Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Gia Long (Bài 3)

Nhà Nguyễn: Gia Long [30/6/1802-28/7/1802]

Hồ Bạch Thảo

Tháng 7 năm Nhâm Tuất Gia Long thứ 1 [29/7-27/8/1802] Vua ban ấn đồng cho các trấn từ Nghệ An ra Bắc. Sai Đô thống chế Hậu dinh Hoàng Viết Toản lãnh chức Trấn thủ Nghệ An, Tham tri Hộ bộ  Hồ Thế Học lãnh chức Hiệp trấn; Đô thống chế Hữu dinh Tôn Thất Chương lãnh chức Đốc trấn Thanh Hoa, Phó đô thống chế Tả dinh là Võ Doãn Văn lãnh chức Phó trấn, Tả tham tri bộ Binh là Lê Viết Nghĩa lãnh chức Hiệp trấn.

Ban chiếu dụ cho cựu thần nhà Lê và  khoa bảng sĩ tử Bắc Hà như sau:

Mới đây giặc Tây Sơn can phạm đạo thường, làm cho trời đất tối đen, trong lúc ấy có nhiều người ẩn náu, không muốn làm quan cho giặc, mà ôm đức giữ tài là để chờ thời. Nay đảng giặc dẹp yên, võ công cả định, chính là buổi chấn hưng văn hóa, xây dựng trị bình. Nhân tài trong đời há chịu cùng với cỏ cây mục nát sao ? Vậy nên báo cáo cho nhau, đều đến hành tại để cho bọn Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành, Lễ bộ Đặng Đức Siêu, Tán lý Đặng Trần Thường, Tham tri Phạm Như Đăng, Học sĩ Nguyễn Viên, lần lượt dẫn vào yết kiến. Ta sẽ nghe lời nói, thử việc làm, tùy tài bổ dụng, cho người hiền được có vị, người tài được có chức, họp lòng nghĩ, chia mưu làm, để cùng nên đạo trị nước”.

Do đó những người ẩn dật ở Bắc Hà tranh nhau ra giúp.

Sai chọn người dòng dõi họ Trịnh để giữ việc thờ cúng. Trước kia khi đại quân Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết; Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng :

Tiên thế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ giữ việc thờ cúng, để giữ tình nghĩa đời đời”.

Một số cựu thần nhà Lê, ở ẩn trong dân gian, không ra làm quan với Tây Sơn; đến nay vào yết kiến, Vua yên ủi hỏi thăm, hậu đãi. Rồi ban mệnh lấy các Tiến sĩ Nguyễn Duy Hợp làm Thị trung trực học sĩ, lãnh chức Hiệp trấn Kinh Bắc; Lê Duy Đản làm Kim hoa điện trực học sĩ, lãnh chức Hiệp trấn Lạng Sơn; Lê Huy Trầm, Ngô Xiêm và Nguyễn Đình Tứ làm Thái hòa điện học sĩ; Nguyễn Đường làm Kim hoa điện học sĩ; Phạm Thích làm Thị trung học sĩ; Vũ Đình Tử, Nguyễn Huy Thảng làm Cần chính điện học sĩ; Cử nhân Võ Trinh làm Thị trung học sĩ.

Thưởng cho dân có công bắt giặc: Dân Kinh Bắc bắt được Nguyễn Quang Toản, thưởng 200 mẫu ruộng, dân Thanh Hoa bắt được Võ Văn Dũng, thưởng 30 mẫu ruộng; đều được tha dao dịch.

Tống Phước Lương và Nguyễn Văn Vân đánh phá được giặc biển ở châu Vạn Ninh [Quảng Ninh]. Trước kia giặc biển Tề Ngôi là Trương Á Lộc ngụy xưng là Thống binh, tụ đảng ở ngoài khơi, cướp bóc thuyền buôn; Tây Sơn dùng để chống cự quan quân. Từ khi thua ở cửa biển Nhật Lệ, chúng ngầm trốn ra ngoài biển Vạn Ninh, hoành hành cướp bóc. Trấn thủ Yên Quảng đem sự việc báo lên; Vua sai Phước Lương và Văn Vân đem thủy quân đánh. Quân đến cửa biển Vân Đồn [Quảng Ninh], gặp 15 chiếc thuyền giặc, đánh phá được, chém được tướng giặc là Trịnh Thất và bè đảng rất nhiều, bắt được bọn Trương Á Lộc 11 người; dư đảng chạy trốn.

