
Nguyễn Đức Lực
Răng trắng bị chê là răng chó”, vậy các cụ ngày xưa mình đánh răng, vệ sinh, tắm rửa kiểu gì?
Lật lại sử cũ, sách phong tục và ghi chép của người nước ngoài từng sang nước mình thì thấy chuyện cái miệng được ghi rất kỹ, chuyện tắm thì thưa thớt, chuyện đi vệ sinh gần như không có. Người xưa giữ sạch là để lịch sự với người ngồi cùng chiếu, để giữ phép trước thần thánh, còn thứ gì người khác không nhìn thấy thì sách vở cũng chẳng buồn ghi.
I – RĂNG TRẮNG LÀ RĂNG CHÓ
Không có kem đánh răng thì người ta xỉa răng. Samuel Baron, con lai Hà Lan Việt sinh ở Kẻ Chợ, viết về Đàng Ngoài những năm 1680 rằng người ở đây không có thói quen rửa tay trước khi ăn, ăn xong mới rửa cả tay lẫn miệng, xỉa răng cho sạch rồi nhai trầu [1].
Theo Baron, trầu làm dịu hơi thở, làm chắc răng, người Đàng Ngoài sẵn sàng nhịn 1/3 bữa ăn để có tiền mua trầu [1]. Lý Tiên Căn, quan nhà Thanh đi sứ sang Thăng Long, viết người Giao Chỉ “lúc nào cũng ăn trầu, chỉ trừ lúc ngủ”, răng nhuộm đen bóng, hễ thấy ai răng trắng thì chê cười [2].
Năm 1691, vua Triều Tiên hỏi về phong tục An Nam, triều thần tâu lại rằng ở đó sang hèn gì cũng nhai trầu cau luôn miệng, “đối đáp với khách cũng không ngừng, răng đều đen như sơn” [3]. Nghĩa là ngồi tiếp khách mà miệng vẫn nhóp nhép, thế mà người ta vẫn khen họ biết lễ nghĩa.
Khi kể tội giặc Minh, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết chúng đóng quân hơn 20 năm, “thay đổi phong tục nước ta theo tóc dài, răng trắng, biến người nước ta trở thành người Ngô” [4]. Cái răng trắng được kể ngay trong câu kể tội cướp nước.
Ngoài dân gian, người để răng trắng bị coi là bất chính, câu cửa miệng là “răng trắng như răng chó”, “răng trắng như răng Ngô” [5]. Đến thời Tô Hoài còn nhỏ, người ta vẫn chế giễu răng trắng là răng ngựa, răng chó, răng ma, răng me Tây, răng Khách [6].
Năm 1922 Phạm Quỳnh sang Pháp, nghe người Tây bảo miệng đàn bà An Nam răng đen “tối om như cái hố sâu”. Ông ghi câu ấy vào nhật ký rồi viết người mình thì ngược lại, cô nào nhuộm răng khéo, “đen lánh như hạt huyền” thì có duyên thêm, còn ông thì “không thể trông được một người đàn bà An Nam để răng trắng”, vì “nếu răng trắng thời hỏng toẹt” [7].
Phan Kế Bính ghi con trai con gái chừng 10 tuổi, thay hết răng sữa là nhuộm, đàn ông nhuộm 1, 2 lần thì thôi, đàn bà mỗi năm nhuộm lại 1 lần, có người nhuộm tới ngoài 30 tuổi. Có người bảo nhuộm để khỏi sâu răng, ông bảo “chán người nhuộm răng mà vẫn sâu răng”, muốn khỏi sâu thì “mỗi bữa ăn xong, phải xỉa cho sạch, hoặc chải cho kỹ” [8].
Băng Sơn còn nhớ con gái Hà Nội ngày trước sau bữa cơm xỉa răng cẩn thận, “đánh bằng cau khô, đánh một cách kín đáo không cho ai thấy” [9]. Đến việc đánh răng cũng phải làm lúc không ai nhìn.
Nhuộm răng thì khổ, thuốc nồng cay làm sưng môi sưng lưỡi, người nhuộm phải ăn cháo, ăn bún gần nửa tháng [5]. Thuốc làm bằng cánh kiến, theo Nhất Thanh thì mùa rét chợ nào ngoài Bắc cũng bán, còn “mùa nóng nực không nhuộm được” [10].
