Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Gia Long (Bài 6)

Nhà Nguyễn: Gia Long [31/1/1805-6/2/1807]

Hồ Bạch Thảo

Tháng giêng năm Gia Long thứ 4 [31/1-28/2/1805], định lệ khám báo ruộng lúa bị tổn hại. Nếu không may địa phương nào gặp hạn, lụt, sâu bọ làm tổn hại lúa má thì quan phủ huyện phải đến khám xét ngay lúc lúa chưa gặt, rồi quan trấn ủy người đi khám lại; hạn trong 10 ngày phải tâu lên; ghi đúng phân số, để lượng xét tha bớt thuế.

Lập đội yến sào; sai Cai đội đội Trần Văn Giai mộ dân sung vào, mỗi năm mỗi người nộp thuế 8 lạng yến sào.

Tướng giặc tại Thanh Hoa là tên Chấn tự xưng quận công, ngầm đặt quan chức cho bè đảng, có các cơ hiệu Ngũ Ninh, Ngũ Thắng, Ngũ Dũng. Quan Trấn đem quân đánh, bắt được bè đảng là bọn Vũ Trí Nguyệt ở xã Ngọ Xá [huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa]. Sau Thổ tù Nguyễn Đình Giá bắt được Chấn ở xã Phố Cát [huyện Thạch Thành, Thanh Hóa], sai giết đi, cho Đình Giá làm Phòng ngự sứ.

Quan Bắc Thành tâu rằng :

“Giặc biển Tề Ngôi là bọn Trịnh Năng Phát, Hoàng Long, Sĩ Tiến nhiều lần bị quan quân đuổi bắt, trốn vào động La Phù ở Long Môn [châu Khâm, Quảng Tây]. Đã bao lần báo cho Long Môn mà quan ở đấy cứ che chở. Xin gửi công văn cho Tổng đốc Lưỡng Quảng để dẹp bắt”.

Vua xuống chiếu không nên báo, hãy sai quan trấn Yên Quảng [Quảng Ninh] đặt đồn, nghiêm việc phòng bị cho dân được yên ổn.

Ngày 22 [21/2/1805], dựng điện Thái Hòa; thưởng cho lính và thợ hơn 1.400 quan tiền.

Tháng 2 [1/3-30/3/1805], triệu Lưu trấn Gia Định là Nguyễn Văn Nhân về Kinh. Lấy Chưởng Trung quân Nguyễn Văn Trương làm Lưu trấn Gia Định, Thượng thư Hộ bộ Trịnh Hoài Đức làm Hiệp lưu trấn.

Triệu quan nhà Lê cũ là bọn Lê Duy An, Trịnh Hiến, Lý Bỉnh Đạo, Nguyễn Hữu Cung vào kinh. Bọn An theo Vua Lê Chiêu Thống xuất vong trong 16 năm, nếm đủ mùi gian khổ. Vua khen là tiết nghĩa, vời vào yết kiến, yên ủi hỏi han giờ lâu; cấp cho quần áo tiền gạo. Sau bổ Hiến và Bỉnh Đạo làm Thị trung học sĩ, Cung làm Cai cơ.

 

Tháng 3 [31/3-28/4/1805], hạ lệnh cho các quan văn võ hàng ngày cứ giờ mão [5-7 giờ sáng] phải vào điện Cần Chánh tâu việc.

Ngày 30 tháng 4 [28/5/1805], xây đắp Kinh thành; chu vi 2.487 trượng 4 thước 7 tấc [4 m.2487.4=9,949.6 mét], suốt bốn mặt hào dài 2.503 trượng, 4 thước 7 tấc [4 m.2503.4=10,013.6 mét]. Hào là hệ thống Hộ Thành Hà: đoạn phía Tây là sông Kẻ Vạn, phía Bắc là sông An Hòa, phía Đông là sông Đông Ba, riêng đoạn phía Nam dựa vào sông Hương. Thành có 10 cửa, kỳ đài cao 4 trượng, 4 thước [17.6 mét]; bên trong là Hoàng thành, và Cung thành. Lấy biền binh ở Kinh và ở Thanh Nghệ, Bắc Thành, quân và dân Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định sung làm việc. Ưu cấp tiền gạo, mỗi người mỗi tháng cấp tiền 1 quan 5, gạo 1 phương 15 bát.

Vua thấy công việc nặng nhọc, nghĩ giữ cho dân đỡ mệt, hạ lệnh mỗi ngày buổi sáng làm đến giờ ngọ [11-13 giờ] thì nghỉ, buổi chiều làm đến giờ dậu [17-19 giờ] thì thôi, ai đau ốm thì cấp thuốc thang điều trị.

Tháng 5 [29/5-28/6/1805], định lệ hoãn trưng ruộng đất những dân lưu lạc từ Nghệ An trở ra Bắc. Đặc biệt ra lệnh ruộng đất của lưu dân từ năm Nhâm Tuất [1802] trở về trước đã cho quan quân cày cấy, thì nay đình bãi để đợi dân lưu tán trở về lại cho quản nhận để làm ăn; tha thuế, tha lính 3 năm.

