Ái Nhỉ Lan : từ nạn đói bốn triệu người bỏ nước ra đi đến 24 người trở thành tổng thống nước Mỹ

Phạm Trọng Chánh

             Tôi đến thăm Ái Nhỉ Lan quê hương huyền thoại. Một đảo quốc bên cạnh nước Anh, đế quốc thuộc địa hàng đầu thế giới, «mặt trời không lặn trên cờ nước Anh». Anh quốc đã cắm ngọn cờ từ Phi Châu: Ai Cập, Nam Phi, Nigéra. Kenya.. Á Châu: Ấn Độ, Singapour, Hongkong Úc Châu, Tân Tây Lan, đến Mỹ Châu Canada, Argentine.. nhưng lại thất bại trước một dân tộc nằm bên cạnh mình. Giữa Anh Quốc và Ái Nhỉ Lan là một trang sử đẩm máu đau thương, tám trăm năm, đô hộ, kháng cự và dai dẳng cho đến ngày nay đang đi vào tiến trình thống nhất nam bắc Ái Nhỉ Lan. Từ thế kỷ 19, Ái Nhỉ Lan tìm cách thoát khỏi sự đô hộ của Anh Quốc bằng văn hóa Celtique cổ đại và đạo Công Giáo. Khác với Anh Quốc từng dưới ảnh hưởng Đế Quốc La Mã và theo Anh Giáo, nguồn gốc sự ra đời Anh Giáo do vua Henry VIII từ chối sự can thiệp toà thánh La Mã vào việc ly dị với hoàng hậu Catherine d ́ Aragon là cô của vua Charles Quint Tây Ban Nha, vị vua đầy quyền lực Âu Châu đương thời. Vua Henry VIII lập ra Anh Giáo tự phong làm giáo chủ để thay đổi vợ theo ý mình và tịch thu toàn thể tài sản Giáo Hội Công Giáo.

 

            Ái Nhỉ Lan được mệnh danh là «hòn đảo Bích ngọc», màu xanh éméraude, những cạnh đồng cỏ bạt ngàn, đồng cỏ êm ái mềm mại được gậm nhấm hằng ngày bởi cừu bò, Ái Nhỉ Lan có hơn 4 triệu cừu nuôi để lấy lông, len và áo đan len là sản phẩm xuất khẩu chính. Hai bên đường những cánh rừng cây đỗ quyên (rhododendron), nơi đây cây cao lớn như cây cổ thụ mùa xuân nở tràn trề đơm đầy cành những bông hoa đỏ, trắng, cam, vàng, tím. màu sắc rực rỡ tưng bừng.

 

            Nằm phía tây Anh Quốc với diện tích 84421 km, bằng một phần tư nước Việt Nam, một phần bảy nước Pháp, trong đó bắc Ái Nhỉ Lan 14139 km. Khoảng cách từ bắc chí nam 483 km và chiều ngang 275km, Ái Nhỉ Lan có hơn 3100km bờ biển. Ngoài những xa lộ, những con đường dọc theo bờ biển ngoằn nghèo, chật hẹp xe chỉ dám chạy, 30, 40 km giờ, xe ngược chiều thường phải dừng lại để tránh nhau.

 

            Từ một quốc gia nghèo nhất Âu Châu, từ năm 1990 khi gia nhập Cộng Đồng Âu Châu, Ái Nhỉ Lan trở thành quốc gia năng động nhất Âu Châu với tỷ lệ tăng trưởng 8% trung bình và tỉ lệ người thất nghiệp 5%,với sự ưu đãi thuế quan nhiều công ty lớn thế giới về điện toán, công nghiệp đã tìm đến đặt trụ sở, Ái Nhỉ Lan được mang danh là “con hổ celtique”. Sản lượng nội địa ròng trên mỗi người dân đứng hàng thứ hai Âu Châu, chỉ sau Luxembourg.