Đồ dùng cho cái miệng cũng chia theo sang hèn như áo mũ. Lê Thánh Tông có lần cấm quan lại và dân chúng dùng ngọc, thủy tinh để làm ống nhổ [4]. Nhà khá giả ở Kẻ Chợ thì sắm hộp trầu sơn then thếp vàng ở Hàng Hòm, ống vôi bạc chạm ở Hàng Bạc, ống nhổ đồng thau ở Hàng Đồng [11], bày ra trông oách lắm.
Lê Quý Đôn vào Thuận Hóa thì chê lính chúa Nguyễn xa xỉ, ngồi chiếu mây, uống chén sứ bịt bạc và “nhổ ống nhổ thau” [12]. Sứ nhà Thanh sang, triều đình cấp cho công quán nào chậu, nào bát đĩa, nồi đồng, rổ rá, trong đó có “Ống nhổ trắng 1 cái” [13] (danh sách ghi kỹ tới từng cái rổ, cái rá).
Ngày bình văn ở nhà Giám (tức Quốc Tử Giám), chiếu giữa và chiếu phía đông thì mỗi vị quan được bày riêng 1 bộ hộp trầu, ống súc, chiếu phía tây thì mỗi chiếu 2 hộp trầu, 2 ống súc dùng chung [14]. Ống nhổ thời ấy cũng chia hạng thương gia, hạng phổ thông như vé máy bay bây giờ.
Ở đám hương ẩm trong làng, Phan Kế Bính viết “nếu kém một khẩu trầu có khi sinh sự tranh kiện nhau” [8].
Gustave Dumoutier, nhà dân tộc học Pháp sống ở Bắc Kỳ cuối thế kỷ 19, tả bàn thờ người mới mất, trước hồn bạch bày nến, trà, hoa, trầu “và một ống nhổ nhỏ” [15]. Vương Hồng Sển tả 1 ngôi mộ cổ ở Sài Gòn bị đào lên cải táng, người nằm trong đó chôn đã gần 150 năm, răng vẫn còn đen, bên cạnh có bút lông, “cây xỉa răng bạc, cây móc tai dát vàng và bao đựng thuốc xỉa” [16].
Cái miệng sạch là để tiếp người, nên khi muốn tỏ ra đau khổ thì người ta bỏ nó trước. Cha mẹ mới mất, người con phải “mặt không dám rửa, ăn cơm không dám xỉa răng”, mặc đồ xô gai “dơ dáy bẩn thỉu” [8].
II – TẮM LÀ CHUYỆN CỦA LỄ
Năm 1294, khi ghi việc Trần Quang Khải mất, Toàn Thư viết ông với Trần Quốc Tuấn vốn không ưa nhau. Ông Quang Khải “vốn sợ tắm gội”, ông Quốc Tuấn thì thích tắm nước thơm, 1 hôm đùa: “mình mẩy cáo bẩn, xin tắm giùm”, rồi cởi áo Quang Khải ra mà tắm cho ông. Từ đó 2 ông càng thêm thân [4]. (Btw, ông “sợ tắm gội” này chính là tác giả câu thơ “Đoạt sáo Chương Dương độ” trong SGK.)
Còn lại, hễ sách vở nhắc chuyện tắm của bậc trên là gắn với lễ. Ngày cuối năm Canh Tý 1660, giáo sĩ Tissanier thấy chúa Trịnh Tạc kéo cả đoàn tùy tùng ra khỏi phủ đi tắm sông, sáng hôm sau mới ngồi nhận lễ mừng năm mới [11]. Giáo sĩ người Ý Marini, ở Bắc Kỳ 14 năm, thấy vua tắm nước lạnh hôm trước Tết rồi mới mặc hoàng bào mới [17]. Chiều 30 Tết bây giờ nhiều nhà vẫn tắm nước lá mùi già, tức là vua chúa ngày xưa cũng tắm tất niên y như mình.
