
BRADLEY K. MARTIN
Trần Quang Nghĩa dịch
HAI MƯƠI : Bất cứ nơi nào bạn đi trên quê hương tôi
Một ngày nọ trong Lễ hội Thanh niên và Sinh viên Thế giới năm 1989, hướng dẫn viên của tôi hào hứng nói rằng tôi sắp được gặp một quan chức cấp cao. “Lãnh tụ Kính yêu?” Tôi hỏi. Không. VIP hóa ra là Giáo sư Kim Jong-su, người đã sớm đến và mời tôi tham dự một lễ hội dân gian. Trong khung cảnh rừng cây xinh xắn, nơi có ngôi mộ cổ của người sáng lập triều đại, chúng tôi xem các màn trình diễn kỹ năng truyền thống như ném giáo và sau đó hòa mình vào một bữa tiệc dã ngoại thịnh soạn.
Một lần nữa tôi quyết định không đề cập đến vấn đề nhân dạng kép của chủ nhà. Dù sao đi nữa, lần này ông không lặp lại câu chuyện mồ côi của mình. Quả thực, trong quá trình trò chuyện của chúng tôi, hóa ra Kim Jong-su có mẹ, khi đó vẫn còn sống. Tôi ghi nhớ sự thật thú vị đó nhưng không nói gì, chấp nhận khả năng rằng một người chỉ mất cha có thể bị coi là trẻ mồ côi, đặc biệt là ở xã hội gia trưởng, vẫn còn theo Nho giáo.
Kim Jong-su đã trích dẫn lời mẹ mình về mức độ cải thiện trong điều kiện sống kể từ thời xa xưa, khi những loại ngũ cốc kém chất lượng được thay thế cho gạo khan hiếm. Ông nhớ lại rằng, trong thời trẻ của chính mình vào những năm 1940 và 1950, thời cuộc khó khăn đến mức phải trộn một loại cỏ hoặc rơm vào để làm bánh bột gạo. Ông cho biết gần đây, các con ông đã phàn nàn về việc mọi thứ đều nhạt nhẽo. Ông đã cho chúng ăn một số loại bánh gạo kiểu cũ chỉ chứa một ít cỏ khô, ông nói, và bọn trẻ đã tuyên bố rằng hương vị thật tuyệt vời.
Trong suốt chuyến thăm của tôi, các quan chức Triều Tiên đã liên tục phủ nhận các báo cáo về tình trạng thiếu lương thực. Các quan chức thừa nhận rằng gạo đã được phân chia theo khẩu phần, nhưng con số họ đưa ra về khẩu phần (700 gam một ngày cho người lớn, 500 gam một ngày cho trẻ em) dường như là đủ nếu cho rằng chúng chính xác. Câu hỏi đặt ra là chế độ ăn có thể bao gồm những gì ngoài các mặt hàng chủ lực (chủ yếu là ngũ cốc và đậu) và kim chi, món ăn dân tộc gồm bắp cải, dưa chuột hoặc các loại rau muối cay khác. Người nước ngoài sống ở Bình Nhưỡng cho biết trứng có sẵn nhưng thịt là món hiếm trên hầu hết các bàn ăn của Triều Tiên. Những du khách đến tham dự lễ hội thanh niên không hề gặp phải bất kỳ sự thiếu hụt nào về mặt cá nhân – thậm chí còn dư dả. Những chủ nhà cho chúng tôi ăn rất nhiều thịt, đáp ứng những yêu cầu về lòng hiếu khách truyền thống của người Triều Tiên ngay cả khi họ tìm cách thuyết phục chúng tôi rằng thịt rất dồi dào trong chế độ ăn của người dân Triều Tiên bình thường.
Trong chuyến dã ngoại, không khí miền quê và nguồn cung cấp bia địa phương vô tận đã làm tăng thêm cảm giác thèm ăn của tôi, bình thường vốn đã rất lớn – nhưng ngay khi tôi ăn hết một đĩa thịt quay thì một đĩa khác lại xuất hiện. Tôi đã hoài nghi về việc Kim Jong-su đảm bảo rằng thực phẩm đã trở nên dồi dào, nhưng lúc đó tôi không biết tình hình đã trở nên tồi tệ đến mức nào. Sau này, khi biết thêm, tôi cảm thấy xấu hổ vì đã đi dã ngoại cùng Kim. Sự thật là nguồn cung cấp thực phẩm rất tệ (mặc dù chưa đến mức thảm khốc). Chế độ đã đưa ra những nguồn cung cấp đặc biệt cho lễ hội, nhưng chẳng bao lâu nữa, người dân Triều Tiên sẽ lại ăn cỏ vì cần thiết chứ không phải vì muốn hoài niệm và không trộn vào cơm mà thay thế cơm.
Ngay cả khi tôi ở đó, nhìn vào nền nông nghiệp của Triều Tiên cho thấy rằng đất nước này đang bị mắc kẹt, thực hiện những thay đổi nhỏ trong công thức nhưng không sẵn sàng hoặc không thể toàn tâm toàn ý thực hiện những cải cách sợ sẽ đi chệch khỏi đường lối ban đầu của Stalin và Kim Il-sung. – bây giờ, về cơ bản, cũng là đường lối của Kim Jong-il.
Dòng chính thức đó mâu thuẫn với bằng chứng rõ ràng về những gì hoạt động tốt nhất. Lấy ví dụ dễ đánh giá nhất, ngô ở những mảnh đất tư nhân nhỏ cao tốt hơn ngô mọc ở những cánh đồng tập thể gần đó. Bất chấp bằng chứng trực quan như vậy, chính quyền vẫn tiếp tục công khai bôi nhọ những mảnh đất tư nhân đó và những khu chợ nhỏ nơi sản phẩm của họ được bày bán, như những tàn tích đáng xấu hổ của thời kỳ tiền xã hội chủ nghĩa tồi tệ. Trong khi các nước cộng sản khác đang thử nghiệm doanh nghiệp tư nhân, người Triều Tiên vẫn chỉ được phép canh tác tư nhân trên mảnh đất trước cửa nhà họ. Chính sách dài hạn được công bố không phải là mở rộng khu vực tư nhân nhỏ bé đó mà là loại bỏ dần nó, thậm chí là tập thể hóa nông nghiệp hơn nữa, nghĩa là tăng gấp đôi những cách tiếp cận mà từ lâu đã vượt qua điểm hiệu suất giảm dần.
Du lịch bên ngoài Bình Nhưỡng trong chuyến thăm năm 1989 của tôi đã tiết lộ rằng nông dân Bắc Triều Tiên đang thực sự tận dụng mỗi phân vuông đất trồng trọt được. Đất nói chung không đặc biệt tốt, và ở nhiều nơi đất rất nghèo – đất sét hoặc cát đỏ, có ít hoặc không có lớp đất mặt phì nhiêu che phủ. Đất trồng trọt thường không được sử dụng làm đồng cỏ hoặc sản xuất chất xơ, mà chủ yếu cho sản xuất ngũ cốc và các thực phẩm khác dành cho tiêu dùng trực tiếp của con người. Tôi ít nhìn thấy gia súc. Những gia súc tôi nhìn thấy, trong hầu hết các trường hợp, không phải động vật cho thịt hay lấy sữa mà là bò để cày và kéo xe.
Tại Trang trại Hợp tác xã Haksan phía bắc Bình Nhưỡng, những cánh đồng lúa xanh tươi và lấp lánh vào đầu tháng 7, tràn ngập vùng đất thấp trong khi ngô được trồng trên đất dốc hơn. Những ngôi nhà, chung cư tập trung san sát nhau trên nền đất cao để bảo tồn đất đai. Tôi đã gặp giám đốc trang trại Kim Ho-sok, người cho biết ông phụ trách 2.600 nông dân canh tác trên 15 triệu mét vuông và sống trong 1.100 hộ gia đình. Kim khoe rằng sản lượng thu hoạch tiếp tục tăng trong thập kỷ trước, nhưng tuyên bố của giám đốc trang trại mâu thuẫn với bức tranh về tình trạng trì trệ nông nghiệp của Triều Tiên mà các nhà phân tích nước ngoài và Hàn Quốc đang vẽ ra.
Các lô đất riêng ở sân trước của Haksan được giới hạn diện tích mỗi lô là 66 mét vuông. Các quan chức nông trại cho biết các thị trường tự do được tổ chức mười ngày một lần, nơi nông dân có thể bán hoặc trao đổi một số sản phẩm trên mảnh đất riêng của mình – nhưng các quan chức khẳng định những thị trường đó là tàn dư không được chào đón từ những ngày xa xưa tồi tệ và sẽ không còn cần thiết nữa, một khi đất nước đã đạt đến được chủ nghĩa cộng sản thuần túy, và đầy đủ.
