Vì sao chúa Trịnh nắm hết quyền 200 năm mà không lên ngôi vua?

 Nguyễn Lực Đức

Hễ nhắc đến thời Lê trung hưng là người ta nói ngay, vua Lê chỉ là bù nhìn, còn quyền hành thì ở cả trong tay chúa Trịnh. Sách dạy thế, thầy cô giảng thế, tôi cũng thuộc như thế suốt mấy chục năm mà không hề thắc mắc. Nhưng nếu họ Trịnh đã nắm cả quân lẫn tiền gần 200 năm, thì tại sao không lên ngôi luôn cho xong, mà cứ phải nuôi 1 ông vua họ Lê ngay trong kinh thành?

Câu hỏi ấy không mới. Năm 1684 Trịnh Căn tự phong cho mình 1 tràng tước hiệu. Gần 200 năm sau, vua Tự Đức (ở ngôi 1847 đến 1883) đọc lại chuyện ấy trong bộ Cương mục do sử quan triều mình soạn, đã phê bên lề: “Như thế mà họ Trịnh vẫn không cướp ngôi vua, không hiểu vì lý do gì?” (1). Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược cũng hỏi y như vậy (2). 1 câu hỏi mà đến ông vua cũng phải hỏi, thì 2 chữ bù nhìn rõ ràng là chưa trả lời được gì cả.

I NGÔI CHÚA TỪ ĐÂU RA?

Như ta biết, năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. 6 năm sau, Nguyễn Kim, 1 tướng cũ của nhà Lê, quê Thanh Hóa, tìm được 1 người con vua Lê đang lưu lạc bên Lào, đưa lên làm vua để có cớ mà đánh Mạc. Quân là quân của Nguyễn Kim, lương cũng của Nguyễn Kim, còn ông vua kia thì không có lấy 1 người lính riêng.

Năm 1545 Nguyễn Kim bị 1 viên tướng nhà Mạc sang hàng đầu độc chết, quyền cầm quân về tay con rể là Trịnh Kiểm, cũng người Thanh Hóa. Ít lâu sau con trai cả của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông chết. Người em là Nguyễn Hoàng sợ đến lượt mình, phải nhờ chị gái (vợ Trịnh Kiểm) xin cho vào trấn đất Thuận Hóa, năm 1558 thì đi. Các chúa Nguyễn sau này đều là con cháu ông Hoàng.

Năm 1592 con Trịnh Kiểm là Trịnh Tùng lấy lại được Thăng Long. Và 7 năm sau, ông ép vua phong mình làm Bình An vương, cho con cháu đời đời nối tước, lại được mở phủ riêng, đặt quan riêng. Cương mục chép rằng từ đó của cải, thuế má, quân lính và nhân dân hết thảy về phủ chúa, còn vua chỉ được giữ thuế của 1.000 xã (gọi là lộc thượng tiến), 5.000 lính túc vệ, 7 thớt voi và 20 chiếc thuyền rồng (3).

Tức là, từ lúc Nguyễn Kim lập vua cho đến năm 1599, hơn 60 năm, quân đội chưa bao giờ ở trong tay vua Lê cả. Trịnh Tùng chẳng cướp thứ gì của vua, vì vua có gì đâu mà cướp. Ông chỉ lấy thêm cái tước vương với tòa phủ, cho danh chính ngôn thuận.

II VUA LÀM GÌ, CHÚA LÀM GÌ?

Từ năm 1600, việc nước bàn ở phủ chúa chứ không ở triều đình nữa. Trịnh Tùng đặt chức Tham tụng làm việc của tể tướng, năm sau đặt thêm chức Bồi tụng làm phó, cả 2 chức đều do chúa tự chọn người. Mấy ông này họp với các quan võ đứng đầu 5 phủ quân, gọi chung là Ngũ phủ phủ liêu, bàn từ việc chọn quan, định thuế, xử kiện cho đến việc đánh nhau. Bên vua thì vẫn còn đủ 6 bộ, có điều thượng thư phần nhiều là người phủ chúa sang kiêm (4).

Đến năm 1718 Trịnh Cương lập luôn 6 phiên trong phủ, tên giống hệt 6 bộ bên vua, thuế từ đó nộp về phiên chứ không qua bộ Hộ nữa. Sử chép rằng từ đấy Lục bộ “chỉ đặt ra cho đủ vị mà thôi” (5). Nói nôm na, bên vua giữ cái biển hiệu, còn sổ sách với két tiền thì nằm cả bên chúa.