Baron thấy vua Lê tắm rửa, thay lễ phục mới rồi mới làm lễ Tịch Điền [1]. Năm 1839, Minh Mạng cho các quan được nghỉ chầu những ngày Tết rơi vào ngày rằm để “nghỉ ngơi tắm gội” [18].
Quan được cử đi tế thì đến ngày trai giới “trước hết phải tắm gội thay áo”, sau đó không uống rượu, không ngủ với vợ cả vợ lẽ [18]. Ở làng, theo Toan Ánh, những người được cắt cử khiêng kiệu, cầm cờ trong đám rước thần “phải trai khiết từ hôm trước và phải tắm rửa sạch sẽ” [19].
Dân thường tắm ở ao, ở sông. Marini tả Kẻ Chợ, đào sâu 2, 3 thước là gặp nước, nên nhà nào cũng đào 1 cái chuôm hay cái ao nhỏ, có nước giặt quần áo, tắm rửa, tưới rau.Người nghèo trước khi vào nhà thì ra ao rửa chân, nhà không có ao thì đặt 1 be nước ở bậc cửa, giữ chân sạch tới lúc lên giường [17].
Lý Tiên Căn thấy người Giao Chỉ đi đất mà “chân không có bụi bẩn” thì đoán là “chừng bởi đất đều là cát sạch” [3]. Ông này đoán hơi bị liều, vì ở Đàng Trong, giáo sĩ Borri thấy trước phòng khách nhà nào cũng có 1 lu nước, khách vào rửa chân, cởi dép để ngay đó, “để không làm bẩn chiếu trải trên nền sàn nhà” [20].
Gần 300 năm sau Marini, nhà địa lý Pháp Pierre Gourou đi khắp châu thổ Bắc Kỳ vẫn thấy tấm ván bắc trên ao nhà vừa là chỗ giặt giũ, rửa bát, vo gạo, vừa là chỗ tắm của cả nhà [21]. Sáng ra, theo Toan Ánh, đàn bà nhà nông bước xuống giường thì “lau qua mặt mũi, súc miệng bằng hớp nước lạnh” rồi đi vo gạo thổi cơm cho chồng con ra đồng [19].
Năm 1884, bác sĩ quân y Pháp Hocquard đứng bên hồ Hoàn Kiếm lúc sáng sớm, viết “không người An Nam nào lại không rửa chân, rửa mặt và súc miệng mỗi sáng”. Ngược lên sông Lô, ông thấy đàn ông, đàn bà, trẻ con tắm chung 1 khúc sông “mà chẳng ai sợ hãi” [22].
Nhất Thanh ghi trường làng ngày trước không dạy vệ sinh, người ta học sạch qua mấy câu như “đói cho sạch rách cho thơm” [10]. Còn giếng làng thì giữ bằng thần. Theo ông, giếng lớn ở đồng bằng thường đắp bờ cao, người trong làng chỉ được bước xuống múc nước gánh về, “không được rửa ráy dù là rửa mặt, và cả đến vo gạo nữa”. Có giếng còn xây bệ thờ ngay trên bờ, lúc vắng vẻ cũng không ai dám làm trái, vì “có thần linh giám sát” [10].
Đến thời Pháp, làng Lại Đà ở Đông Anh viết hẳn vào hương ước, tức bản lệ làng cả làng phải theo: “cấm không được tắm rửa, giặt rũ ở giếng nước ăn của làng”, ai phạm thì phạt từ 1 hào tới 1 đồng [23].
Người xưa mấy ngày tắm 1 lần thì mình chưa thấy sách nào ghi ra con số. Lê Quý Đôn còn ghi lại 1 bài châm dưỡng sinh của cổ nhân, trong đó có câu “chải đầu nhiều, tắm rửa ít”, khen bài ấy “đáng ghi ở bên cạnh chỗ ngồi” [24]. Nhà bác học số 1 thời Lê mà lại khen câu khuyên người ta bớt tắm.
Sách chỉ ghi số lần gội đầu. Phan Kế Bính viết đàn ông để tóc dài thì “mỗi ngày một lần gội, hai ba lần chải”, trời nóng mà “chậm gội một hai ngày thì đầu đã hôi như tổ cú”, ai lười chải thì “chấy như giòi” [8]. Trọng Lang viết phóng sự Hà Nội Lầm Than, gặp 1 cô đầu kể có khi nửa tháng “chả có một trinh nào để mua chanh gội đầu” [25].