Giám đốc trang trại Kim cho biết: “Giờ đây thị trường tự do đang dần dần suy giảm”. Suy cho cùng, ông giải thích, “nhà nước đã cung cấp cho người dân những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống rồi”.
Khi được nhắc nhở rằng Liên Xô đang chủ trương glasnost và perestroika, cùng với việc Trung Quốc đang tăng cường vận dụng thế mạnh của thị trường tự do, Kim trả lời: “Chúng tôi không biết nhiều về điều đó, nhưng chúng tôi không muốn đi theo sự dẫn dắt của họ”. ‘Công khai’ và ‘cải cách’ là dành cho người Nga và người Trung Quốc. Về lý thuyết, ít nhất, nông dân sở hữu chung cái gọi là trang trại hợp tác như Haksan, nơi bán sản phẩm của họ cho nhà nước. Nhưng các trang trại hợp tác được cho là sẽ sớm được chuyển đổi thành “trang trại nhà nước”. Đất đai của họ sẽ thuộc sở hữu của nhà nước và nông dân sẽ trở thành nhân viên làm công ăn lương của nhà nước, giám đốc Kim nói với vẻ đầy tự hào.
Chuyến viếng thăm nhà một gia đình nông dân đã minh họa cả những động lực kiểu cũ vẫn được coi là đúng đắn về mặt tư tưởng và một số động lực tài chính mà chế độ khinh miệt nhưng phải chấp nhận trong thời kỳ “quá độ”. Kim Myong-pok khoe căn hộ ba phòng và nhà bếp mà bà nói gia đình làm nông của mình đã có được từ năm trước. Những nông dân ở Haksan đang dần chuyển khỏi những ngôi nhà một tầng kiểu cũ sang những căn hộ mới xây, hiện đại, giống như những căn hộ của cư dân thành phố. Bà Kim giải thích rằng chồng bà đã đứng đầu danh sách để được cấp nhà ở mới vì ông là “anh hùng lao động”. Bà đang xem một chiếc tivi Toshiba của Nhật mà bà cho biết đã được Lãnh tụ Vĩ đại tặng cho chồng vì thành tích anh hùng lao động của ông. Những anh hùng đã nhận được giải thưởng đặc biệt dựa trên nỗ lực làm hết sức mình.
Mặt khác, việc thanh toán bằng tiền mặt cho nông dân ở Haksan dựa trên thời gian làm việc, trình độ kỹ năng và sản lượng trên toàn đơn vị. Bà cho biết năm trước mình kiếm được 3.400 won và chồng bà là 5.200 won. Tổng số tiền là 8.600 won trong một năm, gấp hai hoặc ba lần số tiền mà một cặp vợ chồng ở thành thị làm việc tại nhà máy hoặc làm công chức thu thập được. Bà Kim cho biết, vì nông dân không cần phải tiêu tiền vào nhà ở hay thực phẩm nên tiền của họ được dùng để trang bị nhà cửa hoặc tiết kiệm để trang trải đám cưới cho con cái họ, hoặc tiệc kỷ niệm ngày cưới của cha mẹ hoặc các nghĩa vụ xã hội có thể dự đoán trước khác.
Người Triều Tiên nhấn mạnh rằng các biện pháp khích lệ tài chính đã qua rồi nhưng hành động của họ lại cho thấy điều ngược lại. Đến năm 1989, các báo cáo đã lan ra thế giới bên ngoài về hành vi tư lợi của những cán bộ được cho là theo chủ nghĩa cộng sản thuần túy trong nước. Ví dụ, các quan chức cấp cao yêu cầu cấp dưới hối lộ họ bằng những hàng hóa khan hiếm như tivi màu để đổi lấy sự thăng tiến.
Một nhà ngoại giao cư ngụ ở Bình Nhưỡng trong nhiều năm đã minh họa cho sự thay đổi đang diễn ra bằng cách kể ra hai sự việc giống hệt nhau khi gia đình ông đến thăm một khu nghỉ dưỡng bên bờ biển và một đứa trẻ háo thắng đã bơi ra quá xa, đến nỗi nhà ngoại giao lo lắng phải nhờ một nhân viên cứu hộ chèo thuyền ra và mang đứa bé trở lại. Lần đầu tiên chuyện đó xảy ra, vào giữa những năm 1970, nhân viên cứu hộ đã bị ép phải nhận vài chiếc kẹo mút như một cử chỉ biết ơn. Khi chuyện đó xảy ra lần nữa hơn một thập kỷ sau (một sự trùng hợp đáng kinh ngạc, nhưng đó là câu chuyện của nhà ngoại giao), người cứu hộ đã từ chối những viên kẹo đưa ra, thay vào đó yêu cầu được thưởng bằng đô la Mỹ. Tôi đã có một trải nghiệm tương tự vào năm 1989 khi một trong những người Bắc Triều Tiên được giao nhiệm vụ giúp đỡ các nhà báo nước ngoài yêu cầu tôi đưa cho y một ít tiền Mỹ. Y nói mình muốn đô la để mua hàng hóa nước ngoài được bán tại các cửa hàng ngoại tệ mạnh đặc biệt được mở ra trong lễ hội thanh thiếu niên. Một số đôi giày thể thao Adidas, nói riêng, dường như đã thu hút sự chú ý của y. Lúc đó tôi nghĩ rằng y có thể đã được hướng dẫn để xin tiền như một phần của nỗ lực tích lũy ngoại hối của chế độ. Nhưng số tiền liên quan không đáng kể nên tôi nghiêng về lý giải rằng y đã tự mình đưa ra yêu cầu này vì lợi ích bản thân. Hành vi có vẻ mang tính cá nhân này đã củng cố cảm giác rằng chế độ đã từ bỏ một số quyền kiểm soát cứng nhắc của mình, có lẽ ở mức độ lớn hơn kế hoạch. Và tôi nghĩ rằng tốt hơn hết các nhà chức trách nên chuẩn bị tinh thần trước sự gia tăng mạnh mẽ về kỳ vọng của người tiêu dùng, khi mà người dân Bình Nhưỡng tham dự lễ hội đã thấy được những gì mình thiếu thốn.
Về mức độ động viên chính thức, chế độ đã thưởng một tháng lương cho công nhân cả nước trước khi lễ hội khai mạc để ghi nhận sự chăm chỉ của họ trong “chiến dịch tăng tốc 200 ngày” nhằm đáp ứng các mục tiêu sản xuất và xây dựng. Khi đó, trên thực tế, sự thay đổi dần dần tiếp tục từ các động viên “đạo đức” kiểu cũ, chẳng hạn như các huân chương cho các anh hùng lao động, sang các phần thưởng tài chính. Chắc chắn rằng việc sau được chính thức gán cho nhóm chứ không phải do thành tích cá nhân. Tuy nhiên, ngay cả tính dị giáo tương đối nhẹ như vậy cũng không phải là điều mà hệ tư tưởng của chế độ cho phép tự hào. Những người theo Đặng Tiểu Bình ở Trung Quốc lúc đó chỉ trở thành người cộng sản trên danh nghĩa khi họ theo đuổi các cải cách kinh tế với mục đích trần trụi là giải phóng động cơ lợi nhuận của cá nhân, nhưng người Triều Tiên vẫn còn yêu cầu phải khen ngợi lý tưởng cộng sản về hành vi vị tha. “Mọi người vì một người và một người vì mọi người ” vẫn là quy luật.
Bộ máy tuyên truyền những niềm tin đó, dù nặng tay, nhưng vẫn thành công. Ngay cả vào năm 1989, người Bắc Triều Tiên vẫn đọc giáo lý theo chủ nghĩa tập thể của họ một cách tươi cười và với sự chân thành rõ ràng. Bất kể tội lỗi tư sản nào họ có thể bị cám dỗ phạm phải, họ đều tỏ ra tin tưởng vào hoặc tin rằng họ phải tin vào chủ nghĩa cộng sản kiểu cũ, gắn chặt với sự sùng bái lãnh đạo. Gọi đó là tẩy não hay giáo dục, hoặc kỳ tích nghệ thuật của một loạt diễn viên được đào tạo bài bản; cho dù chính quyền đã xoay sở thành công bằng cách nào đi nữa, du khách vẫn có cảm giác như mình đã du hành đến trung tâm của một niềm tin vĩ đại cháy bỏng. Thay vì Bình Nhưỡng, đó có thể là Teheran.