 

            Ái Nhỉ Lan có người đến sinh sống chậm chỉ từ 8000 đến 10000 năm. Từ 2500 năm trước JC nền văn minh đồ đồng đạt đến mức tinh xảo qua những đồ nữ trang bằng vàng tại Viện Bảo Tàng Quốc Gia Dublin. Từ thế kỷ thứ 5 trước JC dân tộc Celltes có nguồn gốc Ấn Âu từ thế kỷ thứ 5 di dân nhiều đợt đến Ái Nhỉ Lan, đã mang đến đồ sắt với xe ngựa bánh sắt khoảng năm 250 trước JC. Chia ra nhiều bộ lạc, bộ lạc chính hùng mạnh nhất là Gaëls xâm chiếm và từng bước hoàn tất cuộc chinh phục vào thế kỷ thứ 5 sau JC.

 

            Ái Nhỉ Lan không hề biết đến sự thống trị của Đế Quốc La Mã, nhờ có thánh Patrick và công việc truyền đạo, dân Ái Nhỉ Lan đã chấp nhận, từ tín ngưỡng Celtique cổ đại, thờ cây đại thụ, thờ đá tảng xếp hàng đã trở thành quốc gia Thiên chúa giáo. Patrick nguyên là một người trẻ Breton bị La Mã hóa tại Anh, bị cướp biển Ái Nhỉ Lan bắt bán như một người nô lệ tại đảo sáu năm, ông vượt ngục và trở về quê hương Bretagne, ông theo đạo Thiên Chúa và sáu năm sau ông trở thành Giám Mục và đi truyền đạo tại Ái Nhỉ Lan, ông trở về gần Downpatrick ở Ulster và truyền đạo cho các lãnh vương Ái Nhỉ Lan ông dùng biểu tượng cỏ “trèfle” ba phần trong lá biểu tượng cho Chúa Ba Ngôi. Năm 444 ông đi Rome và trở về xây dựng Thánh đường Armagh ở Ulter. Cuộc đời ông gắn liền với việc truyền đạo và chứng minh sự cao cả của Chúa Trời bằng những phép lạ, cao hơn tín ngưỡng Celtique.

 

            Đạo Thiên Chúa Giáo nguyên thủy Ái Nhỉ Lan có đặc tính thành lập các tu viện hòa đồng tôn giáo giữa Celtique và Thiên Chúa Giáo. Họ thành công và thành lập nhiều tu viện khắp Âu Châu như Lagny, Luxeuil tại Pháp, St Gall tại Thụy Sĩ và Würzburg. Tại Ái Nhỉ Lan các tu viện trở thành các trung tâm trí thức và văn hóa chứng minh bởi sách Kells và sách Armagh, những công trình sao chép thánh kinh còn tồn tại đến ngày nay.

 

            Thế kỷ thứ  8 người Vikings từ Bắc Âu đến cư trú tại bờ biển phía bắc và dần dần đi vào bên trong bằng đường biển, người Ái Nhỉ Lan kháng cự yếu ớt, các tu viện  bị cướp phá và xây dựng lên các tháp tròn. Người Viking không chỉ là các chiến binh khát máu, họ xây dựng phần lớn các thành phố ven biển: Dublin, Wexford, Wzterford, Cork và Limerick, các tiểu vương Ái Nhỉ Lan thường liên kết với họ để đánh vương quốc đối nghịch. Sau một cuộc loạn lạc lâu dài, vua Brian Ború đã thống nhất Ái Nhỉ Lan và trận đánh Clontarf gần Dublin đánh thắng Viking, nhưng ông tử trận, Ái Nhỉ Lan trở lại sự tranh giành chia rẽ giữa các tiểu vương quốc suốt hai thế kỷ 11 và 12. Một trong các tiểu vương Diarmuid Mc Nurrough đã kêu gọi sự giúp đỡ của  cường quốc Anglo-Normands vua Henri II Plantagerêt để lập lại ngai vàng. Người Normand đã dùng phong tục và tiếng Pháp cai trị nước Anh từ cuộc xâm lăng của Guillaume la Conquérant từ 1066. Vua Henri II đã giao cho một lãnh chúa Richard de Clare, nổi tiếng với tên Strongbow (Chiếc nỏ hùng cường), đem chiến thuyền chiếm Ái Nhỉ Lan năm 1169, cuộc chiến kéo dài hai năm, 1171 Henri II đã phục tòng được tất cả các tiểu vương Ái Nhỉ Lan. Người Normands đã mang lại hệ thống phong kiến dựa trên quyền lực con trai trưởng nối ngôi lãnh chúa, hủy bỏ phần lớn các luật Brehon và tiến hành xây dựng các lâu đài bảo vệ chiến sự. Qua nhiều thế hệ hầu hết lãnh thổ Ái Nhỉ Lan được cai trị bởi các Nam tước. trừ  vùng Tyrone còn là Ái Nhỉ Lan với sự cai trị của gia tộc O ́ Donnel và O ́Neil. Dublin trở thành một thành phố Anglo-Normande.

