấn công thành Hải Dương, sáng ngày 3 tháng 12 năm 1873

Trận thành Hải Dương diễn ra vào sáng ngày 3 tháng 12 năm 1873, theo mô tả của Gautier năm 1887 và cuốn: Diguet, Édouard (1908). Annam et Indo-Chine Française : I. Esquisse de l’histoire annamite. II. Rôle de la France en Indo-Chine:

“Sau khi rời Phủ Lý, tàu Espingole tiến về Hải Dương, ban đầu đi qua sông Luộc rồi tiếp tục theo sông Thái Bình. Tàu chiến xuất hiện trong tầm nhìn của Hải Dương vào sáng ngày 3 tháng 12, ngay sau 9 giờ sáng một chút. Khi cách cầu cảng của thành phố khoảng 2 km, con tàu bị mắc cạn. Thủy thủ đoàn nhanh chóng đưa tàu trở lại mặt nước, nhưng mực nước sông quá thấp khiến tàu không thể tiến gần hơn được nữa.

Thành Hải Dương là một trong những công trình quân sự ấn tượng nhất ở Bắc Kỳ. Chu vi thành vượt quá 3 km, và trên các bức tường được bố trí rất nhiều khẩu pháo, trong đó có cả những kiểu pháo hiện đại của châu Âu. Pháo đài lớn này được bảo vệ bởi lực lượng khoảng 2.000 binh sĩ, đồng thời dọc theo bờ sông gần đó còn có một số pháo đài nhỏ.

Trung úy Trentinian, cùng 4 lính thủy và một thông ngôn, đã đi vào thành trên một chiếc xuồng hơi nước nhằm trao bản tuyên cáo của Garnier cho quan Tổng đốc địa phương và yêu cầu ông này đầu hàng.

Khi vừa lên bờ, phái đoàn nhỏ của Pháp được yêu cầu chờ Tổng đốc tại một công sở địa phương. Tuy nhiên, chỉ sau 15 phút, Trentinian mất kiên nhẫn và thẳng tiến đến thành trì, đòi được vào bên trong. Khi đang ở gần tường thành, Trentinian nhận thấy một số binh lính đang đào hố chông (hố cài bẫy hổ). Một lát sau, lính canh cho phép nhóm Pháp vào và dẫn họ đến gặp Tổng đốc. Vị Tổng đốc già Đặng Xuân Bảng tiếp đãi sứ giả Pháp một cách lịch thiệp và mời ông dùng trà. Một cách mỉa mai, ông nhận xét rằng thật “đáng tiếc” vì tàu chiến Pháp đã không thể tiến gần hơn được nữa.

Trentinian trao bản tuyên cáo của Garnier và giải thích với Tổng đốc rằng Chuẩn úy Balny d’Avricourt muốn gặp ông trên tàu Espingole. Vị Tổng đốc già cương quyết từ chối lên tàu. Sau một hồi cố thuyết phục bất thành, viên sĩ quan trẻ người Pháp cuối cùng đe dọa sẽ chiếm Hải Dương “giống như chúng tôi đã chiếm Hà Nội”. Tuy nhiên, lời đe dọa này hoàn toàn không tác động được đến vị Tổng đốc, người vẫn kiên quyết từ chối yêu cầu, và theo lời kể của Trentinian, suốt cuộc gặp vẫn luôn giữ thái độ hết sức lịch sự.

Trentinian và thuộc hạ trở lại tàu Espingole, đi cùng một viên quan nhỏ mang theo ít hoa quả làm quà biếu cho Balny. Balny từ chối món quà và tuyên bố rằng nếu Tổng đốc không lên tàu trước 3 giờ chiều, ông ta sẽ bị coi là kẻ thù. Khi thời hạn này trôi qua mà vẫn không thấy ai đến, Chuẩn úy Balny d’Avricourt, sau khi bàn bạc với Trentinian và Harmand, quyết định hành động quyết liệt.

Vào lúc 3 giờ 5 phút chiều, tàu Espingole bắt đầu nổ súng vào thành trì từ khoảng cách chừng 2 km. Khoảng 10 quả đạn pháo được bắn đi với độ chính xác cao, gây hư hại nghiêm trọng tháp chính của thành.