Một lần nữa, như năm 1979, không nơi nào du khách có thể tiếp cận niềm tin dân tộc dễ dàng hơn ở các rạp hát ở Bình Nhưỡng, và chính trong chuyến đi này tôi đã được xem một trong những vở opera cách mạng “kiểu mới” của Kim Jong-il, Cô Gái Bán Hoa. Ở New York vài ngày trước, tôi đã xem và cảm động trước phiên bản Broadway của Những người khốn khổ. Gần như chắc chắn những người tạo ra vở nhạc kịch đình đám đó chưa từng xem sản phẩm của Triều Tiên và ngược lại. Tuy nhiên, những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm thật đáng chú ý. Cả hai đều là những vở kịch được dàn dựng đẹp mắt, gợi lên bằng kỹ năng hoàn hảo lòng căm thù đặc quyền vốn là điểm khởi đầu về mặt tư tưởng của cả Cách mạng Pháp và chế độ của Kim Il-sung. Phiên bản sân khấu của Cô gái bán hoa khiến tôi ấn tượng là phiên bản đẳng cấp thế giới – hay hơn nhiều so với phiên bản điện ảnh năm 1972, bản thân nó đã được khen ngợi đáng kể trong và ngoài nước. Nếu những gì tôi thấy khá tiêu biểu cho thể loại này thì Kim Jong-il có nhiều lý do để tự hào.
Cốt truyện của Cô Gái Bán Hoa rất đơn giản: Vào những năm 1920, những tên địa chủ độc ác lợi dụng một khoản vay nhỏ gạo để bắt gia đình nữ anh hùng Ggot-bun làm nô lệ. Phải xuống thị trấn bán hoa ngoài đường để mua thuốc cho người mẹ ốm yếu, cô bị thực dân Nhật Bản và tay sai Triều Tiên của chúng lăng mạ và quấy rối. Một đêm trăng sáng, cô bị buộc tội trộm cắp. Cảnh sát đánh cô như một hình phạt, và cô tình cờ biết được rằng chủ nhà sắp bán cô làm nô lệ. Trở về nhà, cô hát về số phận buồn của mình:
Trên cánh hoa những giọt sương long lanh.
Có phải ở đó nước mắt tôi đang chảy?
Trăng sáng nhưng trong thế giới tối tăm mờ mịt này tôi không biết đi về đâu.
Một vầng trăng sáng lên
trên bầu trời.
Nhưng những người khác nhau nhìn vào nó.
Một số người vui vẻ khi ngắm trăng, Trong khi những người khác lại trở nên u sầu nhất.
(Kim Jong-il, hút thuốc liên tục cho đến khi ổn định lại suy nghĩ, được cho là đã nhúng tay vào việc làm sắc nét sự tập trung của lời bài hát vào những tâm trạng khác nhau mà con người sẽ phản ứng với mặt trăng, tùy thuộc vào địa vị xã hội của họ trong một xã hội tiền cách mạng đầy mâu thuẫn.)
Rắc rối của nữ chính chỉ trở nên tồi tệ hơn. Sau khi chủ nhà bán cô cho một nhà máy dệt, họ đã đánh chết mẹ cô và làm em gái cô bị mù. Trong màn thứ hai, một bản pangchang dừng lại do một nhóm phụ nữ hát ở ngoài sân khấu – lời bài hát một lần nữa được cho là thể hiện sự xem xét lại của cá nhân Kim Jong-il9 – thể hiện cảm xúc của Ggot-bun và cảm xúc của những phụ nữ khác cùng tầng lớp với cô:
Trăng ơi, trăng sáng, em tỏa sáng buồn bã.
Bạn có biết số phận của chúng tôi khó khăn thế nào không?
Chúng tôi bị hành hạ khốn khổ, bị đối xử tệ bạc và bị sỉ nhục.
Ở đoạn cao trào, quân du kích từ trên đồi tràn xuống hành quyết bọn địa chủ độc ác và đoàn tụ Ggot-bun với anh chị em của cô.
Vào thời điểm buổi tối khi tôi xem Cô Gái Bán Hoa, nếu trong rạp có mắt ai khô ráo thì chắc chắn đó không phải là mắt tôi. Nhưng rồi đến phần cuối, rõ ràng là một khoảnh khắc thậm chí còn thú vị hơn đối với những khán giả khác. Hình ảnh mặt trời đỏ xuất hiện trên phông nền, tượng trưng cho Kim Il-sung (người tuyên bố đã nghĩ ra cốt truyện khi còn là một nhà cách mạng tuổi teen) và cuộc sống tốt đẹp mà sự giải phóng và chế độ cộng sản của ông sẽ mang lại. Khán giả Triều Tiên, tất cả đều đeo những bức chân dung tráng men thu nhỏ của Kim trên ngực, đứng dậy và cổ vũ cho nhà lãnh đạo. Cuối cùng tấm màn cũng buông xuống và xuất diễn buổi tối kết thúc. Khi chúng tôi chuẩn bị rời đi, người hướng dẫn của tôi giải thích rằng cuộc cách mạng tượng trưng bởi mặt trời đỏ đó còn lâu mới kết thúc. Anh nghiêm túc khẳng định: “Chúng tôi sẽ tiếp tục cho đến khi thành lập được chủ nghĩa cộng sản trên mảnh đất này, một xã hội lý tưởng”.
Bình Nhưỡng tiếp tục dựa vào các chiến dịch tuyên truyền để đẩy người dân vào một cuộc cách mạng điên cuồng cho sản xuất dư thừa. Thậm chí đã biết tiềm năng tuyên truyền của nó, thật đáng chú ý là sau nhiều thập kỷ, chế độ này đã phải thể hiện biết bao nhiêu cách tiếp cận kiểu rạp xiếc-đi trước- bánh mì dường như lỗi thời. Được tiến hành với tốc độ chóng mặt và đề cập đến bằng thuật ngữ vay mượn của quân sự, “trận đánh tốc chiến,” việc điên cuồng hăm hở xây dựng là loại thi triển mà ngay cả những nhà tư tưởng tận tâm nhất cũng phải sớm mệt mỏi. Tuy nhiên, người Triều Tiên vẫn tiếp tục chiến đấu, bằng sự kết hợp bất kể giữa sợ hãi và nhiệt thành, để những người đến tham dự lễ hội thanh niên tìm thấy những điều kỳ diệu mới mẻ để chiêm ngưỡng. Tại trung tâm thành phố Bình Nhưỡng, chúng tôi có thể chứng kiến công trình bê tông cơ bản đã được thực hiện trên cấu trúc khách sạn 105 tầng, dự kiến sẽ trở thành tòa nhà cao nhất châu Á.
Binh lính đã giúp xây dựng Đập Biển Tây, bao gồm một con đập rộng 5 dặm, có âu tàu, bắc qua sông Taedong, nơi nó gặp Hoàng Hải. Các hướng dẫn viên khoe rằng công trình xây dựng đã sản sinh ra 103 “anh hùng lao động”. Tại Sunchon, cách Bình Nhưỡng một giờ rưỡi lái xe về phía bắc, lực lượng lao động phần lớn là quân nhân đang xây dựng một khu phức hợp khổng lồ để sản xuất sợi tổng hợp vinalon bản địa.
Mục tiêu xây dựng chính trong năm 1989 rõ ràng là cố gắng vượt qua Thế vận hội của Seoul, và không có nỗ lực hoặc chi phí nào miễn trừ. Bên cạnh các sân vận động và các địa điểm khác dành cho các sự kiện thể thao trong lễ hội, người Triều Tiên còn xây dựng các đường phố với những tòa nhà chung cư cao tầng, làm nơi cư trú cho khách tham gia lễ hội. Sau khi họ rời đi, các căn hộ sẽ được chuyển giao cho người dân. Đường chân trời của Bình Nhưỡng vươn cao, và lễ khai mạc và bế mạc lễ hội thanh niên tỏ ra chỉn chu hơn cả những buổi trình diễn đặc sắc mà Seoul đã tổ chức cho Thế vận hội.
“Chúng tôi đang vội,” Kim Jong-su giải thích với tôi. “Mọi người ở đây đều đang vội. Lãnh đạo của chúng tôi nói rằng chúng tôi là một nước lạc hậu. Nếu người khác tiến một bước thì chúng tôi phải tiến mười bước. Nếu họ đi bộ thì chúng tôi phải chạy.”