Sai hỏi thăm nghĩa dân tại Long Xuyên [Cà Mâu]. Vua dụ bầy tôi rằng :

“Trước đây nhà nước gặp bước khó khăn, ta phải lánh ở Long Xuyên, nhân dân nhiều người bỏ của nhà để  giúp quân, hăm hở việc công, thích làm điều nghĩa, ta rất khen. Vậy hạ lệnh cho lưu trấn Gia Định hỏi khắp những người ấy để tâu lên, lượng gia ban thưởng.”

Tháng 6 [27/6-25/7/1805], sai xây các cửa thành Thăng Long: cửa Đông Nam, cửa Tây Nam, cửa Đông, cửa Tây và cửa Bắc; mỗi cửa đều dựng bia để ghi.

Giặc biển Chà Và cướp bóc ở ngoài biển, dân Côn Lôn bị hại. Quan Trấn thủ  xin hạ lệnh cho các thuyền công và thuyền tư đều được trang bị khí giới để phòng bị.

Tháng 7 [26/7-23/8/1805], đào vét  sông An Hòa ở phía bắc kinh thành; dùng tiền đền bù số ruộng đất của dân tại sông đào.

Vua thấy dân Gia Định thóc gạo chứa chan mà kho trữ thì ít, sắc cho bốn dinh rằng lương gạo của quân binh thì chiết cấp bằng tiền. Trả cao hơn giá thị trường một phương gạo [1 phương= 30 lít] một tiền; năm nào mất mùa mới cấp bằng thóc gạo.

Thuyền buôn của người Chà Và [Java]  bị nạn đậu ở phần biển Quảng Đức [Thừa Thiên]; sai cấp quần áo tiền gạo rồi cho đi.

Tháng 8 [24/8-22/9/1805], truy tặng thụy hiệu (1) cho Đông cung nguyên soái quận công Cảnh làm Anh duệ hoàng thái tử, dựng nhà ở xã Vĩ Dã [Huế].

Điện Thái Hòa làm xong, thưởng cho lính và thợ làm việc 1.000 quan tiền.

Sai quan bộ Lễ Đặng Đức Siêu khảo xét công trạng công thần, chia làm 4 bậc: Tổng trấn Tôn Thất Khê, Thiếu úy Tôn Thất Hiệp, Nội tán Đào Duy Từ, Tiết chế Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính thuộc công thần bậc trên ; Khám lí Trần Đức Hòa, công thần bậc nhất ; Chưởng cơ Nguyễn Hữu Hào, Trấn phủ Tống Phước Trị, Chưởng dinh Tống Hữu Thanh, Thái giám Nguyễn Đình Quý, Trà quận công phu nhân Trần thị, công thần bậc hai ; Thiếu sư Tôn Thất Diễn, Chưởng dinh Tôn Thất Tráng, Chưởng cơ Tống Phước Đào, công thần bậc ba.

Con cháu mỗi người, một người được tập ấm làm Đội trưởng hay Thứ đội trưởng; ban cấp phu coi mộ  và tự điền (2) theo thứ bậc khác nhau. Công thần bậc trên được tập ấm Đội trưởng 1 người, phu mộ 6 người, tự điền 15 mẫu ; công thần bậc nhất được tập ấm Đội trưởng 1 người, phu mộ 4 người, tự điền 9 mẫu ; công thần bậc hai được tập ấm Thứ đội trưởng 1 người, phu mộ  3 người, tự điền 6 mẫu ; công thần bậc ba được tập ấm Thứ đội trưởng 1 người, phu mộ phu 2 người, tự điền 3 mẫu.

Kinh thành làm xong, cho binh đinh làm việc về quê nghỉ ngơi, cấp cho lương đi đường hàng ngày. Khi đi đường có ai đau ốm thì cứ theo số ngày mà lãnh tiếp. Lại thấy từ Nghệ An về Bắc đường sá xa cách, thưởng thêm cho binh đinh mỗi người 1 quan 5 tiền và từ đội trưởng trở lên 3 tháng lương tiền.

Dân thiểu số nguồn Phù Âu thuộc Quảng Đức [Thừa Thiên] cướp phá miền Tả Trạch [huyện Hương Thủy, Thừa Thiên]. Sai Đô thống chế Phan Văn Đức và Lưu thủ Nguyễn Công Hòa đem quân đánh, bắt được hơn 60 người. Vua chỉ cho giết thủ phạm, sốcòn lại đày đi Quảng Trị.

Đổi phủ Phụng Thiên, Bắc Thành làm phủ Hoài Đức, huyện Quảng Đức làm huyện Vĩnh Thuận.

Tháng 8 nhuần [23/9-21/10/1805], sai Gia Định hàng năm mua 100 cân hải sâm ở Phú Quốc để nộp.

