
BRADLEY K. MARTIN
Trần Quang Nghĩa dịch
Ba mươi lăm : Mặt trời của thế kỷ XXI
Những người lính mặt mày nghiêm nghị đứng cách nhau vài trăm mét dọc theo con đường vòng quanh những thửa ruộng lúa vừa được cày xới và ngập nước, lớp bùn nâu sẫm sẵn sàng cho việc gieo trồng. Vài con dê đang gặm cỏ. Những con bò kéo cày; một con kéo một chiếc “xe chở mật ong (phân người), theo truyền thống được dùng làm phân bón. Người dân vác những bó củi hoặc rơm trên lưng, ra và vào những ngôi nhà riêng lẻ và các tòa nhà chung cư nhỏ rải rác khắp vùng nông thôn. Quần áo mùa đông dài được đem ra phơi khô.
Đây là Triều Tiên mà một du khách như tôi có thể nhìn thấy từ cửa một chiếc xe buýt du lịch dừng lại mỗi ngày dưới chân núi Kumgang, nơi có thác Cửu Long cao 100 mét. Những chiếc xe buýt đậu trong một bãi đất rộng lớn được bao quanh bởi các quầy bán đồ lưu niệm và cửa hàng ăn vặt. Sau khi leo lên một con đường dốc, men theo bờ sông, điều tiếp theo cần làm là chiêm ngưỡng những bản khắc kinh Phật giáo cổ xưa và khẩu hiệu cộng sản đương thời được chạm khắc trên vách đá. Sau khi đã chiêm ngưỡng đủ phong cảnh, chúng tôi có thể dùng ngoại tệ để tắm suối nước nóng trị liệu hoặc xem các nghệ sĩ xiếc đến từ Bình Nhưỡng biểu diễn trong sân vận động có mái che.
Triều Tiên luôn tìm cách thể hiện bộ mặt tốt nhất của mình ở những nơi thu hút khách du lịch. Núi Kumgang, khi tôi đến đó vào mùa xuân năm 2000, cũng không phải là ngoại lệ. Người dân địa phương có nhiệm vụ giữ gìn thắng cảnh được ăn mặc bảnh bao, có thể xác nhận (nếu họ được phép nói thẳng ra), rằng địa điểm đó hầu như không giống với phần lớn đất nước của họ. Lãnh tụ Kính yêu, nay là Lãnh tụ Vĩ đại, Kim Jong-il vẫn kiên quyết từ chối theo đuổi chủ nghĩa tư bản. Ông tiếp tục cô lập người dân khỏi các ảnh hưởng bên ngoài. Giống như Cuba, Triều Tiên vẫn là một quốc gia bị cô lập về kinh tế trong một thế giới phần lớn đã hòa nhập vào nền kinh tế thị trường. Trung Quốc láng giềng, mặc dù về mặt chính trị vẫn là một nhà nước cộng sản độc đảng, đang phát triển nhanh chóng và đang trên đà trở thành một cường quốc xuất khẩu.
Tháng 6 năm 2000, những dấu hiệu ban đầu rất khả quan. Trong một bầu không khí thân mật như cuộc gặp gỡ hòa bình, hai miền Triều Tiên đã nhất trí sống hòa bình trong khi theo đuổi mục tiêu thống nhất cuối cùng. Seoul sẽ thúc đẩy Hàn Quốc đầu tư vào Triều Tiên. Đổi lại, Bình Nhưỡng đồng ý cho phép các cuộc gặp gỡ giữa các thành viên gia đình bị chia cắt nửa thế kỷ trước. Vài ngày sau cuộc gặp, Tổng thống Bill Clinton đã đồng ý nới lỏng hầu hết các lệnh trừng phạt kinh tế của Mỹ đối với Triều Tiên, một động thái được ca ngợi (một cách vội vàng, như sau này đã chứng minh) là mở đường cho thương mại tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ ngoại trừ những mặt hàng nhạy cảm về mặt chính trị.
Cho đến thời điểm đó, sự quan tâm đến Triều Tiên như một điểm đến kinh doanh chủ yếu chỉ giới hạn ở những người Hàn Quốc sinh ra ở phía bắc bán đảo – bao gồm cả người sáng lập Tập đoàn Hyundai, Chung Ju-yung. Nhưng Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Hàn Quốc đang cố gắng lên kế hoạch cho một chuyến đi về phía bắc của các đại diện từ Seoul của các công ty lớn của Mỹ như Goldman Sachs, General Electric, Coca-Cola và Procter & Gamble, tất cả đều có các khoản đầu tư và hoạt động lớn ở Hàn Quốc.
Những người lạc quan chỉ ra bằng chứng cho thấy sự suy thoái kinh tế kéo dài một thập kỷ của Triều Tiên đã chạm đáy vào năm 1998. Theo một báo cáo của ngân hàng trung ương Hàn Quốc, nền kinh tế Triều Tiên đã tăng trưởng 6,2% trong năm 1999. Sản lượng ngũ cốc tăng 8,5%, lên 4,22 triệu tấn – vẫn ở mức thiếu lương thực, nhưng là một sự cải thiện. Đến cuối năm 1999, sản xuất đã được mở lại tại khu phức hợp thép khổng lồ Kim Chaek và tại hàng ngàn nhà máy khác đã ngừng hoạt động trước đó do thiếu năng lượng và sự đứt gãy hậu cần tổng thể.
