Nhà Nguyễn: Gia Long [30/6/1802-28/7/1802]

Hồ Bạch Thảo
Ngày mồng một tháng giêng năm Gia Long thứ 2 [23/1/1803], vua thân đến Thái miếu làm lễ. Lễ xong, ngự tại điện, nhận lễ chầu mừng của các quan.
Ngày mồng 3 [25/1/1803], sai thủy quân thao diễn phép chèo thuyền; Vua ngự xem, thưởng tiền cho các quân, mỗi thuyền 80 quan.
Ngày mồng 9 [31/1/1803] duyệt binh; bộ binh, thủy binh, tượng mã binh đều theo hướng mà bày dàn. Vua mặc áo trận, đeo gươm, ban phát hiệu lệnh. Bắt đầu duyệt bộ binh, thứ đến duyệt thủy binh; rồi kế đến quân voi, ngựa.
Đúc chín khẩu súng lớn bằng đồng; đúc xong, làm bài minh ghi như sau:
“Năm Giáp Ngọ [1774] sang miền Đông, năm Mậu Thân [1788] đem quân về Gia Định, năm Tân Dậu [1801] tháng trọng hạ, lấy lại kinh đô, năm Nhâm Tuất [1802], tháng trọng hạ, đại quân ra miền Bắc, đến tháng bảy thắng trận, năm ấy đem quân về, cáo yết Thái miếu, làm lễ hiến phù, giặc nước quét thanh. Mùa xuân năm Quý Hợi [1803] sai nấu những thứ đồng đã thu bắt được đúc chín khẩu súng lớn, đó là từ khẩu thứ nhất đến khẩu thứ chín này, tháng chạp công thợ hoàn thành, đặc mệnh khắc minh văn này để ghi”.
Các tướng có người cho rằng Lê Chất là tướng đầu hàng mà danh vị lại ở trên mình, nên tỏ ra thắc mắc; Chất không được yên lòng, bèn dâng sớ rằng :
“Thần là người bất tài, mới theo về, so với các bề tôi khó nhọc muôn phần chưa kịp một. Nay đã được phong tước Quận công, lại được chưởng Hậu quân, lạm ở ngôi cao sang, không dám đương nổi. Xin cho xuống cùng hàng với Đô thống chế”.
Vua không nghe, đặc biệt khiến giữ chức như cũ.
Duyệt tuyển ở các dinh Quảng Bình trở về Nam. Khi mới lấy lại được Gia Định đã thi hành ngay phép duyệt tuyển quân, thải người già, chọn người trẻ. Sau vì liên miên chinh chiến nên phải hoãn lại; đến nay bàn định cho các dinh từ Quảng Bình đến Gia Định thi hành phép duyệt tuyển; Vua có lời dụ rằng :
“Phép duyệt tuyển là để thải người già điền người tráng, phân biệt nơi đông đúc nơi thưa thớt. Nhà nước đã có phép thường. Nay võ công đã xong, đặc biệt sai cử hành việc duyệt tuyển, bọn ngươi đều nên theo lẽ công, giữ phép nước, cốt sao cho được quân bình, để xứng với sự ủy thác”.
Ngày 19 tháng giêng [10/2/1803] đặt đàn ở đồng An Ninh [huyện Hương Trà, Thừa Thiên] hợp tế trời đất. Vua sai các quan Lễ bộ khảo kỹ lễ tế Giao [tế trời đất], châm chước bàn định để thi hành.
Bãi lễ tế chay. Lệ cũ hàng năm cứ đầu xuân đặt đàn làm lễ tế chay; Vua bảo học sĩ Nguyễn Viên rằng :
“Việc tế chay rất là vô vị, nên đổi thói hủ ấy đi”.
Tế Giao theo truyền thống Nho giáo, tế chay theo truyền thống Phật giáo; sự kiện nêu trên chứng tỏ nhà Vua chịu ảnh hưởng Nho nhiều hơn Phật.
Xây thành Thăng Long; Vua thấy thành cũ chật hẹp, muốn mở rộng thêm. Sai quan tại kinh đô vẽ bản đồ dâng lên, sai các dinh quân đắp, những vật liệu cần dùng thì do quan trả tiền theo giá. Kẻ nào sách nhiễu tiền của dân thì bị tội, truy tang trả lại cho dân.
Người thiểu số Thạch Bích giáp giới đầu nguồn Quảng Ngãi [Kon Tum], thường xuống quấy nhiễu; sai Lê Văn Duyệt mang quân đi đánh; cho Hàn lâm thị thư Trần Văn Lộc theo đi, để làm việc từ chương ở trong quân.
Bắc Thành đóng gông giải sứ thần của Tây Sơn là bọn Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi về kinh đô Huế. Trước kia Nguyễn Quang Toản sai bọn Đức Thận đi sứ sang nhà Thanh, khi chưa tới Bắc Kinh, người Thanh nghe tin Quang Toản bị diệt; bèn cho sứ trở về. Lúc giải đến kinh đô, Vua tha tội và cho về. Vợ lẽ của Nguyễn Nhạc và người trong họ tên Đại, tên Vạn cũng bị bắt đến bộ Hình. Tâu xin định đoạt, Vua nói:
“Vợ lẽ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì ?”
Đều tha cả.
Tháng giêng nhuần [22/2-22/3/1803], sai thống lãnh thượng đạo Thanh Hóa là Hà Công Thái trông coi quế hộ [hộ tìm quế]; sau hạ lệnh ủy người đốc suất. Người bóc quế một nửa phải nộp quan, một nửa trả cho công bóc; ai bóc trộm quế là bị tội.