Vua cho rằng giặc Tây Sơn đã diệt, bèn gửi thư sang Tổng đốc Lưỡng Quảng nhà Thanh hỏi về việc bang giao nên làm thế nào ; sai Thiêm sự Lại bộ là Lê Chính Lộ, Thiêm sự Binh bộ là Trần Minh Nghĩa đợi mệnh ở Nam Quan. Lại cho rằng nước nhà mới lập, muốn tiếp sứ nhà Thanh ở cửa ải, để làm lễ tuyên phong cho đỡ phiền phí; nên đem việc ấy hỏi Ngô Thì Nhậm và Phan Huy ích; hai người đều nói việc như thế từ trước chưa từng nghe bao giờ, bèn thôi.

Hạ lệnh cho Bình Định và Phú Yên dựng miếu công thần, gồm:

-Một miếu ở trước lầu Bát giác trong thành Bình Định, thờ Võ Tánh, Ngô Tòng Chu và những người chết trận, chết bệnh ở trong thành, cả thảy 260 người.

-Một miếu ở núi Độc Sơn, cửa Thị Nại [thành phố Qui Nhơn, Bình Định], thờ Võ Di Nguy, Tống Viết Phước và những người chết bệnh, chết trận từ Quảng Ngãi đến Thị Nại, cả thảy 619 người.

-Trấn Phú Yên dựng miếu ở Hòn Nan, núi Cù Mông [Qui Nhơn, giáp Phú Yên] để thờ Mai Đức Nghị và những người chết trận và chết bệnh, từ Thị Dã đến Phú Yên, cả thảy 526 người

Trấn thủ Yên Quảng Nguyễn Hữu Đạo bắt được Tư lệ Tây Sơn là Đinh Công Tuyết ở châu Vân Đồn [Quảng Ninh], đóng cũi đưa về ; Vua không nỡ giết bèn tha cho.

Thông thường sự việc xãy ra tại An Nam, kinh qua Tuần phủ Quảng Tây nhận được tin, rồi theo đường trạm dịch gửi về Bắc Kinh, thời gian phải mất khoảng 2 tháng. Bởi vậy trong đạo dụ đề ngày 18 tháng 7 dưới đây, Vua Gia Khánh vẫn chưa hay biết việc Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản đã bị bắt vào tháng 6, nên dự liệu rằng nếu Nguyễn Quang Toản đưa thuộc hạ đến quan ải đầu thuận, thì nên chiếu theo lệ đối với Vua Lê Chiêu Thống trước kia, đem an trí:

Ngày 18 tháng 7 năm Gia Khánh thứ 7 [15/8/1802]. Dụ các Quân cơ đại thần:

 Thanh An Thái tâu:

 ‘ Họ Nguyễn An Nam bị Nông Nại xâm bức, muốn gõ cửa quan ải xin thu nạp.’

Tưởng Cát Khánh nhận được lời bẩm này, tất phải đến gấp trấn Nam Quan để liệu biện sự việc. Hiện tại Thanh An Thái đã tâu rõ trên đường đi, lại dụ cho Tôn Ngọc Ðình đến Quảng Tây ngay, cùng hội ý để liệu biện cho ỗn thỏa. Nếu như Nguyễn Quang Toản đưa thuộc hạ đến đầu thuận, thì nên chiếu theo lệ đối với Lê Duy Kỳ trước kia, an trí ỗn thỏa. Nếu cầu xin giúp quân, Cát Khánh cần đem sự thực tâu lên rồi đợi chiếu chỉ. Nếu Nông Nại biết Nguyễn Quang Toản đã vào quan ải, bèn đòi hỏi đích danh, hoặc mang quân đến biên cảnh, thì không thể dung thứ chút nào; trường hợp lời nói và tấm lòng cung thuận, thì nên chuyển tâu, Trẫm sẽ xem xét lại. Cát Khánh cần trù tính kỹ, liệu biện ỗn thỏa; lại thông sức thuộc hạ nghiêm phòng tại các quan ải, không thể coi thường Di nước ngoài yếu đuối. Nếu như Tôn Ngọc Ðình đến, hãy ra lệnh Thanh An Thái trở về tỉnh lo công việc. Nay truyền dụ để hay biết.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 101, trang 2-3)

Mấy ngày sau lại nhận lời tâu từ Quảng Tây rằng Nguyễn Quang Toản đã bị bắt, Nguyễn Ánh lên ngôi; Vua Gia Khánh ra lệnh bất can thiệp, tăng cường phòng thủ tại biên giới:

Ngày 27 Ất Mùi tháng 7 năm Gia Khánh 7 [24/8/1802]. Lại dụ:

Thanh An Thái tâu:

 ‘ Cứ theo lời bẩm của Tri phủ Thái Bình Vương Phủ Ðường rằng Nguyễn Chủng [Nguyễn Phúc Ánh] tại Nông Nại đánh phá thành Thăng Long, Nguyễn Quang Toản thua chạy, bị bắt; rồi Nguyễn Chủng vào thành tự lên ngôi.’