Bộ Thống nhất Hàn Quốc, cơ quan giám sát quan hệ Bắc-Nam, dự đoán rằng Triều Tiên sẽ cố gắng gia nhập các tổ chức đa phương như Quỹ Tiền tệ Quốc tế vào năm 2001. Nước này đã nối lại quan hệ ngoại giao với Ý và Úc và sắp sửa làm điều tương tự với Philippines. Họ đã thu xếp được một khoản vay lãi suất thấp từ Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC). Sự giúp đỡ này rất cần thiết. Các nhà cho vay nước ngoài, giống như các nhà đầu tư nước ngoài, đã xa lánh Triều Tiên kể từ những năm 1980 khi Bình Nhưỡng vỡ nợ với phương Tây và Nhật Bản, lãi suất cộng dồn đã khiến nợ ngoại tệ của Bình Nhưỡng tăng vọt lên khoảng 14 tỷ đô la. Việc phương Tây và Nhật Bản không sẵn lòng cho vay, cùng với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu, đã cản trở tiến trình cải thiện thương mại của Bình Nhưỡng. Đó là các nhân tố, cùng với sự quản lý yếu kém và thiên tai, đã gây ra sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng – gần như sụp đổ vào những năm 1990.
Năm 1994, Triều Tiên ngày càng suy yếu. Nghiên cứu của tôi, cũng như của những người khác, đã chỉ ra một mối hiểm họa thực sự rằng nước này có thể chọn biện pháp cuối cùng là chiến tranh để tránh sự diệt vong của chế độ và hệ thống của mình. Khi đó, việc Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Nhật Bản đồng ý một thỏa thuận trong đó Bình Nhưỡng sẽ nhận được số lò phản ứng nước nhẹ trị giá 4,5 tỷ đô la để tăng sản lượng năng lượng, đổi lại việc đóng băng chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của họ, là điều hợp lý. Giả định ngầm ở Washington là bất kỳ mối đe dọa chiến tranh nào cuối cùng cũng sẽ tắt ngấm khi chế độ tiếp tục suy yếu – thực tế, chế độ sẽ sụp đổ trước khi các nhà tài trợ thực hiện tất cả các lời hứa của mình.
Khi thập niên 1990 kết thúc, Triều Tiên công khai nắm giữ tên lửa tầm xa, thay thế cho vũ khí hạt nhân năm 1994, trong nỗ lực tống tiền các kẻ thù cũ. Và trong khi khoảng cách với Hàn Quốc tiếp tục gia tăng, Triều Tiên lại trở nên mạnh lên về chỉ số tuyệt đối. Cuộc khủng hoảng lương thực đã giảm bớt phần nào – phần lớn nhờ viện trợ từ các nước thù địch. Kim Jong-il rõ ràng đã củng cố vị thế trong nước của mình. Ông ta đã giữ được lòng trung thành của quân đội, một phần bằng cách rút rỉa những nhượng bộ béo bở từ các nước cựu thù và phân chia phần lớn lợi nhuận cho những người mặc quân phục. Vào thời điểm đất nước có thể nghĩ đến việc bắt đầu tái thiết nền kinh tế, họ lại bắt đầu tăng cường khả năng chiến tranh quy ước. Các nước tài trợ phải cân nhắc xem liệu việc hỗ trợ một đối thủ đang mạnh lên có bao giờ là một chính sách khôn ngoan hay không.
Dường như có rất ít vấn đề nằm ở quá trình mà Clinton đã khởi xướng, đó là nới lỏng một số lệnh trừng phạt kinh tế đối với Triều Tiên, trong khi chờ đợi các cuộc đàm phán tiếp theo về khả năng đóng băng chương trình phát triển tên lửa của Bình Nhưỡng. Hầu hết các nhà phân tích đều đồng ý rằng việc thực hiện cử chỉ này sẽ không mang lại lợi ích lớn ngay lập tức cho Bình Nhưỡng. Mặc dù người Mỹ sẽ được tự do đầu tư vào nước này về mặt pháp lý, nhưng ngoài các lệnh trừng phạt, còn có những lý do khác ngăn cản họ coi Triều Tiên là mục tiêu đầu tư ưu tiên. Cơ sở hạ tầng yếu kém là một trong số đó.
Một lý do khác là lòng tin đối với một quốc gia liên tục không trả được nợ nước ngoài gần như đã cạn kiệt. Câu hỏi lớn hơn, mang tính chính trị-quân sự, là cách tiếp cận “toàn diện” của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ William Perry có thể dẫn đến đâu – ví dụ đối với Nhật Bản.
Đương nhiên, Kim Jong-il coi chương trình tên lửa là con át chủ bài thứ hai của mình, bên cạnh vũ khí hạt nhân. Ông ta sẽ không dễ dàng từ bỏ nó. Các đại diện của Triều Tiên sẽ yêu cầu những khoản tiền mặt lớn. Trong các cuộc đàm phán với Washington, họ được cho là đã nói rằng giá phải trả cho việc đình chỉ xuất khẩu tên lửa là 1 tỷ đô la mỗi năm. Bình Nhưỡng hầu như không còn sản phẩm nào để xuất khẩu, ngoài tên lửa. Vì vậy, chế độ này đã lên kế hoạch tìm kiếm những cách thức mới để kiếm ngoại tệ. Ở mức cơ bản nhất, họ cần ngoại tệ mạnh để mua vũ khí mà họ không thể sản xuất trong nước và để duy trì mức sống của tầng lớp cầm quyền và quân đội. Việc khôi phục các ngành sản xuất và nông nghiệp bị tàn phá trở lại mức của những năm 1980 – nói chi đến việc cất cánh trở thành “con hổ châu Á” thế hệ thứ ba – là điều khác gì một giấc mơ, nếu không có một lượng lớn ngoại hối đổ vào.