Khai mỏ bạc ở Tuyên Quang; cho bọn Đàm Kỳ Trân, Vi Chuyển Ba người Trung Quốc lãnh khai, mỗi năm nộp 80 lạng bạc.
Ngày 6 tháng 2 [28/3/1803] Vua rước mẹ [Từ cung] về chơi quê cũ tại làng An Du [huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị]. Dân Quảng Bình, Quảng Trị có người dâng lễ mừng, vua cho tiền, bảo đừng dâng nữa. Ai có sự gì oan khuất thì cho đến nơi Vua ở tâu bày; Vua đích thân xét định; nhân dân đều vui mừng.
Ngày 15 [6/4/1803] đóng gông giải bọn Thượng thư Tây Sơn là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích và Nguyễn Gia Phan đến Bắc Thành. Trước đó bọn Nhậm thú tội, Vua không nỡ giết, đặc biệt hạ lệnh cho giải về kinh. Đặng Trần Thường dâng biểu rằng:
“Bọn Nhậm thân làm tôi nhà Lê mà cam tâm theo giặc, bày lời nói dối để lừa nhà Thanh, hãm đồng loại vào chỗ bất nghĩa, xét tội ác chẻ hết tre cũng khó biên hết, thực là kẻ có tội nhất trong danh giáo. Nếu kẻ này mà không giết, thì răn bảo người sau sao được ?”
Vua bèn hạ lệnh đưa ra Bắc Thành để nghị tội. Các quan tại đây bàn cho là tội bọn Nhậm đáng phải giết, nhưng đã có chiếu nói rõ ngụy quan ra thú thì đều miễn tội, vậy xin tha bọn Nhậm tội chết, chỉ đánh để làm nhục. Vua y cho; hạ lệnh kể tội ở Quốc tử giám nhà Lê cũ rồi đánh đau, Nhậm bị đánh chết.
Vua thấy trong trận đánh Thị Nại ngày trước, súng đạn hai bên bị chìm đắm nhiều, bèn sai Phó đô thống chế binh dinh Tả thủy là Đào Văn Lương đốc suất binh dân lặn mò, lấy được 160 cỗ súng và hơn 500 hòn đạn, đưa về Kinh.
Người Thiều Châu, Trung Quốc là Lý Hòa Nguyên tụ tập đánh cướp mỏ Phước Tinh ở Thái Nguyên. Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành đem quân đánh dẹp. Lý Hòa Nguyên trốn; bắt được đồ đảng là Trâu Tôn, Lý A Tứ và Trần A Nhị đều đem chém.
Sai bọn Cai cơ Nguyễn Văn Huấn và Cai đội Mai Văn Hiến sang nước Xiêm tặng cho vua Xiêm và vua thứ hai cùng bề tôi là bọn Phi Nhã, theo thứ bậc khác nhau. Lại cho vợ vua Xiêm là Ngọc Thông 100 lạng bạc; Ngọc Thông là con gái Tôn Thất Xuân, trước đây theo Xuân sang Xiêm, rồi lấy vua nước ấy.
Tháng 3 [21/4/20/5/1803], qui định thời gian cho người chạy trạm từ Gia Định đến kinh đô, lấy nhanh chậm để thưởng phạt; đi 12 ngày là nhanh bậc nhất.
Ngày mồng 8 [28/4/1803], Vua cùng bầy tôi dâng kim sách tôn mẹ [Quốc mẫu] Vương Thái phi làm Vương Thái hậu. Lời sách có đoạn như sau :
“Mảng nghe đức lớn đạo chính của đế vương, không gì bằng hiếu. Cho nên ở trong nhà mà yêu kính thì phong hóa tràn khắp cả nước, thế gọi là đạt hiếu. Kính nghĩ Thánh mẫu bệ hạ, cửa đức sáng tươi, buồng thơm tốt đẹp. Thờ đức Nhân khảo, sửa sang việc nhà, dẫu lúc gian nguy, cũng không trễ nải. Nuôi nấng con nhỏ, cho đến trưởng thành. Kế gặp nạn nước, gắng sức siêng năng, ngoài cõi quan hà, không từng ở rỗi. Tấm lòng lo nhà lo nước, sớm khuya canh cánh, nên mới có được ngày nay. Ngửa đội uy thiêng của liệt thánh trên trời giúp đỡ mới nên, mà cũng nhờ Thánh mẫu sinh đẻ dạy nuôi nên mới được thế….”
Ngày 11[1/5/1803] xây dựng kinh đô; Vua cho rằng thiên hạ đã định, muốn mở rộng đô thành để làm nơi bốn phương chầu hội. Bèn sai Giám thành là Nguyễn Văn Yến ra bốn mặt ngoài đô thành cũ Phú Xuân đo cắm để mở rộng thêm. Vua thân định cách thức xây thành, sắc cho bộ Lễ chọn ngày lành tế trời đất, cáo việc khởi công, phái các quân mở đường sá, làm đất cát; sai bọn Phạm Văn Nhân, Lê Chất và Nguyễn Văn Khiêm trông coi công việc. Quân nhân mỗi tháng cấp tiền một quan, gạo một phương. Dân cư tám xã Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, An Bảo, Thế Lại, có ruộng đất bị mở vào thì theo giá văn tự trả lại tiền, nhà cửa thì mỗi hộ cấp 3 quan, mộ thì mỗi ngôi 2 quan, còn nhân dân thì được miễn dịch. Lại thấy rằng xã Phú Xuân, ruộng đất lấy gần hết, bèn dời dân xã ấy sang xã Vạn Xuân, cấp ruộng công đất công cho ở, lại cho vay tiền 1.000 quan để giúp việc chuyển dời.