Việc biên giới khẩn yếu, Cát Khánh, Tôn Ngọc Ðường cần tra xét tình hình; đốc suất các viên văn võ cẩn thận phòng thủ; còn việc Di nước ngoài thôn tính lẫn nhau, không can thiệp đến nội địa, không cần hỏi han nhiều. Nếu như Nguyễn Chủng xin nạp cống, hoặc có ý kiến khác, thì hãy tâu lên để xin chiếu chỉ. Mang dụ này truyền để hay biết.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 101, trang 16-17)

Như đã trình bày trong trong bài trước, vào tháng 5 phái đoàn Trịnh Hoài Đức đến Trung Quốc giải giao bọn cướp biển Mạc Quan Phù, cùng sắc ấn Vua Thanh ban cho Tây Sơn. Tháng 8 [2/9/1802], Vua Gia Khánh biết rõ sự việc,  hài tội Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, và cho biết nếu y chạy đến quan ải hoặc bị nhà Nguyễn giải giao đến, sẽ bắt giam; không còn chiếu theo lệ cho an trí như đối với Vua Lê Chiêu Thống trước.

Tháng 8 [28/8-26/9/1802], đặt Thủ hiệu các ải ở Lạng Sơn. Thời Lê  đặt các Thủ hiệu tại ải Nam Quan và Du Thôn; phàm sứ bộ qua lại thì do ải Nam Quan đưa đi, người phạm tội và dân bị bão xiêu dạt thì do ải Du Thôn, cả hai đều thuộc châu Văn Uyên. Đến nay Trấn thần Lạng Sơn xin dùng người giữ ải cũ là Nguyễn Đình Minh và Nguyễn Đình Giáp, bèn cho Đình Minh làm Thủ hiệu giữ ải Nam Quan, Đình Giáp làm Phó thủ hiệu giữ ải Du Thôn, cấp cho ấn đồng khắc chữ triện “Văn Uyên châu Thủ hiệu chi chương”.

Đặt phủ huyện ở Bắc Hà. Đời Lê các trấn đều đặt phủ huyện, đến đời Tây Sơn không đặt phủ, chỉ đặt Phân chi coi việc văn, Phân suất coi việc võ, chia làm việc ở huyện; nay Vua cho trở lại qui chế thời Lê.

Các nước Xiêm La, Chân Lạp, Vạn Tượng đều sai sứ đem quốc thư đến mừng.

Họ Lê, họ Trịnh cùng các cựu thần văn võ nhà Lê dâng biểu xin Vua lên ngôi Hoàng đế. Vua khiêm nhường không nhận và nghĩ rằng nước nhà mới xây dựng, kẻ thương tật chưa dậy được, người bệnh khổ chưa lại hồn, phong tục kiêu ngoa chưa thay đổi hết, ngược chính tệ đoan chưa sửa chữa hết, mọi việc dân tình quốc kế trù hoạch đương bận, nên phải hoãn.

Định điều lệ kiện tụng; sai đình thần tham chước hình luật đời Hồng Đức Lê Thánh Tông, định làm 15 điều.

Tháng 9 [27/9-26/10/1802], phong cho dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Hoán làm Diên Tự công. Trước kia trong thời Tây Sơn, Duy Hoán theo cha là Lê Duy Chi chạy đến Bảo Lạc [Cao Bằng], Duy Chi bị Tây Sơn giết, Duy Hoán lẩn nấp nương nhờ bọn phiên thần Thái Nguyên là Ma Thế Cố. Đến nay Thế Cố đem việc ấy tâu lên; Vua bèn triệu Lê Duy Hoán đến phong cho và ban chiếu rằng:

Vương giả dựng nước, suy tôn dòng dõi đời trước là giữ hậu đạo. Nhà Lê từ khi mở nước đến lúc trung hưng, đời đời nối nhau hơn 300 năm, trước sau 25 vua. Quãng giữa tuy là không quyền những vẫn là vua chung cả nước. Kịp khi Tây Sơn nổi loạn, miếu thờ bỏ nát. Nay ta vâng đem uy trời, thống nhất bờ cõi, nghĩ tôn điển lễ để giữ thờ cúng cho họ Lê. Lê Duy Kỳ tuy là dòng đích phái của Hiển tông, mà không giữ được nước, chạy sang nước Thanh, mà cha ngươi là Duy Chi trong khi điên bái đã bỏ mình vì nước, tỏ rằng con cháu nhà Lê còn có người, trẫm rất khen ngợi. Vậy đặc phong cho ngươi làm Diên Tự công, cho thế tập tước vị, để vâng giữ việc thờ cúng ở miếu nhà Lê, cấp cho tự dân 1.016 người, tư điền 10.000 mẫu. Ngươi nên kính sửa lễ tiết, thờ cúng lâu đời để giữ phước chung”.

Cấp ruộng thờ cho họ Trịnh, sai Trịnh Tư coi giữ việc thờ cúng. Chiếu rằng :

Tiên tổ nhà ngươi vốn là người thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi bờ cõi, đều là công việc đã qua. Từ khi nhà Lê mất ngôi, nơi thờ họ Trịnh bỏ nát. Nay ta một trận dẹp yên, bốn biển trong lặng, nói đến tình thân qua cát (1). nghĩ cũng nên thương. Vậy cho ngươi coi giữ việc thờ tự họ Trịnh, cấp cho ruộng 500 mẫu để thờ cúng”.

Vua cho sưu lục đời Lê, 33 công thần khai quốc, và 15 công thần trung hưng; mỗi công thần cho một người thuộc hàng con cháu miễn phu dịch, đời đời giữ việc thờ tự ; công thần bực nhất thì thêm cho 2 người trong họ làm sái phu (2), miễn cho dao dịch. Công thần bình Ngô khai quốc, bực nhất là Thái úy Phước quốc công Lê Lai, Thái phó Đạt quốc công Lê Văn Linh, Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí, Thái bảo Khuê quốc công Nguyễn Trãi.

Lấy Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc Thành, ban cho sắc ấn, 11 trấn đều lệ thuộc. Phàm những việc cất bãi quan lại, xử quyết kiện tụng, đều được tùy tiện làm, rồi sau mới tâu. Lại đặt ba tào Hộ, Binh, Hình ở Bắc Thành; tào Hộ Nguyễn Văn Khiêm, tào Binh Đặng Trần Thường, tào Hình Phạm Như Đăng đảm trách; phụ giúp quan Tổng trấn để xét biện công việc.

Ngày Bính Thân 28 [24/10/1802], xa giá rời thành Thăng Long; bảo Nguyễn Văn Thành rằng :

 “Công việc Bắc Thành, ủy hết cho khanh, khanh nên cố gắng”.

Văn Thành lạy xin vâng mệnh, nhân đó tâu rằng :

Việc binh việc dân và việc lý tài ở Bắc Thành ba điều ấy rất quan trọng, phải xếp đặt rất nhiều, thần xin ngày ghi từng việc, mỗi tháng đóng thành tập đệ tâu một lần”.

Vua cho là phải.

Sai Nguyễn Văn Trương, Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Tống Phước Lương đều đem thủy quân bộ quân đi trước, bọn Nguyễn Đức Xuyên và Trần Văn Tín đi theo hầu.

Ngày mồng 1 tháng 10 [27/10/1802] xa giá nhà Vua đến Thanh Hoa yết lăng miếu ở núi Thiên Tôn.

Ngày Nhâm Tý 14 [9/11/1802], xa giá đến Hành cung Thượng Lập [huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị], ra lệnh đi đường sông. Ngày Quý Sửu 15 [10/11/1802] đến kinh sư. Ngày Đinh mão 29 [24/11/1802], vua thân yết Thái miếu rồi đến thăm sức khỏe của Từ cung, cùng đặt yến tiệc lớn đãi bầy tôi.

Nước Vạn Tượng sai sứ đến cống; ban cho 100 quan tiền rồi cho về.

Gia Định bị đói, chiếu sai Lưu trấn phát một vạn hộc thóc cho dân nghèo vay. Những nhân viên hưu dưỡng và các quan tại kinh đô có vợ con tại quê quán, cũng được vay.

Vua thấy trấn Hà Tiên sau khi binh loạn, dân chưa trở về đủ, bèn sai Trấn thủ Mạc Tử Thiêm chiêu phủ về, khiến dân yên họp, các loại thuế đều miễn cả.

