
Đỗ Ngọc Giao
20-Jun-2026
7. Kỷ nhà Tiền Lê
Bài này làm rõ mấy ‘vấn đề nhỏ’ trong sử ta ở thời Tiền Lê, dùng kiến thức nhơn-chủng-học và tâm-lý-học phương tây.
7.1 Tổ-chức chánh-trị xã-hội
Ta đã biết qua những việc mà một vì vua phải làm để cai trị nước sơ-khai,[1] ở đây gọi chung là ‘đạo làm vua’ (kingship).
7.1.1 Định nghĩa
‘Đạo làm vua’ ở nước sơ-khai—xin đừng lộn với ‘vương đạo’ 王道 của người Tàu—có 4 thành phần như sau.[2]
- Thiêng (sacrality)
Vua là đấng thiêng (22). Vua cử hành điển lễ (24).1
‘Thiêng’ muốn nói vua là con của Thần/Trời (God), có năng lực làm cho vạn vật sanh sôi nảy nở (fertility), qua những nghi thức tượng trưng, thí dụ cày ruộng ‘tịch điền’. Vua khỏe mới có năng lực đó, bởi vậy, vua già hay bịnh sẽ bị thí, có nơi thí thiệt, có nơi thí tượng trưng.
Vua chưa lên ngôi thì chưa thiêng, nhưng có nơi hoàng-thái-tử (crown prince) cũng thiêng rồi. Dù sao, mọi nơi đều làm lễ ‘vua lên ngôi’ trịnh trọng, với những điểm chung thí dụ vua lấy tên mới, vua nhận biểu tượng (miện, trượng,…), có nơi còn tế người sống.
Vua băng thì xã hội hết thạnh bình—bởi chẳng còn ai làm ra ‘fertility’ và luật lệ—mà sẽ loạn (anarchy), cho nên trong khi chờ vua mới, người ta hay làm loạn, có nơi làm thiệt, có nơi làm tượng trưng.
- Cai trị (governing)
Vua là người ban luật (25). Vua là pháp quan cao nhứt (26). Vua đi khắp lãnh thổ, tìm kiếm lòng trung và cống phẩm của dân (51).1
Việc trị nước chẳng phải một mình vua làm, mà còn là các viên chức (functionary) do vua bổ nhiệm, bằng cách tuyển dụng hoặc là cho con cháu của họ lên thay.
Vua thường đi đó đây trong nước, nhưng thường dân không được ngó thẳng mặt vua hoặc nói thẳng với vua.
- Bảo vệ (protection)
Vua là chỉ huy cao nhứt (28). Vua có cận vệ (29).1
Vua là chỉ huy cao nhứt, nhưng chẳng cần đích thân ra trận làm chi, để giữ cái mạng ‘thiêng’ của mình—dù cũng có vài ông vua thiện chiến thí dụ Genghis Khan (c 1162–1227).
Vua giữ cho dân khỏi bị các mối nguy tự nhiên và siêu nhiên, vua cũng phải giữ cho mình khỏi bị các mối nguy do người và vật gây ra, bởi vậy quanh vua lúc nào cũng có cận vệ, thầy pháp (magicians), thái giám (eunuchs), nữ binh,… canh chừng. Có nơi người ta còn giấu hoặc hủy đi các mẩu móng tay, nước miếng hay chất thải (excrements) của vua nữa.
- Chi cấp (redistribution)
Vua tặng quà (30). Vua trả phí thù lao (31). Vua trả phí lễ vật (32). Vua trả lương bổng cho quan lại (33).1
Phần lớn của cải thâu nhận trong xã hội (lúa gạo, trâu bò, tiền bạc,…) vua thường chi lại cho việc công, thí dụ xây đền chùa; có nơi vua cũng chi lại hậu hĩnh cho hạng quý tộc để họ giữ lòng trung.
7.1.2 Lê Hoàn có ‘đạo làm vua’ hay chăng?
- Thiêng
Sử ta chép Lê Hoàn năm 987 cày ruộng tịch-điền ở núi Đọi.[3]
Tống sử kể chuyện Lê Hoàn năm 990 tiếp đãi sứ thần:
‘[Hoàn] lại đi ra tận ngoài cửa biển … chưn đất cầm sào lội xuống nước đâm cá, mỗi khi được một con thì tả hữu lại hò reo nhảy nhót … thích chơi bời yến ẩm…’[4]
Nhận xét: Cứ cho việc Lê Hoàn cày ruộng tịch-điền là nghi thức tượng trưng cái ‘thiêng’; song le, những việc ông làm mà Tống sử ghi thì chẳng ra cái ‘thiêng’ gì hết trọi.