Ngày 22 [12/5/1803], lập Nguyên phi Tống thị, mẹ Đông cung Cảnh, làm Vương hậu. Vua trước ở Gia Định, Hậu thờ Thái hậu đủ mọi gian khổ, hiếu kính cần kiệm, hiền hậu yêu người, thường tự tay kéo dệt và may cắt quần áo để cấp cho các tướng sĩ. Một hôm đi thuyền gặp giặc, vua liền đốc quân ra sức chiến đấu, hậu cũng cầm dùi thúc trống. Quân sĩ nức lòng, tranh nhau phấn đấu, bèn đánh được giặc. Trước đã tiến phong làm Vương phi, nay sách lập làm Vương hậu.
Hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá, sai sứ đến quy phục, sứ giả đến Phú Yên. Quan tại dinh này tâu lên, vua sai ban áo gấm và xuyến ngà, rồi cho về.
Tháng 4 [21/5-18/6/1803], sai các dinh phủ ở Gia Định cấm dân gian không được chứa riêng đồ binh khí. Các nhà dân trong hạt và đến cả những người Hoa, người Tây và người Cao Miên, ai có súng tay và khí giới phải đem hết nộp quan. Những khí giới ở trại các đồn điền cũng bắt tiêu hủy để rèn đúc đồ điền khí. Quân nhân không giữ nhiệm vụ đi bắt trộm cướp và đi công sai, thì khi đi đường không được mang binh khí; làm trái đều bị tội.
Lê Văn Duyệt đánh dân thiểu số Thạch Bích nỗi dậy tại miền thượng đạo Quảng Ngãi; phá được, đuổi đến Tử Khê, Nhiêu Thủy. Nghe tin thắng trận, Vua hạ chiếu khen ngợi; phát 5.000 quan tiền, chiếu theo công trạng mà thưởng cấp, lại cho những người đầu hàng, gấm, đoạn, nhiễu.
Nước Nam Chưởng xin nội phụ. Trước kia trấn Hưng Hóa dịch thư bằng lá của nước Nam Chưởng nói rằng Nam Chưởng với Vạn Tượng ước nhau cùng cử binh đánh Mường Then, yêu cầu Hưng Hóa cùng hiệp lực. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên:
“Nam Chưởng thì cách ở cõi xa, Vạn Tượng thì làm tôi thờ bản triều, cho nên chưa có thể toàn tin vào lời dịch mà vội gây hấn khích ngoài biên. Xin hạ lệnh cho Trấn thần Hưng Hóa, ủy người dò xét và gửi thư cho Nam Chưởng bày tỏ uy đức của triều đình để xem tình hình động tĩnh”.
Vua theo lời. Đến nay Nam Chưởng sai bọn Nại Khai dâng thư xin theo đường châu Ninh Biên [Điện Biên] vào cống. Xuống chiếu cho quan Bắc Thành tiếp đãi sứ giả trọng thể, và viết thư thuận cho vào cống.
Vào tháng chạp năm ngoái, sau khi nhận biểu văn của Vua Gia Long xin đổi tên nước là Nam Việt; Vua Gia Khánh bàn với Quân cơ đại thần cho rằng nước ta muốn dùng quốc hiệu thời Triệu Đà, đương nhiên phải bác đi. Nay được Vua Gia Long giải thích rằng trước kia có đất Việt Thường, nay lấy thêm đất An Nam của Tây Sơn bèn dùng tên cũ Nam Việt. Vua Gia Khánh thể theo ý đó cho dùng hai chữ “Việt Nam”; lấy chữ “Việt” để đằng trước tượng trưng cương vực thời xưa; dùng chữ “Nam” để đằng sau, biểu tượng đất mới chiếm được:
“Ngày 6 tháng 4 năm Gia Khánh thứ 8 [26/5/1803]. Dụ các Quân Cơ Đại thần:
Tôn Ngọc Đình dâng tấu triệp xin chiếu chỉ để tuân hành về việc tờ bẩm phúc đáp của Nguyễn Phúc Ánh. Trẫm đã đọc kỹ, Nguyễn Phúc Ánh cho rằng lời dụ lần trước là ý kiến riêng của Tôn Ngọc Đình, biểu văn của y chưa tấu lên trên để được nghe quyết định [của Hoàng đế], nên lần này vẫn thỉnh phong quốc hiệu Nam Việt và khẩn xin tấu thay. Trẫm duyệt biểu văn, lời và ý rất mềm dẻo, hết sức cung thuận. Xưng rằng nước y trước kia có đất Việt Thường, nay lấy thêm đất An Nam [của Tây Sơn]; không dám quên gốc đã giữ đời nối đời, bèn dùng tên cũ Nam Việt, đấy là tình thực. Tôn Ngọc Đình hãy truyền hịch cho viên Quốc trưởng rằng:
“Lần trước đến xin thỉnh phong quốc hiệu, danh nghĩa chưa hợp, nên không dám mạo muội tấu đầy đủ. Nay nhận được biểu phúc đáp, tường thuật đầu đuôi việc dựng nước, xin được phong tên mới, đã thể theo thực tình tâu lên đại Hoàng đế. Nay nhận được chỉ dụ rằng:
“Viên Quốc trưởng có lòng thành, lần trước cung kính giao nạp sắc ấn trước đây ban cho [An Nam] bị Nguyễn Quang Toản bỏ lại, cùng trói giải bọn giặc cướp ngoài biển; lại cung kính thỉnh mệnh, nên được soi xét kỹ tấm lòng thành. Việc cầu phong và dâng biểu cống; đặc dụ chấp thuận. Đến việc xin đặt tên nước là Nam Việt, thì nước này trước đây có đất cũ Việt Thường, sau lại được toàn lãnh thổ An Nam; vậy Thiên triều phong quốc hiệu cho dùng hai chữ “Việt Nam”; lấy chữ “Việt” để đằng trước tượng trưng cương vực thời xưa; dùng chữ “Nam” để đằng sau, biểu tượng đất mới được phong. Lại còn có nghĩa là phía nam của Bách Việt; không lẫn lộn với tên nước cũ “Nam Việt”. Một khi tên nước đã chính, nghĩa của chữ cũng tốt lành; vĩnh viễn thừa hưởng ân trạch của Thiên triều. Hiện đã ra lệnh Bồi thần đến kinh khuyết xin thỉnh phong, sắc ấn ban cho sẽ lấy hai chữ đó làm tên. Nước ngươi được ban tên đẹp, xếp vào nước ngoại phiên thần phục, càng đầy đủ sự vinh hiển.”