 

            Thế kỷ 14, một trào lưu quốc gia Ái Nhỉ Lan độc lập lan rộng, từ 1315 đến 1318 các thủ lĩnh Gaëls thành công dành một phần lãnh thổ với sự trợ giúp lính đánh thuê Écossais. Mặc khác các gia tộc Anglo-Normandes vùng Nam và Đông như Desmond và Butter d ́Ormonde hay Fitzgerard de Kildare đã kết hôn với gia tộc các thủ lĩnh Gaël, cũng như hoàng gia Anh, lo lắng sự phối hợp này luật Kilkenny năm 1366 cấm đoán các cuộc hôn phối. Từ đầu thế kỷ 15 gia tộc Fitzgerald de Kildare cai trị hầu hết lãnh thổ Ái Nhỉ Lan, họ thu thuế và độc lập với hoàng gia Anh. Tổng thống John Fitzgerald Kennedy Hoa Kỳ là hậu duệ dòng tộc này.

 

            Từ thế kỷ 16,17 quyền lực Kildare bị quét sạch dưới thời vua Henri VIII,  ông giam lãnh chúa Fitzgerard de Kildare chết năm 1536 và xử tử con trai lãnh chúa đã nổi loạn.

 

            Cho đến lúc đó, dưới thời các vua Anh Quốc, tại Ái Nhỉ Lan chỉ có các lãnh chúa, nhưng khi Henri VIII tuyên xưng là vua Ái Nhỉ Lan năm 1541, giải tán các dòng tu, tịch thu đất đai các lãnh chúa, đặt dưới luật lệ Anh Quốc. Các con gái Henri VIII, nữ hoàng Mary và nữ hoàng Elizabeth I cũng không kém khắc nghiệt, đàn áp tất cả các cuộc nổi loạn và từ năm 1560-1570 di dân Anh Quốc sang chiếm đóng tại Munster. Chính sách này làm dấy lên phong trào yêu nước Ái Nhỉ Lan và cả những “cựu  dân Anh” có nguồn gốc Anglo-Normands. phần lớn đều theo Công Giáo. Năm 1590 Hugh O ́ Neil lập nên một đội quân tại  Ulster chống lại quyền lực Anh Quốc trong 9 năm và kêu gọi sự giúp đỡ của vua Tây Ban Nha công giáo Phillipp II. Quân Tây Ban Nha đổ bộ vào Kinsle gần Cork và bị đánh bại quân bởi nước Anh của công tước Mountjoy. Trận chiến này làm quân Ái Nhỉ Lan Gaélique tàn lụi, sau cuộc thất bại Kinsale, quyền lực nước Anh thống trị tất cả Ái Nhỉ Lan. O ́ Neil và các công tước Ái Nhỉ Lan quyết định rời khỏi lãnh thổ năm 1607 để lại người công giáo Ulster không còn ai bảo vệ trước quân đội Anh. Đất đai các lãnh chúa được phân chia cho người theo đạo Tin Lành Écossaie và Anh và ảnh hưởng việc này còn kéo dài cho tới ngày nay. Chiếm cứ vùng đất giàu có thành lập các thành phố như Londonderry, các  thực dân theo đạo Phản Thệ (Tin Lành)  theo lối sống khác biệt với dân địa phương Ái Nhỉ Lan, điều này tạo nên mối thù hận lưu truyền từ đời này sang đời khác cho đến ngày nay.