- Cai trị
Sử nêu tên mấy người giúp việc cho Lê Hoàn, thí dụ Hồng Hiến làm ‘thái sư’, Từ Mục làm ‘tổng quản trị’, Phạm Cự Lạng làm ‘thái uý’.3
Nhận xét: Đó hẳn là ‘ban phụ tá’ (chieftaincy) của người cai trị chiefdom, như ta đã thấy ở thời Đinh.[5]
- Bảo vệ
Sử chép Lê Hoàn từ năm 981 tới năm 1001 đích thân cầm quân ra trận 7 lần.3
Nhận xét: Lê Hoàn nhờ phước đức ông bà mà chưa bỏ mạng sa tràng, nhưng nếu là đấng ‘con Trời’ thì chẳng ai coi rẻ cái mạng ‘thiêng’ của mình như vậy.
- Chi cấp
Sử chép Lê Hoàn năm 992 sai đem ba vạn người đi mở đường.3
Nhận xét: Đó là sưu dịch (forced labor).
Nhận xét chung: Lê Hoàn chẳng có thành phần nào của ‘đạo làm vua’ hết ráo.
7.1.3 Kết luận
Dữ liệu trên cho ta hiểu rằng:
Tổ-chức chánh-trị xã-hội thời Tiền Lê chưa phải nước sơ-khai mà vẫn là chiefdom, với Lê Hoàn là người đầu tiên làm chief-bự.
Timothy Earle, nhà nhơn-chủng-học người Mỹ, cho biết có 3 loại quyền lực (power) của người chief-bự: kinh tế (economic power), quân đội (military power), ý thức (ideological power).[6]
Theo đó, ta thấy dường như quyền lực của Lê Hoàn chẳng phải là kinh tế (sử chép năm 982 ‘đói lớn’), cũng chẳng phải là ý thức (tới thời nhà Lý mới có ý-thức-hệ Phật giáo), mà là quân đội. Có lẽ Lê Hoàn được chọn làm chief-bự là bởi cái khiếu cầm quân, nhờ đó ông đánh bại quân Tống và thâu thêm một số ‘động’ vô chiefdom. Song le, chief-bự ưa dùng võ lực thì dễ bỏ mạng sa tràng, hoặc nếu không cũng dễ bị thuộc cấp dùng võ lực làm phản.6
Lê Hoàn cuối đời chẳng bị thuộc cấp dùng võ lực làm phản: sử chép ông chết trên giường bịnh. Nhưng người con của ông thì chẳng được may như vậy.
7.2 Một chứng ‘tâm bịnh’
Sử chép hai cha con Lê Hoàn với Lê Long Đĩnh đều có những hành vi xấu xa, mà sử gia ta xưa nay giải thích là bởi cha con họ đẻ ra đã mang một cái tánh xấu xa nào đó, thí dụ người cha thì ‘dâm dật’,3 người con thì ‘khát máu’.[7]
Song le, giải thích như vậy thì trái với khoa tâm-lý-học phương tây.
Ngày nay, thay vì phán xét ai đẻ ra đã ‘xấu xa’, các nhà tâm-lý-học đi tìm những tác-nhơn tâm-lý (psychological trigger) và tác-nhơn hoàn-cảnh (environmental trigger) thúc đẩy hành vi xấu xa.
7.2.1 Khái niệm
Moral disengagement là một thuật ngữ trong xã-hội-học (sociology) và tâm-lý-học (psychology), do nhà tâm-lý-học Albert Bandura (1925–2021) người Mỹ đặt ra, để gọi cái quá trình nhận thức (cognitive process) mà người-có-hành-vi-xấu-xa thường dùng để cắt nghĩa (rationalize), biện giải (justify) và chống chế (excuse) những việc họ làm. Họ thường tin rằng họ chẳng bị trói buộc trong cái vòng luân-lý (ethics) và đạo-đức (morals) bình thường. Họ còn đổ lỗi cho người hứng chịu hành vi xấu xa, thí dụ: ai biểu mi như vậy nên ta mới làm như vậy.
