
Nguyễn Kim Lâm
Hà Nội ngày 29/06/2026
Hoàng Đế Quang Trung – Nguyễn Huệ (1753 –1792),vị vua võ công và văn trị xuất sắc trong lịch sử Việt Nam và của phong trào Tây Sơn.Ở bài viết này thông qua một chiến thắng lẫy lừng ,đại phá quân xâm lược Mãn Thanh mùa xuân Kỷ Dậu(1789), tôi muốn có thêm một cách nhìn và đánh giá riêng bổ xung ,đó là khả năng chiến lược xuất sắc trong dự đoán ,phân tích,thu thập,dẫn dụ… quân địch của bộ tham mưu Tây Sơn. Đặc biệt họ lại được tin tưởng và chỉ đạo sáng suốt của một cá nhân xuất sắc là Hoàng Đế Quang Trung.
Có một số quan điểm khá là khác nhau về chiến thắng quân xâm lược Mãn Thanh mùa xuân Kỷ Dậu (1789). Cũng là hợp lý khi tùy theo mục đích của tác giả ,những quan điểm này được đưa ra một cách chủ quan. Thậm chí tôi có đọc đâu đó một ông học giả Đài Loan(1) còn đưa ra con số quan Thanh xâm lược nước ta khi đó chỉ có khoảng hơn 5000 người(hơn năm ngàn).Và ông ta cố gắng chủ quan dẫn dụ chứng minh các con số sao cho phù hợp…Nhưng nếu là người hiểu biết về quân sự thì con số 100 000 (mười vạn) còn chưa ăn thua gì khi quyết tâm lập kề hoạch xâm lược nước ta. Như Tôn Sĩ Nghị đã tâu lên vua Thanh và được chấp nhận: ” Thần nghe họ Lê ở nước An Nam hèn yếu, sau này không chắc đã giữ được nước. Nay họ sang cầu cứu, bản triều theo nghĩa phải cứu.Vả chăng, An Nam vốn là đất cũ của Trung Quốc (chỉ nước ta ở thời kỳ Bắc thuộc), nếu sau khi khôi phục họ Lê rồi, nhân đó lại cho quân đóng giữ, thì như thế là bảo tồn họ Lê mà đồng thời lại chiếm giữ được nước An Nam, một công mà hai việc vậy”. Và khi quân Thanh đã đại bại thì có trao đổi của vua Quang Trung với Ngô Thì Nhậm liên quan về số tù binh lên đến hàng vạn đã được đưa vào công văn ngoại giao chính thức của hai nước : “Nay họ đã bị ta đánh thua, nhịn đi thì thẹn, báo thù thì khó. Vậy những tàn quân ta bắt được, đều nên cấp lương và đưa hết lên cửa ải. Ngươi vốn giỏi về nghề văn từ đối đáp, nên thảo ngay bức thư đưa sang cho họ, đại khái nói:Hiện nay đã thu góp được số tàn quân hơn một vạn người, lại đã tra rõ họ tên, quê quán, cấp lương đầy đủ và đưa lên cửa ải; vậy xin kê sổ dâng nộp…”.
Mặt khác nếu lại đặt suy tính của triều đình nhà Thanh khi vừa trải qua thất bại khủng khiếp ở một nước Đông Nam Á khác là Miến Điện(Myanma)(2). Hay bài học lịch sử nhà Minh khi xâm lược Đại Việt với cớ “ phù Tràn diệt Hồ” cũng đã phải huy động vài chục vạn quân chiến đấu rồi. Còn theo nguồn sử nhà Thanh thì sau khi “ cố tiêu hóa thất bại” đã cố tình giảm đi để đưa ra con số gấp mười lần là 50 000 (năm vạn) quân(3).Ở đây tuy xem thất bại của quân Thanh là một thất bại tình báo nghiêm trọng (không biết mình biết người trong quân sự tôi sẽ phân tích ngay dưới đây) thì với những thông tin từ các cựu thần nhà Lê, các nước láng giềng,Hoa Kiều ở Việt Nam khi đó…triều đình nhà Thanh hoàn toàn không đánh giá thấp năng lực quân sự của triều đình Tây Sơn hay tài năng quân sự của vua Quang Trung . Đúng vậy!Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) đã được các giáo sĩ, nhà quan sát và sử gia phương Tây thời kỳ đó đã không tiếc lời ca ngợi và so sánh ông với những bậc thiên tài quân sự vĩ đại nhất lịch sử phương Tây như Alexander Đại Đế hay Attila trong các ghi chép của mình(4).Nên tôi ủng hộ quan điểm lịch sử đã chính thức và phổ biến đưa ra : khi đã quyết tâm xâm lược nước ta thì nhà Thanh phải huy động ít nhất 200 000(hai mươi vạn) quân chiến đấu chính qui trong chiến dịch này. Vì những điều này sẽ càng đánh giá đúng và làm nổi bật đại thắng mùa xuân Kỷ Dậu 1789.