Đàn bà đẻ thì kiêng nước. Phan Kế Bính viết người mẹ “phải kiêng khem gió máy, phải nằm than”, đợi đầy cữ, con trai 7 ngày, con gái 9 ngày, “xông muối xoa nghệ rồi mới dám ra đến ngoài”. Người đến đỡ đẻ khi ấy ông gọi là bà tắm (tức bà mụ) [8].
Cái váy của đàn bà thì theo Gourou “trong mọi trường hợp” bị coi là nhơ bẩn, không được giặt dưới ao cạnh nhà mà phải đem ra hố hay ra ruộng ngập nước mà giặt [21]. Bẩn là thế, An Nam Phong Tục Sách của Đoàn Triển vẫn ghi 1 mẹo chữa bệnh: “mắt lên lẹo, lấy gấu váy đàn bà lau vào thì khỏi” [26].
Còn cung phi nhà Nguyễn, mùa hè vua muốn tắm sông cùng các bà thì quân lính che kín 1 khúc sông Hương trước Lương Tạ, dọn sạch bong, rải cát trắng, chặn không cho rác rêu trôi vào [27]. Ở Gia Định, theo Vương Hồng Sển, nhà tắm của vua cất trên bè tre ngay mặt sông, chỗ ấy gọi là Bến Ngự [16].
Lý Tiên Căn chê người Giao Chỉ “khi tắm, gội hay đi đại tiểu tiện, trai gái đều loã lồ… không kiêng tránh gì cả, dẫu đến nhà sang cũng vậy” [2]. Nhà sư Thích Đại Sán, người Quảng Đông được chúa Nguyễn Phúc Chu mời sang năm 1695, thì đứng bên con suối ở Cù Lao Chàm mà khen “Đàn ông đàn bà đến suối tắm rửa suốt ngày, không khi nào vắng” [28]. Năm 1833, sứ thần Mỹ Edmund Roberts neo tàu ở vịnh Vũng Lắm, Phú Yên suốt tháng Giêng, lại viết cả tháng “không thấy một người nào tắm, dù bãi biển ở đâu cũng có” [29].
Ai nói đúng? Đại Sán đứng ở suối nước ngọt giữa mùa thu, Roberts nhìn ra biển giữa mùa mưa rét. Người làng chài có tắm thì cũng tắm nước ngọt, ai lại ra biển mà tắm giữa tháng Giêng. Cũng chuyến ấy, sang tới Xiêm, Roberts lại khen người Xiêm tắm luôn [29], nên lời chê của ông chỉ đúng với 1 làng chài, vào đúng mùa ấy.
III – QUAN ĐANG CHẦU MÀ MÓT
Mọi người lướt mạng chắc từng đọc chuyện quan mót đi vệ sinh lúc chầu vua, đứng chờ từ 3 giờ sáng, quỳ suốt buổi, phải dùng bô. Đọc kỹ thì đó là chuyện triều Minh, triều Thanh dịch từ báo TQ, đặt tiêu đề “quan lại thời xưa” nên người đọc tưởng chuyện nước mình [29].
Sử Việt chỉ ghi phép tắc trên đường vào chầu. Lê Thánh Tông định lệnh quan vào chầu đến ngoài cửa Đại Hưng phải xuống kiệu, xuống ngựa, công hầu được 2 tiểu đồng theo hầu, nhất phẩm được 1, tới cầu Ngoạm Thiềm thì tiểu đồng phải dừng lại. Triều đình dựng Đãi Lậu Viện ngoài cửa Đại Hưng cho quan ngồi đợi giờ chầu [4].
Theo Marini, ai đi giày vào chầu là mắc trọng tội, đến thái tử vào chầu vua cha cũng phải bỏ giày, có quân hầu múc nước rửa chân cho sạch, trời nóng mấy cũng không ai được phe phẩy quạt trước mặt vua [17].
Luật nhà Nguyễn thì quan ở Kinh vô cớ bỏ chầu 1 ngày phạt 10 roi, cứ 3 ngày nặng thêm 1 bậc. Quan trực còn phải ngủ lại ở Tả Vu, Hữu Vu, có việc thì đêm khuya cũng không được về [18].