Vậy vua còn giữ được gì? Theo tôi, thứ đáng kể nhất là cái niên hiệu. Văn tự bán ruộng, bia tiến sĩ, đồng tiền, sắc phong thần làng, thảy đều ghi năm theo niên hiệu vua Lê. Vua đứng tế trời đất, vua ký sắc phong chức cho các quan, kể cả cho chúa (đời chúa nào mới lên cũng phải nhận sách vàng của vua, lệ ấy còn đến cuối thế kỷ 18). Sứ nhà Minh, nhà Thanh sang thì vua tiếp, vì bên ấy chỉ nhận họ Lê là An Nam quốc vương, còn sứ các nước khác thì chúa tiếp. Mà về sau, đến lễ tế Nam Giao với kỳ thi Đình chúa cũng đứng ra làm chủ nốt (6).

Ngoài mấy việc ấy ra, vua không cử được ông quan nào, không điều được người lính nào, tiền thì chỉ có thuế 1.000 xã kia. Đến ai làm vua, làm đến bao giờ, cũng là do chúa định. Như Lê Thần Tông, mẹ ông là con gái Trịnh Tùng, vợ ông là con gái Trịnh Tráng, tức là vừa cháu ngoại vừa con rể nhà chúa. Hồ Sĩ Dương, sử quan của họ Trịnh, khi chép chuyện ông ra đời năm 1607 có viết đại ý rằng từ đây Lê với Trịnh là 1 nhà, họ Lê làm vua, họ Trịnh làm chúa, đời đời nối nhau (7).

Người phương Tây sang buôn bán thời ấy thì nhìn ra ngay. Năm 1688 nhà hàng hải người Anh William Dampier tới Đàng Ngoài, ghi rằng xứ này có 2 vua, người ta gọi 1 ông là Boua, 1 ông là Choua. Về Boua ông viết: “sống như 1 thứ tù nhân của quốc gia trong cung cũ, với vợ con, giải khuây bằng thuyền giữa các ao cá trong tường cung, không bao giờ bước ra ngoài” (. Ông ghi thêm rằng Choua chưa hề đụng đến Boua, gặp thì vẫn rất mực kính cẩn.

Samuel Baron, 1 lái buôn lai sinh ở Kẻ Chợ, quãng năm 1685 viết rằng vua chỉ để nói amen với mọi việc chúa làm, rồi đóng ấn cho có lệ. Ông còn chép lại 1 câu người Đàng Ngoài hay nói, rằng 1.000 ông vua chết cũng chẳng làm nước nguy, còn chúa mà chết thì ai nấy run sợ (9). Người Anh mở thương điếm ở Kẻ Chợ, viết thư cho chúa thì đề hẳn là gửi vị vua vĩ đại của Đàng Ngoài (10). Đi buôn thì phải biết ai là người quyết, họ không nhầm.

III DÂN NGHE AI, QUÂN NGHE AI?

Dân thời ấy phải lên quan chủ yếu vì 3 việc: nộp thuế, đi lính, đi kiện. Mà quan huyện, quan phủ, quan trấn thì đều do phủ chúa cử, phủ chúa trả lương. Giấy vua ban ra gọi là sắc, là chiếu, giấy chúa ban ra gọi là lệnh chỉ, những việc như thu thóc, bắt lính thì đều theo lệnh chỉ cả.

Còn công an thì thời ấy chưa có lực lượng nào giống như bây giờ. Trộm cắp trong làng thì xã trưởng với tuần phiên lo, chiếu theo hương ước. Ngoài trấn có quan trấn thủ, ở kinh thành có quan Đề lĩnh coi việc đi tuần và bắt trộm cướp. Trấn thủ với Đề lĩnh đều là quan võ, mà quan võ thì nghe chúa. Lại có lệ cho quan võ hễ gặp việc gấp là được vào phủ chúa trình ngay, ngày nào cũng được, còn quan văn thì phải đợi.