Ngày mồng 1 tháng 9 [22/10/1805], kẻ cướp giết Lê Quýnh và con là Tốt. Bấy giờ ở xã Bình Ngô [huyện Thuận Thành, Bắc Ninh] có tướng cướp tên là Bi, tự xưng là Bắc sứ súy, thường ẩn hiện cướp bóc. Bi đốt phá làng Ngâm Điền [huyện Gia Bình, Bắc Ninh], lấy được nhiều gia súc sản vật; Quýnh đem gia đồng đón đường chặn đánh. Bi căm giận, đêm ấy đem quân vào nhà Lê Quýnh đốt phá, đâm Quýnh vài chục vết thương, 15 ngày sau thì Quýnh chết. Con Quýnh là Trắc và Tốt định báo thù cho cha, lẻn ra đi, thường đem binh khí tùy thân; Bi đặt mai phục, đâm chết Tốt tại cánh đồng. Quận công Thành sai quan đến viếng, cho tiền và gạo để làm tang lễ.

Bầy tôi xin lập Thái tử, Vua muốn hoãn để rèn luyện thêm, bèn dụ rằng :

“Ta từ thuở nhỏ, gặp vận nhà không may, từng trải mọi gian hiểm mới có ngày nay, khó nhọc mà được, mới phải nghĩ truyền để lâu dài. Thái tử là ngôi vua sau này của nước, chính thống là ở đó. Nay hoàng tử hoàng tôn hãy còn nhỏ, trẫm đương ủy cho thầy dạy, rèn đúc thành tài đức rồi sau chọn kẻ nào hiền mới lập, thế cũng chưa muộn”.

Tháng 10 [21/11-20/12/1805] chuẩn cho ruộng đất tam bảo tức ruộng chùa tự Quảng Bình trở vào Nam đến Phú Yên do nhà nước thu thuế; mức thuế như ruộng công, có ba bậc: nhất, nhì, ba.

Cho Mạc Tử Thiêm làm Khâm sai chưởng cơ, vẫn lãnh Trấn thủ đất Hà Tiên.

Lưu trấn Gia Định tâu:

 “Gần đây giặc biển Chà Và [Java] không gây lo cho dân ở Côn Lôn nữa, cho nên ngựa công chăn nuôi ở đấy sinh sản ngày nhiều”.

 Vua sai chọn ngựa đã rèn tập đưa về Kinh.

Tháng 11 [21/12/1805-19/1/1806], miễn dao dịch cho thợ rừng Quảng Đức [Thừa Thiên] và Quảng Trị; mỗi năm nộp thuế bằng gỗ, hạng tráng nộp 2 cây mỗi cây dài 10 thước dầy 8 tấc làm mức, hạng lão tật nộp một nửa.

Tháng chạp [20/1-17/2/1806] Quốc trưởng nước Vạn Tượng [Viêng Chăn] là Chiêu A Nỗ sai sứ đến cống voi đực 2 con, sừng tê 2 tòa, nhục quế 800 cân. Sứ giả đến Cam Lộ [Quảng Trị], dịch thư như sau :

“Xưa ở đời liệt thánh, nước họ 3 năm một lần cống, đời đời xưng phiên thần. Từ khi giặc Tây Sơn tàn ngược, dân không sống nổi, mới phải theo nước Xiêm, lại bị người Xiêm làm khổ. Nay uy vũ nhà vua nổi dấy, Man Di đều quy phục cả, xin theo lệ cũ, tiến cống như xưa.”

Khi sứ giả đến, cho yết kiến, hỏi về chính sự phong tục nước họ, rồi khoản đãi rất hậu, hơn một tháng, sứ giả xin về nước.

Lại ban chiếu dụ rằng :

“Quốc trưởng Chiêu Ấn trước nước ngươi là bề tôi cũ của trẫm vậy. Trẫm đối với nước ngươi, chỉ nghĩ đến vỗ về yêu mến. Ngươi nên kính giữ chức phận, giữ yên lấy dân, cho xứng ý trẫm”.

Sai Lễ bộ bàn định lệ cống cho Vạn Tượng, bắt đầu từ năm nay ba năm một lần cống, lấy các năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất làm kỳ cống, tháng 12 thì đến kinh cho kịp ngày chầu mừng tết Nguyên Đán. Đồ cống là : voi đực 2 con, sừng tê 2 tòa, ngà voi 2 chiếc, vỏ quế 5 cân. Sứ bộ:  Chánh sứ Phó sứ đều 1 người, Tù trưởng 3 người, Thông ngôn 2 người, người đi theo 30 người. Đường sứ do trạm Nghệ An dẫn đi, không đi theo đường Cam Lộ.

Tháng giêng năm Gia Long thứ 5 [18/2-19/3/1806], chọn Nguyễn Du tác giả Truyện Kiều làm Đông các học sĩ, Lê Lương Thận làm Hàn lâm viện chế cáo, Nguyễn Hữu Kiều sung Cống sĩ viện, Nguyễn Danh Dương làm Đốc học Nghệ An.