Tôn Ngọc Đình tiếp nhận chiếu chỉ này, một mặt truyền hịch dụ Nguyễn Phúc Ánh, một mặt sai Ủy viên bồi bạn tống tiễn Sứ thần nước này đến kinh đô dâng biểu tiến cống. Lưu ý tiết trời nắng nóng, nên cho đi từ từ để tỏ lòng thể tuất. Vào khoảng cuối tháng 7 đến kinh đô, lúc này Trẫm tránh nóng tại sơn trang, gặp dịp Cáp Tát Khắc vào triều cận, lệnh cùng dự yến luôn một thể. Vẫn để viên Sứ thần khởi trình từ Quảng Tây, nhật kỳ nhớ báo trước khi đi. Đem dụ này truyền để hay biết.”(Nhân Tông Thực Lục quyển 111, trang 480 481)
Vua Gia Long tỏ ra vui lòng với tên nước Việt Nam, nên Vua Gia Khánh bèn sai Án sát Quảng Tây Tể Bố Sâm mang ấn mới đến sách phong:
“Ngày 26 tháng 6 năm Gia Khánh thứ 8 [13/8/1803]. Cải tên nước An Nam thành Việt Nam, phong Nguyễn Phúc Ánh là Quốc vương. Dụ Nội các:
Trước đây Quốc trưởng Nông Nại Nguyễn Phúc Ánh dâng biểu trần tình đầu đuôi việc dụng binh tại An Nam do phục thù cho các đời trước. Cung kính sai sứ giả nạp sắc ấn cũ do Nguyễn Quang Toản bỏ lại, cùng bắt trói giặc cướp biển giải đến, xin kính nhận mệnh. Trẫm xét đến lòng thành vượt biển đến, vui vẻ chấp nhận; từng giáng chỉ dụ tuyên bố cho trong ngoài triều biết rõ việc Nguyễn Quang Toản đất An Nam hoạch tội rồi bị phúc diệt, cùng Nguyễn Phúc Ánh cung thuận và đầu đuôi việc ra sức phấn đấu. Rồi cứ theo viên Quốc trưởng thỉnh ban phong , trình bày rõ nước này trước có đất Việt Thường, nay lấy được An Nam, vì không muốn quên đất trước đây cha ông giữ, nên xin lấy tên nước là Nam Việt. Qua quan lại tại biên giới đem sự tình tâu lên, các quan tại bộ bác bỏ vì cho rằng tên Nam Việt không hợp cho việc phong cương đất cõi ngoài. Ðặc cách nghĩ đến sự gõ cửa quan xin nội phụ, cung kính từ trong đáy lòng, cho dùng 2 chữ Việt Nam; dùng chữ Việt để bên trên chỉ cương vực các đời trước, dùng chữ Nam ở dưới để biểu thị đất mới được phong; lại ra lệnh cho Tuần phủ Quảng Tây Tôn Ngọc Ðình, một mặt gửi hịch thông tri cho Nguyễn Phúc Ánh, một mặt sai Ủy viên bạn tống Cống sứ đến kinh đô tiến dâng biểu. Dụ Cống sứ đến kinh đô đi thong thả, để thể hiện chính sách nhu viễn của Thiên triều. Nay lại nhận được lời tâu của Tôn Ngọc Ðình rằng:
‘Nguyễn Phúc Ánh nhận được ân mệnh ban cho tên Việt Nam thì rất lấy làm cảm khích, lời lẽ hoan hỷ phát xuất từ tấm lòng thành; viên Sứ thần đã khởi hành, có thể vào hạ tuần tháng 7 thì đến kinh đô.’