 

            Cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17 cuộc cải cách tôn giáo Phản Thệ (Protestant) chia ra thành phiều phái. Ái Nhỉ Lan trở thành nơi đối đầu xung đột giữa các Calvinistes và Anh Giáo. Vua Charles Ier muốn trở thành chế độ quân chủ tuyệt đối, áp đặt Anh Giáo là tôn giáo duy nhất, đã gây nên cuộc bạo loạn các Calvinistes  Écosse và Ulster, trong lúc năm 1641 dân Công Giáo Ái Nhỉ Lan nổi dậy tàn sát chống dân Anh chiếm đóng. Dân Ái Nhỉ Lan và “cựu dân Anh” liên kết thành lập liên tôn Kilkenny, lập đội quân chống lại hoàng gia Anh, được sự ủng hộ của Công Giáo các nước Âu Châu. Nhưng cuộc nội loạn này bị quét sạch bởi Olivier Cromwell; không phân biệt giữa Ái Nhỉ Lan và “cựu dân Anh”, Olivier Cromwell nắm quyền thủ tướng đã tịch thu toàn bộ tài sản Giáo Hội Công Giáo, tại Ái Nhỉ Lan, ông phân chia tài sản này cho quân đội và người theo đạo Phản Thệ đến từ Anh Quốc. Sau khi Cromwell bị  vua Henry VIII xử tử năm 1658 và sự trở lại của hoàng gia Anh Charles II trở lại một thời kỳ tôn giáo ôn hòa, khi người em kế vị Jacques III, theo công giáo Ái Nhỉ Lan bắt đầu trả lại tài sản cho Giáo Hội Công Giáo. Hy vọng này chỉ trong một thời gian ngắn, một cuộc đảo chánh cung đình đã lật đổ Jacques II và đưa con gái là Mary kế vị, vợ của Guillaume III d ́ Orange. Jacques II trốn khỏi Irlande và thành lập một đội quân Công giáo hùng mạnh. Ngày 18-4-1689 đoàn quân này bao vây Londonderry nhưng không chiếm được thành phố. Tháng 6-1690 Guillame III đổ bộ Carrickfergus với binh đoàn tiến về thung lũng Boyne, nơi đó ông gặp và đánh bại đoàn quân Jacques II vào tháng bảy. Trận chiến thắng quân Guillaume d ́Orange được thành lễ hội tưởng niệm hằng năm tại Ulster.

 

            Sau trận đánh bại quân Công giáo, người Phản Thệ muốn thống trị thiết lập quyền lực lâu dài, họ ra luật hình sự năm 1695 nhắm tướt đoạt của cải người Công Giáo, cũng như người Phản Thệ Ulster được xem như người tà giáo, họ không được hành đạo nơi công cộng, cũng như không được một chức vụ trong hành chánh công quyền, điều đó làm họ phải bỏ nước ra đi. Giai đoạn “ hồng nhạn thiên di” (Wild Geese, Vol des Oies sauvange).  Nhiều người Ái Nhỉ Lan phải bỏ nước sang các vương quốc Công Giáo như Pháp, Tây Ban Nha. Các luật lệ này nảy sinh những tình cảm bất đồng nơi người Công Giáo, cũng như trong thành phần trí thức Anh Giáo đòi hỏi sự công bằng.

Phân nửa sau thế kỷ 18 tình hình có phần lắng dịu, các tôn giáo bớt phần căng thẳng, Ái Nhỉ Lan qua một giai đoạn kinh tế phồn thịnh dưới thời các vua Georges I, II, III, và IV xây dựng các công trình kiến trúc lớn ở Dublin là khuôn mẫu kiến trúc Ái Nhỉ Lan.

 

