Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi, góc nhìn từ 2 phía

Nguyễn Đức Lực

Trước giờ SGK vẫn dạy chúng ta 2 chữ mở cõi, đại khái là các chúa Nguyễn đưa dân vào khai hoang, đất phương Nam cứ thế rộng dần ra, từ Thuận Quảng vào tới tận Hà Tiên, Cà Mau. Còn đất ấy trước kia là của ai, chúa Nguyễn lấy về bằng cách nào, người mất đất có chịu hay không, thì SGK nói rất ít, có chỗ không nói. Đọc lại sử của chính nhà Nguyễn, rồi đọc thêm những gì người Chăm, người Khmer chép về chuyện mất đất của họ, thì thấy cần bàn thêm.

Năm 1613, Nguyễn Hoàng ốm nặng, cầm tay con là Nguyễn Phúc Nguyên dặn rằng đất Thuận Quảng “phía bắc có núi Ngang và sông Gianh hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia vững bền” [1]. Núi Đá Bia (Thạch Bi) ở đèo Cả bây giờ, giữa Phú Yên với Khánh Hòa. Tức là lúc ông chúa đầu tiên mất, bờ cõi phía nam mới tới đèo Cả, Nha Trang vẫn còn là đất của người ta.

Thế mà chưa đầy 150 năm sau, đất của họ Nguyễn đã tới tận Châu Đốc, Hà Tiên, Cà Mau. Đến đời Gia Long, Minh Mạng, Trịnh Hoài Đức, 1 ông quan to của nhà Nguyễn, soạn sách địa chí về đất Gia Định, trong sách có câu: “Gia Định ngày xưa nguyên đất của Thủy Chân Lạp”. Ông viết tiếp, các chúa Nguyễn “chưa rảnh mưu tính việc ở xa nên phải tạm để đất ấy cho Cao Miên ở” [2]. Đất của người ta mà mình lại bảo là “tạm để” cho người ta ở. Kể cũng lạ thật!

I TRƯỚC KHI CHÚA NGUYỄN VÀO, ĐẤT PHƯƠNG NAM LÀ CỦA AI?

Chiêm Thành là tên sử ta gọi nước Champa của người Chăm. Sách cũ viết người Chăm là người Chàm, người Việt xưa còn gọi là người Hời, mà chữ “Hời” thì người Chăm cũng coi như chữ “Annam” đối với người Việt, tức là tên do người ngoài đặt cho [12]. Phần đất cuối cùng của nước ấy, quanh Phan Rang, Phan Rí, người Chăm gọi là Panduranga, chúa Nguyễn đặt tên là trấn Thuận Thành.

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đ.á.n.h phá thành Chà Bàn (ở Bình Định), bắt sống vua Chiêm là Trà Toàn. Tướng Chiêm là Bồ Trì chạy về Phan Lung (tức Phan Rang) xưng vương, “chỉ còn được 2 phần 5 đất nước”, sai người sang cống. Vua bèn phong Bồ Trì làm Chiêm Thành vương, lại phong thêm Hoa Anh vương và Nam Bàn vương, chia đất Chiêm làm 3 nước [3]. Đại khái là đ.á.n.h thắng rồi chia nước người ta ra làm 3, tôi đoán là để không nước nào đủ sức gây sự nữa.

Năm 1965, 2 trí thức người Chăm là Dohamide và Dorohiêm viết cuốn Dân tộc Chàm lược sử, kể trận ấy từ phía bên kia: “vì Vua Lê Thánh-Tông (1460 – 1497) đã đòi hỏi quá mức, Trà-Toàn phải xua quân 2 lần vào những năm 1468 và 1469, tấn-công Hóa-Châu”. Đến trận Chà Bàn năm 1471 thì “60.000 quân Chàm bị g.i.ế.t, 30.000 bị bắt làm tù-binh cùng với 50 thân thuộc trong Hoàng-tộc” [12].

Tức là người Chăm cũng nhận vua mình đ.á.n.h trước, có điều là vì bị đòi hỏi quá mức.

Nước Nam Bàn ở phía tây núi Thạch Bi, người dịch Phủ biên tạp lục chú thích là miền Tây Nguyên [3]. Còn núi Thạch Bi, tức đèo Cả, thành ranh giới phía nam từ đấy.

Như vậy lúc Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558, đất từ đèo Cả trở vào, tức Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, vẫn là nước Chiêm Thành. Trên núi phía tây là các bộ lạc của nước Nam Bàn. Đi xuống nữa, Đồng Nai, Sài Gòn, cả miền Tây bây giờ, là đất Thủy Chân Lạp.

Đại Nam liệt truyện, bộ sử của chính nhà Nguyễn, chép rằng Chân Lạp xưa vốn là thuộc quốc của nước Phù Nam, Phù Nam suy yếu thì Chân Lạp gộp luôn đất Phù Nam. Đến đời Đường, Chân Lạp chia làm 2, nửa miền bắc nhiều núi gọi là Lục Chân Lạp, nửa miền nam “gần biển nhiều chuôm chằm, gọi là Thủy Chân Lạp” [4]. Chân Lạp, Cao Miên, Cao Man đều là tên cũ của nước Campuchia bây giờ.