Lính chia làm 2 hạng. Hạng giữ kinh thành và phủ chúa chỉ lấy người 3 phủ ở Thanh Hóa và 12 huyện ở Nghệ An, cứ 3 suất đinh lấy 1 lính, về sau gọi là ưu binh. Hạng thứ 2 là lính 4 trấn đồng bằng quanh Thăng Long, 5 đinh mới lấy 1, bình thường ở nhà làm ruộng, có việc mới gọi. Ruộng công ở 4 trấn ấy lại đem chia cho ưu binh, đến năm 1724 dân Thanh Nghệ còn được miễn thuế thân và giảm nửa thuế ruộng (11). Tức là dân đồng bằng sông Hồng, đông nhất nước, vừa phải nộp thuế vừa phải nhường ruộng để nuôi lính Thanh Nghệ đóng ngay ở chỗ mình. Thật khó mà nói họ nghe ai, họ chỉ có cách chịu.

Vua Lê quê Lam Sơn, chúa Trịnh quê Vĩnh Lộc, chúa Nguyễn quê Gia Miêu huyện Tống Sơn, cả 3 nơi đều thuộc Thanh Hóa. Ở trong Nam, chúa Nguyễn cũng chỉ lấy người Tống Sơn làm lính hầu cận, chức võ nào to thì giao cho người cùng họ. Tôi có đọc thêm nhà sử học Nola Cooke, bà viết rằng lúc đầu họ Nguyễn vào Nam vẫn tính chuyện quay ra giành lại chỗ ở triều vua Lê, đến khi thấy không giành được mới lo làm ăn hẳn ở trong ấy (12). Theo tôi, Trịnh với Nguyễn chẳng qua là 2 nhánh của cùng 1 nhóm tướng Thanh Hóa, bên nào cũng muốn giữ ông vua, rốt cuộc mỗi bên giữ 1 nửa nước.
Lính nghe chúa, vì chúa trả lương, chúa chia ruộng, chúa lại là người cùng quê. Đến 5.000 lính túc vệ bên vua cũng do phủ chúa cử sang.

IV VUA Ở ĐÂU, CHÚA Ở ĐÂU?

Ở Thăng Long, vua ở trong hoàng thành cũ, quãng Ba Đình bây giờ. Phủ chúa thì ở phía tây nam hồ Gươm, cách đó chừng 2 cây số. Chỗ chính xác đến nay người ta vẫn còn cãi nhau, nhiều người cho là quãng các phố Quang Trung, Bà Triệu, Hai Bà Trưng và bệnh viện Việt Đức ngày nay. Hồ Gươm hồi ấy là nơi chúa ra xem thủy quân tập.

Nhật Bản thời đó cũng có thiên hoàng và tướng quân, có điều ông ở Kyoto, ông ở Edo. Ở ta thì vua với chúa ở chung 1 kinh thành, đi ra đi vào là chạm mặt. Trịnh Cương có lẽ thấy bất tiện, nên đã cho xây 1 kinh đô mới ở Cổ Bi bên Gia Lâm để dọn sang, làm được 2 năm rưỡi thì gặp lụt, đến năm 1729 ông chết, công trình bỏ dở (13).

Chúa Nguyễn lúc đầu đóng ở Ái Tử thuộc Quảng Trị, sau dời dần vào Kim Long năm 1636 rồi Phú Xuân năm 1687, tức Huế bây giờ. Trong ấy thì không có vua, họ Nguyễn chỉ ghi niên hiệu vua Lê lên giấy tờ.

V SAO NGÔI CHÚA CŨNG CHA TRUYỀN CON NỐI?

Vì cái mà họ Trịnh để lại cho con là đội quân với tòa phủ, mà 2 thứ ấy là của riêng nhà họ. Từ năm 1599 vua đã cho con cháu họ được nối tước vương. Đời chúa nào cũng chọn sẵn 1 người con làm thế tử, cho mở phủ riêng để tập việc dần. Chúa mới lên thì vua ban sách phong, còn vua mới lên thì do chúa chọn.
Thành ra gần 200 năm có 16 đời vua Lê và hơn 10 đời chúa Trịnh nối nhau. Bên Nhật, ngôi tướng quân cũng cha truyền con nối như vậy.

Và trong họ Trịnh, người ta cũng giành nhau ngôi chúa chẳng kém gì các hoàng tử giành ngôi vua. Trịnh Tùng lên được là nhờ đánh đuổi anh ruột Trịnh Cối năm 1570. Năm 1623 ông ốm sắp chết thì con ông là Trịnh Xuân làm loạn. Đến năm 1782 lính kéo vào phủ, bỏ Trịnh Cán mới 5 tuổi mà đưa anh là Trịnh Khải lên.