Năm 1842, Viên Ngoại Lang Bộ Lại là Tôn Thất Trấn đến phiên vào chầu, “vừa đến Tả Vu liền đi ra ngay”, sổ sách giao hết cho thư lại, đêm cũng không ở lại trực, bị giáng 2 cấp [18]. Hội Điển chỉ ghi ông bỏ đi, không ghi ông đi đâu.
Năm 1782, Lê Hữu Trác vào phủ chúa Trịnh chữa bệnh cho thế tử. Ở đó ông thấy đến quan Chính Đường cũng ở trong phủ chầu chực, “không giờ khắc nào trở về nhà”.
Quan coi thuốc muốn giữ ông ở lại nấu thuốc, ông muốn về nên “nói thác là có bệnh ở lá lách, ở đây mà đi ra ngoài chẳng tiện”. Quan ấy đáp ngay: “hiện có nơi đi giải ở cuối thành rất rộng rãi lại tịch mịch; đằng trước có một cái ao, cứ đến đó thì thật là tiện” [30]. Nhờ ông nói dối mà mình mới biết phủ chúa có chỗ đi giải (tức đi vệ sinh) riêng ở cuối thành, trước mặt có ao, sách không cho biết gì thêm.
Lê Quý Đôn có ghi 1 chuyện thời Cảnh Trị, khoảng năm 1663 tới 1671, lúc triều đình làm sổ hộ tịch để định thuế cho các xã. Có 1 viên thừa hành nổi tiếng nghiêm khắc, ai xin giảm thuế là quát mắng. Một hôm hắn ra nhà xí, thấy ngoài tường ném vào 1 cái cẳng bò khô, đầu cẳng bò buộc 1 hốt vàng tốt. Hắn nhặt lấy đút vào bọc rồi quay lại làm việc.
Lát sau 1 ông xã trưởng vào trình xã mình tiếng to mà nghèo, “không khác gì chân bò khô, chỉ có da bọc xương mà không thấy tí thịt nào cả”, nói đi nói lại 3 lần. Câu ví ấy ăn tiền thật, viên thừa hành cười, bảo đồng liêu “Người kia nói có lý đấy”, thế là xã ấy được theo lệ nhẹ [24].
Giữa buổi bổ thuế, viên thừa hành chỉ được ở 1 mình lúc ra nhà xí, nên người ta mới ném vàng qua tường nhà xí (giao hàng tận nơi, đúng chỗ không ai trông thấy).
Ao thì nhà nào cũng có, nhưng ở ngoài Bắc người ta không đi vệ sinh xuống ao. Ao là chỗ cả nhà tắm, giặt, rửa bát, vo gạo, còn phân người lại là của quý, không ai đổ phí.
Gourou viết “buổi sáng lũ trẻ đi hớt phân người vào những cái giành rồi chuyển ra ruộng một cách rất cẩn thận. Ở nhiều làng còn làm cầu tiêu để lấy phân”, lại thêm “Nhà nào cũng hứng nước tiểu để tưới cho những cây có giá trị cao”. Theo ông, mùi phân chở ra ruộng còn át cả mùi lúa chín, hoa cau, hoa bưởi. Phân chỉ xuống ao ở ao ương cá con, người ta cố ý rắc phân lợn, phân người cho cá ăn [21].
Thế nên người làng đi đồng là chính. Ca dao có câu “Thứ nhất thì đỗ thủ khoa, / Thứ hai vợ đẹp, thứ ba ỉa đồng” [31]. Đi đồng mà được xếp ngay sau đỗ thủ khoa với lấy vợ đẹp thì đủ biết cái sướng của nó. Nhà nào có chuồng tiêu, cầu tiêu thì đó là chỗ gom phân, nên lệ làng Lại Đà không cấm ai đi vệ sinh, chỉ cấm ẻ bậy, đổ rác ra đường và cấm dựng nhà xí sát đường đi, ai phạm cũng phạt từ 1 hào tới 1 đồng [23].