Moral disengagement thường gặp ở những người bị trục-trặc tâm-lý/tình-cảm, thí dụ 3 loại này: narcissism, sadism, psychopathy. Dù vậy, người bình thường trong một hoàn cảnh nào đó lâu ngày dần dần cũng có thể mắc phải moral disengagement.[8]
Narcissism là một đặc-điểm nhơn-cách phức-tạp (complex personality trait) mà ai cũng có, ở những mức từ thấp (0 điểm) tới cao (40 điểm). Phần đông mắc phải narcissism dạng nhẹ, từ 15 điểm trở xuống; nhưng thường xuyên bị điểm cao thì có thể trở thành một loại ‘tâm bịnh’ gọi là narcissistic personality disorder (NPD) mà chừng 1% người mắc phải. Có hai dạng NPD: ‘lộ’ (grandiose) và ‘kín’ (vulnerable), dạng mẫu của NPD là ‘lộ’. NPD có ‘hệ số di truyền’ (heritability) là 35–50% (đại khái nghĩa là cha bị thì con cũng dễ bị).[9]
NPD có 9 triệu chứng như sau.
- tự đại (grandiose sense of self-importance).
- huyễn tưởng (frequent fantasies about having or deserving success, power, intelligence, beauty, love, self-fulfillment).
- tự cao (belief in superiority).
- ưa tâng bốc (need for admiration).
- đặc quyền (entitlement): đòi hỏi ơn huệ (expecting favorable treatment to an unreasonable degree),…
- lợi dụng người khác (willingness to exploit others): làm thân với những người giúp mình thêm tự tôn (forming friendships or relationships with people who boost their self-esteem or status),…
- thiếu cảm thông (lack of empathy): coi thường người khác nghĩ gì, cần gì, muốn gì (seeing the feelings, needs or desires of others as a sign of weakness),…
- đố kỵ (frequent envy): ghen với ai thành công hơn mình (feeling envious of others, especially when others are successful),…
- tự phụ (arrogance): hợm hĩnh (behaving in a way that’s snobby or disdainful), trịch thượng (talking down or acting condescendingly),…
Một tình-trạng sức-khỏe tâm-thần (mental health condition) nào đó, thí dụ ‘mặc-cảm ngoại-hình’ (body dysmorphic disorder), có thể làm cho người ta dễ bị NPD hơn.
NPD chẳng có thuốc trị, mà người ta dùng thuốc để giảm bớt các điều kiện liên can NPD, thí dụ: lo âu (anxiety), rầu rĩ (depression).[10]
7.2.2 Trường hợp của Lê Hoàn
Sử gán cho Lê Hoàn những việc này:
- năm 982 lấy bà vợ góa của Đinh Tiên Hoàng làm vợ chánh.
- năm 984 xây hết điện này tới lầu nọ; năm 986 tiếp sứ trào Tống sang phong chức, hàng ngày đem những thứ quý lạ bày chật cả sân để tỏ sự giàu có.
- năm 987 pháp sư Thuận đem bài thơ của sứ giả trào Tống là Lý Giác dâng lên, sư Khuông Việt nói ‘thơ này tôn bệ hạ chẳng khác gì vua Tống,’ thì Hoàn khen và hậu tạ.
- năm 996 đón sứ giả trào Tống ngoài giao, không làm lễ để tỏ ra cao quý khác thường.
Qua 4 việc đó ta nhận ra 4 triệu chứng của NPD lần lượt như sau:
- lợi dụng người khác: Lê Hoàn lấy vợ góa của Đinh Tiên Hoàng làm vợ chánh, là vì những gì bà này có thể giúp cho địa vị hoặc giúp cho lòng ‘tự tôn’ (self-esteem) của ông ta mà thôi—chớ chẳng phải vì yêu đương gì hết.
- tự cao
- ưa tâng bốc
- tự đại
Đàng khác, Tống sử chép tánh cách của Lê Hoàn như sau.4
- khinh mạn tàn nhẫn,
- nhỏ mọn tiểu nhơn,
- lấy việc tự mình ban mạng lịnh làm thích,
- quan thuộc kẻ nào giỏi kính thờ thì đưa lên ở gần bên tả hữu,
- ai có lỗi dù nhỏ cũng giết, hoặc đánh vô lưng một trăm đến hai trăm roi; tân khách hay phụ tá mà không như ý, cũng đánh ba chục tới năm chục roi, truất làm quân canh cửa; hết giận lại mời về cho phục chức vị cũ.