Bình Nhưỡng biết rằng việc chính quyền Clinton chịu trả tiền cho một quốc gia tống tiền là điều gần như bất khả thi cả về chính trị lẫn pháp lý. Trong tính toán của Triều Tiên, đây là lúc Tokyo phát huy vai trò. Sau cam kết của chính quyền Clinton về việc trừng phạt, Thủ tướng Keizo Obuchi cho biết Nhật Bản sẽ xem xét dỡ bỏ các lệnh trừng phạt của mình – bao gồm cả việc đóng băng các cuộc đàm phán bình thường hóa ngoại giao – “trong trường hợp Triều Tiên thể hiện rõ thái độ tích cực, đình chỉ kế hoạch phóng tên lửa. Bất kỳ cuộc đàm phán bình thường hóa quan hệ Tokyo-Bình Nhưỡng nào được nối lại, tất nhiên, sẽ nhanh chóng chĩa mũi vào vấn đề tiền bạc. Bình Nhưỡng đã nối lại yêu cầu Nhật Bản bồi thường cho Triều Tiên về việc đô hộ Triều Tiên trong nửa đầu thế kỷ XX, cùng với các tội danh khác. Nhật Bản đã gửi cho Triều Tiên hơn 500 triệu đô la Mỹ dưới dạng trợ cấp và cho vay sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ năm 1965. Tính cả lạm phát và lãi suất, khoản bồi thường cho Bình Nhưỡng có thể lên tới mức ngất ngưởng là 5 tỷ đô la, theo một số ước tính của Hàn Quốc và Nhật Bản. Bình Nhưỡng đòi thêm 10 tỷ đô la, bồi thường thiệt hại do Nhật Bản gây ra khi ủng hộ Liên Hợp Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên.
Khoản bồi thường hoặc viện trợ hàng tỷ đô la có thể đóng vai trò trả giá cho việc chấm dứt mối đe dọa tên lửa từ Triều Tiên đối với Nhật Bản. Nhưng Nhật Bản sẽ không dễ dàng bị thuyết phục. Khi Triều Tiên phóng tên lửa qua quần đảo Nhật Bản vào ngày 31 tháng 8 năm 1998, hiệu quả – không như Binh Nhưỡng chắc chắn mong đợi – không hề làm người dân Nhật Bản nhũn chí và sợ hãi mà khuất phục. Thay vào đó, vụ phóng đã làm nhiều người Nhật Bản khích động và đứng dậy. Khi dư luận cuối cùng dễ dàng chấp thuận, chính phủ Tokyo đã có thể thúc đẩy việc tăng cường quốc phòng nhằm đưa Nhật Bản, một quốc gia chủ hòa theo hiến pháp, trở thành một quốc gia “bình thường” hơn. Trong số những kế hoạch khác, Nhật Bản dự định phóng các vệ tinh do thám của riêng mình và chính thức đồng ý hợp tác nghiên cứu với Hoa Kỳ về hệ thống phòng thủ tên lửa. Một đạo luật đã được thông qua vào tháng 5 năm 1999, Mỹ cho phép Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản, trong trường hợp khủng hoảng khu vực, hỗ trợ quân đội Mỹ mạnh mẽ hơn so với trước đây.
Nhưng Nhật Bản rất quan tâm đến việc giải quyết những vấn đề tồn đọng lâu nay với Triều Tiên. Và để Tokyo dễ dàng đồng ý với một thỏa thuận dàn xếp, Bình Nhưỡng – trong một động thái thể hiện sự linh hoạt mới mẻ – đã bắt đầu một chương trình nhằm làm dịu bớt những khía cạnh cứng rắn trong hình ảnh mà họ thể hiện với người Nhật. Trong một buổi gặp gỡ với nhóm nghị sĩ Nhật Bản vao tháng 8 năm 1999, chính quyền Triều Tiên đề xuất một nỗ lực chung của Hội Chữ thập đỏ có thể được triển khai để tìm kiếm những người Nhật mất tích. Nhóm tìm kiếm không chỉ truy tìm những người Nhật bị bỏ lại ở miền bắc Triều Tiên trong sự hỗn loạn sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945. Họ cũng sẽ tìm kiếm ít nhất 10 người Nhật khác bị nghi ngờ đã bị các đặc vụ Triều Tiên bắt cóc trong những năm gần đây. Việc Bình Nhưỡng từ chối thảo luận về các cáo buộc bắt cóc – điều mà cho đến nay họ vẫn phủ nhận – trong các cuộc đàm phán song phương trước đó đã dẫn đến sự thất bại của các cuộc đàm phán này.
Liệu Tokyo có nên mắc bẫy và móc hầu bao? Một manh mối về những gì Bình Nhưỡng có thể làm với khoản tiền khổng lồ này xuất hiện trong các báo cáo cho biết nước này đã nhập khẩu các bộ phận để lắp ráp máy bay chiến đấu MiG 29 và MiG 21. Máy bay MiG 29, trong đó có 10 chiếc được cho là nhập khẩu dưới dạng linh kiện tháo rời, đang được bán với giá 50 triệu đô la mỗi chiếc (hàng đã qua sử dụng) – cho thấy tổng chi phí có thể lên tới 500 triệu đô la. Câu hỏi đặt ra cho Tokyo cũng tương tự như câu hỏi mà chính phủ Hàn Quốc phải đối mặt: Liệu Seoul có nên cho phép tập đoàn Hyundai tiếp tục gửi hàng chục triệu đô la mỗi năm cho Bình Nhưỡng hay không?