Khai mỏ vàng, bạc, đồng, kẽm ở Tuyên Quang và Hưng Hóa, do bọn Thổ mục Ma Doãn Điền, Hoàng Phong Bút và Cầm Nhân Nguyên lãnh trưng. Ma Doãn Điền khai mỏ chì Kim Tương; Hoàng Phong Bút khai mỏ đồng Tụ Long, mỏ bạc Nam Đương, mỏ vàng Tú Sơn; Cầm Nhân Nguyên khai mỏ vàng Mẫn Tuyền, mỏ chì Tú Dung, định sang năm bắt đầu trưng thuế.

Ngày Giáp Tuất mồng 7 tháng 11 [1/12/1802] làm lễ hiến phù (3) ở Thái miếu. Sai Đô thống chế dinh Túc trực Nguyễn Văn Khiêm, Tham tri Hình bộ Nguyễn Đăng Hựu áp dẫn Nguyễn Quang Toản và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì cho 5 voi xé xác (Dùng 5 con voi chia buộc vào đầu và hai tay hai chân, rồi cho voi xé, đó là một thứ cực hình), đem hài cốt của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị người chết] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại (sau đổi là Vũ khổ); còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử tử, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo như sau:

Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù (4) là nghĩa lớn kinh Xuân Thu ; thương muôn dân mà đánh giặc là lòng nhân của vương giả. Truân hanh [khó nhọc nên công] mới rõ công to ; hoán hãn [lệnh Vua] để ban hiệu lệnh. Nhà nước ta, Tống Sơn đúc khí thiêng, Gia Miêu gây điềm tốt. Từ Tiên vương cả gây nền lớn, nhân hậu một mạch cùng truyền. Đến Liệt thánh vâng nối công to, thái bình hai trăm năm lẻ. Chợt nửa chừng gặp lúc gian truân, để ngoan dân gây nên biến loạn. Chiếm giữ thành ấp ta ; tàn ngược sinh dân ta. Từ Nhạc, Huệ về sau, đến Quang Toản về trước, chứa tội ác không phải một ngày ; Từ Thuận Quảng vào Nam, đến Linh Giang ra Bắc, gây tai họa khắp cả mọi phương. Trẫm nghiến răng vì thù nước, đau ruột bởi ách dân. Dời đổi không thường há như Thiếu Khang nhà Hạ ở Hữu Nhưng (5) ; lo lắng phục hồi, còn hơn Quang Vũ nhà Hán ở Bạch Thủy (6). Bởi trời muốn thử thách để trao mệnh lớn, nên Trẫm phải ẩn nhẫn để chờ thời cơ. Vận hội lúc đã đến trung hưng, quân đánh dẹp ngày càng chỉnh đốn. Năm Mậu Thân [1788] mới từ Xiêm La trở về Gia Định. Năm Kỷ Mùi [1799] tiến lấy Quy Nhơn ; năm Tân Dậu [1801] đánh được Phú Xuân. Bọn giặc vội vàng ; một ngựa bỏ chạy. Từ đó, Hoành Sơn một giải, cõi xưa thu về. Duy còn giặc Diệu quân cô, lũy cũ vẫn đóng. Nghĩ trừ ác trước nên trừ mống, mà căm thù ta phải mài gươm. Quân giáp đánh vừa qua lũy mạnh, giặc trốn đi bỏ mất thành Bàn. Nó đã nhụt khí phải chạy đêm, ta bèn đem quân đánh ra Bắc. Tháng 5 năm nay ta đem đại chúng thẳng vượt sông Gianh. Theo gió phóng lửa, mạnh tựa đốt lông ; hẹn ngày thành công, dễ như chẻ trúc. Các đạo Hoan Ái, chốc đã phá tan. Giặc Diệu giặc Dũng, cùng đường sa hố. Thẳng một lối sấm vang chớp giật ; khắp mọi thành ngói lốc tro bay. Bọn giặc bắt xong ; tội nhân được hết. Mây tối quét sạch, cả gầm trời bờ cõi sáng trong ; ngựa bay khải hoàn, bao sông núi đầy đường tươi đẹp. Đó thực là nhờ được Trời cao giúp đỡ, chín miếu (7) thiêng liêng, các tướng gắng công, ba quân đua sức, nên mới được thế. Ngày mồng 6 [30/11/1802] tháng này, tế cáo Trời Đất ; ngày mồng 7 [1/12/1802] yết tế Thái miếu, làm lễ hiến phù, bọn Nguyễn Quang Toản và ngụy thái tể Quang Duy, Nguyên súy Quang Thiệu, Đốc trấn Quang Bàn, Thiếu phó Trần Quang Diệu, Tư đồ Võ Văn Dũng, Tư mã Nguyễn Văn Tứ ; Đổng lý Nguyễn Văn Thận, Đô ngu Nguyễn Văn Giáp, Thống tướng Lê Văn Hưng, cùng với bè lũ đầu sỏ đều đã bắt giam, đều đem giết cả, bêu đầu bảo cho dân chúng. Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân. Ôi ! Tàn tặc dẹp yên, đã thành công đại định ; xa thư (8) một mối, hưởng chung phước thái bình”.