VI SAO CHÚA KHÔNG CHIẾM NGÔI?

Trần Trọng Kim cho rằng họ Trịnh sợ nhà Minh sinh sự, lại sợ họ Mạc còn giữ Cao Bằng. Tôi đọc thì thấy còn mấy lý do nữa, mà họ Trịnh cũng không hề ngồi yên, họ đã tính chuyện lên ngôi ít nhất 3 lần.

Lần đầu là năm 1556, khi vua Lê Trung Tông chết mà không có con. Trịnh Kiểm muốn lên nhưng còn ngại, sai người ra Hải Dương hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông Trạng không trả lời, chỉ quay sang dặn người nhà rằng năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, nên tìm giống cũ mà gieo, rồi ra chùa bảo chú tiểu: “giữ chùa thờ Phật thì ăn oản” (14). Trịnh Kiểm nghe vậy thì cho người đi tìm con cháu họ Lê, tìm được Lê Duy Bang là cháu 5 đời của anh ruột Lê Lợi, đưa về làm vua.

Tại sao Trịnh Kiểm lại nghe? Vì ông có sẵn 2 chuyện để mà sợ. Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần năm 1400, 6 năm sau quân Minh sang, nói là để giúp nhà Trần, rồi chiếm nước ta 20 năm. Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê năm 1527, đến năm 1540 quân Minh kéo tới sát biên giới, ông phải cùng mấy chục quan tự trói mình lên ải Nam Quan xin hàng, cắt đất nộp, nhà Minh không cho làm vua nữa mà chỉ cho làm đô thống sứ, hàm quan nhị phẩm. Chuyện họ Mạc xảy ra ngay trong đời Trịnh Kiểm. Mà họ Trịnh thì đang đánh họ Mạc, nói với lính Thanh Nghệ là đánh để giúp vua Lê, giờ tự mình lên ngôi thì khác gì họ Mạc? Sử triều Nguyễn sau này cũng chê đúng như vậy, rằng Mạc bị diệt rồi mà Trịnh còn lù lù ở đó thì “cũng lại là một Mạc thứ hai nữa thôi” (15).

Lại nữa, muốn làm vua thì phải được Trung Hoa phong. Thắng Mạc rồi, năm 1597 nhà Minh vẫn bắt vua Lê lên tận ải Nam Quan cho họ khám xem có đúng con cháu nhà Lê không, khám xong cũng chỉ cho làm đô thống sứ như họ Mạc. Đến năm 1647 nhà Nam Minh mới phong vua Lê làm An Nam quốc vương, năm 1667 nhà Thanh phong tiếp (16). Họ Trịnh mà bỏ vua Lê thì phải đi xin lại từ đầu, chưa chắc đã được, có khi còn bị kéo quân sang hỏi tội.

Dampier nghe người Đàng Ngoài kể thì đoán rằng chúa để họ Lê làm vua “có lẽ vì lòng mến mộ lớn của dân đối với dòng họ ấy”. Baron cũng viết dân kính vua, còn chúa thì họ sợ.

Trong nước lại còn 2 kẻ thù. Họ Mạc giữ Cao Bằng đến năm 1677. Họ Nguyễn ở trong Nam thì lúc nào cũng nói mình chống Trịnh là để giúp vua Lê. Chúa mà lên ngôi thì cả 2 nơi có cớ kéo quân ra đánh. Trong khi đó nuôi 1 ông vua chỉ mất thuế 1.000 xã với 7 con voi, bỏ ra chừng ấy mà yên được cả trong lẫn ngoài thì ai dại gì mà đổi.

Lần thứ 2 là năm 1651. Nhà Nam Minh đang bị quân Thanh đuổi, phải sang xin Trịnh Tráng lương cho lính, vậy mà cũng chỉ phong ông làm An Nam phó quốc vương, vẫn dưới vua Lê. Vua Tự Đức đọc đến chỗ này thì phê: “Một nước không bao giờ có hai vua” (17).