Liệu đó có phải là “phí” cho các chuyến tham quan núi Kumgang của Hyundai? Trong nhiều tuần, báo chí Hàn Quốc đã cố gắng xác định xem liệu tiền của Hyundai có phải là nguồn tiền chi trả cho việc nhập khẩu máy bay MiG hay không. Câu hỏi này khá ngây thơ. Thu nhập ngoại hối từ bất kỳ nguồn nào – từ Hyundai, từ Nhật Bản, hay bất cứ đâu – đều sẽ làm tăng tổng lượng ngoại hối sẵn có cho chính quyền Bình Nhưỡng. Nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ từ bên ngoài, nguồn thu nhập đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các thương vụ mua sắm quân sự lớn của Triều Tiên. Và điều đó đúng bất kể tiền ban đầu được chuyển vào tài khoản nào. Nhưng lập luận chống lại điều mà một số nhân vật diều hâu ở Washington gọi là “chính sách nhân nhượng” không hề rõ ràng và dứt khoát. Lý thuyết đằng sau báo cáo toàn diện của Perry và chính sách “ánh dương” của Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-jung là, đúng vậy, Triều Tiên sẽ mạnh lên nhờ viện trợ. Tuy nhiên, nước này sẽ mạnh lên không chỉ về quân sự mà còn cả về kinh tế. Trong quá trình đó, Triều Tiên sẽ bắt đầu tham gia vào nền kinh tế thị trường toàn cầu. Với an ninh được đảm bảo bởi một cường quốc không ai khác là Hoa Kỳ, các lợi ích của Triều Tiên sẽ ngày càng gắn bó chặt chẽ với lợi ích của các cựu thù của mình. Có vẻ ít nhất cũng khả thi rằng nỗ lực tiếp cận Bình Nhưỡng có thể thành công theo cách đó, mặc dù Triều Tiên có một tiền sử lì lợm không chịu thay đổi bản thân một cách cơ bản. Như chính Perry đã nhấn mạnh, cần phải duy trì khả năng răn đe quân sự mạnh mẽ; bất kỳ khoản viện trợ nào dành cho Bình Nhưỡng đều phải gắn liền với các dự án cụ thể trong lĩnh vực dân sự không gây nguy hiểm và được giám sát chặt chẽ để ngăn chặn việc chuyển hướng sang mục đích quân sự. Tình cảnh tuyệt vọng đã buộc Triều Tiên phải giảm bớt huênh hoang một cách lố bịch là mình đã tạo ra một thiên đường cộng sản. Trong cuộc họp nội các tháng 1 năm 2000, Kim Jong-il và các nhà lãnh đạo ngành công nghiệp đã cam kết rằng năm nay sẽ là năm để vực dậy nền kinh tế.
Hyundai đã cho Bình Nhưỡng thấy rõ Triều Tiên có thể thu được lợi ích lớn đến mức nào. Dự án núi Kumgang mang lại cho Triều Tiên gần 200 triệu đô la Mỹ mỗi năm từ doanh thu du lịch bằng ngoại tệ. Tập đoàn khổng lồ này, nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất của Triều Tiên, đã hứa sẽ trả cho nước này 950 triệu đô la Mỹ trải đều trong vòng 5 năm, từ năm 1998 đến năm 2002, để đổi lấy độc quyền 30 năm về các tour du lịch đến khu nghỉ dưỡng này. Ngoài ra, Hyundai còn dự định đầu tư thêm tới 1 tỷ đô la nữa vào núi Kumgang để xây dựng sân bay, trung tâm mua sắm, nhà hàng, cửa hàng miễn thuế, sân golf, chung cư, khu trượt tuyết và công viên giải trí. Các quan chức của Hyundai không nói rõ khi nào họ dự kiến sẽ thu hồi vốn từ dự án này. Hiện tại, họ coi dự án này như một khoản đầu tư thua lỗ để thu hút khách hàng trong khi đàm phán các thỏa thuận khác, chẳng hạn như phát triển một khu phức hợp công nghiệp nằm trên bờ biển phía tây của Triều Tiên. Với kỳ vọng về mối quan hệ Bắc-Nam cuối cùng sẽ mang lại lợi ích, các quan chức của Hyundai rất muốn đi trước các đối thủ cạnh tranh.
Mức lương công nhân khoảng 1.500 đô la một tháng ở Hàn Quốc đã khiến Hàn Quốc bị loại khỏi thị trường nhiều mặt hàng thâm dụng lao động, chẳng hạn như giày dép và quần áo. Giờ đây, các công ty Hàn Quốc muốn quay trở lại những thị trường đó bằng cách kết hợp vốn của họ với nguồn lao động giá rẻ của Triều Tiên, nơi công nhân làm việc cho các liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài kiếm được từ 100 đến 400 đô la một tháng. Với những khoản tiết kiệm chi phí như vậy, “chúng ta có thể thậm chí còn có thể vượt qua cả Trung Quốc,” ông Hong Yeon-dal, một giám đốc điều hành của Hyundai, dự đoán.
Trước khi nhiều đối tác không phải Hàn Quốc có thể coi Triều Tiên là một khoản đầu tư khả thi, cần phải có những cải thiện trong dịch vụ năng lượng, đường sắt, đường cao tốc và cảng biển. Cơ sở hạ tầng của Triều Tiên đã xuống cấp nghiêm trọng trong những năm 1990. Tình trạng thiếu điện vẫn là một vấn đề thường trực, và những khó khăn về hậu cần vẫn vượt trội so với lợi thế về chi phí lao động. Triều Tiên đã tìm đến Nhật Bản như một giải pháp cho vấn đề cơ sở hạ tầng yếu kém này. Sau nhiều tháng đàm phán, nhiều nhà quan sát tin rằng Tokyo và Bình Nhưỡng sẽ đồng ý thiết lập quan hệ ngoại giao vào cuối năm 2000. Vào thời điểm đó, Nhật Bản được cho là sẽ cam kết hàng tỷ đô la cho các dự án cơ sở hạ tầng. Một nhà ngoại giao ở Seoul nhận xét về Triều Tiên rằng “núi tiền từ Nhật Bản và Hàn Quốc thực sự là điều duy nhất có thể giải cứu họ”.
Nhiều chủ nợ Nhật Bản và phương Tây vẫn tin rằng Bình Nhưỡng có thể đáp ứng các nghĩa vụ tài chính nếu ngừng đổ tiền vào quân đội. Giờ đây, cụ thể, các nước bên ngoài yêu cầu Triều Tiên ngừng phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt. “Điều chúng ta muốn họ đáp ứng,” một nhà ngoại giao ở Seoul nói, “là giảm bớt việc khoa trương mối đe dọa của mình.” Thực tế, việc tạm ngừng thử nghiệm tên lửa tầm xa là điều kiện để Washington nới lỏng các lệnh trừng phạt.