Lịch sử ghi nhận các đối thủ đánh giá cao về vua Quang Trung :“…Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỉ thần, không ai có thể lường biết…” Hay khả năng bảo mật tuyệt đối hoạt động quân ta : “…đóng thuỷ quân ở hải phận Biện Sơn, quân bộ thì chia giữ vùng núi Tam Điệp, hai mặt thuỷ bộ liên lạc với nhau, ngăn hẳn miền Nam với miền Bắc. Vì thế, việc ở bốn trấn đường ngoài không hề thấu đến hai xứ Thanh, Nghệ. Vì vậy việc quân Thanh đến Thăng Long và việc vua Lê thụ phong ngày 22 tháng 11, từ Thanh Hoa trở vào, không một người nào được biết…”. Trong khi đó vẫn để quân Thanh xem thường, không đề phòng các hoạt động quân sự của ta. Vẫn hoạt động khẩn trương và hiệu quả, hệ thống tình báo và phản gián bên ta đã sử dụng hàng loạt biện pháp thu thập thông tin để nắm rõ địch ,tạo thông tin giả,dẫn dụ lừa địch như cử sứ giả đến thương thuyết,giả ở thế yếu,rút lui có tính toán…Làm cho địch quân chủ quan, lại còn có thể kéo thẳng một mạch đến thành Thăng Long mà không gặp trở ngại…Tình hình đến mức từ xưa, chưa chiến dịch xâm lược nào như lại có thể được dễ dàng như thế. Tình hình mới chỉ dừng ở đây thôi chứ chưa nói đến gặp đối thủ của chúng là một đội quân thiện chiến,dũng mãnh, đầy kinh nghiệm trận mạc…thì chúng ta cũng đã thấy quân Thanh cho dù đông quân cũng thất bại là tất yếu.
Tháng 4 năm 1788, Lê Chiêu Thống đã bỏ kinh đô, chạy sang lưu vong và cầu viện nhà Thanh.Với tình hình đó khi phân tính chiến lược và các thông tin thu nhận được dễ dàng có thể thấy Nguyễn Huệ đã nhìn nhận một nguy cơ lớn hơn và gấp gáp hơn là quân Mãn Thanh phía bắc và đã có tâm thế chủ động chuẩn bị đối phó từ xa và sớm. Cùng thời điểm đó tại Gia Định có sự xuất hiện trở lại của thế lực chúa Nguyễn là Nguyễn Ánh.Tuy đây cũng là đối thủ gây ra nhiều thách thức.Nhưng chắc chắn Nguyễn Huệ đã nhận được những thông tin tình báo chiến lược và có sự đánh giá chính xác mối nguy cơ xếp sau này khi chủ động đưa ra quyết định Bắc tiến rất sớm thời điểm này. Do đó ban đầu là chuẩn bị cho chiến dịch Nam tiến, Nguyễn Huệ từ tổng động viên quân chủ lực ở Thuận Hoá sớm, ngày đêm tập luyện đã bí mật chủ động biến thành hoạt nghi binh để răn đe giữ chân nguy cơ phía nam. Cùng với đó bí mật di chuyển sớm đội quân này ra phía Bắc chủ động đợi đón đánh quân Thanh .Cho nên sau đó vua Quang Trung hoàn toàn chủ động lên ngôi hoàng đế là năm đầu niên hiệu Quang Trung và hạ lệnh xuất quân vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu thân (1788). Sử chép ,ngài tự mình đốc suất cả thuỷ lẫn bộ đến ngày 29 tháng chạp đã đến Nghệ An.Trong có bốn ngày hành quân thần tốc nhanh như vậy có lẽ chỉ là bộ tham mưu cùng đội thân binh và vũ khí nhẹ thôi. Vua Quang Trung đóng quân ở Nghệ An mười ngày.Trong thời gian này sử chép vua tuyển hàng vạn tân binh rồi huấn luyện.Quan trọng hơn là quĩ thời gian điều phối các mũi tấn công tạo thế cho cả chiến trường rộng lớn phía Bắc.Quả là sẽ quá cấp bách hay nói là không đủ nếu như không có sự chủ động chuẩn bị sớm hơn từ trước. Nhiều giả thuyết và ghi chép khác nhau về nghệ thuật hành quân để giải thích tốc độ cơ động chóng mặt của quân Tây Sơn làm đối phương bất ngờ.Ví dụ như quân Tây Sơn thành lập tổ ba người ,thì hai người khiêng võng và một người nằm võng nghỉ luân phiên nhau.Hay Tuy là mùa gió Đông Bắc chính thì đôi khi vẫn có thể có những cơn gió Nồm(thổi ngược lên phía bắc) để thủy quân Tây Sơn Bắc tiến.Nhưng chắc cả chiến dịch quan trọng vậy không thể chỉ chờ may mắn ở việc rủi ro đánh mất sức chiến đấu của binh lính khi hành quân bộ hay những cơn gió Nồm hiếm hoi này…Tất cả có thể đúng nhưng chỉ là có một số bộ phận nào đó và ở thời điểm nào đó có những sự di chuyển theo những cách này.