Sự tôn vinh các nhà lãnh đạo là trọng tâm của phần lớn công cuộc xây dựng điên cuồng. Không thể bỏ lỡ phiên bản Khải Hoàn Môn của Bình Nhưỡng, lớn hơn phiên bản gốc ở Paris. Nó được xây dựng vào năm 1982, năm sinh nhật lần thứ 70 của Kim Il-sung, để kỷ niệm sự trở về khải hoàn của ông sau cuộc lưu vong năm 1945 và nắm quyền chỉ huy một đất nước mà ông được cho là đã giải phóng khỏi quân Nhật. Kim Jong-il đã giám sát tòa tưởng niệm gần đây, mà các nhà kinh tế nước ngoài gọi là sự tiêu hao lớn lao đối với nền kinh tế.
Nếu nhìn lại, nỗ lực to lớn của những năm 1980 được coi là bước tiến cuối cùng trước khi thế giới của Bình Nhưỡng sụp đổ vào những năm 1990, thì trong quá trình đó, nó có thể đã cung cấp cho lịch sử một minh họa tốt nhất về việc một dân tộc có thể được xỏ mũi bằng tuyên truyền hiệu quả đến mức độ nào.
Bất kể những tô vẽ mà chế độ này đã sử dụng để thổi phồng những tuyên bố rằng mình đã tạo ra một “thiên đường”, mặc dù vẫn còn thua xa Nam Hàn – và thậm chí cả Trung Quốc – đất nước đã sụp đổ trên thực tế, Triều Tiên vào năm 1989 vẫn có vẻ ngoài năng động thu hút một số người bên ngoài biên giới nước này.
Các nhà lãnh đạo Thế giới thứ ba rất ấn tượng với thành tích của Kim Il-sung với tư cách là một chiến sĩ đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc cho tự do. Một số họ cũng ngưỡng mộ sự phát triển kinh tế của Triều Tiên – hoặc ít nhất đánh giá cao các chương trình viện trợ và cung cấp vũ khí của Bình Nhưỡng cho nước ngoài. (Một số nhà cai trị ở đó cũng đã áp dụng thói sùng bái cá nhân tương tự như Kim. Tại lễ hội giới trẻ, người Iraq, Afghanistan, Syria và Cote d’Ivoire tất cả các đại biểu đều mang – hoặc, trong trường hợp cuối cùng, mặc áo có in hình – chân dung các nhà lãnh đạo quốc gia của họ.) Đương nhiên, bất kỳ dấu hiệu tán thành nào của nước ngoài mà chế độ có thể thu thập được sẽ ngay lập tức được chuyển thành nội dung tuyên truyền trong nước. “Tôi giới thiệu với bạn tờ Thời báo Bình Nhưỡng,” người hướng dẫn có khuôn mặt thẳng thắn nói với tôi khi tôi hỏi anh ấy về vấn đề đọc sách. Anh đề cập đến một tờ báo lá cải hàng tuần chủ yếu đăng tin về các cuộc gặp gỡ của Kim Il-sung với các quan chức nước ngoài.
Hệ tư tưởng thậm chí còn được chứng minh là có thể xuất khẩu sang Hàn Quốc. Cơn sốt Bình Nhưỡng dữ dội trong các trường đại học đã trở thành một yếu tố phức tạp nghiêm trọng trong nỗ lực tìm kiếm sự ổn định ở miền Nam. Các sinh viên Hàn Quốc có khuynh hướng cấp tiến đã bị thu hút bởi những lời dạy của Kim về chủ nghĩa quân bình mang tính cách mạng, sự tự chủ về kinh tế, lòng nhiệt thành thống nhất và chủ nghĩa chống Mỹ. Cuộc chiến đấu chống Nhật trước giải phóng của ông đã khiến ông trở thành một anh hùng yêu nước trong mắt họ. Dựa trên mối quan tâm đó, gia đình họ Kim dường như vẫn hy vọng rằng tình trạng bất ổn tái diễn ở miền Nam sẽ dẫn đến một cuộc nổi dậy của phe cánh tả, đảo ngược tiến trình lịch sử và mở đường cho sự thống nhất theo các điều kiện của Bình Nhưỡng.
Suy cho cùng, cho đến trước đó không lâu, những ảnh hưởng lớn đối với người Triều Tiên ở miền Nam cũng như miền Bắc đều là độc tài. Họ đã sống dưới hệ thống triều đại của hoàng gia và các quý tộc cha truyền con nối được hỗ trợ bởi tư tưởng Nho giáo Trung Quốc, và sau đó là dưới chế độ thuộc địa của Nhật Bản tôn thờ Nhật hoàng. Sự khác biệt lớn duy nhất là từ năm 1945 Hàn Quốc nhận được ảnh hưởng của Mỹ trong khi Triều Tiên nhận được ảnh hưởng của Liên Xô và sau đó của cộng sản Trung Quốc. Nền dân chủ kiểu Mỹ còn lâu mới có thể biến đổi hoàn toàn nền chính trị Hàn Quốc. Truyền thống độc tài đã thống trị các nhà lãnh đạo chính trị thuộc mọi thành phần ngay cả sau cuộc bầu cử tương đối tự do vào năm 1987. Vì vậy, không phải là không có lý khi cho rằng, như nhiều người miền Bắc và một số người miền Nam, ảnh hưởng của Mỹ chỉ là một lớp vỏ bóng mỏng bên ngoài. có thể được thay thế bằng những ý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản.
Đến năm 1989, bầu không khí khuôn viên trường ở miền Nam đã gợi nhớ đến khẩu hiệu của người Mỹ những năm 1960, “Đừng tin tưởng bất cứ ai trên ba mươi.” Một số lượng đáng kể các học giả Hàn Quốc đã học đủ ở nước ngoài về tư tưởng cộng sản để khước từ nó, vào thời điểm họ trở lại giảng dạy ở quê nhà, họ đã quá già để được coi là cố vấn đáng tin cậy của sinh viên cấp tiến. Tuyên truyền ủng hộ cộng sản thẳng thắn đã được một số người hâm mộ nhiệt tình. Lý thuyết của một số học giả nước ngoài thiên tả cũng lên án vai trò của chính phủ Mỹ và Hàn Quốc trong khi lại dễ dãi đối với chế độ miền Bắc.
Trước đó, miền Nam đã cấm sách về chủ đề này; người Hàn Quốc bị thu hút bởi những ý tưởng của chủ nghĩa Mác khi đi du học nên không thể tuyên truyền chúng một cách công khai sau khi trở về nước. Nhưng việc trao các quyền tự do dân chủ muộn màng sau năm 1987 đã bất ngờ cho phép người miền Nam ve vãn chủ nghĩa Mác và hệ tư tưởng Bắc Triều Tiên. Sau nhiều thập kỷ không tiếp xúc với những ý tưởng như vậy, có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi một số lượng đáng kể ở miền Nam không được tiêm nhiễm thái độ hoài nghi cần thiết để chống lại lời kêu gọi đơn giản nhưng thường lừa mị của tuyên truyền miền Bắc. Sức hấp dẫn vốn có của cái mới và cái bị cấm trước đây càng làm tăng thêm sức lôi cuốn.
Với bản thân người Bắc Triều Tiên thực hành khá nhiều chủ nghĩa Stalin đã từng hấp dẫn ngắn ngủi những người Mỹ cánh tả trong những năm Đại suy thoái của thập niên 1930, thì gần như thể người Triều Tiên ở cả hai bên Khu phi quân sự đã du hành ngược thời gian năm thập kỷ trong một cỗ máy thời gian trí tuệ. Các quan chức Hàn Quốc đã ở trong tình trạng bế tắc khi cố gắng đối phó tình thế. Các nhà hoạch định chính sách quân sự và ngoại giao của Hoa Kỳ cũng quan ngại. Một số quan chức Hoa Kỳ đã mời một số học giả Mỹ sung sức nhất và có ảnh hưởng nhất đến Seoul để giúp gột rửa những sinh viên cấp tiến khỏi những quan niệm thân cộng lệch lạc của mình. Nhưng họ đã từ chối.
Phần lớn vấn đề là sinh viên Hàn Quốc không biết rõ về Triều Tiên – lại không được phép đến đó nếu không có sự cho phép đặc biệt. Khi chính phủ của họ khăng khăng nói rằng miền Bắc là một nơi ảm đạm, họ nhớ lại những gì chính phủ đã từng nói với họ ra rả trước đây và không có gì ngạc nhiên, họ quyết định không chịu tin điều đó.