Tức là đất Nam Bộ ngày trước là đất của người Khmer, sử nhà Nguyễn chép ra đấy, chẳng giấu giếm gì.

II CHIÊM THÀNH MẤT PHÚ YÊN, NHA TRANG RỒI MẤT NƯỚC THẾ NÀO?

Thực lục chép năm 1611 “quân Chiêm Thành xâm lấn biên giới”, Nguyễn Hoàng sai Văn Phong đem quân đi đ.á.n.h, lấy được đất ấy đặt làm phủ Phú Yên [1]. Biên niên sử của hoàng gia Chăm (bản chép tay do 1 người Pháp là Aymonier thu được ở Bình Thuận cuối thế kỷ 19, Dohamide dịch lại) thì đến đời vua Pô Nit, đúng quãng năm ấy, không có 1 chữ nào về chiến tranh hay mất đất [12].

Năm 1653, vua Chiêm là Bà Tấm “xâm lấn Phú Yên”. Chúa Hiền sai Hùng Lộc đem 3.000 quân vượt đèo Thạch Bi, “nhân đêm phóng lửa đ.á.n.h gấp”, lấy đất tới sông Phan Rang, chia làm 2 phủ Thái Khang và Diên Ninh, tức cả vùng Nha Trang, Khánh Hòa bây giờ. “Phía tây sông Phan Rang vẫn về Chiêm Thành, bắt giữ lệ chức cống” [1]. Thế là Nha Trang về tay chúa Nguyễn sau 1 trận đ.á.n.h đêm.

Biên niên sử Chăm thì từ ông vua sau Bà Tấm trở đi, vua nào cũng “được vua Yuôn ban sắc” (Yuôn là chữ người Chăm gọi người Việt) [12]. Tức là người Chăm tự coi mình hết độc lập từ năm 1653.

Xin lưu ý là 2 lần 1611 và 1653, Thực lục đều chép người Chiêm “xâm lấn” trước, quân ta đ.á.n.h trả, rồi tiện thể lấy luôn đất. Có điều thử hỏi, 1 nước đã bị chia làm 3 từ thời Lê Thánh Tông, chỉ còn 2 phần 5 đất, sao cứ đi gây sự với 1 nước lớn hơn mình nhiều lần, mà lần nào gây sự xong cũng mất thêm 1 khúc đất? Thế chẳng lẽ vua Chiêm đời nào cũng dại?!

Dohamide không chối là người Chăm có đ.á.n.h, “về phía người Chàm thì cứ tiếp tục sách-lược truyền thống quấy-nhiễu Nam-Bộ”. Nhưng ông viết tiếp “dù nhà Nguyễn có vịn vào lý-do nào để tiến vào Nam đi nữa” thì người Chăm vẫn mất Kauthara (Nha Trang) [12]. Theo tôi, đất cũ bị lấy mất thì đời vua sau lại tìm cách đòi lại, chứ đâu phải vua nào cũng dại.

Chưa kể người Việt còn vào ở ngay trong đất Chăm. 1 bài thơ của người Chăm kể người Yuôn ban đầu đến buôn bán, rồi “họ cất chòi để ở và người Yuôn theo họ đến rất nhiều” [12]. Đọc mà nghe quen phết!

Năm 1692, Thực lục chép vua Chiêm là Bà Tranh “làm phản”, họp quân đắp lũy, cướp g.i.ế.t dân ở phủ Diên Ninh. Chữ “làm phản” là chữ dành cho bề tôi, tức là chúa Nguyễn đã coi vua Chiêm là bề tôi của mình rồi. Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Kính (tức Nguyễn Hữu Cảnh mà ta hay nghe) đem quân đi đ.á.n.h, năm 1693 bắt được Bà Tranh, đổi nước ấy làm trấn Thuận Thành, rồi bắt người Chiêm “mặc quần áo theo lối người kinh” [1]. Dohamide thì viết: “vì không chịu triều-cống, Vua Bà-Tranh đã bị bắt giải về Phú-Xuân (Huế)” [12].

Cuối năm ấy, 1 người Thanh là A Ban cùng viên quan người Chiêm là Ốc Nha Thát nổi dậy, kéo quân vây cả Phan Rang [1]. Dẹp xong, năm 1694, viên quan người Chiêm là Kế Bà Tử tâu rằng từ khi đổi đến giờ “xảy ra nạn đói kém luôn, nhân dân c.h.ế.t về tật dịch rất nhiều”. Chúa thương tình cho gọi lại là trấn Thuận Thành, phong Kế Bà Tử làm phiên vương (vua 1 xứ phụ thuộc), hằng năm nộp cống [1]. Tôi đoán là chúa thấy cứ ép người ta đổi tên nước, đổi cái áo, thì dẹp được người này rồi cũng còn người khác nổi lên.