            Các tín đồ giáo phái Calvin nhìn thấy trong cách mạng Pháp 1789, một niềm tin hy vọng để lật đổ sự thống trị của Anh Giáo, phần lớn họ có trình độ giáo dục cao  và hấp thụ các tư tưởng dân chủ hơn người công giáo. Phần lớn tín đồ phái Phản Thệ này thành lập năm 1791 tại Belfast phong trào United Irishmen, tổ chức yêu nước đầu tiên bởi một luật sư Phản Thệ, Théobald Wolfe Tone, ông tuyên bố dùng tên Ái Nhỉ Lan thay cho Công Giáo hay Phản Thệ. Ông sang Pháp thuyết phục chính quyền cách mạng Pháp giúp đỡ cho Ái Nhỉ Lan Thống Nhất; cuộc đổ bộ trợ giúp bị thất bại trước Bantry trong  vùng Cork, người Ái Nhỉ Lan thống nhất vẫn quyết định thiết lập nền cộng hòa, họ lập một đội quân gồm cả người phản thệ và nông dân công giáo. Nhưng cuộc nổi dậy năm 1798 bị thất bại vì thiếu chuẩn bị. Họ chiếm được các thành phố quan trọng như Wexford kháng cự lâu dài, nhưng bại trận trong trận đánh Vinegar Hill gần Enniscorthy. Hơn 30 000 người khởi nghĩa và thường dân bị tàn sát, Wolfe Tone bị bắt làm tù binh và tự sát một thời gian sau.

 

            Giấc mơ tự do, độc lập Ái Nhỉ Lan không được Giáo Hội Công Giáo yểm trợ vì  chính phong trào cộng hòa là một mối hiểm họa cho giáo hội. Thiếu sự ủng hộ đó người Ái Nhỉ Lan các tôn giáo bị đặt dưới sự đô hộ toàn quyền của Londres.

 

 

 

            Về hành chính, Ái Nhỉ Lan chia ra làm 26 quận (comté), thuộc Cộng Hoà Ái Nhỉ Lan và 6  quận đa số theo Phản Thệ Giáo (Tin Lành) phía bắc thuộc Anh Quốc, 32 quận chia thành 4 tỉnh (provinces). Tuy thuộc Anh Quốc nhưng từ năm 1998, Bắc Ái Nhỉ Lan theo Hiệp Ước hoà bình có riêng quốc hội, thượng viện, và chính phủ riêng thủ đô tại Stormont.

 

            Đời sống chính trị Cộng Hòa Ái Nhỉ Lan, được ban hành bởi Hiến pháp năm 1937, chi phối bởi đạo Công Giáo. Mặc dù hủy bỏ năm 1972 điều luật xem Công giáo là nền tảng quốc gia, năm 1995 đạo luật cấm ly dị. Ái Nhỉ Lan là nước không tách rời tôn giáo khỏi chính trị như các nước Âu Châu, Giáo Hội Công Giáo vẫn giữ vai trò quan trọng trong Giáo Dục, trong tổ chức xã hội và y tế. Gia nhập vào Âu Châu, việc tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị đang tiến hành từng bước. Cộng Hoà Ái Nhỉ Lan là một nền dân chủ đại nghị, có quốc hội gồm 160 dân biểu và thượng viện gồm 60 thượng nghị sĩ. Tổng Thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu trực tiếp bảy năm một lần, nắm giữ quyền hành, bảo đảm bởi Hiến Pháp và chỉ huy quân đội, Tổng Thống và bổ nhiệm Thủ Tướng do Quốc Hội đề nghị; các luật lệ được viết bằng hai thứ tiếng Gaélique và tiếng Anh. Năm 1990 bà Mary Robinson được bầu làm Tổng Thống và  bà Mary Mc Aleese được bầu làm Tổng Thống với hai nhiệm kỳ 1997 và 2011. Tổng Thống bổ nhiệm ông Simon Harris làm thủ tướng. Tình hình chính trị Ái Nhỉ Lan không vững vàng do đảng Sinn Féin ngày càng chiếm nhiều ghế cả nam bắc Ái Nhỉ Lan. Thành lập từ năm 1905 đảng Sinn Féin (có nghĩa là Chính chúng ta) đòi hỏi độc lập  và thống nhất hai miền nam bắc Ái Nhỉ Lan.

 

            Năm 2016, Anh Quốc bầu cử trưng cầu dân ý tách rời Anh Quốc ra khỏi Liên Hiệp Âu Châu, bắc Ái Nhỉ Lan 56% chống lại quyết định này, phong trào bắc Ái Nhỉ Lan, muốn tách rời khỏi Anh và thống nhất với nam Ái Nhỉ Lan càng lớn mạnh, đã dẫn đến nhiều cuộc hiệp thương và biên giới nam bắc Ái Nhỉ Lan.