Buổi tối, tôi đến xem Cô gái Bán Hoa, vị khách danh dự bước vào rạp ngay trước khi màn đầu tiên được kéo lên, nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt. Im Su-gyong, một sinh viên đại học xinh đẹp Hàn Quốc, đã thách thức chính phủ của mình bằng cách đến Bình Nhưỡng qua nước thứ ba để tham dự lễ hội thanh niên. Cô ấy đang thúc đẩy một kế hoạch ủng hộ thống nhất bằng một cuộc tuần hành của sinh viên từ đầu phía bắc của bán đảo, qua khu phi quân sự hóa thường cấm xâm nhập, và xuống tận mũi phía nam. Việc cô đến Bình Nhưỡng tạo ra cơn huyên náo. Người Triều Tiên rõ ràng thực sự vui mừng và xúc động trước chuyến thăm của cô, đã vây quanh cô. Trong cảnh cô được truyền hình, người quay phim chen lấn không thể giữ yên máy quay của mình, dẫn đến một cảnh quay truyền hình tự phát hiếm hoi.
Im Su-gyong nhanh chóng quay trở lại miền Nam, và bị chính quyền bỏ tù cho đến đêm Giáng sinh năm 1992 vì vi phạm Đạo luật An ninh Quốc gia. Điều đó chỉ khiến cô trở thành kẻ tử vì đạo của bọn cực đoan miền Nam – trước sự vui mừng của cơ quan tuyên truyền miền Bắc. Trong chuyến thăm khác tới Bình Nhưỡng ba năm sau, tôi được đưa đến một studio nghệ thuật, nơi chủ đề chính của các nghệ sĩ không phải Kim mà lại là Im. Có rất nhiều tác phẩm điêu khắc về cô và vô số bức tranh với nhiều tư thế khác nhau, cảnh ấn tượng nhất là trong phiên tòa xét xử cô ở Seoul.
Hwang Jang-yop, sau cuộc đào thoát năm 1997, đã kể một cách khác mà miền Bắc sử dụng để thu hút miền Nam. Hãy nhớ lại Baek Nam-woon, “cha đẻ của các học giả cánh tả”, người mà Kim Jong-il đã thanh trừng vào cuối những năm 1960. Hwang kể lại rằng mặc dù đã chết trong trại tập trung nhưng hài cốt của Baek sau đó đã được chuyển đến Nghĩa trang Liệt sĩ Yêu nước Shinmiri. Hwang cho biết quy trình tương tự cũng được áp dụng cho những người Hàn Quốc nổi tiếng theo chủ nghĩa dân tộc.” Bất cứ ai có giá trị nào đó trong việc duy trì cảm tình của người ngoài đều được chôn cất ở đây, ngay cả khi người đó đã chết dưới tay những kẻ thống trị Triều Tiên.”
Hình ảnh về tính thuần khiết về mặt tư tưởng mà Bình Nhưỡng hướng tới đã thu hút xu hướng nhìn nhận vấn đề bằng hai màu đen và trắng của những người cực đoan Hàn Quốc. Những cỗ máy tuyên truyền của Bình Nhưỡng không bao giờ thất bại trong việc chỉ ra rằng miền Nam vẫn phải chịu đựng sự sỉ nhục về tình trạng chính quyền dung túng cho quân đội nước ngoài trên đất của mình, “kiểm soát” lực lượng vũ trang của mình, mua phụ nữ, chơi gôn trên các bất động sản đắc địa của mình và phổ biến nền văn hóa thô bỉ của Mỹ trên một kênh truyền hình hiếm hoi được nhiều người xem nhất. (Việc đội quân nước ngoài đến đó để ngăn chặn một cuộc xâm lược khác của miền Bắc giống như cuộc xâm lược năm 1950 chưa bao giờ được đề cập đến – Bộ tuyên truyền miền Bắc vẫn cho rằng miền Nam là bọn xâm lược.)
Lời kêu gọi thống nhất ngay lập tức của Bình Nhưỡng – phương tiện để hoàn thành cuộc cách mạng – có một sức hấp dẫn hơn so với chính sách phức tạp và thận trọng của Hàn Quốc. Bình Nhưỡng coi việc sớm thống nhất là một mệnh lệnh tinh thần cũng như thực tế để đạt được vận mệnh của Triều Tiên với tư cách là một quốc gia lớn, không bị ảnh hưởng bởi nước ngoài và có thể đứng một mình, toàn diện, bên trên các nguồn tài nguyên khoáng sản đáng kể của Bắc Triều Tiên bao gồm than đá, quặng sắt, vàng và uranium — kết hợp với đất canh tác và sức mạnh công nghệ và kinh doanh của miền Nam. Giám đốc Trang trại Hợp tác xã Haksan nói với tôi: “Nếu đất nước chúng tôi thống nhất thì đất nước sẽ dồi dào lương thực”.
Trong một trình tự trong lễ khai mạc hoành tráng của lễ hội thanh thiếu niên nhiều chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình đã được thả bên trong sân vận động. Ngay lập tức, có nhiều tiếng súng đại bác chào mừng – tôi đoán là 21 phát, nhưng tôi không đếm – trong đó tiếng nổ và khói súng đã khiến những chú chim vốn nhút nhát hoảng loạn, chúng bay vòng quanh sân vận động trong một nỗ lực rõ ràng để trốn thoát. nỗ lực trốn thoát. (Shu Chung-shin, nữ vũ công từng bị từ chối tư cách ứng cử viên cho cuộc thi okwa vì lý lịch gia đình, đã kể với tôi khi tôi gặp cô ấy ở Hàn Quốc vài năm sau đó rằng cô ấy đã có mặt trên sân khấu biểu diễn trong cảnh thả chim bồ câu.) Cảnh tượng này có thể tượng trưng cho tính mơ hồ trong chính sách thống nhất của Triều Tiên: Một mặt, Bình Nhưỡng tiếp tục khẳng định công khai rằng họ không quan tâm đến việc thống nhất bán đảo bằng vũ lực. Mặt khác, quân đội khổng lồ của nước này sẵn sàng tấn công về phía nam bất cứ lúc nào.
Bên cạnh chính sách thống nhất, sự nhấn mạnh của Triều Tiên về bình đẳng kinh tế đã tạo ra sức hút đủ lớn đối với một số người Hàn Quốc cực đoan vốn chỉ trích thực tế hiện rõ là Hàn Quốc đã tiến bộ nhanh hơn và xa hơn về mặt kinh tế thông qua chủ nghĩa tư bản. Trong nội bộ, các nhu cầu kinh tế và ý thức hệ của chế độ Triều Tiên mâu thuẫn nhau trầm trọng, về lâu dài có xu hướng hạn chế nó. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Bình Nhưỡng có thể hy vọng sử dụng sức hấp dẫn của các ý tưởng của Kim đối với giới trẻ Hàn Quốc để cách mạng hóa miền Nam và giành chiến thắng trong cuộc đua bất chấp lợi thế của Seoul.
Tất nhiên, tuyên truyền của Triều Tiên về miền Nam không chỉ được thêu dệt cho người Hàn Quốc mà ít nhất cũng không kém cho người miền Bắc, và thật thú vị khi xem người miền Bắc phản ứng như thế nào “Tôi còn trẻ nên tôi muốn biết về cuộc đấu tranh của sinh viên Hàn Quốc chống đế quốc Mỹ và bọn bù nhìn Hàn Quốc,” hướng dẫn viên Pak nói với tôi vào một đêm khi tôi đưa anh ấy và tài xế đi ăn tối. Tôi giải thích rằng các cuộc biểu tình đã giảm dần ở một mức độ nào đó sau thành công của phong trào trong việc thúc đẩy một cuộc bầu cử tổng thống tự do vào năm 1987. Một lúc sau, Pak nói: “Như bạn đã biết, Hoa Kỳ đã kích động Chiến tranh Triều Tiên vào năm 1950.” Không, tôi đã nói, điều đó. đã được chứng minh rõ ràng rằng miền Bắc đã lên kế hoạch xâm lược miền Nam. Pak cười và nói với tôi rằng những gì tôi vừa nói thật lố bịch đến mức không thể tin được. Vài phút sau anh ta xin lỗi vì đã sử dụng thuật ngữ đế quốc – rõ ràng đó không phải là cách đối xử với khách. Nhưng rõ ràng là anh và những người miền Bắc đồng hương của mình đã có một cái nhìn hết sức méo mó về Hàn Quốc như một nơi ở đâu cũng khủng khiếp cần được cứu rỗi bởi Lãnh tụ Vĩ đại, một vùng đất mà thành quả của sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa đã dồn về tay một số ít người giàu có. Trong số những người Triều Tiên được phép nói chuyện với du khách nước ngoài, ngay cả những người đủ tinh ý để biết rằng miền Nam có mức sống trung bình cao hơn cũng nhấn mạnh rằng hệ thống của miền Bắc tốt hơn vì của cải được chia đều hơn.