Trước đây dưới thời Lê Cảnh Hưng,  Hoàng Công Toản thua trận, chạy sang nhà Thanh xin tá túc [1769] rồi nạp đất cho nhà Thanh. Triều đình các đời Lê, Tây Sơn nhiều lần gửi thư đòi, nhưng chưa được phía Thanh đáp ứng. Tình trạng kéo dài đến năm nay, viên Trấn mục Hưng Hóa đích thân gửi thư cho Tổng đốc Vân Quí, xin hoàn trả lại đất. Sự việc được tâu lên, Vua Gia Khánh cực lực phản đối, bèn ra lệnh Quân cơ đại thần duyệt bản thảo Tổng đốc Vân Quí định gửi cho Việt Nam  rồi sai viên Tổng đốc chép lại để gửi:

“Ngày 8 tháng giêng năm Gia Khánh thứ 11 [25/2/1806]. Dụ các Quân cơ đại thần:

Ðất Lục Mãnh thuộc phủ Lâm An đã được sáp nhập vào bản đồ từ lâu, trước đây Lê Duy Kỳ, Nguyễn Quang Bình hai lần khẩn khoản xin hoạch định lại địa giới, đều bị bác. Nay viên Trấn mục Hưng Hóa thuộc xứ này lại đệ văn thư, muốn được đất này phụ vào ngoại Di, thực thuộc hành động sai lầm vô tri. Bọn Bá Lân [Tổng đốc Vân Quí] tiếp được lời bẩm báo này, bèn một mặt thông sức cho các trấn, đạo, coi sóc phủ ngự Lục mãnh một cách ỗn thỏa, nghiêm lệnh tăng cường phòng thủ biên giới, lại ra lệnh các viên coi trại làm văn thư phúc đáp cho Trấn mục Việt Nam; một mặt soạn bản thảo văn thư thông báo cho Quốc vương Việt Nam, rồi dâng trình lên duyệt; việc làm đều đúng.

Nguyễn Phúc Ánh từ khi lấy được nước đến nay, trong lòng cung thuận, vị tất dám mạo muội như vậy. Việc này xét ra do viên Trấn mục làm, đáng giao cho viên Quốc vương nghiêm cách trừng biện. Ðã ra lệnh cho Quân cơ căn cứ vào bản thảo, bổ sung thêm rồi phát hành; viên Tổng đốc sau khi nhận được, chép lại theo thể thức, rồi theo đường Quảng Tây gửi cho nước này; vẫn ra lệnh cho các trấn, đạo, phàm các đất tiếp giáp xứ này phải phòng thủ nghiêm mật, cùng nghiêm dụ các trại tại Lục Mãnh không được cho người Di Việt Nam nhập cảnh. Ðợi sau khi nước này tiếp nhận được văn thư thông báo, phúc đáp như thế nào, hãy theo đường dịch trạm tâu lên..…” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 156, trang 9)

Mấy tháng sau vào tháng 5 [17/6-15/7/1806], thư của Tổng đốc Vân Quý nước Thanh gửi đến nước ta, nội dung rằng :

“Sáu trại mãnh, Mãnh Lại, Mãnh Thích, Mãnh Đinh, Mãnh Thoa, Mãnh Bạng, Mãnh Lộng đều thuộc huyện Kiến Thủy nước Thanh, khoảng năm Khang Hy đã vào đồ bản, kể hơn trăm năm, yên ổn không việc gì. Nay đầu mục ở trấn Hưng Hóa lại dụ dỗ họ về, thực rất lạ”.

Sau thư kê rõ quản hạt của các mãnh “Mãnh Thoa quản hạt 15 trại, Mãnh Thích, Mãnh Đinh đều quản hạt 8 trại ; Mãnh Lại, Mãnh Bạng đều quản hạt 5 trại, Mãnh Lộng quản hạt 7 trại”, xin tra xét để xử trí.

 Bắc Thành cho chạy trạm dâng thư ấy lên; Vua cho rằng công việc biên cương là quan trọng, hạ chiếu cho quan Bắc Thành thần tra rõ địa giới Hưng Hóa và sự tích sáu mãnh dâng lên.

Tổng trấn Nguyễn Văn Thành tâu rằng:

“Đã hỏi Châu trưởng ở Hưng Hóa là Đèo Quốc Ngọc châu Chiêu Tấn, Đèo Chính Ngọc Lai Châu; họ đều nói Mãnh Thoa là Mường Thu của châu Chiêu Tấn, Mãnh Lợi là Mường Thích của Lai Châu, hai mường này ở hẻo lánh nơi biên giới, lẫn lộn với dân huyện Kiến Thủy nước Thanh. Vả lại hai động Phong Thu, Bình Lư thuộc châu Chiêu Tấn và động Hoài Lai thuộc Lai Châu đều bị bọn quan lại nhà Thanh ở biên giới ức hiếp thu thuế bạc (ba động Phong Thu, Bình Lư, Hoài Lai bị huyện quan nước Thanh mỗi năm thu thuế bạc mỗi động 220 lạng). Nay nước Thanh lại đem hai mãnh ấy kể là dân của họ thì đất hai châu không còn được mấy.…