 

            Tiếng Anh là ngôn ngữ được dùng khắp đảo, nhưng tiếng Gaélique là ngôn ngữ biểu tượng chính thức. Tất cả văn kiện hành chánh đều được viết bằng cả hai ngôn ngữ, tuy nhiên ở bắc Ái Nhỉ Lan chỉ dùng tiếng Anh. Ngôn ngữ Gaélique thuộc phổ hệ ngôn ngữ Ấn Âu, cùng một nhánh với ngôn ngữ Celte như le Breton, le Cornouailles, le Gallois, le Manxois và l ́ Ecossais. Viện Bảo Tàng Ái Nhỉ Lan còn gìn giữ chữ viết cổ nhất của ngôn ngữ celtiques, được bồi bổ qua bao thế kỷ và được ghi chép bằng “alphabet”. Sách ‘Book of Kells” trưng bày tại Trinity College ở Dublin, thánh kinh được viết bằng tiếng gaélique là bằng chứng quan trọng. Từ năm 1960 để đọc nhanh chóng chữ viết này nhường chổ cho chữ Romain. Việc tập đọc được giảng dạy từ tiểu học, nhưng chỉ có khoảng 30 000 đến 50 000 người dùng thông thạo, và 1 200 000 triệu người dùng trên thế giới. Tiếng Gaélique Á Nhỉ Lan là ngôn ngữ chính thức trong Liên Hiệp Âu Châu và năm 2021 trở thành ngôn ngữ thứ 24 Liên Hiệp Âu Châu. Sự đổi mới tiếng Gaélique từ thế kỷ 19 trở thành ý thức quan trọng cho việc thành hình quốc gia. Xưa chỉ có những tác phẩm truyền khẩu của các nông dân, đã được các nhà văn, nhà viết kịch như Yeats, Synge xử dụng và các đại học nghiên cứu phổ biến văn phạm. Từ khi độc lập năm 1921 chữ Gaélique trở thành ngôn ngữ bắt buộc trong các kỳ thi.

 

            Từ năm 1850 đến 1930, do nạn thất mùa khoai tây, một triệu người chết đói, hơn bốn triệu người di cư sang Hoa Kỳ, họ trở thành nhân tố tích cực trong việc xây dựng sự phồn thịnh Hoa Kỳ, người Ái Nhỉ Lan dẫn đầu trong hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, nghệ thuật, xã hội. Những tên tuối dòng dõi Ái Nhỉ Lan rất dễ nhận ra: hai mươi bốn người trở thành Tổng Thống Mỹ Kennedy, Ronald Reagen đến Biden và một người thành Tổng Thống Pháp là Mac Mahon. Phi hành gia Neil Armstrong người đầu tiên lên mặt trăng, Henry Ford thành lập hảng xe Ford. Về tài tử điện ảnh nhiều ngôi sao nổi tiếng gốc người Ái Nhỉ Lan như John Wayne, Clint Eastwood, Harrison Ford, Robert de Niro, Kevin Costner, Mel Gibson, Tom Cruise, George Clooney, Grace Kelly..

 