Năm 1697, chúa lại lấy đất từ Phan Rang, Phan Rí trở về tây đặt phủ Bình Thuận [1]. Từ đấy nước Chiêm Thành chỉ còn là 1 cái trấn nằm trong cõi của chúa Nguyễn. Giữa thế kỷ 18, 1 sĩ quan tàu Pháp ghé qua kể bên cạnh vua Chăm lúc nào cũng có 1 viên quan người Việt, việc gì vua quyết cũng phải được ông ấy thuận ý [12]. Đến năm 1794 thì chính Thực lục chép ruộng ở Thuận Thành phần nhiều bị “dân Hán” (tức người Việt) xâm chiếm [9].

Trấn Thuận Thành còn được gần 140 năm. Năm 1832, các quan trong triều tâu với vua Minh Mạng, nếu “dùng lối người Kinh thay thói người Hời (tức người Chăm) thì không ngoài vài mươi năm, tưởng có thể không khác gì người Kinh vậy”. Vua nghe theo, đổi trấn Thuận Thành làm phủ Ninh Thuận, đặt tri phủ, tri huyện, tạm cho ăn mặc, tang tế “theo thổ tục”, đợi phong tục “đã đồng đều” thì mới ban họ người Kinh [5]. Nói theo kiểu bây giờ là sáp nhập cho đồng bộ, có lộ trình hẳn hoi.

Sakaya, 1 nhà nghiên cứu người Chăm, thì viết vua Minh Mạng “xuống chiếu bắt người Champa phải thay đổi họ và tên, ăn mặc và sinh hoạt theo lối sống phong tục của người Kinh” [13].

Năm 1833, Minh Mạng dụ: “được nước của người, há nên làm tuyệt sự thờ cúng của người hay sao?”, rồi phong cho người dòng dõi vua Chiêm là Nguyễn Văn Thừa giữ việc thờ cúng [5]. Đầu năm 1835 dân Bình Thuận nổi dậy. Chính Minh Mạng kể người Kinh cho thổ dân thuê ruộng, mãn hạn thì “ngầm thả rắn vào ruộng, thổ dân thấy vậy, cho là yêu quái, không dám nhận ruộng nữa”, rồi chiếm luôn ruộng [5]. Ô! Chuyện này chính vua nói ra chứ chẳng phải ai bịa.

Giữa năm 1835, chính Nguyễn Văn Thừa bị buộc tội thông với Lê Văn Khôi, bị xử “lăng trì xử tử, chặt đầu bêu 3 ngày” [5] (lăng trì là xẻo dần từng miếng thịt cho đến c.h.ế.t). Đại Nam nhất thống chí chép là: “việc thờ tự các vua Chiêm Thành bèn dứt” [14]. Đến đây thì cái tên Chiêm Thành không còn trên giấy tờ nữa.

III ĐỒNG NAI, SÀI GÒN VỀ TAY CHÚA NGUYỄN RA SAO?

Năm 1620, vua Chân Lạp là Chey Chettha II cưới 1 công nữ con chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, biên niên sử Chân Lạp gọi bà là hoàng hậu Ang Cuv. Ta quen gọi bà là công nữ Ngọc Vạn, có điều sử nhà Nguyễn không chép 1 chữ nào về bà. TS Phan Văn Hoàng (trong 1 bài in ở kỷ yếu hội thảo về chúa Nguyễn năm 2008) viết rằng bảo bà là Ngọc Vạn thì “chỉ dựa trên sự phỏng đoán” [6]. Vua Chân Lạp cưới con gái chúa Nguyễn là vì nước ấy bị Xiêm đ.á.n.h liên miên, cần có chỗ dựa [6].

Năm 1623, biên niên sử chép tay của Chân Lạp ghi chúa Nguyễn sai sứ sang, “ngỏ ý muốn mượn xứ Prei Nokor và Kas Krobei của Chân Lạp để lập các trạm thuế thương chính”, hạn 5 năm, vua Chân Lạp bằng lòng [6]. Prei Nokor là vùng Chợ Lớn, Kas Krobei là Bến Nghé, tức Sài Gòn bây giờ. Mượn năm 1623, đến năm 1698 thì chúa Nguyễn lập luôn phủ Gia Định trên đất ấy. Mượn 5 năm mà thành của mình luôn, kể cũng tài!

Trong khi ấy dân Đàng Trong cứ lần lượt kéo vào. Trịnh Hoài Đức viết ở Mỗi Xuy (Bà Rịa) và Đồng Nai (Biên Hòa) “đã có lưu dân của nước ta đến ở chung lộn với người Cao Miên khai khẩn ruộng đất” [2].

Năm 1658, Thực lục chép vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân “xâm lấn biên thùy”, chúa Hiền sai 3.000 quân đến thành Mỗi Xuy bắt Nặc Ông Chân đưa về, rồi tha cho về nước, “khiến làm phiên thần, hằng năm nộp cống” [1].

Biên niên của người Khmer thì chép năm ấy 2 hoàng thân Chân Lạp nổi dậy chống vua bị thua, bèn “bí mật đến gặp thái hậu Ang Cuv, nhờ bà xin chúa Nguyễn giúp đỡ” [6]. Tức là quân Nguyễn sang là do 1 phe trong hoàng tộc Chân Lạp mời.