Qua 5 tánh đó ta nhận ra 5 triệu chứng của NPD lần lượt như sau:
- tự phụ
- đố kỵ
- tự cao
- ưa tâng bốc
- huyễn tưởng ở quyền lực
Tống sử còn chép Lê Hoàn bị chột mắt. Có lẽ điều đó gây ra ‘mặc-cảm ngoại-hình’ làm cho Lê Hoàn càng dễ bị NPD.
Nói tóm lại:
Qua tánh cách và hành vi khác thường của Lê Hoàn, ta thấy ông có thể đã mắc phải chứng narcissistic personality disorder, theo tâm-lý-học thời nay.
Nếu bị chứng đó, thì Lê Hoàn luôn tin rằng mọi chuyện mình làm đều là bình thường mặc dù người đương thời cho là khác thường (moral disengagement).
7.2.3 Trường hợp của Lê Long Đĩnh
Lê Long Đĩnh (986–1009) cai trị như cha mình: lập chieftaincy gồm những người giúp việc (thí dụ Ngô đô-đốc, Kiểu hành-hiến), dùng võ lực đánh ‘châu’ này ‘châu’ nọ, bắt dân đi đắp đường.3 Chuyện ông sai sứ sang Tàu xin kinh Phật thì Tống sử có ghi.[11]
Nhưng sử ta cũng gán cho Lê Long Đĩnh những việc này:
- bò heo muốn làm thịt thì tự tay cầm dao chọc tiết rồi mới đưa vô bếp.
- róc mía trên đầu nhà sư.
- sai lấy cỏ tranh quấn vào người tội nhơn rồi đốt, bắt tù binh leo lên ngọn cây rồi chặt gốc cây cho họ rơi xuống, vân vân.
- giết mèo làm thịt cho thuộc hạ ăn rồi đưa đầu mèo cho họ thấy, lấy thằn lằn làm gỏi bắt thuộc hạ giành nhau ăn.
- Minh Xưởng ở Tống về … dụ được người con gái nước Tống … đem dâng, Hoàn thâu nạp làm cung nhơn (vợ bé).
Qua 5 việc đó ta nhận ra 5 triệu chứng của NPD lần lượt như sau:
- tự đại
- tự cao
- huyễn tưởng ở quyền lực
- tự phụ (hợm hĩnh)
- ưa tâng bốc
Nói tóm lại:
Qua hành vi xấu xa của Lê Long Đĩnh, ta thấy ông có thể đã mắc phải chứng narcissistic personality disorder, theo tâm-lý-học thời nay.
Nếu bị chứng đó, thì Lê Long Đĩnh luôn tin rằng mọi chuyện mình làm đều là bình thường mặc dù người đương thời cho là xấu xa (moral disengagement).
7.2.4 Kết luận
Dữ liệu trên cho ta hiểu rằng:
Những tánh cách và hành vi xấu xa mà sử gán cho hai cha con Lê Hoàn và Lê Long Đĩnh, thì có thể là biểu hiện của một chứng ‘tâm bịnh’ hiếm hoi kêu bằng narcissistic personality disorder (NPD) mà người cha mắc phải rồi truyền lại cho người con.
Chưa nói cái mặc cảm ‘chột mắt’ của Lê Hoàn cũng có thể làm cho ông dễ bị NPD hơn.
Một khi đã hiểu đó có thể là ‘tâm bịnh’, thì ta không còn lấy chuẩn mực luân-lý đạo-đức ra để phán xét nhơn cách của Lê Hoàn và Lê Long Đĩnh.
Mà ta nên cảm thông.
Nói cho cùng, trên đời ai cũng bị narcissism ở mức nhẹ, riêng Lê Hoàn và Lê Long Đĩnh thì có thể chẳng may đã bị narcissism ở mức nặng hơn những người khác, vậy thôi.
7.3 Một vụ ám sát
Sử chép Lê Long Đĩnh bỏ dở một cuộc hành quân trở về dinh thì ba tháng sau đột nhiên lăn ra chết vì ‘bịnh trĩ’, khi đó ông mới 23 tuổi.3 Sử gia thời nay cũng tin như vậy, dù một vị tiền-bối của họ là Ngô Thời Sỹ (1726–1780) đã từng nhắc tới lời đồn Lê Long Đĩnh bị ám sát.
Vậy thực hư câu chuyện ra sao?