Hy vọng rằng màn phô trương sức mạnh này đã thuyết phục được Tổng đốc đổi ý, Chuẩn úy Balny ra lệnh ngừng bắn, rồi cùng 10 người lính lên xuồng hơi nước tiến đến pháo đài gần nhất trong số các đồn nhỏ dọc bờ sông để yêu cầu đàm phán. Một người được cử đến gặp ông trên thuyền, và Balny truyền đạt rằng nếu Tổng đốc không xuất hiện trước 8 giờ tối, toàn bộ thành trì sẽ bị san bằng bằng pháo binh.

Đến 6 giờ chiều, trưởng cộng đồng người Hoa địa phương đến gặp Balny trên tàu Espingole. Sau một hồi trao đổi, Balny cho biết sẵn sàng gia hạn thêm thời gian đến 7 giờ sáng hôm sau, nhưng nếu Tổng đốc vẫn không đến trước thời điểm đó, mọi cuộc đàm phán sẽ chấm dứt.

Sáng hôm sau, gần 7 giờ, một chiếc thuyền buồm (ghe) tiến đến tàu Espingole. Trên thuyền có Lãnh binh của tỉnh cùng một số quan lại khác, nhưng vẫn không có Tổng đốc. Balny, hoàn toàn bực tức, liền đuổi họ đi và tuyên bố rằng nếu Tổng đốc không đến trước 8 giờ sáng, sẽ mở cuộc tấn công.

Đến 8 giờ 30 phút vẫn không có ai xuất hiện, quân Pháp liền phát động cuộc tấn công.

Trong đêm, các thủy thủ Pháp đã thăm dò con sông và phát hiện một lạch nước hẹp đủ sâu để tàu chiến có thể neo cách pháo đài đầu tiên khoảng 300 mét; pháo đài này lại nằm cách thành trì chừng 600 mét. Vào lúc 8 giờ 30 phút, tàu Espingole nổ súng vào pháo đài gần nhất—nơi từ sáng sớm đã có rất nhiều binh lính kéo đến.Pháo đài lập tức bắn trả, nhưng đạn pháo bay vọt cao phía trên tàu chiến. Dù vậy, người Pháp vẫn cần phải vô hiệu hóa ngay pháo đài này trước khi đối phương kịp điều chỉnh ngắm bắn. Một toán gồm 15 lính thủy do Trung úy Trentinian chỉ huy cùng 12 thủy thủ dưới sự dẫn dắt của Chuẩn úy Balny và bác sĩ Harmand đã lên hai chiếc thuyền tam bản tiến hành đổ bộ. Khi cách pháo đài nhỏ chừng 50 mét, họ đồng loạt xả súng trường, nhanh chóng đánh tan lực lượng phòng thủ.

Sau khi làm chủ được pháo đài, quân Pháp tiến nhanh qua quãng đường 600 mét chia cách pháo đài với thành trì, đồng thời thỉnh thoảng bắn vào những toán quân Việt Nam đang rút lui. Cuối cùng, tại đầu một con phố, họ bất ngờ đứng trước một lũy nhô (redan) bảo vệ cổng phía đông của thành. Khẩu pháo đặt trên cổng thành lập tức khai hỏa, bắn trượt đội hình Pháp chỉ chừng một chục mét, khiến họ bị bao phủ trong bụi đất.Quân Pháp cố gắng dập im khẩu đội pháo bằng súng trường, nhưng thấy các pháo thủ vẫn kiên quyết nạp đạn bất chấp hỏa lực, họ liền xông lên phía trước và nấp dưới chân tường lũy nhô để tránh đạn.

Sau đó, quân Pháp tìm cách phá cửa lũy bằng rìu, nhưng rồi quyết định trèo lên những bức tường tương đối thấp của lũy. Họ luân phiên đỡ nhau trèo thật nhanh và dùng kiếm chặt đứt những chông tre nhọn cắm trên đỉnh tường. Vừa thấy quân Pháp xuất hiện trên lũy, toàn bộ binh lính đang phòng thủ tại đây liền bỏ chạy tán loạn.