Nay Chiêu Tấn và Lai Châu chính thuộc sổ Hưng Hóa mà người Thanh lại đem dân các mường động hai châu chép lẫn làm các trại mãnh, chẳng qua đó là bọn quan lại ở biên giới thấy đất đai và nhân dân ấy có lợi nên lập riêng xưng hiệu, mưu toan bá chiếm, mà Tổng đốc Vân Quý thì cứ một mực nghe theo. Xét lời lẽ trong thư của Tổng đốc Vân Quý gởi đến đều là mơ hồ không căn cứ. Nay xin trước viết thư trả lời cho Tổng đốc Vân Quý, tách bạch rõ ràng cương giới của hai châu yêu cầu sai người sang hội đồng chia vạch lại, để xem ý họ ra sao, rồi sau lại sẽ nói đến chuyện cũ về cương giới sáu châu. Như thế thì Tổng đốc Vân Quý hẳn là lo ta hoặc có sinh việc ở biên giới, không thể không trù liệu, dân hai châu do đó mà cũng có thể khỏi phải thuế má nặng nề.”

Tờ tâu vào, vua cho rằng nước đương lúc bắt đầu khai sáng, chưa rỗi mà liệu công việc biên cương; việc để đấy không trả lời.

Ngày mồng 6 tháng 2 [25/3/1806] bắt đầu dựng đàn Nam giao tại xã Dương Xuân về phía nam Kinh thành. Đàn chia làm ba tầng: tầng thứ nhất đàn tròn, cao 6 thước 8 tấc, chu vi 30 trượng 3 thước 5 tấc ; tầng thứ hai đàn vuông ; cao 2 thước 5 tấc, mỗi chiều 19 trượng 5 thước 7 tấc ; tầng thứ ba đàn vuông, cao 1 thước 9 tấc, mỗi bề 37 trượng 5 thước ; chung quanh ba tầng đều có lan can.

Giặc biển Tề Ngôi họp 30 chiếc thuyền vào đất Hoa Phong [huyện Cát Hải, Hải Phòng]  cướp phá đồn Phượng Hoàng; quan Bắc Thành sai Phó tướng tiền quân Trương Tấn Bửu đem quân đánh đuổi.

Đắp 12 đoạn đê mới ở Bắc Thành. Một đoạn ở xã Nhật Chiêu huyện Bạch Hạc, Sơn Tây, dài hơn 766 trượng [1 trượng=4 mét]; một đoạn ở xã Nại Tử Châu huyện Yên Lạc [Vĩnh Phúc], dài hơn 273 trượng; một đoạn ở xã Bộ Đầu huyện Thượng Phúc [huyện Thường Tín, Hà Tây], dài hơn 97 trượng; một đoạn ở xã Cao Xá huyện Kim Động [Hưng Yên], dài hơn 138 trượng; một đoạn ở xã Cao Đà huyện Nam Xang [huyện Lý Nhân, Hà Nam], dài 260 trượng; một đoạn ở xã Bài Nhiễm huyện Duy Tiên [Hà Nam], dài hơn 167 trượng; một đoạn ở hai xã Bạch Sam [huyện Duy Tiên, Hà Nam], dài hơn 98 trượng; một đoạn ở xã Hòa Khê [huyện Duy Tiên, Hà Nam] dài 56 trượng; một đoạn ở xã Đường Ấm [huyện Duy Tiên, Hà Nam], dài hơn 133 trượng; một đoạn ở xã Bất Đoạn huyện Kim Bảng [Hà Nam], dài hơn 49 trượng; một đoạn ở xã Hồi Trung, huyện Kim Bảng [Hà Nam] dài hơn 50 trượng; một đoạn ở xã Hạ Cơ huyện Đại An [huyện Nghĩa Hưng, Nam Định], dài hơn 279 trượng). Sai quan Bắc Thành thần thuê dân làm việc, chi hơn 95.200 quan tiền.

Ngày mồng 9 tháng 3 [27/4/1806], bắt đầu dựng đàn Xã Tắc ở bên phải Hoàng Thành. Đàn làm hai tầng; tầng thứ nhất cao 2 thước, hình vuông mỗi chiều 15 trượng ; tầng thứ 2 cao 1 thước 5 tấc, vuông mỗi chiều 29 trượng. Chu vi hai tầng đều có lan can, ngoài trồng cây, xây tường chung quanh.

Định ngạch binh cho các quân thủy bộ: Các vệ Thị trung, mỗi vệ 600 người, có một Vệ úy và một Phó vệ úy chỉ huy ; mỗi vệ chia làm 5 đội, mỗi đội 120 người, có một Cai đội và một Phó đội ; đội chia 8 thập, mỗi thập 15 người.  Các cơ ở Thủy quân, mỗi cơ 600 người, có một Quản cơ và một Phó quản cơ chỉ huy ; mỗi cơ chia làm 10 đội, mỗi đội 60 người, có một cai đội ; mỗi đội chia làm 4 thập, mỗi thập 15 người, có một Suất thập.