Lần thứ 3 là cuối năm 1777, đời Trịnh Sâm. Cương mục chép thẳng rằng “Trịnh Sâm có chí toan cướp ngôi vua”. Nhân kỳ đi cống, ông đưa cho chánh sứ Vũ Trần Thiệu 1 tờ biểu mật, tâu với vua Thanh rằng nhà Lê không có người con cháu nào hiền tài, lại cho 1 viên hoạn quan mang của đi theo để lo lót xin phong. Đến hồ Động Đình, ông Thiệu cáo bệnh, đang đêm gọi sứ bộ tới, đốt tờ biểu trước mặt họ rồi uống thuốc độc chết (18). Phạm Đình Hổ gọi ông Thiệu bằng cậu, trong Vũ trung tùy bút có kể chuyện này, chỉ nói ông mắc bệnh rồi mất trên thuyền, còn chuyện đốt biểu trước mặt 2 phó sứ thì chép giống hệt (19). 1 trong 2 phó sứ là Hồ Sĩ Đống có làm thơ viếng, gọi ông là bề tôi chết vì nước (20). Sau lần ấy 9 năm thì họ Trịnh đổ.

Như ta thấy, lần 1651 với lần 1777 họ Trịnh đều phải hỏi ý triều đình Trung Hoa. Họ Nguyễn trong Nam năm 1702 cũng sang xin nhà Thanh phong, nhà Thanh không cho, bảo nước Nam còn vua Lê.

VII SAO VUA KHÔNG DIỆT CHÚA?

Có chứ, mấy ông vua đã thử. Năm 1572 Lê Anh Tông bàn với 1 viên tướng giết Trịnh Tùng, việc lộ ra, vua bỏ chạy vào Nghệ An. Trịnh Tùng đưa con vua mới 7 tuổi lên thay, rồi cho người đuổi theo giết vua. Năm 1619 đến lượt Lê Kính Tông, ông bàn với chính con trai Trịnh Tùng phục súng bắn Tùng, không thành, bị ép thắt cổ. Năm 1738 mấy hoàng thân định đốt kinh thành để giết họ Trịnh, cũng bị lộ, trong số đó có Lê Duy Mật chạy được lên vùng núi phía tây, chống lại họ Trịnh hơn 30 năm, đến năm 1770 bị vây thì tự thiêu. Năm 1771 Trịnh Sâm bỏ ngục rồi giết thái tử Lê Duy Vĩ.

Vua lên ngôi từ lúc còn nhỏ, lấy con gái chúa, người hầu chung quanh do phủ chúa cử sang, cho nên vua bàn gì chúa cũng biết. Mà có bàn xong thì cũng lấy đâu ra lính, lấy đâu ra tiền mà làm?

Năm 1786 Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc, nói là giúp vua Lê diệt họ Trịnh. Chưa đến 1 tháng họ Trịnh thua, Nguyễn Huệ giao miền Bắc lại cho vua Lê rồi về Nam. Vua Lê Chiêu Thống không có quân riêng, phải gọi Nguyễn Hữu Chỉnh ra giúp. Con cháu họ Trịnh kéo về đòi lại phủ, sang năm 1787 họ thua chạy, vua ngầm sai người đốt phủ chúa, Hoàng Lê nhất thống chí chép lửa cháy hơn 10 ngày chưa tắt (21). Sau đó vua chạy sang cầu cứu nhà Thanh, đến năm 1789 thì nhà Lê hết.

Hồi ấy có câu sấm “Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong” (22). Theo tôi câu ấy đúng cả chiều ngược lại, vì người thu thuế, lính, quan lại đều là người của phủ chúa, phủ chúa mất thì vua cũng chẳng còn ai để sai.

VIII SAO TRỊNH NGUYỄN ĐÁNH NHAU SUỐT THẾ?

Thực ra chưa đến mức suốt. 2 họ đánh nhau 7 trận lớn trong 45 năm, từ 1627 đến 1672, rồi nghỉ hơn 100 năm, mãi đến 1774 quân Trịnh mới vào Nam lần nữa.

Nguyễn Hoàng là con Nguyễn Kim, người lập lại nhà Lê, nên họ Nguyễn cho rằng mình có công trước họ Trịnh. Ông Hoàng từng ra Bắc 8 năm giúp Trịnh Tùng đánh Mạc, năm 1600 bỏ trốn về Nam, sau gả con gái cho Trịnh Tráng cho họ Trịnh đỡ giận. Theo lệ có từ năm 1573, mỗi năm Thuận Quảng phải nộp ra Bắc 400 cân bạc và 500 tấm lụa (23). Năm 1620 con ông là Nguyễn Phúc Nguyên thôi không nộp nữa. Năm 1627 Trịnh Tráng đem quân vào đánh, đưa cả vua Lê Thần Tông đi theo.