Tuy nhiên, những người phòng thủ trên bức tường chính của thành trì lại không bỏ chạy. Toán lính Pháp khi ấy đã nhìn thấy rõ cổng thành—nằm cách lũy nhô một con hào, qua đó có một cây cầu nhỏ bắc ngang. Từ trên đỉnh tường thành, bốn khẩu pháo khống chế toàn bộ khu vực này. Vừa phát hiện ra quân Pháp, bốn khẩu pháo gần như đồng loạt khai hỏa. Dù không viên đạn nào trúng đích, tình thế lúc này trở nên cực kỳ nguy hiểm đối với quân Pháp. Chuẩn úy Balny liền quyết định rằng toàn đội sẽ xông thẳng tới cổng thành ngay sau loạt đạn tiếp theo.

Nấp sau một ngôi nhà nhỏ, quân Pháp chờ đợi loạt pháo thứ hai. Loạt đạn ấy nhanh chóng vang lên nhưng một lần nữa vẫn không gây thương vong. Ngay khi tiếng súng pháo vừa dứt, toán lính Pháp lao vọt qua cây cầu và nhanh chóng ẩn náu dưới mái hiên ngay sát cánh cổng thành. Một vài người do dự, chưa kịp chạy theo, vẫn còn ở lại bên kia con hào và từ chỗ nấp bắn trả vào các khẩu đội pháo.

Mặc dù được mái hiên che chắn khỏi làn đạn của quân phòng thủ, tình thế của quân Pháp vẫn hết sức nguy cấp. Họ không có pháo để phá cửa, cũng chẳng có thang để trèo tường. Một thủy thủ dùng rìu cố gắng phá một lỗ nhỏ trên cánh cửa gỗ dày, nhưng chỉ phát hiện phía sau cửa đã được chặn kín bằng những rọ đất [gabion] chứa đầy cát và đất. Từ phía trên cổng, quân thủ thành liên tục ném đá và gạch xuống, buộc những người tấn công phải chen chúc, co cụm dưới mái hiên. Một vài nòng súng trường thò ra từ ô lưới gỗ ở phần trên cánh cửa, bắn bừa xuống phía trên đầu quân Pháp.

Trong lúc bắn trả vào những khẩu súng ấy bằng súng trường của mình, bác sĩ Harmand đã làm hư hại nặng phần ô lưới gỗ cấu thành phía trên cánh cửa.Thấy vậy, Balny d’Avricourt liền trèo lên đỉnh cửa. Sau khi dùng tay gỡ nốt những mảnh vỡ còn sót lại của ô lưới đã bị phá, Balny thò tay qua lỗ hổng, chĩa thẳng súng ngắn vào năm người lính Việt đang cầm súng, sững sờ nhìn ông ta qua khe cửa. Sau vài giây do dự từ cả hai phía, Balny nổ súng, khiến họ lập tức quay đầu bỏ chạy. Hành động này trở thành tín hiệu cho cuộc tháo chạy hàng loạt của toàn bộ lực lượng phòng thủ.

Sau khi nới rộng lỗ hổng thêm một chút, Balny trèo vào trong thành, ngay sau đó là Harmand và bốn lính thủy. Việc chui qua khe hở chật hẹp diễn ra rất chậm, nên Balny quyết định tiến hành ngay với số ít người đã vào được, nhằm bắt giữ Tổng đốc trước khi ông kịp tẩu thoát. Balny dẫn hai người hướng về cổng phía nam, trong khi Harmand cùng hai người còn lại đi về phía cổng bắc.

Balny thấy cổng nam không có lính canh nhưng đã đóng chặt. Tuy nhiên, khi đến cổng tây, phát hiện cổng đang mở toang và hàng chục binh sĩ Việt Nam đang tháo chạy qua đó. Balny buộc một số người quay trở lại bên trong và ra lệnh đóng cổng lại Lúc này, do đã bị tách khỏi hai lính thủy đi cùng, Balny đối mặt với một nhóm lớn khoảng một trăm binh lính Việt Nam vừa đến để thoát ra qua cổng, nhưng đã dừng lại trước mặt khi cổng bị đóng. Trong một hành động liều lĩnh, Chuẩn úy Pháp lao thẳng về phía họ. Trước phản ứng bất ngờ này, những binh sĩ đã mất tinh thần liền lập tức tan rã, vứt bỏ vũ khí và bỏ chạy tán loạn.