Thổ hào châu Vân Đồn [Quảng Ninh] là bọn Nguyễn Đình Bá và Phạm Đình Quế bắt được bọn giặc Tề Ngôi và thuyền ghe khí giới, quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Cho  Đình Bá, Văn Quế làm Đội trưởng, thưởng tiền 300 quan. Những giặc Thanh bắt được sai đưa trả về Trung Quốc; người Việt bị giặc bắt phải theo, đều tha hết.

Hạ lệnh cho Gia Định, phàm thuyền nước Thanh và thuyền Tây Dương đến buôn, ngày trở về thì chiếu theo số người trong thuyền mà cấp cho mỗi người 100 cân gạo, thu tiền giá là 3 quan; lệnh này dùng làm thông lệ.

Tháng 4 [18/5-16/6/1806] Tôn Thất Thăng làm sổ kê các hệ Tôn Thất đem dâng. Vua hạ lệnh trẻ em Tôn Thất từ 8 tuổi đến 12 tuổi; kẻ nào có chí học thì cấp lương tháng cho vào nhà Quốc học để học tập.

Định mũ áo phẩm phục các quan văn võ từ nhất phẩm đến cửu phẩm.

Cai cơ quản lý Đồ gia [cơ quan chế tạo đồ vật] là Hoàng Ngọc Văn và Tri bạ là Nguyễn Văn Nghĩa có tội bị xử tử. Lúc mới thu phục Kinh thành, lấy được ấn vàng của Tây Sơn, nặng 260 lạng, cất ở nội khố. Cai hợp Đồ gia là Nguyễn Đăng Dược cùng với bọn Cai quan ty Thợ bạc là Lê Chiêu Thuật, Lê Sở Hành, và Thủ hợp Nguyễn Khoa Nguyên tham vàng ấy, bèn lấy trộm 260 lạng bạc của kho, đúc ấn khác để thay vào. Việc phát giác, bọn Nguyễn Đăng Dược đều bị giết, tịch thu gia sản. Ngọc Văn và Văn Nghĩa biết kẻ làm gian mà không tố cáo cũng bị tội chết.

Quan Bắc Thành tâu giặc biển Tề Ngôi là Lâm Tổng Huỳnh sai người đến trần tình, xin gọi bè đảng về hàng. Chiếu bảo rằng :

“Giặc kia đã quy thuận, triều đình cũng bao dung, mà phương pháp khu xử thì cốt ở tỏ lòng thành tín. Nay nên tuyên dụ rằng chúng quả đã đổi lòng theo giáo hóa mà bỏ ác làm lành thì nên nộp hết thuyền ghe khí giới cho nhà nước. Còn của cải ở trong thuyền thì đều cho hết và cấp cho lương thực, chọn đất cho ở yên để nó chiêu dụ bè đảng về hàng; nếu không muốn thế thì cho tự ý đi”.

Ngày 12 tháng 5 [28/6/1806] Vua lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa. Trước đó vào ngày mồng 7 [23/6/1806] làm lễ kính cáo trời đất; ngày mồng 9 [25/6/1806] kính cáo các miếu. Đúng ngày 12 tháng 5 [28/6/1806], đặt nghi vệ đại triều ở điện Thái Hòa, bầy tôi dâng sách vàng lên.

Vua lên ngôi hoàng đế, xuống chiếu bố cáo trong ngoài; lời có đoạn:

“… Quần thần cố xin trẫm lên ngôi Hoàng đế để rõ mối giềng. Vậy để hợp lời xin của mọi người, định đến ngày mồng 7 tháng này kính cáo Trời Đất, ngày 9 kính cáo Tôn Miếu, ngày 12 nhận sách văn tôn ngôi Hoàng đế. Phàm có chế sách, ở đầu sẽ dùng những chữ “Thừa thiên hưng vận” [Vâng mệnh trời mở vận nước], để mở rộng mối lớn của nước Việt ta. Trong ngoài gần xa đều cùng đổi mới. Đặc biệt ban xuống tám điều ân xá….”

Định triều nghi [nghi tiết buổi chầu], mỗi tháng lấy ngày mồng 1 và ngày rằm đặt đại triều ở điện Thái Hòa, quan từ lục phẩm trở lên mặc áo mũ đại triều vào lạy chầu. Những ngày mồng 5, 10, 20, 25 đặt thường triều ở điện Cần Chánh, quan từ tứ phẩm trở lên mặc áo mũ thường triều vào lạy chầu

Ngày mồng 8 tháng 6 [23/7/1806], truy tôn huy hiệu Hoàng đế, Hoàng hậu cho các Vương và Vương phi thời trước, như Nguyễn Kim làm Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế, vợ làm Tĩnh Hoàng hậu.