Ðáng gia thêm ân sủng, phong chức Việt Nam Quốc vương, điều đáng làm là ban cấp các vật kiện như ấn tín, sắc thư. Lệnh các nha môn tra xét định lệ rồi chuẩn bị trước. Lệnh Khâm Thiên Giám khi ban hành lịch Thời Hiến, đổi hai chữ An Nam thành Việt Nam, vĩnh viễn tuân theo lịch Chính Sóc. Tương lai khi sách phong, phái Tể Bố Sâm, ty niết (1) Quảng Tây mang ấn mới đến sách phong, sẽ cùng với Cống sứ ra khỏi quan ải đến [Việt Nam] tuyên thị chiếu chỉ để viên Quốc vương hưởng ân quyến lâu dài, đời đời giữ nước không thay thế. Ðem dụ này truyền mọi nơi hay biết.” ( Nhân Tông thực Lục quyển 115, trang 14-15)
Tháng 5 [19/6/18/7/1803], đắp bảy đoạn đê mới ở Bắc Thành. Một đoạn ở xã Nại Tử Châu huyện Yên Lạc trấn Sơn Tây, dài hơn 220 trượng [1 trượng=4 mét]; một đoạn ở xã Kim Xà, huyện Yên Lãng [Vĩnh Phúc], dài hơn 298 trượng; một đoạn ở xã Thổ Khối huyện Gia Lâm trấn Kinh Bắc, dài hơn 400 trượng; một đoạn ở xã Tào Nha huyện Nam Xang trấn Sơn Nam thượng, dài hơn 513 trượng; một đoạn ở thôn Ngọ Xá huyện Sơn Minh [huyện Ứng Hòa, Hà Tây], dài hơn 178 trượng; một đoạn ở xã Mễ Trường huyện Thanh Liêm [Hà Nam], dài 53 trượng; một đoạn ở xã Lại Trì huyện Thư Trì [huyện Vũ Thư, Thái Bình], dài hơn 42 trượng ; lại bồi đắp một đoạn đê cũ ở xã Vĩnh Thái huyện Phú Xuyên [Hà Tây], dài hơn 65 trượng; chi tiền hơn 80.400 quan.
Tháng 6 [19/7-16/8/1803], bắt đầu đúc tiền Gia Long thông bảo; sai Cai đội Cáp Văn Cẩn trông coi công việc. Đúc xong đưa 1.000 đồng ra Bắc Thành để đúc theo cho có quy thức nhất định. Mẫu tiền, mỗi đồng đường kính 5 phân 5 ly, mỗi quan tiền nặng 2 cân 4 lạng.
Sai các dinh ở Gia Định chiêu tập quân dân xiêu tán trốn tránh trong thời chiến tranh; Vua ban dụ rằng :
“Gia Định từ khi dấy binh, hằng năm chinh chiến, đi phải mang theo, ở thì phải đưa tiễn, dân cũng mệt nhọc. Trong lúc nhiều việc, hoặc có kẻ chạy đông chạy tây, trốn tránh vào rừng núi để tạm lánh phu dịch. Nay nghịch tặc đã trừ, binh cách đã dứt, nên dụ bảo rộng rãi, khiến cho người ta vui vẻ quay về. Nếu có kẻ tình nguyện đầu quân, cho quan sở tại tâu lên; nếu không thì cũng được trở về hương lý [làng xóm] để cùng hưởng phước thái bình”.
Sai quan Lưu trấn đưa thư sang Chân Lạp bảo rằng phàm có dân Việt ngụ cư tại đó, thì đưa trả về hết.
Quan Bắc Thành tâu rằng các động Tây Nghiễn, Ngưu Đầu, Bạch Sa và Ngư Châu thuộc châu Vĩnh An [huyện Mông Cái, Quảng Ninh] trước kia chưa kiểm soát được. Nay quan trấn Yên Quảng [Quảng Ninh] chiêu dụ vỗ về, nhân dân đều vui vẻ quy phụ. Xin hạ lệnh cho làm sổ sách ruộng đất để tương lai bàn định thuế khóa; Vua chấp nhận.
Nước Hồng Mao [Anh] sai sứ là Robert đến hiến phương vật và dâng biểu xin lập phố buôn ở Trà Sơn [huyện Sơn Trà, Đà Nẵng] dinh Quảng Nam. Vua nói rằng :
“Hải cương là nơi quan yếu, sao lại cho người ngoài được !”
Quyết định không cho, sai trả lại hiến vật, rồi bảo về.
Tháng 7 [17/8-15/9/1803], lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ [huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi], sai mộ dân lập đội Hoàng Sa.
Mười ba năm về trước [1800], Lê Quýnh một cựu thần nhà Lê tại Trung Quốc đòi trở về nước để mưu đồ phục quốc, lại khăng khăng chịu chết, quyết không thay đổi mũ áo, cạo đầu dóc tóc theo phong tục Mãn Thanh; nên bị Vua Càn Long bắt giam vào ngục. Đến đời Vua sau, năm Gia Khánh thứ 5 [1800] được phóng thích, nhưng bị quản chế tại doanh Hỏa Khí.
Lúc Vua Gia Long sai Sứ sang Trung Quốc xin cầu phong, dùng Lê Doãn Trác là con Lê Quýnh làm nhân viên sứ bộ, giữ chức Hành nhân. Khi sứ bộ đến Trác Châu, cách Bắc Kinh khoảng 50 cây số về phía nam; Lê Quýnh từ lặn lội xuống thăm con, sự việc phát giác, nên Lê Quýnh bị nhà Thanh hạch tội:
“Ngày 30 tháng 7 năm Gia Khánh thứ 8 [15/9/1803]. Dụ Nội Các: Bọn Miên Chí tâu:
‘Người An Nam tên Lê Quýnh ngầm đến Trác Châu [zhuozhou, Hà Bắc] tìm gặp con y, nay xin giao cho phủ Thuận Thiên chiếu theo lệ xét xử.’