Đến 10 giờ 15 phút sáng, toàn bộ lực lượng Pháp đã vào được bên trong thành trì, và lá cờ Pháp tung bay trên đỉnh tháp chính. Chỉ trong vòng hơn một tiếng giao chiến, toán lính Pháp chỉ gồm 30 người đã chiếm được pháo đài khổng lồ này mà không chịu bất kỳ tổn thất nào. Quân Pháp bắt giữ được vài trăm lính phòng thủ, nhưng phần lớn đã trốn thoát thành công, trong đó có Tổng đốc và tất cả các quan lại quan trọng. Bên trong thành, họ tìm thấy 80 khẩu pháo—một số là kiểu mới do Anh sản xuất—cùng hàng nghìn ngọn giáo và 1.500 khẩu súng trường.

Tuy nhiên, Balny không có ý định để lực lượng Pháp ở lại thành phố lâu dài, nên ông ra lệnh niêm phong [đóng đinh phá hủy] phần lớn số pháo và thiêu hủy các vũ khí còn lại, ngoại trừ 200 ngọn giáo và 60 khẩu súng trường mà ông giữ lại để trang bị cho lực lượng dân binh trung thành mà ông dự định sẽ thay thế quân Pháp.

Balny d’Avricourt viết một lá thư gửi Tổng đốc Đặng Xuân Bảng, đề nghị trả lại thành trì cho ông nếu ông chịu đến gặp ông trên tàu Espingole. Lá thư không nhận được hồi âm. Tàu Espingole và thủy thủ đoàn tiếp tục ở lại Hải Dương cho đến ngày 14 tháng Mười Hai, khi một bức thư từ Garnier ra lệnh cho Balny và binh lính của ông rời đi Nam Định, sau khi để lại Trentinian cùng 15 lính thủy đảm nhiệm việc quản lý thành phố.

 

Nguồn: tạp chí Le Tour du Monde,trang 303; tranh vẽ lại bởi họa sĩ Alexandre Ferdinandus, Dựa trên bản ký họa phác thảo của ông P***.

QUÂN PHÁP HẠ THÀNH NAM ĐỊNH

Hình ảnh tháp trong thành bị đại bác bắn sập, ngày 27 tháng 3 năm 1883. Ảnh chụp ngay sau khi quân Pháp hạ thành.

1. Quân số 2 bên:

– Bên quân triều đình:

Chỉ huy: Tổng đốc Võ Trọng Bình.

Đề đốc Lê Văn Điếm

Án sát Hồ Bá Ôn.

+ 6.200 quân Việt Nam.

+ 600 quân Cờ Đen

+ 98 khẩu đại bác các cỡ, có 2 khẩu rất mới là Ruelle và Nevers cỡ nòng lớn được Pháp tặng cho triều đình theo Hòa ước Giáp Tuất 1874.

+ Súng hỏa mai, gươm, giáo, cung tên, mác, lao. Quân Cờ Đen có 1 số đại bác nhỏ Krupp của Đức và súng trường Winchester mua lậu từ các lái súng châu Âu.

– Bên quân Pháp:

+ Chỉ huy: đại tá hải quân Henri Rivière

+ 6 pháo hạm trang bị đại bác cỡ lớn, nòng có rãnh, nạp hậu.

+ 520 lính thủy quân lục chiến.

+ 20 lính mới tuyển mộ từ Trung Quốc.

+ 60 thủy thủ.

+ Súng trường Gras Mle 1874, súng máy Mitrailleuse nhiều nòng (25 hoặc 37 nòng); Súng ru-lô Chamelot-Delvigne Mle 1873 cỡ nòng 11mm. Pháo xoay Hotchkiss (Hotchkiss revolving cannon) cỡ nòng 37mm, có từ 5 nòng xoay thủ công bằng tay, tốc độ bắn khoảng 80 viên/phút, được Pháp lắp đặt trên các pháo hạm để trút đạn hỗ trợ bộ binh tấn công các thành trì.