Còn ở vùng chiêm trũng Hà Nam, người ta lại ngồi trên cầu tre bắc qua mương, qua ao mà đại tiện, “nghe cái tõm, tõm” nên gọi là cầu tõm. Xuống miền Tây thì cầu bắc trên ao cá, dưới nuôi cá gì thì gọi tên cầu theo cá ấy, như “cầu cá tra” [32].
Ở Hà Nội, Hocquard thấy những bà già đeo gùi, cầm xẻng cán dài đi dọc phố nhặt rác, “xương xẩu và nhất là phân người đem bán giá cao cho nông dân các làng lân cận để bón vào ruộng” [22].
Hơn 50 năm sau, Gourou thấy làng Cổ Nhuế ở Hà Đông lo việc đổ thùng cho Hà Nội rồi bán phân đi khắp vùng quanh 15 cây số, đàn bà gánh 2 thúng “chất quý đó” đi bán [21].
Hồi Phạm Duy còn nhỏ, cái chồ (tức nhà xí) trong nhà ở Hà Nội “bé bằng cái hộp”, không có hầm phân, chỉ có thùng, vài ba ngày người của nhà thầu đến đổi thùng, nửa đêm gõ cửa ầm ầm. Lớn lên đi học, ông còn rủ bạn đi bộ ra gần hồ Thiền Quang “để hưởng cái thú… (xin lỗi) ỉa đồng”, cao hứng thì “dắt nhau đi đồng gần hồ Bẩy Mẫu nữa cơ!” [33]. Theo Tô Hoài, thời Tây cả Hà Nội không có nhà đái công cộng mà đái đường bị phạt 6 hào, nên trẻ con trong làng đi phố mót đái cứ vừa đi vừa đái ra quần, cu li kéo xe thì vừa chạy vừa đái, “chả là hình như không có lệ phạt người vừa đi vừa đái” [6].
Năm 1931, Nguyễn Trọng Phấn mới 20 tuổi, ngày đầu đi làm thông phán ở Sở Cađat Vinh (sở đo đạc địa chính thời Pháp) thì thấy có ai đại tiện 1 bãi bên đường vào Sở. Ông chủ Sở người Pháp bắt 1 ông thông phán làm ở đó đã lâu ra hót bằng tay, bảo “Cái giống An Nam chúng mày ăn ở bẩn thì phải dùng tay mà hót” [17].
Đến những năm 1930, răng đen mới bắt đầu bị cạo đi. Đào Duy Anh viết ở thành thị, răng trắng đã thành “một yếu tố của sắc đẹp và một biểu hiện văn minh” [5]. Theo Phạm Duy, hồi ấy “chỉ có hạng me Tây mới cạo răng đi”, con nhà nền nếp ai dám cạo răng thì phải có tinh thần “kách mệnh” ghê lắm. 2 người chị của ông phải giấu mẹ đi cạo răng, về nhà “hơn một tuần lễ không dám mở miệng ra để nói chuyện với mẹ” [33]…
Nguồn:
[1] – Mô Tả Vương Quốc Đàng Ngoài – Samuel Baron, các mục về trầu cau, phép ăn uống, lễ Tịch Điền.
[2] – An Nam Chí Nguyên – Cao Hùng Trưng, Hoa Bằng dịch, đoạn dẫn lời của Lý Tiên Căn.
[3] – Ngàn Năm Áo Mũ – Trần Quang Đức, mục Tục nhuộm răng đen (dẫn Triều Tiên Vương Triều Thực Lục, năm 1691) và đoạn dẫn lời Lý Tiên Căn về tóc và chân của người Việt.
[4] – Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản kỷ Lê Thái Tổ (đoạn kể tội giặc Minh), Bản kỷ Trần Anh Tông năm Giáp Ngọ 1294 (Trần Quang Khải mất), Bản kỷ thực lục Lê Thánh Tông (lệnh cấm làm ống nhổ bằng thủy tinh, lệnh tiểu đồng theo hầu, Đãi Lậu Viện).
[5] – Việt Nam Văn Hóa Sử Cương – Đào Duy Anh, mục Nhuộm răng.
[6] – Chuyện Cũ Hà Nội – Tô Hoài, tập 1 (mục về lệ phạt thời Tây) và tập 2 (mục Nhuộm răng).