7.3.1 Điều tra
Ta có hai manh mối:
- Lê Long Đĩnh luôn tin rằng mọi chuyện mình làm thì đều là bình thường mặc dù người đương thời cho là xấu xa (7.2.3).
- Chief-bự ưa dùng võ lực thì dễ bỏ mạng sa tràng, hoặc nếu không cũng dễ bị thuộc cấp dùng võ lực làm phản (7.1.3).
Qua đó ta hiểu sự việc như sau:
- Khi người ta cho mọi chuyện Lê Long Đĩnh làm đều là xấu xa, đó tức là lúc người ta bắt đầu tin rằng ông chẳng còn năng lực tạo ra ‘fertility’ nữa. Và một khi người ta tin rằng Lê Long Đĩnh chẳng còn năng lực tạo ra ‘fertility’, thì sớm hay muộn cái điều tệ nhứt cũng xảy ra: ông sẽ bị thí bỏ—cũng như trường hợp của Đinh Tiên Hoàng.5
- Lần này, ra quyết định thí bỏ Lê Long Đĩnh thì chẳng phải là những người vợ và/hoặc người hầu của ông, mà là thuộc-hạ của ông, một kẻ nào đó cũng ưa dùng võ lực để giải quyết vấn đề.
Vậy kẻ đó là ai?
May thay, ta cũng có hai manh mối:
- Thuộc hạ của Lê Long Đĩnh có một người tên Lý Công Uẩn làm ‘phó chỉ huy sứ’, người này tức nhiên cũng giỏi cầm quân thì mới được chức đó. Sử chép Lê Long Đĩnh chết ngày 19-Nov-1009 thì qua ngày 21-Nov-1009 Lý Công Uẩn liền lên làm chief-bự.3
- Sử cũng chép: ‘Có lần Ngọa Triều ăn khế thấy hột mận, mới tin lời sấm, ngầm tìm người họ Lý giết đi, vậy mà Công Uẩn ở bên cạnh, rốt cuộc vẫn không biết.’3
Qua đó ta hiểu sự việc như sau:
- Lý Công Uẩn là người đáng nghi hơn hết trong âm mưu thí bỏ Lê Long Đĩnh.
- Lê Long Đĩnh đã từng nghi ngờ Lý Công Uẩn muốn làm phản, mà thiếu bằng chứng nên ông chưa có hành động gì để phòng ngừa họ Lý.
7.3.2 Kết luận
Trong khi chờ thêm dữ liệu, ta cho rằng:
- Lê Long Đĩnh chẳng chết vì bịnh—bất cứ bịnh gì—mà thực ra ông đã bị thuộc hạ thí bỏ, bởi người ta tin rằng ông chẳng còn năng lực tạo ra ‘fertility’ nữa.
- Lý Công Uẩn là người đầu têu vụ ám sát Lê Long Đĩnh, và giao cho đồng bọn ra tay. Trước đó Lê Long Đĩnh đã từng nghi Lý Công Uẩn muốn làm phản, nhưng ông chưa có hành động gì để phòng ngừa họ Lý.
[1] https://nghiencuulichsu.com/2026/04/19/su-ta-chep-hoai-chua-trung-bai-5/
[2] Henri Claessen. Kingship in the early state. Journal of the Humanities and Social Sciences of Southeast Asia and Oceania vol 142(1), 1986.
[3] Ngô Sỹ Liên et al (thế kỷ 17). Đại Việt sử ký toàn thơ.
[4] An Nam truyện: ghi chép về Việt Nam trong chính sử Trung Quốc xưa. Châu Hải Đường dịch (2021).
[5] https://nghiencuulichsu.com/2026/05/19/su-ta-chep-hoai-chua-trung-bai-6/
[6] Timothy Earle (1997) How chiefs come to power.
[7] Lê Thành Khôi (1955, 1982) Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc tới giữa thế kỷ 20. Nguyễn Nghị dịch.
[8] Janine Ungvarsky (2021) Moral disengagement. https://www.ebsco.com/research-starters/religion-and-philosophy/moral-disengagement
[9] Dr Paul McCarthy (2025) Why narcissism isn’t what you think: a psychologist’s raw truth. https://www.drpaulmccarthy.com/
[10] Cleveland Clinic (2023) Narcissistic Personality Disorder. https://my.clevelandclinic.org/
[11] Dương Tuấn Anh (2020) Thời điểm kinh điển Nho gia du nhập vào Việt Nam. http://nguvan.hnue.edu.vn/