            Đến Bắc Ái Nhỉ Lan, thăm Belfaste không thể không đi thăm viện Bảo Tàng Titanic, thành lập năm 2012 kỷ niệm 100 năm tai nạn đắm tàu, con tàu danh tiếng thế kỷ. Bảo tàng xây dựng bởi kiến trúc sư Eric Kuhne, kiến trúc bằng nhôm hình ngôi sao để tưởng niệm công ty White Star Line, xây dựng tàu Titanic trên xưởng đóng tàu chính nơi này năm 1911, nơi hạ thủy con tàu còn hai hàng trụ cột, ngày đó hơn một trăm ngàn người đến xem con tàu to lớn, tối tân, với tính toán không thể nào chìm được. Bốn góc là bốn phần viện bảo tàng tượng trưng bốn con tàu, tầng sát đất trung tâm là các cửa tiệm và nhà hàng. Cuộc viếng thăm được trình bày các đoạn phim hình ảnh lúc xây dựng con tàu tìm được trong văn khố phim ảnh năm 1911. Từ công ty, kỹ sư thiết kế con tàu, thuyền trưởng, thủy thủ, các nhân viên phục vụ trên tàu và chuyến đi định mệnh con tàu, nguyên nhân đầu tiên từ người phụ trách đã cất chùm chìa khoá viễn vọng kính, làm cho người lái tàu không nhìn xa được, người thuyền trưởng lại ra lệnh cho con  tàu xả hết tốc lực để lập thành tích nhanh chóng đến New York, nếu con tàu đụng thẳng vào tảng băng tàu cũng không thể chìm, nhưng việc tàu đụng vào tảng băng bên hông, ngay tại các điểm các chốt sắt mang đặc điểm yếu kém nhất vì người thầu cung cấp không đúng tiêu chuẩn, hàng loạt các yếu điểm kế tiếp dẫn đến con tàu không thể nào chìm, tàu chia làm nhiều khoang vách ngăn chận, nếu một khoang bị ngập nước cũng không chìm theo  tính toán  chính xác, niềm kiêu ngạo của các kỷ sư đóng tàu thách đố việc xây dựng con tàu biển to lớn đã tan biến, sau khi đánh điện cấp cứu SOS, thuyền trưởng giờ ra lệnh di tản khỏi con tàu, phải hai giờ rưỡi sau mới có tàu gần nhất đến cứu, các thuyền nhỏ hạ thủy xuống, mỗi thuyền chứa được 40 người nhưng chỉ mười mấy người lên thuyền, các khoang vô nước, tàu Titanic đã gảy làm hai chìm xuống lòng đại dương. Hơn 1500 chết trong số 2200 người, gồm 1316 hành khách và 900 nhân viên, thủy thủ. Trong 1316 hành khách: hạng nhất gồm 325 người giàu có, tư bản, hạng hai 285 du khách và hạng ba 786 ngươi di dân.  Cuối cùng là các di vật vớt được từ con tàu trong lòng đại dương. Lịch sử kỹ nghệ đóng tàu Belfast đã được trình bày qua các giai đoạn.

 

            Có hơn 33 triệu người Hoa Kỳ khai báo mình dòng dõi Ái Nhỉ Lan, 10% dân số Hoa kỳ. Từ 1820 đến 1920 do nạn đón năm 1845-1855 có bốn triệu người di dân sang Mỹ. Ngày nay có khoảng 80 triệu người Ái Nhỉ Lan trên thế giới chủ yếu ở Nam Mỹ, Âu Châu, Úc Châu.. hằng năm họ về Ái Nhỉ Lan tìm lại gốc tích dòng dõi mình tạo nên một nguồn lợi lớn ngành du lịch. Người có tên Ái Nhỉ Lan dễ nhận ra như chữ Mac có nghĩa là con ông, Mac Arthur con ông Arthur.

 

            Ái Nhỉ Lan có nhiều thắng cảnh thiên nhiên, vườn quốc gia và các tu viện đẹp.

Thắng cảnh thiên nhiên khu bờ biển đá thiên nhiên hình trụ lục lăng Derry vùng Letterkenny.

Bờ biển vách đá dựng Slieve League cao thứ nhì Âu Châu 601m. Bờ biển đá Moher đá xếp chồng nghiêng nghiêng từng mảng.

Những công trình xây dựng tuyệt đẹp từ mái nhà bằng tranh, vách vôi trắng bên cạnh các bến cá,

đến tu viện Kylemore kiến trúc từ lâu đài một nhà kỹ nghệ , di tích tu viện Glendelough..

 Vườn Quốc Gia Killarney và vườn Muckross cảnh sắc tuyệt đẹp với những cánh đồng cỏ tuyệt đẹp  bên cạnh các vườn hoa muôn sắc.

Ái Nhỉ Lan nổi tiếng với những xưởng cá hồi un khói Burren Smokehouse và nghề chưng cất rượu Whisky hảng Midleton, vùng Carlow.

 

            Bờ biển đá lục lăng hình trụ là một hiện tượng địa chất đặc biệt, lôi cuốn du khách tại vùng bắc Ái Nhỉ Lan. Theo huyền thoại celtique cổ đại con đường biển đá lục lăng xây dựng bởi người khổng lồ Fionn Mac Cumhaill (Finn McCool) cho kẻ thù địch Benandonner đi đến đánh nhau. Bị đánh bại kẻ thù địch muốn trốn chạy theo đường cũ nhưng Finn McCool làm con đường biến mất vào biển cả. Từ thế kỷ thứ 19 người ta mới hiểu các trụ đá hình lục lăng là do nham thạch từ lòng đất phun ra cách đây 60 triệu  năm và kết tinh thành hình trụ lục lăng.