Về phía nhà Thanh lúc bấy giờ có bọn Nguyễn Như Quyền là bộ hạ cũ thuộc dòng họ xa của Nguyễn Quang Toản, vượt biển đến xin tá túc. Tổng đốc Lưỡng Quảng Ngô Hùng Quang chủ trương đem trả lại cho Việt Nam, cùng soạn văn thư thông báo cho Vua Gia Long biết; trước khi thi hành đem trình lên Vua Gia Khánh. Vị Vua này không nỡ để bọn Nguyễn Như Quyền bị xử tội nặng khi trở về nước, cho dùng thuyền đến bất cứ xứ nào để mưu sinh, nhưng không được lưu tại Trung Quốc, còn văn thư định gửi cũng đi không cần phải phát hành:

“Ngày 24 tháng 6 năm Gia Khánh thứ 11 [8/8/1806]. Dụ các Quân cơ đại thần:

Cứ tấu triệp của Ngô Hùng Quang xin xét về việc nạn Di,bọn Nguyễn Như Quyền, để giao cho Di Mục Giang Bình (3), lệnh chuyển giải đến Quốc vương Việt Nam Nguyễn Phúc Ánh tra xét liệu biện; lại soạn bản cảo thông báo [cho viên Quốc vương này] rồi trình lên.

 Bọn nạn Di Nguyễn Như Quyền trốn tránh tại hải đảo, nhân Việt Nam phái binh sưu tra, tình nguyện đầu thuận nội địa, đó là lời khai một bên. Nhưng Nguyễn Như Quyền chỉ là bộ hạ dòng họ xa xôi sót lại của Nguyễn Quang Toản, không thuộc chi phái thân cận; còn Nguyễn Phúc Ánh từ khi được thụ phong đến nay, đối với Thiên triều hết sức cung thuận. Nếu làm như viên Tổng đốc tâu, đem Nguyễn Như Quyền giải đến cho nước này tra biện, thì ra Thiên triều vì bọn chúng mà bắt những người trốn tránh, như vậy trái với thể chế thống ngự nước Phiên bên ngoài. Hiện tại bọn nạn Di đào thoán vào nội địa, quyết không thể thu nhận, nhưng cũng không cần phải giải tống. Bọn Ngô Hùng Quang đáng hiểu dụ nạn Di rằng trước đây cựu thần họ Lê bị an sáp tại nội địa, đều nhận được chiếu chỉ đưa về nước này an sáp, lúc này không tiện cho các ngươi lưu cư tại nội địa. Các ngươi chỉ là nạn Di trốn tránh, trước đây Thiên triều đã đưa bọn Cống sứ Lê Duy Kính trở về, giao cho Nguyễn Phúc Ánh quản lý; nguyên vào lúc đó Nguyễn Quang Toản phụ ơn bội phản, chứa chấp giặc phỉ nội địa, nên đại Hoàng đế giận dữ đem bọn Cống sứ đuổi về. Nay bọn nạn Di các ngươi không đáng phải xử lý như vậy, hiện đã tâu rõ để được đại Hoàng đế thi ân, cho dùng thuyền của các ngươi đến bất cứ xứ nào để mưu sinh, nhưng quyết không được lưu tại nội địa. Nếu như dám ngầm ẩn trốn tại nội địa gây chuyện, lúc bấy giờ tra bắt được, sẽ đem các ngươi giải tống về nước cũ xử lý, quyết không khoan dung. Dụ một cách minh bạch như vậy, hãy làm cho đúng; còn bản cảo định gửi đi không cần phải phát hành. Ðem dụ này truyền lệnh để hay biết .” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 163, trang 12-13)

Ngày mồng 3 tháng 7 [16/8/1806] vua đem bầy tôi đến cung Trường Thọ, bưng sách vàng ấn vàng tôn Vương thái hậu làm Hoàng thái hậu.

Ngày 14 [27/8/1806], sách lập Vương hậu Tống thị Lan làm Hoàng hậu. Hậu sinh ra Hoàng tử Cảnh, Hoàng tử sinh ra Ưng hòa công Mỹ Đường và Thái bình công Mỹ Thùy. Đệ nhị cung là Trần Thị Đang sinh Phúc Đởm [Minh Mệnh], Kiến an vương Phúc Đài, Thiệu Hóa quận vương Phúc Chấn. Đệ tam cung là Lê Thị Ngọc Bình, là con gái út của Vua Lê Hiển Tông, em gái Ngọc Hân Công chúa; sinh  Quảng uy công Nguyễn Phúc Quân, Thường tín công Nguyễn Phúc Cự.

Tướng giặc ở Thái Nguyên là bọn Dương Đình Cúc họp đảng mưu nổi loạn. Quan trấn phát binh, cùng với bọn phiên mục Đinh Công Oai, Ma Thế Cố, Ma Thế Trạch chia nhau đi đánh, bắt được bọn đầu mục giặc hơn mười người. Sự việc tâu lên; cho Đinh Công Oai làm Tuyên úy sứ, thưởng mũ áo cho bọn Ma Thế Cố, Ma Thế Trạch và thưởng cho biền binh 2.000 quan tiền.