Tội lỗi lịch sử không phải là động cơ cho những gì miền Nam đang đề xuất: sự kết hợp giữa đầu tư công và tư nhân cùng với những lời đảm bảo rằng Seoul sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Bình Nhưỡng. Các công ty Hàn Quốc khác cũng bắt đầu noi theo Hyundai. Công ty Điện tử Samsung và Công ty LG đã bắt đầu lắp ráp tivi tại các nhà máy ở Triều Tiên. Một liên doanh do Công ty Công nghiệp nặng Tong-il của Giáo hội Thống nhất sở hữu 30% và Triều Tiên sở hữu 30% đang chuẩn bị lắp ráp ô tô Fiat tại thành phố cảng Nampo phía tây, sử dụng các linh kiện được vận chuyển từ liên doanh của Tong-il với Fiat tại Việt Nam. Và một nhà máy dược phẩm do Quỹ Phúc lợi Hàn Quốc tài trợ đang được xây dựng tại Khu Kinh tế và Thương mại Tự do Rajin-Sonbong ở phía đông bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó, Hyundai vẫn là đại diện doanh nghiệp nổi bật nhất trong chính sách của Hàn Quốc.
Trước khi đường biên giới Bắc-Nam chia cắt, vùng núi Kumgang từng là điểm đến nghỉ dưỡng nổi tiếng của cư dân Seoul. Nhưng cơ sở hạ tầng cũ đã biến mất từ lâu. Hyundai buộc phải bắt đầu lại từ đầu để xây dựng những gì cần thiết cho các tour du lịch của mình. Các quan chức công ty cho biết đã chi khoảng 30 triệu đô la cho đường sá, cơ sở vật chất cảng biển, khu nghỉ dưỡng, sân vận động, các quầy bán đồ ăn và quà lưu niệm, và một tòa nhà hải quan và nhập cư được trang bị máy tính và thiết bị dò kim loại. Người ngoài cuộc phỏng đoán rằng chi phí thực tế cao hơn nhiều lần.
Bất chấp khoản đầu tư khổng lồ, công ty – và cả khách hàng – vẫn phải chịu đựng những bất tiện không thể khắc phục. Vì khu nghỉ dưỡng chỉ có một khách sạn đơn sơ với 150 phòng, Hyundai đã quyết định chuyển các tour du lịch của mình thành những chuyến du ngoạn hải hành ba ngày giữa cảng Tonghae của Hàn Quốc và Kosong của Triều Tiên. Du khách, phần lớn là Hàn Quốc, ngủ trên tàu và xuống tàu hai lần để tham gia các chuyến du ngoạn cả ngày. Như vậy, mỗi người phải đi qua hệ thống nhập cảnh và hải quan nghiêm ngặt của Triều Tiên bốn lần. (Các quan chức Triều Tiên đã kiểm tra họ bằng các thiết bị an ninh hiện đại do Hyundai tài trợ.)
Bình Nhưỡng kiên quyết kiểm soát việc người dân Triều Tiên tiếp xúc với người ngoài đến mức xe buýt của Hyundai chỉ được di chuyển trên một con đường riêng biệt, hai bên đường được ngăn bằng hàng rào thép gai. Những người Triều Tiên được chọn lọc làm việc với tư cách là nhân viên kiểm lâm, khách du lịch và nhân viên của Hyundai đã được hướng dẫn không thảo luận bất cứ điều gì ngoài những chủ đề vô hại như thời tiết – mặc dù quy định này không ngăn cản một nữ hướng dẫn viên cấp cao tha thiết yêu cầu tôi thuyết phục các nhà đầu tư Mỹ mang đô la của họ đến. (Tôi đã nhập cảnh bằng visa du lịch do Hyundai sắp xếp – do đó có lẽ một lần nữa tránh được bất kỳ hậu quả nào còn sót lại từ việc tôi bị đưa vào danh sách đen năm 1989 với tư cách là một nhà báo. Nhưng tôi không giấu giếm nhiệm vụ của mình ở đó là viết một bài báo cho một tạp chí tài chính.)
Mô hình sản xuất lương thấp để phát triển kinh tế chắc chắn có những nhược điểm. Tại sao lại dồn người lao động của mình vào các xưởng may chật chội, hít phải hơi benzen dùng để dán giày thể thao? Sau cùng, những tên nước ngoài tham lam đã tài trợ và giám sát các doanh nghiệp đó, rồi bán sản phẩm ra nước ngoài, sẽ chiếm phần lớn lợi nhuận. Và ngay khi người lao động bắt đầu đòi hỏi mức lương cao hơn và điều kiện làm việc tốt hơn, thì bọn tư bản nước ngoài sẽ đóng cửa hãng và dời đến Somalia (Phi Châu) hoặc một nơi khỉ ho cò gáy khác, nơi bọn chúng có thể thuê công nhân với giá rẻ mạt hơn nữa.
Một quan chức cấp cao của Triều Tiên khi xem xét vấn đề này hẳn sẽ đưa ra thêm một lập luận khác: Nếu các bạn cho phép những tư bản nước ngoài đó vào nước mình để giám sát các doanh nghiệp sản xuất, họ sẽ làm tha hóa người dân vốn đã được cô lập và giáo dục cẩn thận của mình bằng những tư tưởng ngoại lai, chắc chắn sẽ làm nổi bật khoảng cách khổng lồ giữa những lời dạy của chế độ và thực tế mà phần còn lại của thế giới biết đến. Quá trình này, cuối cùng, sẽ đe dọa sự tồn tại của chế độ. Và nếu những doanh nhân đến đây lại là người Hàn Quốc – như phần lớn doanh nhân nước ngoài vào Triều Tiên – thì vấn đề sẽ sớm bùng phát hơn nữa. Người Hàn Quốc, cùng nói một ngôn ngữ với người Triều Tiên, sẽ khó bị cô lập hơn so với những người nước ngoài khác.