(Bình đẳng ở miền Bắc không hoàn toàn như những gì chế độ và những thần dân trung thành miêu tả. Nó ít liên quan đến cuộc sống của các quan chức cấp cao và gia đình họ. Một minh họa có thể được tìm thấy trên bất kỳ con phố hay con đường nào. Xe chở khách khan hiếm được sử dụng chủ yếu để chở các ông lớn, trong khi dân chúng đi bộ hoặc ngồi sau xe tải hoặc xe buýt. Tài xế xe khách hầu như lúc nào cũng chạy xe ở tốc độ cao. Rõ ràng họ xử sự dựa trên giả định rằng mình được hưởng quyền ưu tiên đối với người đi bộ. Họ đến gần các giao lộ mà không giảm tốc độ, khiến dân đi bộ phải lùi lại để tránh bị cán qua. Các tài xế dường như cảm thấy rằng tầm quan trọng của hành khách cấp cao mình chở biện minh cho hành vi ngạo mạn của họ. Ở lối vào lăng mộ của người sáng lập triều đại Koguryo, Kim Jong-su đã chỉ cho tôi một dòng chữ cổ: “Những ai dù chức cao hay thấp đều phải xuống ngựa trước khi vào đây.” Tôi hỏi liệu điều đó có áp dụng với Lãnh tụ Vĩ đại không. Khuôn mặt của Kim Jong-su nhăn nhó và anh ta trả lời: “Đừng so sánh như vậy.”)
Hàn Quốc quả thực có vài nghìn đệ tử trung thành của Kim Il-sung, đủ gây rắc rối cho chính quyền Seoul. Nhưng nghe điều đó từ tuyên truyền của Bắc Triều Tiên, người ta có thể nghĩ rằng gần như toàn bộ người dân miền Nam sẵn sàng tôn thờ Kim. Vì hầu như không có thông tin ngược lại nên người dân miền Bắc dường như tin tưởng tất cả những điều này. Như đã từng thường được đưa tin ra nước ngoài, các máy rađiô dành cho người dân bình thường thực sự đã được chỉnh sửa để họ chỉ có thể nhận được các chương trình phát sóng của chính phủ. Báo chí truyền tải đúng đường lối của đảng. “Theo báo chí, hầu hết người dân Hàn Quốc đều tôn trọng Lãnh tụ Vĩ đại và mong muốn thống nhất”, hướng dẫn viên của tôi cho biết và nói thêm rằng anh ấy tin tất cả những gì mình đọc được trên báo chí Triều Tiên.
Tất nhiên, giới thượng lưu thực sự có nguồn thông tin tốt hơn nhiều so với các phương tiện truyền thông thông thường của Triều Tiên. Cán bộ cấp cao cần theo kịp thế giới bên ngoài có thể nghe các chương trình phát sóng nước ngoài, bao gồm chương trình của Hàn Quốc và Đài Tiếng nói Hoa Kỳ của chính phủ Mỹ. Một sự nới lỏng nhẹ nhưng có cân nhắc về thái độ đối kháng của Hoa Kỳ đối với chế độ Bình Nhưỡng đã cho phép phái đoàn Bắc Triều Tiên do Kim Jong-su dẫn đầu đến thăm Washington ngay trước lễ hội thanh niên. Cũng giống như những du khách ở Hollywood muốn đến thăm các trường quay và nhà của các ngôi sao, người Bắc Triều Tiên rất muốn đến thăm các văn phòng của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ—nơi họ bày tỏ sự bối rối khi được thông báo về một đạo luật của Hoa Kỳ cấm phát sóng chương trình VOA trong biên giới Hoa Kỳ.
Các nguồn thông tin cấp cao của các quan chức cao cấp về việc so sánh Triều Tiên với các quốc gia khác không hề có dấu hiệu khiêm tốn nào trong cuộc trò chuyện và tuyên bố của họ. Thay vào đó, một trong những mục đích chính của Bình Nhưỡng khi cho phép một số nhà báo phương Tây đến thăm lễ hội thanh niên là đưa ra lời cảnh báo với Hoa Kỳ chống đối việc tiếp tục chính sách để mặc xác Triều Tiên chuốc lấy hệ lụy của mình.
Trong một vài năm qua, các nhà chiến lược tại Hoa Kỳ và Hàn Quốc đã phát triển một lý thuyết, cho rằng cán cân quyền lực của bán đảo Triều Tiên sắp sửa dịch chuyển. Theo lý thuyết đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc cao hơn nhiều so với Triều Tiên đến mức chỉ trong vài năm nữa, chi tiêu quân sự của Hàn Quốc – mặc dù chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ hơn nhiều so với tổng sản phẩm quốc nội – sẽ bằng và vượt qua Bình Nhưỡng. Khi điều đó xảy ra, lý thuyết cho rằng Hàn Quốc sẽ có thể triển khai đủ lực lượng phòng thủ của mình nhằm cung cấp một biện pháp ngăn chặn đáng tin cậy chống lại cuộc tấn công của Triều Tiên mà không cần sự trợ giúp của quân đội Mỹ. (Không cần phải nói ra nếu miền Nam phát triển ý định gây hấn đối với miền Bắc, Seoul sẽ có lợi thế về lực lượng để cân nhắc việc thực hiện chúng.) Theo lý thuyết, Triều Tiên đang tuyệt vọng phải làm điều gì đó để giữ cho cán cân không bị dịch chuyển một cách dứt khoát. chống lại nó. Thêm vào sự thất vọng của Triều Tiên là việc các đồng minh của Bình Nhưỡng đang chạy trốn khỏi chủ nghĩa cộng sản chính thống và bắt đầu ve vãn Hàn Quốc và gây áp lực từ bên trong Bình Nhưỡng để cải cách nền kinh tế đang tụt hậu của mình.
Nhìn thấy tất cả những điều đó, các nhà hoạch định chính sách của Mỹ và Hàn Quốc cho rằng họ có thể đối phó hiệu quả với mối đe dọa từ Triều Tiên chỉ bằng cách để quân đội Mỹ đóng vai trò răn đe, thực hiện các bước khiêm tốn để giảm bớt căng thẳng và để mặc thời gian trôi qua. Do đó, cả Washington và Seoul dường như đều không cảm thấy cần phải thúc đẩy mạnh mẽ các giải pháp thương lượng để giải quyết tình trạng bế tắc trên bán đảo. Điều đó khiến các quan chức Bắc Triều Tiên bối rối. Mặc dù họ không cho thấy sự quan tâm thực sự trong việc đàm phán với Seoul, tuy nhiên họ vẫn rõ ràng sẽ tâng bốc Hoa Kỳ đủ nhiều hy vọng quân đội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam. Đúng vậy, các nhà ngoại giao cấp trung của Hoa Kỳ và Bắc Triều Tiên đã bắt đầu gặp nhau định kỳ tại Bắc Kinh. Nhưng đây thực sự chỉ là một khía cạnh khác trong cách tiếp cận có chừng mực, rất nhẹ nhàng của Washington nhằm xoa dịu căng thẳng. Bình Nhưỡng – đang tìm kiếm các nhượng bộ về ngoại giao, quân sự và kinh tế – muốn có các cuộc tiếp xúc cấp cao hơn, thường xuyên hơn để có thể nói đúng trọng tâm. Kim Jong-su phàn nàn với tôi rằng các cuộc đàm phán ở Bắc Kinh diễn ra giống như một chiếc xe đạp di chuyển rất chậm – có nguy cơ ngã vì thiếu động lực.