Năm 1630 Trịnh Tráng cho người mang sắc vua Lê vào phong chức và đòi thuế. Sử triều Nguyễn chép Đào Duy Từ khuyên chúa cứ nhận cho ngoài Bắc khỏi nghi, sau sẽ tìm cách trả. Rồi ông xin làm 1 cái mâm đồng 2 lần đáy, để tờ sắc vào giữa, bên trên bày vàng lụa, sai Lại Văn Khuông mang ra Thăng Long tạ ơn, dặn sẵn hơn 10 câu đối đáp (24). Người ta còn kể trong mâm có bài thơ 4 câu, ghép chữ lại thành “Dư bất thụ sắc”, nghĩa là ta không nhận sắc. Bài thơ này tôi chỉ thấy trong giai thoại.

Tất nhiên họ Trịnh không thể để yên. Họ Nguyễn vẫn xưng là bề tôi vua Lê mà không nghe lời phủ chúa, cứ để thế thì ở ngoài Bắc ai ghét họ Trịnh cũng có chỗ mà chạy vào, như Đào Duy Từ. Còn họ Nguyễn, đã không nộp thuế mà muốn khỏi mang tiếng phản vua, thì chỉ còn cách nói rằng mình đánh Trịnh để giúp vua. 2 bên cùng ghi niên hiệu vua Lê, trong khi vua thì ở ngoài Bắc với họ Trịnh.
Quân Trịnh đông gấp 4 lần quân Nguyễn, sử chép có trận họ kéo vào 10 vạn người, 500 thớt voi, 600 thuyền chiến (25). Nhưng đất Quảng Bình hẹp, núi ra sát biển, Đào Duy Từ lại cho đắp lũy Trường Dục năm 1630 và lũy Nhật Lệ năm 1631 chắn ngang. Quân Trịnh đi xa, đến mùa mưa hết lương thì phải rút. Họ Nguyễn có cảng Hội An nên mua được đồng, được súng của lái buôn Nhật và Bồ Đào Nha.

Tháng 7 năm 1643 có 3 chiếc tàu của công ty Đông Ấn Hà Lan vào giúp họ Trịnh, thế tử Nguyễn Phúc Tần đem mấy chục thuyền chiến ra đánh ở gần cửa sông Gianh, phá được tàu chỉ huy, viên chỉ huy Pieter Baeck chết (26). Mà họ Nguyễn cũng không đánh ra Bắc được, năm 1655 họ vượt sông Gianh lấy 7 huyện phía nam sông Lam, giữ 5 năm rồi phải rút về.

Sau trận năm 1672, 2 bên lấy sông Gianh làm ranh giới. Họ Trịnh quay ra đánh nốt họ Mạc ở Cao Bằng. Họ Nguyễn đi tiếp xuống phía nam, lấy hết đất Chiêm Thành năm 1693, lập phủ Gia Định năm 1698. Năm 1702 Nguyễn Phúc Chu sai người mang quốc thư và đồ cống sang xin nhà Thanh phong vương riêng, triều thần nhà Thanh can vua Khang Hy, nói nước An Nam còn có nhà Lê ở đó, chưa phong riêng được (27). Năm 1709 ông cho đúc 1 quả ấn để truyền đời, trên ấn vẫn khắc là Nguyễn chúa. Đến năm 1744 Nguyễn Phúc Khoát mới xưng vương, đổi 3 ty thành 6 bộ, đúc ấn quốc vương, mà giấy tờ thì vẫn đề niên hiệu vua Lê.