Ưu cấp cho các công thần về hưu. Vua bảo bầy tôi rằng :

Trẫm từ khi  vận nước suy vi, bôn ba nhiều chỗ, các tướng sĩ đi theo giúp đỡ, khi trú ngụ ở thành Vọng Các, nếm đủ gian khổ, hoặc năm Mậu Thân [1788] mới lấy Gia Định, ứng nghĩa cần vương. Sau có người nhân đánh giặc bị thương hoặc già ốm mà phải về quê quán nghỉ ngơi. Hiện nay nước nhà đã yên, trẫm nhớ lại công trước, nên bàn việc đáp đền”.

 Bèn chuẩn định những người theo đi Vọng Các, hàng tháng được cấp tiền lương, những người đầu quân từ sau năm Mậu Thân [1788]  trước năm Canh Thân [1800], cho lập thuộc binh, đều chia làm ba hạng, ban cấp theo bực khác nhau.

Nguyễn Văn Tồn người Chân Lạp theo việc binh nhung đã lâu. Vua thương tình khó nhọc, bèn cho về; sai đặt đồn Trà Ôn ở Trấn Giang [Cần Thơ] cho Tồn kiêm quản cả hai phủ Trà Vinh và Mân Thít [Vĩnh Long], lệ vào dinh Vĩnh Trấn [Vĩnh Long].

Quan Bắc Thành tâu về chính sách ruộng đất như sau:

Ruộng đất công tư ở Bắc Thành nhà Lê trước có đặt làm ruộng ngụ lộc, ruộng thưởng lộc, ruộng chế lộc (Ruộng ngụ lộc, cấp cho quan văn; thưởng lộc, cấp cho quan hưu trí; chế lộc, cấp cho quan võ). Tây Sơn lấy những ruộng ấy làm ruộng biệt cấp. Nay xin trả hết cho dân. Còn ruộng đất tư của ngụy quan [quan Tây Sơn] và những quan điền quan trại quan thổ của Lê Trịnh mà bị bá chiếm đều phải sung vào nhà nước”. Vua y theo lời tâu.

Tha giảm thuế cho Gia Định, Vua ban chiếu rằng:

 “Trẫm nghĩ Gia Định là đất dấy nghiệp, từ khi dấy quân tới nay, binh lương đều lấy ở đấy, một phương các ngươi riêng chịu nặng nề đã lâu. Vậy cho tha giảm thuế lệ theo thứ bậc khác nhau.”

Trả lại tiền cho các dân nhà giàu ở các dinh Gia Định, Bình Thuận cho vay. Trước kia dấy binh, tiêu dùng mỗi ngày phí đến nghìn vàng, dân giàu có nhiều người bỏ của ra để giúp việc quân; Vua sai đem trả hết.

Dùng Tham tri bộ Binh bộ Lê Quang Định làm Thượng thư bộ Binh bộ sung Chánh sứ sang nhà Thanh, Thiêm sự bộ Lại Lê Chính Lộ và Đông các học sĩ Nguyễn Gia Cát sung Giáp, Ất Phó sứ. Trước đây khi lấy được Bắc Thành, Vua sai gửi thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng đem việc ấy chuyển đạt lên vua Thanh, vua Thanh sai phục thư nói nước ta đã vỗ yên được toàn cõi An Nam thì nên làm biểu văn sai sứ xin phong. Còn sứ bộ trước là bọn Trịnh Hoài Đức thì cho chuyển đến Quảng Tây, đợi sứ bộ xin phong đến, thì đều đến Bắc Kinh đợi lệnh. Bọn Chính Lộ đem việc tâu lên. Vua hạ lệnh cho bọn Quang Định đem quốc thư và phẩm vật kỳ nam 2 cân, ngà voi 2 cặp, sừng tê 4 tòa, trầm hương 100 cân, tốc hương 200 cân và trừu, the, vải mỗi thứ 200 tấm, để xin phong và xin đổi quốc hiệu là Nam Việt.