Diễn biến trận đánh:

– Ngày 23 tháng 3 năm 1883, Henri Rivière quyết định đích thân chỉ huy công thành Nam Định, đồng thời ra lệnh chuẩn bị tấn công thành Sơn Tây tiếp đó.

– Ngày 24 tháng 3, giao tiểu đoàn trưởng Berthe de Viellers chỉ huy thành Hà Nội, sau đó ông ta khởi hành đi Nam Định cùng với đội gồm chiến thuyền La Hache, Yatagan và Carabine, các tàu thương mại Tonkin, Kiang Nam và Wampoa chở đại đội số 21 và 22, trung đội số 23 thuộc Tiểu đoàn thủy quân lục chiến số 3, đại đội số 27 và 30 thuộc Trung đoàn thủ quân lục chiến số 4 trên tàu Pluvier cùng 4 ghe. Trên đường di chuyển, quân Pháp phải vất vả đối phó với những đập ngăn, công sự do quân triều đình và người dân dựng. Tuy nhiên, khi đi qua Ninh Bình, Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ án binh bất động, cho tàu Pháp vượt qua.

– Ngày 25 tháng 3, đội tàu Pháp đến biển Nam Định và không gặp nhiều khó khăn cho tới gần thành phố.

– Ngày 26 tháng 3, khi đến trước thành Nam Định, Henri Rivière gửi tối hậu thư cho Tổng đốc trấn thành nhưng không được phúc đáp. Ông ta xua quân trinh thám thành, vì ngày 26 tháng 3 và do trời mưa nên quân Pháp quyết định sẽ tấn công vào hôm sau.

– Rạng sáng ngày 27 tháng 3, quân Pháp chuyển sang các thuyền nhỏ để ngược dòng tiến về thành phố. Tàu Pluvier được lệnh khai hỏa vào Trường thi – nơi an trú của của sứ thần triều đình, đạn pháo nhanh chóng phá hủy hai tiền đồn. Quân Pháp tràn vào các phố, đến tận khu bán nguyệt của cổng thành đông bắc. Chúng trèo lên các mái nhà cao nhất, bắn yểm trợ và dọn đường cho các toán quân khác, giao tranh bắt đầu nổ ra với quân triều đình, các cửa chặn lối đi bị xuyên thủng. Quân triều đình ném pháo khiến khói mù mịt khắp thành. Viên trung tá bộ binh thuộc địa Carreau hối quân tiến đánh và bị thương ở chân do đạn từ thành bắn ra, nhưng sau khi tiếp tục bị thương nặng lần thứ hai, buộc phải giao quyền chỉ huy cho tiểu đoàn trưởng Badens, các toán quân Pháp chiếm được các vị trí thuận lợi để chờ thời cơ xông lên. Các đơn vị đổ bộ dưới sự chỉ huy của Rivière dùng thang tre áp sát thành. Riêng chiến thuyền Fanfare bị hư hại khá nặng do hai lần trúng đạn đại bác của quân triều đình.

Sau 1 giờ nã đạn dữ dội, chiến thuyền Pluvier được lệnh ngừng bắn để bộ binh và công binh Pháp tràn lên tấn công. Viên đại tá công binh Dupommier cùng một tên lính tay cầm giẻ bông nitrat tẩm đẫm nitơ (fulmicoton) xông về khu bán nguyệt nhưng buộc phải lùi lại trước đạn bắn chống trả cản đường của quân triều đình đang nấp sau ụ đất. Sau đó, dưới sự yểm trợ của một đại đội thủy quân lục chiến, tên này đã vượt qua ụ đất và cầu bán nguyệt lao vào phá cửa thành, quân Pháp chiếm được khu bán nguyệt, trong khi lính thủy đánh bộ dùng thang tre tràn vào thành.

Kêt thúc trận đánh:

Mặc dù đã chống trả vô cùng quyết liệt,, nhưng do hỏa lực áp đảo, thành Nam Định thất thủ. Quân Pháp chiếm thành, thu được 98 khẩu đại bác với cỡ nòng khác nhau cùng đạn dược.

+ Đề đốc Lê văn Điếm tử trận, Án sát Hồ Bá Ôn bị thương nặng, không chữa được rồi cũng qua đời. 200 binh lính tử trận.