Lê Quýnh là viên quan của của phiên bang nơi biên giới, phạm tội nên bị giam. Vào năm Gia Khánh thứ 5 [1800] được Trẫm đặc cách phóng thích, mệnh an sáp tại ngoài doanh hỏa khí, cấp lương tiền như lính Bát Kỳ; vẫn giao cho quan phụ trách trông coi, không được tự ý đi ra ngoài. Nay Lê Quýnh cùng Lý Bỉnh Đạo nói dối xin đi thăm mộ Lê Duy Kỳ, được doanh này cho hai người lính hộ tống. Đi đến khoảng phụ cận cầu Lư Cấu, Lê Quýnh thừa lúc sơ hở bỏ đi, quân hộ tống chỉ đưa được Lý Bỉnh Đạo trở về, riêng Lê Quýnh thì đi thẳng đến Trác Châu. Qua viên Tri châu này thẩm vấn, y khai rằng:
‘Nhân nghe tin trong số Cống sứ Việt Nam có con y là Lê Doãn Trác giữ chức Hành nhân, trên đường đến kinh đô; nên y đi thăm hỏi sự tình.’
Bọn Lê Quýnh trú tại xưởng Lam Điện, làm sao biết được Lê Doãn Trác theo phái đoàn Cống sứ Việt Nam đến kinh đô? Huống Sứ thần nước này đến Trác Châu vào ngày 25, Lê Quýnh đến ngay vào ngày hôm sau, cớ sao được tin nhanh như vậy? Vả lại bọn Lê Quýnh muốn đi ra ngoài để thăm gặp, thì cứ bẩm lên viên Đại thần cai quản, để được tâu lên đợi chiếu chỉ chấp thuận mới có thể đi được. Sao y chưa trình rõ ràng lại ngầm đi [đi không xin phép], quả thực không tuân lệnh quản thúc. Ngoại trừ việc giáng chỉ đem các quan viên trong doanh phân biệt xét xử; nay truyền lệnh doanh phụ trách cùng phủ Thuận Thiên giải giao bọn Lê Quýnh, Lý Bỉnh Đạo hai người đến bộ Hình để thẩm vấn.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 117, trang 563 564)
Sự việc giao cho bộ Hình, lệnh đem Lê Quýnh đối chất với viên Tham Lãnh Bảo Thiện chuyên trách quản lý. Viên Tham lãnh này phải thú nhận rằng đã tự tiện cho phép Lê Quýnh đi gặp con, do đó Lê Quýnh được miễn tội:
“Ngày 15 tháng 8 năm Gia Khánh thứ 8 [30/9/1803]. Lại dụ Nội Các:
Bộ Hình đã đem viên Tham lãnh Bảo Thiện đối chất xác minh với Lê Quýnh rồi soạn tấu triệp trình lên nội dung:
‘Bọn người An Nam Lê Quýnh cư trú tại xưởng Lam Điện, do Tham Lãnh Bảo Thiện chuyên trách quản lý. Nhân Lê Quýnh xin phép đi thăm Cống sứ, Bảo Thiện không bẩm lên quan Đại thần cai quản, bèn tự chấp thuận cho đi, hành động thuộc loại chuyên quyền tự ý. Khi Lê Quýnh cung khai việc này, viên Đại thần cai quản đích thân hỏi viên Tham lãnh, y không thừa nhận; rồi Quân Cơ Đại thần chuyển chiếu chỉ hỏi tường tận, sau ba bốn lần cung khai y vẫn không nói rõ sự thực. Đến khi giải giao Bảo Thiện đến bộ Hình đối chất với Lê Quýnh, y không còn bao che được, rốt cuộc phải thừa nhận.’
Y thuộc loại giảo hoạt, nếu chỉ giao về bộ nghị xử thì e quá nhẹ; nay truyền lệnh cách chức Bảo Thiện, phát vãng đến Ô Lỗ Mộc Tề hiệu lực, để chuộc tội. Còn bọn Lê Quýnh, Lý Bỉnh Đạo đã được hỏi rõ và cũng không phải ngầm đi, mọi việc đều hợp lẽ; nay lại giao cho doanh Hỏa Khí an sáp tại xưởng Lam Điện, hãy lưu tâm quản thúc, không được tự ý đi ra ngoài sinh chuyện. Điều cung khai rằng Lê Quýnh trên đường đi tình cờ gặp viên quan Mông Cổ họ A, còn đơn vị hiệu cờ cùng tên thì không nhớ rõ; cũng không cần tra cứu thêm nữa.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 118, trang 586)
Cùng trong tháng, sứ bộ nhà Nguyễn lần đầu tiên đến cống triều Thanh, được Vua Gia Khánh khen ngợi:
“Ngày 5 Ðinh Mão tháng 8 năm Gia Khánh thứ 8 [20/9/1803]. Quốc vương Việt Nam Nguyễn Phúc Ánh sai Bồi thần đến cống sản vật địa phương. Giáng sắc khen ngợi, ban yến, thưởng như thường lệ.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 118, trang 20 ).
Nhân dịp này người Thanh đưa thư báo tin sứ thần ta đến Yên Kinh, vua Thanh sẽ sai án sát sứ Quảng Tây Tế Bố Sâm sang tuyên phong; nên vào tháng 8 [16/9-15/10/1803] Vua Gia Long bàn việc ra Bắc thành, để nhận sắc. Sai Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Khiêm và Trần Văn Thái lưu giữ kinh thành, riêng Tống Phước Lương và Nguyễn Vĩnh Thị đem quân thủy bộ đi trước.