Các quan chức Bình Nhưỡng dường như đã theo đuổi một số lập luận như vậy. Oh Seung-ryul, một nhà nghiên cứu tại Viện Thống nhất Quốc gia ở Seoul, báo cáo năm 1999 cho biết Triều Tiên đang chủ động giảm bớt tầm quan trọng của ngành sản xuất công nghiệp như là phương tiện hợp pháp chính để thu ngoại tệ. (Sự thay đổi này không hoàn toàn triệt để, và rõ ràng là nó không ảnh hưởng đến các phương tiện bất hợp pháp để thu ngoại tệ, chẳng hạn như sản xuất và buôn lậu heroin hoặc in ấn và lưu hành đô la Mỹ giả khó phát hiện, gọi là “Super-K”). Du lịch được coi trọng hơn ngành sản xuất công nghiệp. Sự chuyển dịch này đặc biệt rõ nét trong khu kinh tế tự do Rajin-Sonbong. Tại đó, một sòng bạc mới đã được mở, chủ yếu nhắm vào người Trung Quốc bên kia biên giới. “Triều Tiên đang thay đổi chức năng của khu vực Rajin-Sonbong từ một cơ sở sản xuất thành một điểm thu hút khách du lịch và trung tâm thương mại quá cảnh”, ông Oh nói. Ông nói thêm rằng chính quyền Bình Nhưỡng đã cấm người Hàn Quốc đến thăm khu vực này và đã bắt đầu gỡ bỏ các quảng cáo của các doanh nghiệp phương Tây tại đó.
Trong trường hợp Rajin-Sonbong, nguy cơ lây nhiễm tư tưởng có lẽ không phải là yếu tố duy nhất tạo ra sự chuyển đổi. (Có một số câu hỏi đặt ra là tại sao điều đó lại là một nhân tố, nếu người ta tin vào những báo cáo trước đó cho rằng chế độ đã di dời tất cả cư dân ban đầu và thay thế họ bằng những người được coi là cực kỳ trung thành với Bình Nhưỡng và tương đối miễn nhiễm với những lời ru ngủ của người nước ngoài.) Một nhân tố lớn khác là các nhà đầu tư nước ngoài không mấy hứng thú với vị trí hẻo lánh của khu vực này. Tổng vốn đầu tư của họ từ năm 1991 đến năm 1997 chỉ là 62 triệu đô la, theo thống kê của chính quyền Hàn Quốc.
Tình trạng tham nhũng của nhóm quan chức tiền nhiệm dường như cũng đóng một vai trò nhất định. Một báo cáo năm 1998 trích dẫn các nguồn tin Trung Quốc tại Bắc Kinh cho biết chính quyền Triều Tiên đã bắt giữ bảy quan chức, trong đó người đứng đầu Dự án Phát triển Đặc biệt Rajin-Sonbong, đã bị các quan chức trung ương đảng điều tra về tội tham nhũng. Họ bị cáo buộc đã tống tiền những người nước ngoài muốn kinh doanh tại đó. Báo cáo cho biết văn phòng dự án ở Yanji, ngay bên kia biên giới thuộc Trung Quốc, đã bị đóng cửa. Mặc dù còn quá sớm để dự đoán liệu du lịch và cờ bạc sẽ là giải pháp cho Rajin-Sonbong, lợi thế của chính quyền khi dựa vào du lịch có thể thấy rõ trong trường hợp của núi Kumgang. Hãy thử kiếm số tiền đó bằng cách sản xuất hàng dệt may hoặc lắp ráp tivi xem sao.
Nhưng chẳng phải khách du lịch Hàn Quốc cũng gây ra mối đe dọa “lây nhiễm” tương tự như các doanh nhân sao? Không phải kể từ tháng 6 năm 1999. Đó là thời điểm khi chính quyền Triều Tiên bắt giữ và thẩm vấn trong vài ngày một bà nội trợ và người mẹ ở Seoul đang đi du lịch. Họ buộc tội người phụ nữ này làm gián điệp – bà khai rằng mình chỉ trò chuyện vô tư với một người kiểm lâm Triều Tiên tại công viên về cuộc sống của những người đào thoát Triều Tiên ở miền Nam. Được biết, bà đã bắt đầu điều trị tâm thần vì chấn thương tâm lý mà mình phải chịu đựng, và nói với phóng viên của tờ The Korea Herald rằng bà tin mình đã bị gài bẫy. Quả thực, có những dấu hiệu cho thấy Bình Nhưỡng đang tìm kiếm một du khách có thể bị đem ra làm gương, nhằm răn đe các du khách tương lai. Nếu đó là ý định, thì nó chắc chắn đã có hiệu quả. Chuyến du lịch đã bị tạm dừng trong 45 ngày. Khi chuyến đi được nối lại, một nhà báo của tờ Chosun Ilbo đi cùng và sau đó tường thuật lại: “Trên tàu du lịch, trên xe buýt và bất cứ khi nào có một nhóm nhỏ người tụ tập lại với nhau, nhân viên của Hyundai liên tục yêu cầu du khách đến vùng núi Kumgang không được nói gì với hướng dẫn viên du lịch Triều Tiên ngoài lời chào và lời cảm ơn.” Du khách đã tuân theo.