TS Phan Văn Hoàng viết chữ “xâm lấn biên thùy” của Thực lục “là không chính xác vì vào thời điểm ấy, Đàng Trong và Chân Lạp không có biên giới chung vì còn có Chiêm Thành nằm giữa” [6]. Chưa có biên giới chung thì xâm lấn kiểu gì?

Ông vua bị bắt thì Thực lục bảo là được tha về. Bản biên niên Chân Lạp mà ông Nguyễn Đình Tư dẫn lại thì chép vua bị “nhốt trong cụi sắt đem về tỉnh Quảng Bình. Quốc vương thăng hà ở đấy” [10]. Trịnh Hoài Đức lại kể sau trận ấy “người Cao Miên khâm phục oai đức của triều đình, đem nhượng hết cả đất ấy” [2]. Ô! Bắt vua người ta về rồi tha, thế là người ta khâm phục mà nhượng đất. Ảo thế nhỉ 

Năm 1674, trong nước Chân Lạp có loạn, quân Nguyễn sang đ.á.n.h rồi chúa phong 1 lúc 2 vua, Nặc Thu ở thành U Đông, Nặc Nộn ở thành Sài Gòn [1]. Tức là từ đây chúa Nguyễn đã đứng ra chọn vua cho Chân Lạp.

Năm 1679, mấy viên tướng cũ nhà Minh là Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên đem hơn 3.000 quân sang xin làm bề tôi. Triều đình bàn: “nay đất Đông Phố (tên cổ của Gia Định) nước Chân Lạp đồng ruộng phì nhiêu nghìn dặm, triều đình chưa rỗi mà kinh lý, chi bằng nhân lấy sức của họ cho đến khai khẩn để ở”. Chúa cho họ vào ở đất Đông Phố, rồi mới “cáo dụ nước Chân Lạp rằng như thế là có ý không để nước Chân Lạp ra ngoài” [1]. Đơn giản thế này, đất là của nước Chân Lạp, chúa Nguyễn đem cho 3.000 lính TQ vào ở, xong mới báo cho chủ đất biết. Kể cũng khéo ăn nói phết!

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Kính “kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố”, lập dinh Trấn Biên (Biên Hòa), dinh Phiên Trấn (Gia Định), “mở rộng đất được nghìn dặm, được hơn 4 vạn hộ” [1]. Chữ “kinh lược” nghe như đi xem xét, sắp đặt, mà Thực lục năm ấy cũng không chép đ.á.n.h trận nào. Có điều Lê Quý Đôn, 1 ông quan bên Đàng Ngoài, viết thẳng: “sai chưởng cơ… đem quân đi đ.á.n.h nước Cao Miên, lấy đất Đồng Nai màu mỡ” [3].

Biên niên hoàng gia Chân Lạp, theo nhà nghiên cứu Mak Phoeun đọc, cũng chép chúa Nguyễn “ra lệnh dùng vũ lực chiếm các tỉnh Sài Gòn, Bà Rịa và Đồng Nai của Chân Lạp” [6]. 2 bên chẳng hẹn mà chép giống nhau.

Lại lưu ý, tôi hiểu là “4 vạn hộ” ấy đã ở sẵn trên đất ấy từ trước, người Việt có, người Hoa có, người Khmer có. Lập phủ Gia Định tức là ghi tên họ vào sổ đinh, sổ thuế của chúa Nguyễn. Rồi chúa cho những nhà có của ở Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn vào phát rừng, phát xong thì “cho dân tự chiếm” [3]. Nghĩa là phát được đến đâu thì ruộng của mình đến đấy.

IV HÀ TIÊN, MIỀN TÂY THÌ LẤY THẾ NÀO?

Mạc Cửu người Lôi Châu, Quảng Đông, nhà Minh mất thì chạy sang Chân Lạp làm quan ốc nha (1 chức quan to của Chân Lạp). Thấy phủ Sài Mạt có nhiều người buôn các nước tụ họp, ông “mở sòng gá bạc để thu thuế gọi là hoa chi”, lại đào được hố bạc chôn nên thành giàu, rồi chiêu tập dân lập 7 xã thôn ở Phú Quốc, Cần Bột, Rạch Giá, Cà Mau… Năm 1708, ông sai người dâng thư xin làm Hà Tiên trưởng, chúa nhận cho, trao chức Tổng binh [1].
Tức là 1 ông quan của Chân Lạp, gốc người TQ, giàu lên nhờ mở sòng bạc, đem cả vùng đất mình đang cai quản dâng cho chúa Nguyễn. Vua Chân Lạp nghĩ gì về chuyện này thì sử nhà Nguyễn không chép.

Có điều hơn 30 năm sau, năm 1739, Thực lục lỡ ghi 1 câu: “Chân Lạp oán Mạc Cửu vì cớ mất đất” [1]. Chữ “mất đất” ấy là chữ của chính sử quan nhà Nguyễn.

Năm 1732, chúa lại chia đất đặt châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ [1], dinh đóng ở xứ Cái Bè [4]. Thực lục chỉ chép là “Chúa cho rằng Gia Định địa thế rộng rãi”, còn đất ấy lấy của ai, lấy bằng cách nào thì không nói [1].