+ Quân Pháp: có 3 binh sĩ bị thương và một sĩ quan là Trung tá Carreau bị thương nặng, sáu tuần sau thì chết.

Sơ đồ trận quân Pháp tấn công thành Nam Định

Sự kiện hạ thành Nam Định ngày 27 tháng 3 năm 1883 bởi đại tá H. Rivière.

+ Chú giải các công trình bên trong Thành Nam Định (Bảng đánh số 1–7)

1. Temple de l’esprit du Roi: Đền thờ bái vọng vua

2. Maison du gouverneur: Dinh Tổng đốc (Dinh Tổng đốc Nam Định).

3. Trésor: Kho ngân khố (Ty Ngân khố).

4. Magasin de riz et de sel: Kho gạo và kho muối.

5. Prison: Nhà tù

6. Arsenal: Kho vũ khí.

7. Écurie d’éléphants: Chuồng voi chiến.

+ các địa danh & Vị trí quân sự trên sơ đồ bản đồ:

– Porte nord: Cửa Bắc (Cửa Bắc thành Nam Định).

– Camp des lettrés (phía Bắc): Trường thi Nam Định (Nơi tổ chức các kỳ thi Hương xứ Bắc).

+ Dải sông & Các tàu chiến Pháp neo đậu (Phía dưới/Sông Vị Hoàng & Sông Đào):

– Canal de Nam-Dinh / Rivière de Nam-Dinh: Sông Nam Định (Sông Vị Hoàng / Sông Đào).

– Tên các pháo thuyền & chiến hạm Pháp: Yatagan, Carabine, Hache, Pluvier, Fanfare, Surprise.

– Point de débarquement: Điểm đổ bộ của quân Pháp.

+ Khu vực phố xá & Cánh đồng xung quanh:

– Rizières: Các cánh đồng lúa.

– Casernes de la marine: Trại lính thủy quân.

– Mission / Trésor: Khu nhà thờ / Kho báu.

+ Các tuyến đường/phố (R. = Rue): R. des Carreaux, R. des Poteries (Phố Bát Sứ/Gốm), R. des Teinturiers (Phố Thợ Nhuộm), R. des Artistes, R. đes Tisserands (Phố Thợ Dệt).

+ 4 bức ký họa bên trái (Do họa sĩ E.D. vẽ)

Khung bên trái gồm 4 bức minh họa diễn biến cuộc tấn công:

– Bức 1 (Trên cùng): La Fanfare bombardant la citadelle: Pháo thuyền Fanfare đang pháo kích vào thành Nam Định.

– Bức 2 (Thứ hai): Sur les remparts – Effet d’un obus de la Fanfare: Trên bờ thành – Sức phá hủy từ một quả đạn pháo của tàu Fanfare. (Hình ảnh súng thần công triều Nguyễn bị gãy đổ).

– Bức 3 (Thứ ba): Le Pluvier portant le pavillon du Cte Rivière:Tàu Pluvier treo cờ lệnh của đại tá Rivière.

– Bức 4 (Dưới cùng): Jonques ayant transporté les soldats: Các thuyền nan/thuyền mui chở lực lượng bộ binh Pháp.

Duboc (2e officier en second de la Surprise): Duboc – Sĩ quan phó số 2 trên chiến hạm Surprise. (Tác giả lập ra sơ đồ bản đồ này) Phần ảnh do bác sĩ quân y Hocquard chụp, được chuyển màu

Nguồn:

1. Tập san Ủy ban châu Á thuộc Pháp (Bulletin de la Comité de l’Asie française) số ra ngày 01/5/1922.

2. Hồ sơ số 279, phông Đô đốc và Thống đốc, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

3. “Lịch sử quân sự của Đông Dương thuộc Pháp từ khi bắt đầu đến hiện tại, tháng 7/1930”, Nhà in Viễn Đông, 1930, tập 1, trang 53 và Lưu trữ Bộ quốc phòng Pháp (SHD), hồ sơ số 1.

4. Thomazi, Conquête, 140–57.

 

Nguồn bài đăng

Bình luận về bài viết này