IX LÍNH THANH NGHỆ VÀ NĂM 1786

Lính Thanh Nghệ được nuôi gần 200 năm để giữ họ Trịnh, lâu dần họ biết chúa không dám làm gì mình. Đúng là nuôi ong tay áo. Năm 1674 quan Bồi tụng Nguyễn Quốc Trinh và quan Tham tụng Phạm Công Trứ bàn cách kìm lính lại, lính đón đường giết ông Trinh, kéo đến phá nhà ông Trứ. Chúa Trịnh Tạc sợ, sai người mang tiền bạc ra phát thì họ mới thôi (28). Sổ nhật ký của thương điếm Anh ở Kẻ Chợ mấy năm ấy có tả 1 lần lính bị cắt lương kéo tới vây phủ, người Anh nghe gần 100.000 tiếng cùng gào lên, chúa hoảng quá phải chịu ngay (29). Năm 1782 chính họ bỏ Trịnh Cán đưa Trịnh Khải lên, năm 1784 họ kéo vào ngục đưa cháu vua Lê ra. Sử gọi họ là kiêu binh.

2 năm sau Nguyễn Huệ ra Bắc, nói đúng cái câu giúp vua Lê diệt họ Trịnh mà họ Nguyễn đã nói suốt 150 năm. Đến năm 1789 thì cả vua Lê lẫn chúa Trịnh đều không còn.

TB: Câu vua Lê là bù nhìn mà ta vẫn học thì không sai, có điều nó mới nói được 1 nửa. Nửa còn lại là ông chúa kia cũng không bỏ được ông bù nhìn ấy.


Nguồn:

(1) – Khâm định Việt sử thông giám cương mục – Quốc sử quán triều Nguyễn, chính biên quyển XXXIV, năm Giáp Tý (1684), lời phê.
(2) – Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim, quyển II, phần IV, chương III.
(3) – Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên quyển XXX, năm Kỷ Hợi (1599).
(4) – Lịch sử Việt Nam tập 4, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII – Viện Sử học, Trần Thị Vinh chủ biên, chương II, mục Chính quyền Lê – Trịnh.
(5) – Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên quyển XXXV, dẫn theo Lịch sử Việt Nam tập 4, chương II.
(6)(7)(13) – The Trinh Ruling Family in Vietnam in the 16th-18th Centuries – Vladimir Antoshchenko, tạp chí Asian and African Studies 11(2), 2002, trang 161-168. Câu của Hồ Sĩ Dương lấy từ Đại Việt đế vương trung hưng công nghiệp thực lục, dẫn lại theo bài này.
( – Voyages and Descriptions, tập II – William Dampier, 1699, phần I, chương Of the Government of Tonquin.
(9) – A Description of the Kingdom of Tonqueen – Samuel Baron, viết 1685-1686, in trong Views of Seventeenth-Century Vietnam, Olga Dror và Keith Taylor biên tập, 2006.
(10)(29) – Tonqueen Journall Register 1672-1677, sổ nhật ký thương điếm Anh ở Kẻ Chợ.
(11) – Lịch sử Việt Nam tập 4, chương II, mục Tổ chức quân đội.
(12) – Regionalism and the Nature of Nguyen Rule in Seventeenth-Century Dang Trong (Cochinchina) – Nola Cooke, Journal of Southeast Asian Studies 29(1), 1998, trang 122-161.
(14) – Lịch sử Việt Nam, quyển 2, từ Lê Lợi khởi nghĩa đến Nguyễn suy vong – Phan Xuân Hòa.
(15) – Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên quyển XXX, năm Quý Tỵ (1593), lời phê.
(16) – Lịch sử Việt Nam tập 4, chương II, mục Quan hệ đối ngoại.
(17) – Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên quyển XXXII, năm Tân Mão (1651), lời phê.
(18) – Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên quyển XLV, năm Đinh Dậu (1777).
(19) – Vũ trung tùy bút – Phạm Đình Hổ.
(20) – Điếu Vũ Trần Thiệu – Hồ Sĩ Đống.
(21) – Hoàng Lê nhất thống chí – Ngô gia văn phái.
(22) – Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên quyển XXXVIII, lời chú của người dịch.
(23)(25) – Lịch sử Việt Nam tập 4, chương I, mục Nội chiến Trịnh – Nguyễn (1627-1672).
(24) – Đại Nam liệt truyện tiền biên – Quốc sử quán triều Nguyễn, truyện Đào Duy Từ.
(26) – Maritime Stepping Stones (MaSS), cơ sở dữ liệu tàu đắm của Cơ quan Di sản văn hóa Hà Lan, mục tàu Wijdenes (1643).
(27) – Đại Nam thực lục tiền biên – Quốc sử quán triều Nguyễn, quyển 7, năm 1702.
(28) – Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên quyển XXXIII, năm Giáp Dần (1674).

Trả lời