Chuẩn bị đón tiếp Sứ thần nhà Thanh sang thăm trong tương lai, Vua hạ lệnh các quan Bắc Thành noi theo lệ cũ của triều Lê, xây thêm điện Cần chánh và nhà tiếp sứ ở Gia Lâm bên kia sông. Lại hạ lệnh cho Lạng Sơn sửa đài Ngưỡng Đức tại Nam Quan. Từ sông Nhị Hà đến Lạng Sơn tính đường đặt bảy sở nhà trạm và công quán  tại Gia Quất [huyện Gia Lâm, Bắc Ninh], Cầu Lim [huyện Tiên Du, Bắc Ninh], Mỹ Cầu [huyện Yên Dũng, Bắc Giang], Cần Dinh [huyện Lạng Giang, Bắc Giang], Hòa Lạc [huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn], Nhân Lý [huyện Chi Lăng, Lạng Sơn], Mai Pha [huyện Cao Lộc, Lạng Sơn].

Phái đoàn Lê Quang Định trên đường đi, gửi biểu văn cho Tổng đốc Lưỡng Quảng báo trước xin nạp cống, thỉnh phong và ban cho danh hiệu nước. Vào tháng sau, Vua Gia Khánh nhận được bèn thông tri cho toàn quốc hay biết; riêng việc đặt danh hiệu nước sẽ giao cho hội đồng với sáu bộ bàn thảo:

Ngày 19 Bính Thìn tháng 12 năm Gia Khánh thứ 7 [12/1/1803]. Dụ Nội các:

……..Nguyễn Phúc Ánh vì Thiên triều mà đánh bắt bọn cướp trốn tránh, rồi trói giải đến  để xin chiếu chỉ định đoạt; lại đem sắc ấn cũ của An Nam dâng nạp, lòng cung thuận sâu dày. Lại dâng biểu trần tình đầu đuôi việc dụng binh, liên quan đến việc phục thù cho các đời trước; tuy lấy được nước nhưng không dám tự chuyên, sai Bồi thần xin nạp cống, thỉnh phong. Trừ biểu văn xin ban cho danh hiệu nước đã lập, sẽ giao cho Ðại học sĩ hội đồng với sáu bộ bàn tâu; riêng việc Nguyễn Quang Toản tại An Nam hoạch tội và sụp đổ, cùng duyên do đầu đuôi việc Nguyễn Phúc Ánh  nỗ lực cùng cung thuận,  thì đem thông tri trước để trong triều ngoài nội hay biết.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 106, trang 22-23)

Việc nhà Nguyễn đề nghị tên nước là Nam Việt, giống như thời Triệu Đà với lãnh thổ vùng Lãnh ngoại gồm cả hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc, là một phép thử uy lực nước ta đối với Trung Quốc. Quả vậy, chỉ một cái tên vừa nêu lên, triều Thanh báo động,Vua Gia Khánh phải lập tức ra lệnh hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây phải lưu tâm phòng bị vùng biển cùng biên giới:

Ngày 20 tháng Chạp năm Gia Khánh thứ 7 [13/1/1803]. Dụ các Quân Cơ Đại Thần:

Hôm qua Tôn Ngọc Đình tấu dâng biểu văn thỉnh phong của Nguyễn Phúc Ánh, Trẫm đã duyệt đọc kỹ, việc xin phong tên nước hai chữ “Nam Việt” không thể chấp nhận được. Địa danh “Nam Việt” bao hàm rất lớn, khảo sử xưa hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây đều nằm ở trong đó. Nguyễn Phúc Ánh là tiểu Di nơi biên giới, tuy hiện nay có được toàn đất An Nam, bất quá lãnh thổ bằng đất Giao Chỉ xưa là cùng, làm sao lại được xưng là “Nam Việt”. Biết đâu đây không phải là ý muốn khoe khoang tự thị của ngoại Di, xin thay đổi quốc hiệu, để thử bụng [thiên triều] trước, đương nhiên đáng bác đi. Đã ra lệnh cho Quân Cơ Đại thần soạn thay một tờ hịch dụ, cùng mang nguyên biểu giao cho Tôn Ngọc Đình trả lại; để xem sau khi nhận được chúng sẽ bẩm báo phúc đáp ra sao, rồi đợi chiếu chỉ mà liệu biện. Ngoài ra Nguyễn Phúc Ánh cầu phong quốc hiệu “Nam Việt”, rõ ràng tự thị võ công muốn đòi xin thêm đất. Sợ bọn chúng âm mưu bất trắc, nên lệnh truyền các quan địa phương tại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây lưu tâm phòng bị vùng biển cùng biên giới, quan ải; không được trể nãi lơ là. Nay truyền dụ các nơi để hay biết.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 106, trang 428)

Tháng chạp [25/12/1802-22/1/1803] sai làm thế phả tôn thất; ban cấp lương bổng hằng năm cho cung tần, hoàng tử, hoàng nữ, theo thứ bậc.