Năm 1750, Thực lục chép vua Chân Lạp là Nặc Nguyên “xâm lấn người Côn Man” (người Chăm bỏ nước sang ở đất Chân Lạp) [1]. Cùng quãng ấy, thư 1 giáo sĩ người Pháp năm 1751, sử gia Ben Kiernan dẫn lại, kể người Cao Miên g.i.ế.t sạch người Việt nào họ tìm được trong nước, kéo dài 1 tháng rưỡi, từ Cahon đến tận Hà Tiên, chỉ chừa khoảng 20 người đàn bà, trẻ con [15].

Tôi nghĩ người ta oán đến mức ấy thì phải có cớ. Mà cũng phải thấy rằng người Việt sang ở đất Chân Lạp cũng c.h.ế.t nhiều, đâu chỉ người mất đất mới khổ.

Năm 1753, lấy cớ Nặc Nguyên đ.á.n.h người Côn Man, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Thiện Chính làm thống suất (tướng cầm đầu), Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu, đem quân 5 dinh sang đ.á.n.h Chân Lạp [1]. Năm 1756, Nặc Nguyên thua trận, xin dâng 2 phủ Tầm Bôn, Lôi Lạp (vùng Tân An, Gò Công bây giờ) để chuộc tội. Chúa còn đòi bắt nộp viên tướng cầm đầu, Nặc Nguyên nói dối là đã xử tử rồi.

Nguyễn Cư Trinh vội tâu: “từ xưa việc dụng binh chẳng qua là để trừ diệt bọn đầu sỏ và mở mang thêm đất đai”. Ông bảo nếu cứ truy mãi thì Nặc Nguyên chạy trốn, đường sá xa xôi không đuổi được, chi bằng lấy 2 phủ này trước cho chắc. Rồi ông nhắc lại cách làm từ đời trước: “khi xưa mở mang phủ Gia Định tất phải trước mở đất Hưng Phúc, rồi đến đất Đồng Nai, khiến cho quân dân đông đủ, rồi sau mới mở đến Sài Gòn. Đó là cái kế tằm ăn dần” [1].

Ông còn tính cho người Côn Man ở đất ấy để họ chống giữ, theo lời ông là “lấy người Man đ.á.n.h người Man” [1]. Chúa nghe theo. Chữ “Man” là chữ sử quan gọi chung các tộc không phải người Việt. Tức là đem người Chăm mất nước ra giữ đất mới lấy của người Khmer.

Đọc câu tằm ăn dần mới thấy người trong cuộc nói về chuyện mở cõi thẳng thắn hơn SGK nhiều. Tức là lấy từng vùng 1, chờ dân vào ở đông, quân đóng đủ rồi mới lấy sang vùng bên cạnh.

Năm 1757, Nặc Nguyên c.h.ế.t, người chú họ là Nặc Nhuận tạm coi việc nước. Quan ở Gia Định xin lập Nặc Nhuận làm vua. Thực lục chép: “chúa bắt phải hiến hai phủ Trà Vinh, Ba Thắc, rồi sau mới y cho” [1]. Rồi Nặc Nhuận bị con rể là Nặc Hinh g.i.ế.t để cướp ngôi. Con Nặc Nhuận là Nặc Tôn chạy sang Hà Tiên, nương nhờ Mạc Thiên Tứ. Ông này là con Mạc Cửu, cha mất thì lên thay cha giữ đất Hà Tiên.

Thực lục chép: “bấy giờ Mạc Thiên Tứ cũng tâu giúp cho Nặc Tôn. Chúa bèn sắc phong cho Nặc Tôn làm vua nước Chân Lạp, sai Thiên Tứ cùng với tướng sĩ năm dinh hộ tống về nước” [1]. Tức là Thiên Tứ vừa cho Nặc Tôn nương nhờ, vừa xin chúa cho làm vua, lại đem quân đưa về nước.

Nặc Tôn bèn dâng đất Tầm Phong Long (cả vùng đất giữa sông Tiền, sông Hậu) cho chúa. Chúa đặt luôn đạo Đông Khẩu ở Sa Đéc, đạo Tân Châu ở Tiền Giang, đạo Châu Đốc ở Hậu Giang. Nặc Tôn lại cắt 5 phủ ven vịnh Thái Lan là Hương Úc, Cần Bột, Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh để tạ ơn Thiên Tứ, Thiên Tứ đem dâng nốt cho triều đình [1].

Tức là đất đi 2 vòng, từ vua Khmer sang ông người Hoa, rồi từ ông người Hoa về tay chúa Nguyễn. Y như đời bố là Mạc Cửu ngày trước cũng đem đất Hà Tiên dâng chúa.

Nói theo kiểu bây giờ thì đây là chạy chức, mà chạy bằng đất. Muốn ngồi ghế vua thì phải nộp đất trước mới được ký quyết định. Đến đây thì đất của chúa Nguyễn đã tới Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau, gần bằng miền Tây bây giờ.

V TÂY NGUYÊN CÓ BỊ CHIẾM KHÔNG?