 

            Về Văn học, dù tiếng Anh là ngôn ngữ chính sáng tạo văn chương, văn học Ái Nhỉ Lan vẫn giữ ảnh hưởng độc lập với ảnh hưởng văn chương Anh và Hoa Kỳ. Thời cận đại Ái Nhỉ Lan hãnh diện đã có bốn nhà văn lớn viết tiếng Anh đoạt giải Nobel văn chương : William Butler Yeats (1923) Georges Bernard Shaw (1925), Samuel Beckett (1969), Seamus Heaney(1995) và nhiều tác giả hiện đại có sách bán chạy nhất hàng năm bằng tiếng Anh. Trong các ngành nghệ thuật khác như âm nhạc cũng khá nhiều nhạc sĩ nhạc rook hàng đầu khai thác đề tài cuộc đấu tranh với Anh quốc, chế độ tàn bạo trong ngục tù, khai thác tinh thần nổi loạn hay nỗi buồn lưu vong.

 

            Nhiều nhà văn, nhà thơ là những người kể chuyện tài năng, dù ngôn ngữ Gaélique hay tiếng Anh cũng mang lại một luồng gió mới vào văn chương Anh Mỹ vượt ra khỏi biên giới Ái Nhỉ Lan.

Jonathan Swift (1667-1745), thi sĩ Thomas More (1779-1852). Oscar Wilde(1854-1900) viết Chân dung Dorian Gray, nổi tiếng là một tuyệt phẩm công nhận bởi giới trí thức Anh, tiếng Anh chính xác, thanh nhã, tráng lệ, nhiều nhà văn giữ các hình thức gốc từ tiếng Gaélique sáng sủa, đơn giản và giàu tưởng tượng, đôi khi thân mật và xấc xược. James Joyce (1882-1941) là một anh hùng lớn của cuộc cách mạng văn chương, đã góp phần đảo lộn kỹ thuật viết văn. John Millington Synge(1871-1909) đã thành công phát biểu tinh thần Ái Nhỉ Lan trong tiếng Anh mặc dù giữ mọi cấu trúc văn phạm truyền thống từ tiếng gaélique trong vỡ kịch Cuộc phiêu du trong thế giới Tây phương, Sean O ́ Casey sống lại trong sách ông đời sống thợ thuyền tại Dublin. Liam O ́ Flaherty đam mê trong tiểu thuyết lịch sử. Thi sĩ Patrick Kavanagh (1906-1967) trong tự truyện Ngọn cỏ ngu si, vẽ lại bức tranh Ái Nhỉ Lan đồng quê. Frank O ́ Connor (1903-1966) với những truyện ngắn châm biếm. Bredan Behan(1923-1964) là một kịch tác gia tài năng.

 

            Về thi ca William Butler Yeats (1865-1935) đưa người đọc trở lại cuộc sống tưởng tượng thời Celtique, những thời đại huyền sử, bí mật. Seamus Heaney (1939-2013) làm chứng nhân trong thi ca ông sự gắn bó tuyệt vọng về nguồn gốc.. Về kịch nghệ cũng là một ưu điểm sống động do Yeats thành lập cùng các bạn hữu. Lady Gregory tại Abbey Théâtre ở Dubin sáng tạo những vở kịch danh tiếng của JM Synge. O ́ Casey với những vở kịch chính trị đương thời.

 

            Thăm Ái Nhỉ Lan, chúng ta không khỏi ngạc nhiên với sức sống kỳ diệu một dân tộc, một quốc gia nhỏ bé, từ lầm than tăm tối bị nạn đói, mất mùa khoai lang tây thế kỷ 19, phải bỏ nước ra đi, đã tạo nên những con người tài năng hàng đầu một cường quốc lớn giàu có nhất địa cầu.

 

Paris 18-8-2026

Bình luận về bài viết này