Sai hai bộ Hộ, Binh; kê số đinh điền, châm chước ngạch thuế đời trước định thuế công bằng hơn; vua Dụ rằng :

Trị nước không lo ít, mà lo không đều. Giặc Tây Sơn lấy của dân không có nhất định, trăm họ khổ sở. Nay nên đổi định lại để khỏi đau khổ cho dân. Bọn ngươi nên nghĩ kỹ mà bàn định”.

Nước Chân Lạp sai Trần Quang Quỳnh đem hiến phẩm vật địa phương. Quang Quỳnh là người Việt ở La Bích [Longvek, Campuchia], biết nói tiếng Miên, nên Vua cho làm Thông ngôn sứ ty ở Chân Lạp.

Vua cùng bầy tôi bàn về sửa đổi phong tục, nói rằng:

 “Dân Nam Hà vốn thói tằn tiện, từ thời Ngụy Tây quen chuộng xa xỉ, tiêu dùng không có tiết độ, nhiều người bắt chước, lưu tệ từ đấy sinh ra. Dân Bắc Hà thì kiểu quần áo cũng không đẹp. Phải nên một phen sửa định mới có thể đồng nhất phong tục. Nhưng sửa đổi phong tục cũng phải dần dần”.

Ra lệnh dân cấm đúc tiền; kẻ nào phạm cấm thì bắt sung tượng phường [phường nuôi voi], tài sản bị tịch thu; người nào cáo giác đúng sự thực thì thưởng 100 quan tiền.

Các quan Bắc Thành tâu rằng:

“Bắc Hà trải qua loạn lạc, dân nhiều người xiêu tán. Binh có thiếu ngạch thì quản quan thường thường bắt làng lân cận cấp thế. Vì thế ruộng đất của dân xiêu tán bị làng lân cận chiếm lấy để bù lại. Xin sửa đổi thói tệ ấy”.

Vua bèn hạ lệnh cho các địa phương từ Nghệ An ra Bắc, phàm ruộng đất của dân xiêu tán, quan sở tại phải lập giới hạn rõ ràng, chia cấp cho quan quân cày cấy mà được tha thuế, làng lân cận không được cày cấy. Đợi khi dân xiêu tán trở về thì đem những ruộng đất ấy cấp trả và thu thuế như lệ.

Ngày 25 tháng chạp [18/1/1803] làm lễ phong ấn [gói ấn], sang năm chọn ngày tốt vào thượng tuần tháng giêng khai ấn [mở ấn].

Vua đến Thái miếu, dâng lịch Vạn Toàn [tên lịch thời Nguyễn] năm Quý hợi [23/1/1803-10/2/1804]; làm lễ xong, vua ngự điện ban lịch mới cho các nơi.

 

Chú thích:

1.Qua cát : Cây dưa cây sắn, loài leo, cây nọ quấn quýt cây kia; ý chỉ hai họ Trịnh, Nguyễn có tình thông gia.

2.Sái phu: Người quét dọn, chăm sóc nơi thờ tự.           

3.Hiến phù : Dâng những tù nhân bắt được trong chiến tranh.

  1. Xuân Thu, Công Dương truyện, Trang công năm thứ 4 chép : Tề Tướng công giết nước Kỷ, vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, gọi là mối thù chín đời.

5.Hữu Nhưng: Vua nhà Hạ là Thiếu Khang sinh ở Hữu Nhưng, rồi sau dẹp yên loạn Hậu Nghệ mà trung hưng được nhà Hạ.

6.Bạch Thủy: Hán Quang Vũ dấy quân ở quận Bạch Thủy, đánh Vương Mãng mà dựng nghiệp trung hưng.

7.Chín miếu: Chỉ miếu thờ chín đời chúa Nguyễn trước Gia Long.

8.Xa thư: Thư đồng văn, xa đồng quỹ, tức cùng chung chữ viết, cùng một trục xe; chỉ sự thống nhất.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này