Thực lục năm 1751 chép, phía trên nước Nam Bàn có 2 nước Thủy Xá, Hỏa Xá, hơn 50 làng, giữa có núi Bà Nam rất cao, vua Thủy Xá ở phía đông núi, vua Hỏa Xá ở phía tây núi. Vì giáp Phú Yên nên từ buổi đầu chúa Nguyễn “cứ 5 năm một lần sai người đến các nước ấy cho quà (áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt và chén đĩa bằng sứ)”, vua 2 nước nhận quà rồi gửi lại kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực [1].

Đại khái là đem đồ dùng đổi lấy hàng rừng, có điều Thực lục chép thành chuyện 2 nước ấy “vào cống”.

Lê Quý Đôn có hỏi chuyện 1 viên cai đội từng dẫn quân lên núi tìm trầm kỳ nam. Người này kể từ đầu nguồn đi 3 ngày tới chỗ người Đê, người Man ở, rồi phải trả tiền cho người Man dẫn đường, đi tiếp 14 ngày đường núi mới tới nơi 2 vua ở. Vua cưỡi voi đi thu thuế từng làng, dân nộp gì thì nộp, “một cái nồi đồng, một tấm vải trắng, một cây mía, một buồng chuối”, lấy xong lại đi chỗ khác [3].

Đi bộ hơn nửa tháng mới tới nơi, thì chúa Nguyễn đặt quan cai trị kiểu gì? Ở miền núi, chúa Nguyễn chỉ đặt thuế ở các đầu nguồn, tức chỗ sông suối từ núi chảy xuống đồng bằng. Sổ thuế Lê Quý Đôn chép lại có dòng “Nguồn Nam Bàn hàng năm tiền thuế 100 quan” [3].

Năm 1829, vua Minh Mạng sai người lên dò xét, sứ của nước ấy theo về. Triều đình hỏi: “Thủy Xá, Hỏa Xá vốn là một nước hay hai nước?”. Sứ đáp: “nước mình là Hỏa Xá, Quốc trưởng xưng là Hỏa vương, không từng nghe có Thủy Xá, tên Thủy Xá là tự sứ trước phiên dịch lầm” [5]. Đi lại tặng quà nhau hơn 100 năm, đến giờ mới biết bên kia có 1 nước hay 2 nước. Kể cũng buồn cười!

Năm 1834, Minh Mạng còn ban họ tên cho vua Hỏa Xá, quốc trưởng tên là Lam thì “chuẩn cho ban họ là Vĩnh và tên là Bảo”, để “ngày càng nhuần thấm phong hoá người Kinh”. Người Hỏa Xá gọi quan là “Long”, sứ giả sang Huế không dám tự xưng là “Long” (rồng là chữ của vua), phải đổi gọi là “Ma” [5].

Tức là tên nước bị dịch nhầm thì sứ phải tự cải chính, đến cái chức quan nhà mình cũng phải đổi tên cho khỏi phạm chữ rồng của vua Huế.

Như vậy là thời chúa Nguyễn, nhà Nguyễn chưa đặt quan cai trị trên cao nguyên, vua Hỏa Xá chỉ phải cống theo lệ, còn ở rìa núi thì có đồn binh và thuế đầu nguồn. Phải đến thời Pháp, Tây Nguyên mới thật sự bị chiếm. Lịch sử Việt Nam tập 6 chép, khi quân Pháp kéo lên bình định Tây Nguyên, các tù trưởng như Ama Wal, Ama Kol, Ama Jhao kêu gọi dân rào làng đ.á.n.h Pháp, từ năm 1889 đến năm 1905 mới chấm dứt [7].

VI CÒN CHIẾM LUÔN CẢ CAMPUCHIA THÌ SAO?

Năm 1807, vua Chân Lạp là Nặc Ông Chăn bỏ Xiêm, xin Gia Long phong vương. Năm 1813, Gia Long sai Lê Văn Duyệt đem 13.000 quân đưa Nặc Ông Chăn về nước, đắp thành Nam Vang (tức Phnom Penh), rồi để lại 1.000 quân “bảo hộ nước Chân Lạp” [8]. Lúc này Chân Lạp vẫn có vua, chỉ là có quân Nguyễn đóng ngay cạnh.

Năm 1819, Gia Long cho đào kênh Vĩnh Tế, cùng đào 1 con kênh mà dân Kinh mỗi tháng được 6 quan tiền, dân Chân Lạp chỉ được 4 quan 5 tiền [9]. Năm sau 1 nhà sư Chân Lạp tên Kế nổi dậy, kéo quân tới sát thành Nam Vang. Lịch sử Việt Nam tập 5 viết nguyên nhân là do “việc huy động dân binh người Chân Lạp trong quá trình đào sông Vĩnh Tế và do sự áp chế của quan lại bảo hộ” [8].

Năm 1835, Nặc Ông Chăn c.h.ế.t, không có con trai. Vua Minh Mạng phong con gái thứ là Ngọc Vân làm quận chúa, “bãi lệ quốc cống; đổi bảo Nam Vang làm thành Trấn Tây” [4]. Bãi lệ cống tức là từ nay coi đất Chân Lạp là đất của mình, khỏi phải cống nạp gì nữa. Năm 1840 thì chia làm 10 phủ 23 huyện, đặt tên mới hết, tri phủ, tri huyện đều là người Kinh [8].