Như chúng ta đã thấy, các bước tiến tới hợp lý hóa quản lý kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài vào đầu những năm 1990 đã xung đột với mục tiêu của giới quân sự mà Kim Jong-il vun trồng. Những bước này về cơ bản đã bị đình trệ khi Hàn Quốc quay lưng lại với Triều Tiên trong cuộc khủng hoảng hạt nhân đầu tiên. Những năm tháng tang thương và nạn đói cùng cực sau cái chết của Kim Il-sung năm 1994 cho thấy rất ít dấu hiệu về một nỗ lực cải cách kinh tế mới. Nhưng vào ngày 5 tháng 9 năm 1998, Đại hội Nhân dân Tối cao đã thông qua hiến pháp mới cho nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Chương thứ ba của hiến pháp này đề cập đến kinh tế. Điều 33, mang tính triệt để so với tiêu chuẩn trước đây, có nội dung: “Nhà nước sẽ đưa ra một hệ thống kế toán chi phí trong quản lý kinh tế … và sử dụng các đòn bẩy kinh tế như chi phí ban đầu, giá cả và lợi nhuận.” Điều 37 bổ sung rằng nhà nước nên khuyến khích “các doanh nghiệp liên doanh với các tập đoàn hoặc cá nhân nước ngoài trong khu kinh tế đặc biệt.” Năm sau, quốc gia này đã ban hành Luật Trọng tài Kinh tế Đối ngoại chi tiết.
Sau đó, quá trình thay đổi lại diễn ra chậm lại. Người theo dõi Bình Nhưỡng cảnh báo rằng các dấu hiệu về nới lỏng ở miền Bắc cần được xem xét kỹ. Jean-Jacques Grauhar, tổng thư ký Phòng Thương mại Liên minh châu Âu có trụ sở tại Seoul, trước đây từng làm việc và sinh sống tại Bình Nhưỡng trong nhiều năm. Ông nói với tôi vào năm 2000 rằng các nhà lãnh đạo Triều Tiên dường như không có mục tiêu nào vượt quá việc sửa chữa hệ thống kinh tế của họ. Mục tiêu của họ là “không thay đổi hệ thống – và đó không nên là mục tiêu của các nhà đầu tư nước ngoài”, ông nói. Grauhar và các chuyên gia khác khuyên các công ty không phải của Hàn Quốc nên hợp tác với các công ty Hàn Quốc và học hỏi phong cách của họ, tiến hành kinh doanh theo cách gây ít đe dọa nhất cho một chế độ e ngại thay đổi. “Tôi đã thúc đẩy Club Med làm điều gì đó ở đây trong nhiều năm rồi,” ông nói. Các khu nghỉ dưỡng của công ty Pháp thường được xây dựng trong môi trường nguyên sơ, tách biệt khỏi thực tế xung quanh – giống như núi Kumgang. Thêm vào đó, Club Med thu lợi nhuận từ khách nước ngoài, chứ không phải từ người dân địa phương đang gặp khó khăn của các nước sở tại. Ý tưởng về những vị khách mặc bikini của Club Med vui chơi trong quán bar ở Triều Tiên nghe có vẻ xa vời – nhưng chẳng phải cách đây không lâu, ý tưởng về các tour du lịch của Hyundai đến thác Cửu Long cũng vậy sao.
Trong đoạn băng ghi âm cuộc hội thoại với phái đoàn Nhật Bản-Hàn Quốc của Chongryon vào ngày 25 tháng 4 năm 1998, Kim Jong-il đã đề cập đến các vấn đề kinh tế. Ông nói: “Chúng tôi không phải là những người theo chủ nghĩa biệt lập, nhưng chúng tôi muốn duy trì hiện trạng. Chúng tôi không muốn hàng loạt khách du lịch đến đây và lây lan AIDS cũng như làm ô nhiễm đất đai của chúng tôi.”
Trong cuộc trò chuyện đó, Kim tỏ ra rất quan tâm đến chi tiết của các nền kinh tế khác, đặc biệt là Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ – tất cả đều bị ông gọi là “quỷ dữ”. Ông dành những lời ưng ý nhất cho Hoa Kỳ, cụ thể là Tổng thống Bill Clinton lúc bấy giờ. “Clinton đang làm tốt ở Nhà Trắng,” ông nói. “Jack Kennedy cố gắng tạo dựng tên tuổi cho mình nhưng ông ấy đã bị loại bỏ trước khi có cơ hội. Ông Clinton này mới chỉ 52 tuổi, nhưng đã được bầu vào Nhà Trắng hai lần. Ông ấy quả là một người tài giỏi.” Kim cũng ca ngợi máy tính do Mỹ sản xuất. “Ngày nay,” ông nói, “Hàn Quốc khoe khoang về máy tính của mình trên các quảng cáo truyền hình, nhưng máy tính của Hàn Quốc thậm chí còn không thể sánh được với máy tính của Mỹ. Chúng ta phải lấy lòng người Mỹ và có được những thứ tốt nhất mà họ có. Quân đội Nhân dân chúng ta coi Hoa Kỳ là kẻ thù không đội trời chung, nhưng người dân chúng ta tham gia buôn bán lại rất tôn trọng người Mỹ. Điều này được gọi là nguyên tắc “trong cứng, ngoài mềm”.
Kim tỏ ra là một người nghiện tin tức, luôn sẵn sàng nhớ lại những sự kiện kỳ lạ. Tuy nhiên, việc ông không đi đây đó nhiều có thể thấy qua những quan niệm sai lầm và ngây thơ của ông. Ông khẳng định rằng Nhật Bản có thể làm được nhiều hơn nữa bằng cách xây đập trên các con sông để sản xuất thủy điện, tận dụng lợi thế của “nhiều ngọn núi cao với lượng nước lớn.” Thật ra, các con sông ở Nhật Bản ngắn và không đặc biệt hùng vĩ – một lý do lớn khiến đất nước này chọn tập trung vào năng lượng hạt nhân. Bằng cách xem qua các catalog sản phẩm của Nhật Bản, Kim đã phát hiện ra hình thức trả góp. “Họ đã sử dụng phương thức thanh toán này bao lâu rồi?” ông hỏi những vị khách đến từ Nhật Bản. “Ngay cả những sản phẩm kém chất lượng cũng được bán trả góp. Có vẻ như hình thức trả góp là do doanh số bán hàng chậm.”