Kim Jong-su cho tôi biết rằng chính phủ của ông không hề đưa ra lời mời đối với các nhà báo Mỹ một cách hời hợt. “Bạn phải hiểu rằng thật khó để mời người Mỹ đến đây”, ông nói. “Người dân của chúng tôi rất nhạy cảm với Hoa Kỳ. Ở Mỹ, bạn có thể không nhạy cảm với Triều Tiên”. Điều dường như đã khiến Bình Nhưỡng vượt qua được dè dặt khi mời người Mỹ là nhu cầu cấp thiết để truyền tải thông điệp đến người Mỹ và những người khác trong liên minh phương Tây. Thông điệp: Bắc Triều Tiên là một quốc gia hùng mạnh, một quốc gia đáng được tính đến, không chỉ về mặt quân sự mà còn là một xã hội cách mạng với những thành tựu kinh tế xã hội ấn tượng, và là ngọn hải đăng cho người nghèo và những kẻ bị áp bức bởi bất công ở Hàn Quốc và Thế giới thứ ba.
Mặc dù có thể tưởng tượng rằng các nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên đã bắt đầu tin vào tuyên truyền của chính họ, nhưng thực tế còn nhiều yêu cầu được tôn trọng hơn thế nữa. Họ muốn để lại cho chúng ta ấn tượng về một quốc gia mà chúng ta nên coi trọng, nếu không vì lý do nào khác ngoài số lượng rắc rối khổng lồ mà nó có thể gây ra. Washington không nên cho rằng sự hiện diện liên tục của quân đội Hoa Kỳ ở miền Nam, cùng với chính sách phớt lờ các vấn đề khác của họ, sẽ giải quyết được vấn đề Triều Tiên. Người Mỹ không nên mắc sai lầm khi cho rằng chỉ là vấn đề thời gian trước khi Triều Tiên sụp đổ hoặc nhất định thua cuộc trong cuộc đua với Hàn Quốc. Quan trọng hơn, chúng ta nên nhận ra rằng Bình Nhưỡng sẽ không cho phép mình thua cuộc nếu không làm điều gì đó quyết liệt.
Có vẻ như có một số cơ sở để đặt câu hỏi về chính sách răn đe cộng với sự thờ ơ ác ý của Hoa Kỳ. Bắc Triều Tiên vẫn còn vàng và các nguồn tài nguyên khoáng sản khác để trao đổi ở nước ngoài. Về mặt quân sự, các báo cáo đã bắt đầu xuất hiện rằng Bình Nhưỡng có thể đang cố gắng phát triển vũ khí hạt nhân. Người ta đã biết rằng Bắc Triều Tiên có khả năng tiến hành một cuộc tấn công bất ngờ khác bằng vũ khí thông thường. Thêm vào đó là các yếu tố về sự thâm nhập ý thức hệ của Bình Nhưỡng vào miền Nam và sự không chắc chắn về những gì sẽ xảy ra sau khi Kim Jong-il lên ngôi, và bức tranh về những gì sắp xảy ra có vẻ kém an tâm hơn một chút. Những sự thật đáng lo ngại đó là lý do đủ để tăng cường tìm kiếm các cách tiếp cận chính sách mới. Các chuyên gia kiểm soát vũ khí, bao gồm John W. Lewis của Trung tâm An ninh Quốc tế và Kiểm soát Vũ khí tại Stanford, thực sự đã nói chuyện với các đối tác Bắc và Nam Triều Tiên để xây dựng lòng tin về các biện pháp có thể dẫn đến việc giảm nguy cơ chiến tranh trên bán đảo.
Tuy nhiên, về tổng thể, sẽ rất khó để biện minh cho một sự thay đổi ngay lập tức và mạnh mẽ từ chính sách cơ bản là theo dõi và chờ đợi—đặc biệt là một sự thay đổi sang bất kỳ phương án thay thế nào mà Bình Nhưỡng đang đưa ra. Kim Il-sung đã đề xuất một “liên bang” trong đó các hệ thống miền Bắc và miền Nam được cho là có thể phát triển riêng biệt, không cần quân đội Mỹ bảo vệ hòa bình. Vấn đề là sẽ có một đội quân chung và một chính sách đối ngoại chung—dưới sự kiểm soát của ai? Người Hàn Quốc dễ hiểu là không quan tâm đến việc tạo cơ hội để miền Bắc giành quyền kiểm soát quân đội và áp đặt hệ thống của mình lên miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng của Kim. Đề xuất của miền Bắc về một khu vực phi hạt nhân trên bán đảo có vẻ đáng để thảo luận hơn, nhưng một thỏa thuận rõ ràng sẽ vô giá trị trừ khi miền Bắc mở cửa để cho phép xác minh.
Những ý tưởng mới sẽ được chào đón, nhưng dường như không ai có ý tưởng nào. Chế độ này không muốn mở cửa đất nước theo bất kỳ cách nào có thể chấp nhận những ảnh hưởng bên ngoài, điều này có thể thách thức quyền kiểm soát của họ đối với người dân. Vì vậy, đối với những kẻ thù của Bình Nhưỡng vẫn có lý lẽ chính đáng để chờ đợi những căng thẳng nội bộ gia tăng hơn nữa – trong khi vẫn đảm bảo rằng những người cai trị miền Bắc sẽ luôn có một lối thoát, không cảm thấy bị dồn vào chân tường.
Tuy nhiên, tôi vẫn suy ngẫm rằng người miền Bắc Triều, sau cùng, cũng là người Triều Tiên – sở hữu tính bền bỉ và quyết tâm đã giúp người Triều Tiên đồng hương của họ thành tựu một cách phi thường, không chỉ ở miền Nam mà còn là ở Hoa Kỳ và các quốc gia khác mà họ đến nhập cư. Chờ đợi họ ngã sấp mặt có thể là một quá trình dài
Các viên chức Bắc Triều Tiên không hài lòng với việc tôi đưa tin về chuyến thăm đó cho Newsweek. Như một viên chức Chongryon đã nói với tôi sau đó, khiếu nại chính là các bài viết đã tập trung vào sự sùng bái cá nhân của Kim Il-sung. Bình Nhưỡng kiên quyết khẳng định rằng việc tôn thờ Kim Il-sung của người dân hoàn toàn là tự nguyện và xuất phát từ trái tim và không nên được mô tả theo cùng một cách như sự sùng bái cá nhân theo chủ nghĩa Stalin do nhà nước áp đặt. Trong chuyến thăm của tôi, một viên chức đã nói với tôi một cách rõ ràng rằng tối thiểu nhất là những người phương Tây muốn có bất kỳ mối quan hệ nào với Bình Nhưỡng phải ngừng chế giễu các nhà lãnh đạo của họ. “Một số bộ phận trên cơ thể nhạy cảm hơn những bộ phận khác”, viên chức này nói với tôi, khuyên tôi không nên đánh “vào mắt” ông ta. Trong xã hội nguyên khối mà Bắc Triều Tiên tự hào đã trở thành, như tôi đã biết khá rõ, việc nói về “đôi mắt” hoặc “bộ não” của chế độ này có ý ám chỉ trực tiếp đến Kim Il-sung và Kim Jong-il.
Có lẽ là do sự bất mãn của chính quyền với các bài viết của tôi, Kim Jong-su đã đối xử với tôi khá xa cách sau chuyến thăm đó, lờ đi những lá thư của tôi. Cuối cùng tôi nghe nói rằng ông ta đã đến Peru với tư cách là một nhà ngoại giao. Một thời gian sau, ông ấy xuất hiện trở lại ở New York với tư cách là phó trưởng phái bộ Bắc Triều Tiên tại Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, mặc dù tôi đã gọi điện và gửi thư, ông ta vẫn không tỏ ra hứng thú nối lại mối quan hệ quen biết của chúng tôi.
Vào cuối chuyến thăm năm 1989, tôi đã biết về cuộc gặp gỡ của ông ta với một số nhà báo truyền hình nước ngoài – nhưng dưới cái tên trước đó của ông, lần này có vẻ như được viết là Bae thay vì Bai. Ông ta đã giải thích, khi tôi đề cập đến điều đó, rằng hai cái tên của ông liên quan đến việc ông ấy đã mồ côi và sau đó có một người cha dượng; chỉ có “những người bạn cũ” mới biết ông ấy là Bae. Điều đó không có nhiều ý nghĩa; những người làm truyền hình hiện gọi ông ấy là Bae là những người lạ trong khi tôi đã biết anh ấy trước đó và bây giờ gọi ông ấy là Kim. Tôi chỉ có thể tiếp tục tự hỏi về việc ông ấy là ai và làm gì – với những thay đổi về tên và nghề nghiệp của ông ấy, và câu chuyện ông ấy thực sự là trẻ mồ côi như đã kể với tôi. Tôi đoán rằng ông ấy hẳn phải là một loại quan chức tình báo và Bai/Bae là tên của ông ấy khi giao dịch với khách nước ngoài đến Bắc Triều Tiên trong khi Kim là tên khi đi du lịch. Những người nước ngoài khác giao dịch với người Bắc Triều Tiên cũng gặp phải những thay đổi tên như vậy.