Vua dặn quan ở Trấn Tây dạy dân tập nói tiếng Kinh, ăn mặc theo người Kinh, để họ “cứ tự thuận theo phép tắc nhà vua, mà không cần phải suy xét, hiểu biết” [5]. Tức là dạy cho đến lúc người ta quen, khỏi phải nghĩ nữa.
Năm 1840, mật thám bắt được 1 lá thư của Ngọc Biện, chị cả của Ngọc Vân, trong thư than “thường muốn trốn đi”. Ngọc Biện bị xử c.h.é.m [5]. Mấy viên quan người Chân Lạp bị đưa ra tận Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên giam lỏng [8]. Cuối năm ấy khắp Trấn Tây nổi dậy “như ong, đ.á.n.h c.h.ế.t dân Kinh”, rồi cầu viện Xiêm [4].
Triều đình treo thưởng “c.h.é.m được mỗi thủ cấp cắt lấy tai thưởng tiền 5 quan” [5]. Tính thưởng theo số tai thì ai chả cố mà nộp cho nhiều?!

Đầu năm 1841, Nguyễn Công Trứ ở mặt trận tâu về: “nay man dân ấy coi ta là cừu địch, tuyệt nhiên không chịu về với ta, thì ta chỉ giữ được cái thành không mà thôi” [11]. Vua Thiệu Trị vừa lên ngôi cho rút hết quân về An Giang. Lời dụ nói là vì “không nỡ lấy đất đai là vật không đáng quý mà làm khổ dân là thứ đáng quý”, còn người chép sử thì ghi vua “ý đã chán việc binh đao” [11].

Năm 1845 quân Nguyễn sang đ.á.n.h lại, rồi giảng hòa với Xiêm. Cuối năm 1846, em vua cũ là Nặc Ông Đôn dâng biểu xin thần phục, được phong làm quốc vương, Chân Lạp cống cả Việt Nam lẫn Xiêm, đầu năm 1847 quân Nguyễn rút hết về [8]. Triều đình dựng bia gọi cuộc rút quân là “lấy việc lùi làm việc thắng” [11]. Ô! Rút quân mà cũng là thắng.

Như vậy là có chiếm cả Campuchia thật, mà giữ được có 6 năm, từ 1835 đến 1841.

VII CHIẾM NHƯ THẾ CÓ AI CÔNG NHẬN KHÔNG?

Năm 1702, chúa Nguyễn Phúc Chu xin nhà Thanh phong vương. Bầy tôi nhà Thanh bàn rằng “Chiêm Thành, Chân Lạp đều bị thôn tính” [1], rồi không phong.

Xiêm thì tranh cái ngôi vua Chân Lạp với nhà Nguyễn mấy chục năm, đến năm 1846 vua Thiệu Trị “gác mộng” thôn tính Cao Miên [7]. Rốt cuộc người công nhận Nam Kỳ là đất nhà Nguyễn lại là Pháp, năm 1874 hòa ước Giáp Tuất ghi “triều đình Huế thừa nhận chủ quyền của Pháp trên tất cả 6 tỉnh Nam Kỳ” [7]. Công nhận là để lấy đi. Thật trớ trêu!

VIII NGƯỜI MẤT ĐẤT NHỚ LẠI THẾ NÀO?

Từ năm 1629 đến năm 1653, Thực lục không có dòng nào về Chiêm Thành. Người Chăm thì nhớ đó là đời vua Pô Ro-mê. Truyền thuyết của họ kể vua Yuôn cho 1 công chúa sang quyến rũ Pô Ro-mê, xui vua chặt cây krêk là cây thần giữ nước, chặt xong thì quân Yuôn kéo vào, bắt Pô Ro-mê “giải về kinh-đô Huế trong một cái chuồng bằng sắt” [12].

Bài thơ của người Chăm kể lại chuyện cây krêk kết bằng câu: “chúng tôi viết nên quyển sách này để nhớ lại những cái không may của nước chúng tôi cùng sự ngu-xuẩn theo lời đường mật của đàn bà con gái. Trong mai-hậu, đừng có nghe họ nữa!” [12].

Như ta thấy, sử của bên thắng thì đổ hết cho bên thua, vua Chiêm “xâm lấn”, vua Chân Lạp “làm phản”, rồi tự nguyện “dâng đất”. Còn người mất nước kể chuyện mất nước, cũng lại đổ cho chính mình, tại vua mình mê gái, tại vua mình chặt cây thần.

Tôi nghĩ kể như thế thì đau, có điều người kể vẫn còn cái để dặn con cháu. Mất nước vì vua mình dại thì đời sau khôn ra là giữ được, chứ kể rằng mất nước vì người ta đông hơn, mạnh hơn, thì con cháu biết làm gì? Bảo sao bài thơ mới kết bằng 1 lời dặn con cháu.