Bắc Thành nước lớn, đê vỡ tại xã Công Luận huyện Văn Giang [Hưng Yên]; xã Đạm Xuyên huyện Yên Lãng [Vĩnh Phúc]; xã Thần Quy, huyện Phú Xuyên [Hà Tây]; hai xã Lục Tràng, Châu Cầu, huyện Kim Bảng [Hà Nam]; ba xã Nga Sơn, Hồi Trung, Thụy Lôi huyện Nam Xang [huyện Lý Nhân, Hà Nam]; hai xã Quan Khê, Lão Khê huyện Hưng Nhân [huyện Hưng Hà, Thái Bình], lúa ruộng ngập mất, nhiều nhà dân bị trôi; sai quan tại Bắc thành khám thực tâu lên.

Tháng 8 [12/9-11/10/1806], nước Xiêm La sai sứ sang hiến ba chiếc chiến thuyền, quan Lưu trấn  Gia Định đem việc tâu lên. Sai đưa sứ giả về Kinh chiêm bái, ban tặng hậu, rồi cho về.

Ban ấn thông hành cho nước Chân Lạp, khắc chữ triện “Ngự tứ thông hành chi ấn”. Phàm thuyền buôn của dân Chân Lạp và người Thanh do cửa biển Ba Xắc [Sóc Trăng] ra vào buôn bán, tấn thủ Trấn Di [huyện Long Phú, Sóc Trăng]  xét xem bài thuyền có đóng dấu ấn làm tin thì cho đi lại, miễn thuế.

Tháng 9 [12/10-9/11/1806], tướng giặc ở Bình Định là Nguyễn Văn Khống họp đảng ở Tượng Sơn, mưu đánh trấn thành. Người ấp Định Hương là Văn Công An đến trấn tố cáo tình trạng; quan trấn điều quân vây đánh, bắt được đồ đảng rất nhiều. Khống trốn chạy, sau bị tượng quân là Nguyễn Văn Cẩn và thổ dân là Trương Văn Nhuận bắt được, đem chém. Thưởng cho Văn Cẩn 200 quan tiền, Văn Nhuận 100 quan tiền, miễn thuế dịch. Người tố cáo là Văn Công An tuổi già, miễn thuế thân và dao dịch trọn đời cho con là Văn Công Phú.

Tháng 10 [10/11-9/12/1806], tướng giặc ở Lạng Sơn là Mạc Xán Vi, cháu chín đời Mạc Nguyên Thanh (4) nổi lên ở ải Du Thôn; dùng người Thanh là Tăng Khôi Nguyên làm  Hộ giá, tự xưng niên hiệu là Cảnh Xuân. Quan trấn sai bọn Cai cơ Nguyễn Văn Khương, Nguyễn Văn Huân đem quân đánh, bắt được Xán Vi, Khôi Nguyên và bè đảng hơn mười người. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên; thưởng áo mũ cho bọn Văn Khương và cho biền binh 600 quan tiền; Xán Vi, Khôi Nguyên đều bị xử tử. Đồ đảng là Mộng Bạch Bành, Lương Pháp Quyền, Mã Nho Minh đều là người Thanh, bị bắt ép phải theo, sai trả về châu Bằng Tường, Trung Quốc.

Tháng 11 [10/12/1806-8/1/1807], nước Chân Lạp sai sứ đến cống. Thuyền đánh cá của người Thanh gặp bão dạt vào vùng biển Quảng Nam, Bình Định; cấp cho tiền gạo rồi bảo về.

Sách Nhất thống dư địa chí làm xong. Trước đó Vua sai Thượng thư bộ Binh Lê Quang Định kê cứu sách vở bản đồ cả nước, các thành dinh trấn đạo từ Kinh sư vào Nam đến Hà Tiên; kinh sư ra Bắc đến Lạng Sơn. phàm sông núi hiểm hay dễ, đường đi xa hay gần, giới hạn bờ cõi thế nào, sông biển nguồn lạch, cho đến cầu cống chợ điếm, phong tục thổ sản, hết thảy đều ghi chép, soạn thành 10 quyển. Sách làm xong, Quang Định dâng lên.

Ngày mồng 1 tháng chạp [9/1/1807] vua ngự điện Thái Hòa. Bộ Lễ dẫn Khâm thiên giám đem lịch Vạn Toàn năm Đinh mão tiến lên để ban cho cả nước. Trước kia lấy ngày phong ấn 25 tháng chạp để ban lịch; nay chuẩn định ngày mồng 1 tháng 12, làm lệ vĩnh viễn.

 

 

 

Chú thích:

1.Thụy hiệu: Tên hiệu sau khi mất.

2.Tự điền: Ruộng đất dùng hoa lợi để cúng tế.

3.Giang Bình: Vùng đất vào thời Gia Long thuộc trấn Yên Quảng [Quảng Ninh] Việt Nam, sau hòa ước Pháp Thanh thuộc châu Khâm, Trung Quốc.

4.Mạc Nguyên Thanh: Được nhà Thanh phong chức Đô thống sứ An Nam vào năm 1661, cho trấn giữ đất Cao Bằng.

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này