Tuy nhiên, bí ẩn này vẫn tiếp tục làm tôi tò mò. Cuối cùng tôi nghe được một báo cáo mơ hồ – không có tên nào được đính kèm – về những người con không được công nhận của Kim Il-sung đã nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chế độ. Tôi tự hỏi liệu Kim Jong-su có phải là một trong số họ không. So sánh các bức ảnh, tôi nghĩ rằng mình đã phát hiện ra sự giống nhau về mặt ngoại hình với Kim Il-sung thời trẻ, đặc biệt là về cấu trúc xương mặt. Kim Jong-su chia sẻ một phần tên khai sinh của mình với Kim Jong-il – theo cách mà anh chị em người Triều Tiên thường làm. Ông ấy gần như là người Bắc Triều Tiên duy nhất sẵn sàng nói chuyện thẳng thắn với tôi trong những lần tôi đến thăm. Sau đó, có điều hiển nhiên và, như mọi chuyện đã diễn ra, sự tự tin chính đáng vào ảnh hưởng của chính mình mà ông ấy đã thể hiện khi ông ấy đảm bảo rằng ông ấy có thể đưa tôi – một phóng viên không được chính quyền hài lòng, ít nhất là kể từ khi xuất bản bài đánh giá phim tiêu cực của tôi – đến đưa tin về lễ hội thanh niên thế giới. Tất cả những yếu tố đó cho thấy một địa vị cao hơn những người phàm bình thường. Tôi có lần thấy ông ta ăn mặc cẩu thả với màu xám của quần và áo không ăn khớp, nhàu nát chứ không thẳng nếp, một bộ trang phục phù hợp với vai trò hiện tại của ông là một trí thức hàn lâm. Tuy nhiên, những người Bắc Triều Tiên khác đối xử với ông ta với vẻ tôn kính, gần như kính sợ, mà một học giả trung bình của viện nghiên cứu sẽ không mong đợi nhận được.
Cuối cùng, tôi bắt đầu hỏi các cựu quan chức cấp cao của Bắc Triều Tiên chuyện cung đình của đất nước này. Chỉ có một người thừa nhận đã nghe chi tiết, và ông ta nói với tôi, “Nếu bất kỳ ai ở Bắc Triều Tiên hé môi về điều đó, thì đó là chết ngay lập tức.” Lúc đầu, ông ta miễn cưỡng không muốn nói thêm. Nhưng cuối cùng ông ta nói rằng trong số các quan chức cấp cao có hiểu biết, thì Kim Jong-su – tên thật của nhân vật này – được coi là người có quyền lực nhất trong số những con trai không được thừa nhận của Kim Il-sung. Nhà mẹ ông ta ở Sosong, một khu phố thượng lưu của Bình Nhưỡng. Ảnh hưởng của ông ta không đến từ tổ tiên mà đến từ công việc thực sự của ông ta, ở cấp độ cao hơn đáng kể so với các chức danh chính thức của ông ta. “Ở Bắc Triều Tiên, chúng tôi có hệ thống kép, cấp bậc chính thức và không chính thức”, nguồn tin của tôi nói với tôi. “Kim Jong-su là một phần của tổ chức tình báo của đảng, vì vậy cấp bậc của ông không bao giờ được biết đến. Những người không biết hoạt động bên trong của hệ thống có thể nghĩ rằng cấp bậc của ông không cao như vậy. Nhưng thực tế là ông cao hơn nhiều, nhiều so với hầu hết mọi người. Ông có thẩm quyền liên lạc với Kim Jong-il qua điện thoại – vì vậy bạn có thể cho rằng ông có quyền lực hơn một bộ trưởng. Kim Jong-il biết mối quan hệ sinh học của họ.”
Nếu tuổi mà Bai/Kim đưa cho tôi – ba mươi chín vào mùa xuân năm 1979 – là tuổi tây, thì thực ra ông ấy là anh của Kim Jong-il. Ngay cả khi ông ấy đưa cho tôi tuổi ta theo cách tính truyền thống của người Triều Tiên – tức đã một tuổi vào ngày bạn sinh ra – ông ấy cũng khoảng tuổi của Jong-il. Điều đó cho thấy mẹ của ông ấy có thể là một trong những người bạn đồng hành của Kim Il-sung trong những ngày tháng du kích hoặc đầu thời kỳ lưu vong của ông ta ở Liên Xô, giữa hai cuộc hôn nhân đầu tiên của ông, hoặc chồng chéo cả hai cuộc hôn nhân. Nguồn tin cho tôi biết mẹ của Bai/Kim là một trong những tình nhân được Kim Il-sung yêu thích, một phụ nữ trở nên nổi tiếng với tư cách là một vũ công sau khi giải phóng. Cuối cùng, bà kết hôn với một người đàn ông khác, người được coi là cha chính thức của Kim Jong-su, ông nói. Câu chuyện mồ côi mà Bai kể với tôi là “câu chuyện mà mọi người kể cho người nước ngoài để giải thích về lòng trung thành của ông ấy”, nguồn tin này giải thích.
Tôi ước gì mình có thể tìm được những người khác có thể nói với tôi rằng họ đã nghe điều đó ở Bình Nhưỡng, để xác nhận rằng phiên bản về cha đẻ của Kim Jong-su này thực sự là một tin đồn lan truyền trong một số thành viên của giới tinh hoa. Mặc dù thông tin của nguồn tin của tôi về các vấn đề khác nói chung đã được kiểm tra, tôi không thể hoàn toàn loại trừ khả năng y đã bịa ra câu chuyện này. Và thậm chí cho rằng tin đồn về Kim Jong-su có lan truyền thì thực tế nó cũng có thể là vô căn cứ.
Tất cả những gì tôi có thể kết luận với sự chắc chắn hợp lý là Kim Jong-su không phải là người mà ông ta giả vờ. Các cuộc bổ nhiệm ngoại giao và sự hóa thân ngắn ngủi của ông ta như một học giả, hai cựu quan chức đã nói với tôi, là vỏ bọc cho công tác tình báo. Nhà cựu ngoại giao chuyên nghiệp Ko Young-hwan, người đã đào thoát sang Hàn Quốc vào năm 1991 sau khi được bổ nhiệm ở Châu Phi, đã nói với tôi rằng ông ta không biết gì về chuyện đó. Tuy nhiên, Ko nói rằng “Kim Jong-su không phải là một nhà ngoại giao thực sự như Ho Jong” – người đứng thứ ba trong phái bộ Liên Hiệp Quốc vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, cũng có cấp bậc đại sứ. Thay vào đó, Kim Jong-su “được cử đến Liên Hiệp Quốc với tư cách là một điệp viên. Ông ấy làm việc trong bộ phận đó. Tôi cho rằng ông ấy đã học tại Trường Mangyongdae. Ông ấy chưa bao giờ học tại các trường ngoại ngữ mà hầu hết các nhà ngoại giao đã theo học.”
Trong các nhiệm kỳ ngoại giao của mình (ít nhất là trước nhiệm kỳ tại Liên Hiệp Quốc), Kim Jong-su “có mặt để đảm bảo không đưa ra các báo cáo sai sự thật và để theo dõi đại sứ, trong trường hợp ông ta làm việc như một kênh truyền thông cho các thành viên cánh hữu của chính phủ nước chủ nhà liên lạc với các lực lượng chống Kim Jong-il”, một cựu quan chức khác nói với tôi. “Khi những người Triều Tiên khác đến từ Bình Nhưỡng, những người ở vị trí đó đã báo cáo về bất cứ điều gì mà đại sứ có thể cố gắng che giấu”.
Tôi đã cố gắng liên lạc với Kim Jong-su tại Liên Hiệp Quốc vào mùa hè năm 1994 khi tôi viết một bức thư chia buồn về cái chết của Kim Il-sung, người mà, như tôi đã lưu ý lời ông ta, Kim Jong-su từ nhỏ cho đến khi lớn lên xem như cha mình. Khi tôi đang viết cuốn sách này, tôi đã gửi đến địa chỉ của Kim Jong-su, bản thảo các chương 2 và 3, về Kim Il-sung thời trẻ, và nhờ ông sắp xếp giúp tôi đến Bình Nhưỡng nghiên cứu thêm về cuộc đời của Lãnh tụ Vĩ đại. Ông đã không trả lời đề nghị của tôi.