Người Khmer thì đến giờ vẫn gọi miền Tây Nam Bộ là Kampuchea Krom, nghĩa là Campuchia dưới [15]. Còn trong Thực lục, lời của người Khmer chỉ lọt vào khi mật thám bắt được thư, quan “đã dịch ra chữ Hán” rồi mới tâu lên [5].

Sư Kế năm 1820, mấy ông thủ lĩnh năm 1840, Thực lục chỉ chép là giặc, dùng bùa chú, “tính vốn ngu tối”, còn họ nói gì, vì sao họ cầm giáo thì sử không chép. Chả biết có ông sử quan nào thấy tiếc không?

***

Những chuyện trên tôi kể không nhằm chê chúa Nguyễn, cũng không có ý bảo đất ấy phải trả lại cho ai. Thời ấy nước nào mạnh thì lấn nước yếu, Xiêm cũng đ.á.n.h chiếm kinh đô Chân Lạp mấy lần [6], Chân Lạp xưa kia cũng đã gộp luôn đất Phù Nam [4], mà chính Dohamide cũng chép đất Biên Hòa “vốn trước kia do Champa đ.á.n.h lấy của Cam-Bốt hồi đầu thế kỷ 15” [12]. Phải thấy rằng không có 2 thế kỷ ấy thì làm gì có miền Nam bây giờ.

Có điều đất mà Thực lục chép là được “dâng” thì biên niên của người mất đất chép là chúa Nguyễn sang “mượn”, rồi kể chuyện vua mình bị lừa, bị nhốt trong cũi sắt. Người Chăm ở Phan Rang, người Khmer ở Trà Vinh, Sóc Trăng thì vẫn ở trên đất ấy, từ trước khi chúa Nguyễn vào cho tới tận bây giờ. Năm 1832, các quan trong triều tâu với vua, cứ dùng lối người Kinh mà thay thói người Hời thì “không ngoài vài mươi năm, tưởng có thể không khác gì người Kinh vậy”…


Nguồn:
[1] – Đại Nam thực lục tiền biên – Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học dịch, quyển I năm 1611 và năm 1613, quyển IV năm 1653 và năm 1658, quyển V năm 1674 và năm 1679, quyển VII từ năm 1692 đến năm 1699 và năm 1702, quyển VIII năm 1708, quyển IX năm 1732, quyển X năm 1739, từ năm 1750 đến năm 1753, năm 1756 và năm 1757.
[2] – Gia Định thành thông chí – Trịnh Hoài Đức, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Nha Văn hóa Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, quyển III Cương vực chí.
[3] – Phủ biên tạp lục – Lê Quý Đôn, Viện Sử học dịch, quyển I, quyển II, quyển IV và quyển VI.
[4] – Đại Nam liệt truyện chính biên sơ tập – Quốc sử quán triều Nguyễn, quyển 31 Truyện các nước ngoài, mục Nước Cao Man.
[5] – Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ – Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học dịch, năm Minh Mạng thứ 1, tức năm 1820, năm Minh Mạng thứ 10, tức năm 1829, từ năm Minh Mạng thứ 13 đến năm Minh Mạng thứ 16, tức từ năm 1832 đến năm 1835 và năm Minh Mạng thứ 21, tức năm 1840.
[6] – Đóng góp của một công nữ họ Nguyễn vào công cuộc mở đất phương Nam trong thế kỷ XVII – Phan Văn Hoàng, in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, Thanh Hóa, năm 2008.
[7] – Lịch sử Việt Nam tập 6, từ năm 1858 đến năm 1896 – Viện Sử học, Võ Kim Cương chủ biên, chương I Việt Nam trước khi Pháp xâm lược, chương II và chương III về cuộc kháng chiến chống Pháp, chương IV Phong trào kháng chiến chống Pháp.
[8] – Lịch sử Việt Nam tập 5, từ năm 1802 đến năm 1858 – Viện Sử học, Trương Thị Yến chủ biên, chương IV mục kênh Vĩnh Tế và chương VII Quan hệ đối ngoại.
[9] – Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ – Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học dịch, năm 1794 và năm Gia Long thứ 18, tức năm 1819.
[10] – Công chúa Ngọc Vạn với vùng đất Nam Bộ – Nguyễn Đình Tư, in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, Thanh Hóa, năm 2008.
[11] – Đại Nam thực lục chính biên, đệ tam kỷ – Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học dịch, năm Thiệu Trị thứ 1, tức năm 1841 và năm Thiệu Trị thứ 7, tức năm 1847.
[12] – Dân tộc Chàm lược sử – Dohamide và Dorohiêm, Sài Gòn, năm 1965, chương 7 Giai đoạn sau cùng của Vương quốc Chàm và phần Phụ lục Tiếng nói của người Chàm trong lịch sử Champa.
[13] – Văn hóa Chăm, nghiên cứu và phê bình – Sakaya, phần chú thích về lễ Katé.
[14] – Người Chăm xưa và nay – Nguyễn Duy Hinh, chương 1, đoạn dẫn Đại Nam nhất thống chí về Chiêm Thành.
[15] – How Pol Pot Came to Power – Ben Kiernan, lời tựa, phần Colonialism and Nationalism.

Trả lời