[7] – Du Ký Việt Nam tập 3 – Nguyễn Hữu Sơn tuyển, bài Pháp Du Hành Trình Nhật Ký của Phạm Quỳnh.
[8] – Việt Nam Phong Tục – Phan Kế Bính, các mục Sinh đẻ, Tang lễ, Hương ẩm, Để tóc, Nhuộm răng, Ăn trầu.
[9] – Thú Ăn Chơi Người Hà Nội – Băng Sơn, mục về nhuộm răng.
[10] – Đất Lề Quê Thói – Nhất Thanh, chương VII Thuốc thang, vệ sinh và mục về nhuộm răng.
[11] – Thăng Long Kẻ Chợ Thời Mạc Lê Trung Hưng – Nguyễn Thừa Hỷ, đoạn về bộ đồ trầu của thị dân và đoạn dịch thư của giáo sĩ Joseph Tissanier về Tết năm 1660.
[12] – Phủ Biên Tạp Lục – Lê Quý Đôn, đoạn về thói xa xỉ ở Thuận Hóa.
[13] – Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí tập 2 – Phan Huy Chú, Bang Giao Chí, mục đồ dùng cấp cho sứ thần ở công quán.
[14] – Vũ Trung Tùy Bút – Phạm Đình Hổ, đoạn bình văn ở nhà Giám.
[15] – Nghi Thức Tang Lễ Của Người An Nam – Gustave Dumoutier, đoạn về bàn thờ hồn bạch.
[16] – Sài Gòn Năm Xưa – Vương Hồng Sển, đoạn về Bến Ngự và đoạn tả ngôi mộ cổ bị đào lên cải táng.
[17] – Xã Hội Việt Nam Từ Thế Kỷ XVII – Nguyễn Trọng Phấn dịch, phần ghi chép của giáo sĩ Giovanni Filippo de Marini (các mục Nhà cửa, Lễ nghi, Thành Hà Nội, Tết Nguyên đán) và lời kể của dịch giả in ở đầu sách.
[18] – Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, tập 3 (lệ chầu hầu, dụ năm Minh Mạng thứ 20, việc Tôn Thất Trấn năm Thiệu Trị thứ 2) và tập 11 (lệ trai giới; luật Lại, mục không có duyên cớ gì mà không vào chầu).
[19] – Nếp Cũ: Làng Xóm Việt Nam – Toan Ánh, các mục về sinh hoạt buổi sáng và lễ rước thần.
[20] – Xứ Đàng Trong – Cristoforo Borri.
[21] – Người Nông Dân Châu Thổ Bắc Kỳ – Pierre Gourou, các mục nhà ở, quần áo và phân bón.
[22] – Một Chiến Dịch Ở Bắc Kỳ – Charles Edouard Hocquard.
[23] – Làng Lại Đà Xưa Và Nay – Nguyễn Phú Sơn, phần Phụ lục, Hương ước xưa, khoản Sự vệ sinh.
[24] – Kiến Văn Tiểu Lục – Lê Quý Đôn, bài châm “đa, thiểu” và chuyện bổ thuế thời Cảnh Trị.
[25] – Hà Nội Lầm Than – Trọng Lang.
[26] – An Nam Phong Tục Sách – Mai Viên Đoàn Triển.
[27] – Đời Sống Cung Đình Triều Nguyễn – Tôn Thất Bình, mục về cung phi.
[28] – Hải Ngoại Kỷ Sự – Thích Đại Sán, quyển 4.
[29] – Research trên Claude chat: Embassy to the Eastern Courts of Cochin-China, Siam, and Muscat – Edmund Roberts, chương 15 và chương 16; các bài báo mạng dịch chuyện quan chầu thời Minh Thanh từ báo Sohu.
[30] – Thượng Kinh Ký Sự – Lê Hữu Trác.
[31] – Thi Ca Bình Dân Việt Nam quyển 3 – Nguyễn Tấn Long, Phan Canh, ca dao số 91.
[32] – Miếng Thế Gian – Nghiêm Minh, mục về cầu tõm.
[33] – Hồi Ký Phạm Duy – Phạm Duy, tập 1.