Trong những trao đổi này của vua Quang Trung với bộ tham mưu: “Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua mươi ngày, có thể đuổi được người Thanh. Nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được.” Hay sự sáng suốt,nắm rõ địch và tin chắc vào thắng lợi: “Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cúng Tết trước đã. Đến tối 30 Tết lập tức lên đường, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Các ngươi nhớ lấy, đừng cho là ta nói khoác.” (5) Như vậy trong tài năng quân sự kiệt xuất của vị “anh hùng áo vải” Quang Trung ,chúng ta cũng có thể khẳng định thành công trong công tác tình báo,phản gián chiến lược có yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến trước,trong và sau của toàn bộ chiến dịch này. Hệ thống thu thập thông tin rộng rãi đối phương từ sớm và xa đã giúp vua Quang Trung lên kế hoạch và tính toán tỷ mỷ đến chính xác các hành động quân sự.Ngay cả những hoạt động chuẩn bị cho ngoại giao với nhà Thành sau chiến dịch cũng đã được chủ động cân nhắc và tính toán trước.Kết quả đóng góp chủ động đó là sau chiến thắng quân sự thì là sự thành công về ngoại giao.Dễ thấy ở sự công nhận của Nhà Thành với vua Quang Trung và việc bãi bỏ cống nộp người đúc vàng từ triều đại trước(6).Về phía quân Thanh thì công tác thu thập ,bảo mật thông tin để phân tích và đánh giá đối phương thì thất bại hoàn toàn.
Nhiều nhà nghiên cứu có thể ví nhiều lí do chủ quan và mục đích khác nhau hay đi sâu vào nhưng tiểu tiết mâu thuẩn nhỏ mà bỏ qua nhưng chứng cứ thuyết phục rõ ràng để gây ra những hoài nghi lên chiến công vĩ đại mùa xuân Kỷ Dậu(1789).Khách quan nguyên nhân có việc các nhà sử học của hai bên chiến tuyến đối lập, sức ép sự kiểm duyệt triều đình hai bên, bản thân sự thu thập,ghi chép…của các nhân chứng thời kỳ đó cũng có những sự khác nhau…Điều đó là đương nhiên và không tránh khỏi đối với mọi sự kiện lịch sử. Với quan điểm căn cứ vào những sự kiện và nhân vật có thật mà hai bên không thể bác bỏ được, tự chúng ta sẽ khách quan rút ra nhưng gì là đúng đắn cho chiến thắng vang dội này.Vì thế cũng muốn nhấn mạnh đây chỉ là quan điểm riêng của tác giả và hy vọng sẽ có nhiều nghiên cứu và phân tích để giải đáp những điểm có thể còn chưa rõ.
Trân trọng,
Ghi chú:
(1) Giáo sư Tưởng Quân Chương, một chuyên gia người Đài Loan về Việt nam, tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn,1958
(2) Trong Chiến tranh Thanh-Miến năm 1768, 3 vạn quân Bát Kỳ đã bị 3 vạn quân Miến Điện đánh bại, bị tiêu diệt gần hết. Đến năm 1769, 4 vạn quân Bát Kỳ cũng bị quân Miến Điện tiêu diệt hơn 1 nửa, phải vội vã nghị hòa và năm 1784.
(3)Trích từ Trang Cát Phát, Thanh Cao Tông Thập Toàn Võ Công Nghiên Cứu, Ðài Loan Cố Cung Tùng San, Giáp Chủng số 26, tháng 6 năm 1982.
(4)Do những chiến công vang dội,các giáo sỹ phương Tây đã so sánh vua Quang Trung với Alexander Đại Đế và Attila. Những đánh giá này được ghi lại chi tiết trong nhiều công trình nghiên cứu sử học, nổi bật như tập khảo cứu “Triều Đại Quang Trung Dưới Mắt Các Nhà Truyền Giáo Phương Tây” của học giả Đặng Phương Nghi trên Tập San Sử Địa.
(5) Chiều mồng 5 Tết (tức 30 tháng 1 năm 1789), Hoàng đế Quang Trung đã kéo đại quân vào Thăng Long, ca khúc khải hoàn sớm trước hai ngày.
(6) Nguyễn Huệ tự coi không có tội gì với nhà Lê và cũng không có tội gì với nhà Thanh. Như vậy đời nào Tây Sơn chịu đúc người vàng để tiến cống. Và sau đó, chính vua Càn Long cũng nhận thấy lệ cống người vàng là vô lý và đã ra lệnh bãi bỏ lệ này. Trước thực lực cũng như sức mạnh ngoại giao chính nghĩa của Tây Sơn, Càn Long, vị vua kiêu dũng của nhà Thanh không những phải quyết định đình chỉ việc động binh trả thù, tiếp nhận sứ thần của Đại Việt mà còn buộc phải ra lệnh bãi bỏ lệ cống người vàng, với lời phê rằng: Việc triều trước bắt cống người vàng là đáng khinh bỉ.
Tham khảo:
1/Khâm định Việt sử Thông giám cương mục,Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội.
2/Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Ngô Gia Văn Phái
3/Thanh Thực Lục : Quan hệ Thanh – Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX.
4/ Đại Nam chính biên liệt truyện,sử nhà Nguyễn
5/Tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1977
6/Việt Nam Sử Lược,Trần Trọn Kim
7/ Khâm định An Nam kỷ lược