Ngày mồng 4 tháng 8 [19/9/1803], xa giá từ kinh sư khởi hành; Nguyễn Văn Trương, Lê Chất, Nguyễn Đức Xuyên đem quân đi theo hầu.
Ngày mồng 8 [23/9/1803] đến Quảng Bình; dân phía bắc tỉnh này bị đói, sai phát 1.500 phương gạo kho để chẩn cấp.
Ngày 11 [26/9/1803], xa giá đến Nghệ An, đóng lại ở hành cung Hà Trung [huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh]. Trấn thủ Hoàng Viết Toản và Hiệp trấn Hồ Thế Học ra mắt. Vua hỏi thăm dân tình, và sắc sai dân sở tại sửa đắp đường quan mỗi 15.000 trượng [1 trượng=4 mét] thì cấp cho 10.000 phương gạo, người cung ứng cỏ rơm cho voi ngựa thì mỗi ngày cấp 15 phương gạo ; cầu cống gãy nát thì dùng quân lính sửa chữa, không được điều động sức dân.
Vua thấy dân Nghệ An đói, sai phát chẩn; ban chiếu rằng :
“Trấn các ngươi sau cơn binh lửa, mà gánh vác dao dịch chưa được nghỉ ngơi. Năm nay lại mất mùa, mặt dân xanh như rau cả, lòng trẫm rất thương. Vậy phát gạo kho 35.000 phương gạo để chẩn cấp, tổng trưởng, xã trưởng kẻ nào xén bớt thì xử tội chết”. Lại hoãn thu một nữa thuế biệt nạp năm nay.
Người huyện Nghi Xuân [Hà Tĩnh] là Nguyễn Công Trứ đến điều trần mười việc; sai bộ Lại duyệt kỹ để tâu.
Tháng 9 [16/10-13/11/1803], nước Chân Lạp sai sứ sang cống, quan tại kinh đô tâu lên cho Vua hay. Sai các trấn từ Quảng Trị trở ra Bắc, tiếp đãi sứ giả nồng hậu, rồi đưa đến hành tại [nơi Vua trú].
Hơn trăm chiếc thuyền của giặc biển Tề Ngôi [bọn cướp biển Trung Quốc] ra vào vùng Tiên Yên [Quảng Ninh]và Vân Đồn [Quảng Ninh], xâm bức đồn Cỗ Dũng, lại vào cả sông Bạch Đằng, cướp bóc địa phương Kinh Môn [Hải Dương]. Nguyễn Văn Thành sai Chưởng dinh Nguyễn Đình Đắc, Đô thống chế Phan Tiến Hoàng, Tán lý Đặng Trần Thường đem quân đánh dẹp.
Vua nghe báo, sai Nguyễn Văn Trương lãnh quân thủy bộ cùng Văn Thành điều động biền binh phái thêm để ngăn chặn những đường trọng yếu. Hương cống cũ triều Lê là Bùi Huy Ngọc và Nguyễn Huy Khuê người Yên Quảng [Quảng Ninh] tập hợp thổ hào ở hai tổng Hà Nam [Quảng Ninh] và Hà Bắc [Quảng Ninh] theo quan binh, đánh chém được 6 đầu giặc, bắt được thiếu úy giặc là tên Vân. Thổ hào ba huyện Kim Thành [Hải Dương], Thủy Đường [Hải Dương] và Giáp Sơn [Hải Dương] cũng đều họp quân đón đánh, chém được 2 đầu giặc, bắt được hơn 60 người. Thuyền giặc chạy ra biển về phía đông. Văn Thành đem tình trạng tâu lên; Vua cho Huy Ngọc làm Tham hiệp Yên Quảng, Huy Khuê làm Tri huyện Hữu Lũng [huyện Lạng Giang, Bắc Giang]; các thổ hào đều được thưởng các chức như: Cai đội, Đội trưởng, Cai thuộc, Ký thuộc, Cai tổng, Phó tổng.
Bấy giờ những di thần nhà Lê tỵ nạn tại Trung Quốc đều muốn trở về nước và xin đem hài cốt cựu Hoàng Lê Chiêu Thống cùng về. Vua Gia Khánh chấp nhận việc này, nên sai Tuần phủ Quảng Tây Tôn Ngọc Đình bảo Án sát Tế Bố Sâm lúc ban sắc phong, hãy cáo tri cho Vua Gia Long biết có hay không muốn lưu giữ những người này:
“Ngày 10 tháng 9 năm Gia Khánh thứ 8 [25/10/1803]. Dụ các Quân cơ đại thần:
Trước đây những người An Nam theo Lê Duy Kỳ lục tục đến đầu thuận nội địa, cho an sáp yên ỗn đã mấy năm nay. Hiện tại Nguyễn Quang Toản tự dẫn đến sụp đổ, Nguyễn Phúc Ánh gõ cửa quan xin nội phụ, mới được phong làm Quốc vương Việt Nam. Nhân nghĩ đến người An Nam trước đây bị an sáp, tất phải nhớ đến cố hương; đã tra hỏi bọn Lê Quýnh bị an sáp tại doanh hỏa khí, cùng những cựu thần họ Lê bị biên chế vào kỳ (2) thì đều muốn trở về nước và xin đem hài cốt của Lê Duy Kỳ trở về. Lúc này Cống sứ Việt Nam đã khởi hành từ kinh đô đến Quảng Tây, sau đó viên quan ty Niết Tề Bố Sâm sẽ tuân theo chiếu chỉ trước mang sắc ấn ra quan ải đến ban phong. Lệnh viên Tuần phủ truyền bảo Tề Bố Sâm lúc ban sắc phong, hãy cáo tri cho viên Quốc vương biết rằng người An Nam đến đầu thuận trước đây, được đại Hoàng đế hỏi đến, bọn y đều xin trở về cố hương. Vậy viên Quốc vương có hay không muốn thu lưu những người này; hãy phúc đáp, để bẩm lên viên Tuần phủ, rồi tâu lên đầy đủ. Ðem dụ này truyền cho Tôn Ngọc Ðình hay biết.” (Nhân Tông Thực Lục, quyển 120, trang 14)
Ngày 12 tháng 10 [25/11/1803] Vua đi chơi núi Dục Thúy [Ninh Bình], xem ngắm hình thế. Sai lấy hai huyện Đại An [huyện Nghĩa Hưng, Nam Định] và Vọng Doanh [ huyện Ý Yên, Nam Định] thuộc trấn Sơn Nam hạ [Nam Định] cho lệ vào Thanh Hoa ngoại [Ninh Bình].
Ngày 16 [29/11/1803] xa giá đến thành Thăng Long; sai Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường kinh lược các trấn ở Bắc Thành, lấy Nguyễn Văn Trương tạm thời lãnh việc thành.
Hạ lệnh cho quan lại sĩ thứ ở Bắc Thành điều trần về lợi hại của việc đắp hay bỏ đê, ban chiếu rằng :
“Làm lợi, bỏ hại là việc trước tiên của chính trị. Xét xưa sánh nay, phải sao cho đúng lẽ. Những huyện ở ven sông trong địa phương các ngươi từ trước đã lập đê điều để phòng nước lụt. Song nhân tuần đã lâu, hễ đến mùa lụt thì đê điều vỡ lở, lúa ruộng bị ngập, người và súc vật cũng bị hại. Bọn ngươi, người thì sinh ở nơi đó, người thì làm việc ở nơi đó,
thế đất tình người đã từng am thuộc. Vậy đắp đê và bỏ đê, cách nào lợi, cách nào hại, cho được tỏ bày ý kiến. Lời nói mà có thể thực hành sẽ được nêu thưởng”.
Vua đi thăm xã Thanh Khúc thuộc huyện Thanh Trì [Hà Nội], xem đường đê, quan dân đều dâng phong thư, có người nói đắp đê thì lợi, có người nói bỏ đê thì lợi. Vua cho rằng dư luận phân vân, chưa biết thế nào là đúng. Bèn sai Hộ bộ Nguyễn Văn Khiêm đi khắp các nơi xem dòng sông uốn khúc, dòng nước phân hợp, vẽ thành bản đồ bản dâng lên.
Tháng 11 [14/12/1803-12/1/1804], nước Xiêm La sai bọn Sá Phất Ba Ni đến hiến phương vật. Vua sai các dinh trấn từ Diên Khánh ra Bắc đón tiếp sứ giả nồng hậu, đưa gặp nơi hành tại, rồi cho về.
Về phía nhà Thanh, ngoài việc chấp thuận cho những cựu thần nhà Lê tại kinh đô được trở về nước, cũng cho phép những người bị an sáp tại các tỉnh, như Bế Nguyễn Cung, được trở về:
“Ngày 8 tháng mười một năm Gia Khánh thứ 8 [21/12/1803]. Chấp nhận Bế Nguyễn Cung, người An Nam bị an sáp tại Giang Ninh (3) , trở về nước; cùng thưởng lộ phí có sai biệt.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 123, trang 12 )
Tháng 12 [13/1-10/2/1804] Chiêu Nội ở Trấn Ninh [Xiêng Khoáng, Lào] xin nội thuộc. Trước kia vua từ thành Gia Định ra đánh miền Bắc, quốc trưởng nước Vạn Tượng là Chiêu Ấn nhiều lần cho binh theo quan quân ở miền thượng đạo đi đánh giặc. Khi Bắc Hà đã bình định, vua lấy đất Trấn Ninh ban cho. Đến nay tù trưởng Trấn Ninh là Chiêu Xanh chết, Chiêu Ấn lập người anh họ là Xà Cương thay giữ dân chúng. Con Chiêu Xanh là Chiêu Nội không phục, đem đồ đảng 600 người chạy đến Trà Lân [huyện Tương Dương, Nghệ An]. Việc ấy báo lên. Vua sai quan trấn Nghệ An phát hơn 200 phương gạo cấp cho.
Trấn thủ Phú Yên báo thuyền buôn của người Xiêm là Ngô Mân Quan bị bão, đậu vào cửa biển Cù Mông. Vua ban sắc rằng :
“Từ nay người buôn Xiêm bị nạn thì số gạo nhà nước bán chiếu theo nhân khẩu, vừa đủ thì thôi, không được bán nhiều. Thuyền có hàng hóa cũng đánh thuế”.
Sứ bộ Lê Quang Định từ Bắc Kinh trở về nước; Vua hỏi thăm công việc đi sứ, vui mừng ủy lạo.
Chú thích:
1.Ty niết: Ty Án sát.
- Kỳ: Quân đội nhà Thanh được chia thành 8 kỳ, tức 8 màu cờ; vậy biên chế vào kỳ có nghĩa là biên chế vào quân đội.
3.Giang Ninh: xưa gọi Nam Kinh là Giang Ninh; nay thuộc tỉnh Giang Tô.