Cách ông mô tả đặc trưng của Hàn Quốc, vào thời điểm đó vốn đang phải chịu đựng một cuộc khủng tài chính nghiêm trọng ở châu Á bắt đầu từ năm 1997, đầy rẫy sự phóng đại và xuyên tạc – có lẽ chỉ đơn giản là suy nghĩ viển vông của ông ta: “Người cai trị Hàn Quốc thực sự là Hoa Kỳ. Ngày nay, Hàn Quốc đang trong tình trạng hỗn loạn về chính trị và kinh tế. Các quan chức Seoul đang cố gắng khôi phục sự ổn định kinh tế nhưng tôi không tin họ sẽ thành công.” Tất nhiên, sau giai đoạn khó khăn kinh tế đó, họ đã thành công. Bộc lộ nhận thức sai lầm của mình, Kim nhận xét rằng, sau thời gian thịnh vượng “khoảng mười năm bắt đầu từ năm 1988,” bọn xấu xa ở Hàn Quốc đã “không một xu dính túi.”
Để minh họa cho nhận thức kỳ lạ của Kim Jong-il về tỷ lệ, ông đã kể khá dài dòng về mong muốn các quan chức Triều Tiên hãy tìm kiếm ở Nhật Bản và Hàn Quốc hai loài chó bản địa của Triều Tiên đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Triều Tiên. Chúng ta có thể suy đoán rằng tình trạng khan hiếm những con vật này có liên quan đến nạn đói và sự thiếu hụt các nguồn protein khác. (Chuyện cười Đông Á: Bạn gọi người Triều Tiên có bảy con chó là gì? Trả lời: Người cung cấp thực phẩm.) Nhưng Kim cho rằng sự vắng mặt của chúng là do sự thiếu quan tâm đáng tiếc của người dân đối với việc duy trì giống chó. “Chúng ta không muốn những giống chó bản địa của mình bị tuyệt chủng,” ông nói một cách thành khẩn. “Chúng ta phải đảm bảo rằng chó Pungsan và Jindo phát triển mạnh và sinh sôi nảy nở. Người dân chúng ta khá thờ ơ với tương lai của những chú chó này. Điều đó là sai. Những chú chó này thuộc về Triều Tiên và chúng ta phải bảo tồn chúng.”
Kim lần đầu tiên giải thích tình trạng thiếu điện ở Triều Tiên bằng cách đổ lỗi cho thiên nhiên và miễn trừ trách nhiệm cho chế độ và các chính sách của họ. Ông nói: “Khi nhà lãnh đạo Kim Il-sung còn sống, chúng ta có nguồn điện dồi dào. Các bạn có thể thắc mắc tại sao bây giờ chúng ta lại thiếu điện. Lý do rất đơn giản. Chúng ta đã phải hứng chịu những trận lũ lụt tự nhiên liên tiếp trong nhiều năm, điều chưa từng có trong lịch sử, và các mỏ than của chúng ta bị ngập lụt. Chúng ta không thể khai thác đủ than để vận hành các nhà máy nhiệt điện. Đó là lý do tại sao chúng ta thiếu điện và người dân đang phải chịu khổ. Nền kinh tế của chúng ta đang bị ảnh hưởng vì thiếu điện do các mỏ than bị ngập lụt.”
Tuy nhiên, đối với người ngoài cuộc hy vọng vào những thay đổi lớn ở Triều Tiên, quan điểm có phần lẫn lộn của Kim Jong-Il về thế giới tư bản dường như ít quan trọng hơn việc ông nhắc đi nhắc lại những thất bại của chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của mình. Ví dụ, trong cuộc nói chuyện với các đại diện của Chongryon, ông đã có những quan điểm khác nhau về nguyên nhân của ít nhất một phần tình trạng thiếu điện. Ông chỉ trích các đồng nghiệp khăng khăng áp dụng nguyên tắc tự lực cánh sinh của chủ nghĩa Juche đến mức cực đoan. “Trong chuyến thăm Trung Quốc năm 1983, tôi và Hoa Quốc Phong có đến thăm trạm nhiệt điện Baosan”, ông nói. “Nó được nhập khẩu từ một quốc gia khác. Trung Quốc đủ tiên tiến về công nghệ để xây dựng các nhà máy điện của riêng mình nhưng họ đã quyết định mua nhà máy ở nước ngoài. Tôi hỏi Hoa tại sao.” Nhà lãnh đạo Trung Quốc “nói rằng Trung Quốc hoàn toàn có thể xây dựng nhà máy đó nhưng nhà máy nước ngoài thì tốt hơn.” Ngược lại, Kim nhận xét, “Người của chúng ta suy nghĩ khác. Ý tưởng của họ là chỉ mua những bộ phận mà chúng ta không thể tự sản xuất, còn lại thì tự xây dựng ở đây. Thái độ này đã dẫn đến nhiều thất bại tốn kém…. Chúng ta đang phải trả giá đắt cho những sai lầm của mình…
“Hệ thống xã hội chủ nghĩa của chúng ta lấy con người làm trung tâm và chúng ta nói rằng chúng ta phục vụ nhân dân, nhưng sự thật là hệ thống kinh tế của chúng ta không hoàn toàn như vậy”, Kim nói với khách đến thăm. “Trong xã hội tư bản, khách hàng được phục vụ tận tình và túi tiền của họ bị móc sạch bằng mọi cách có thể.” Ông giải thích thêm: “Hệ thống xã hội chủ nghĩa thì lạnh lùng và thờ ơ với khách hàng. Ở nước ta, nhân viên cửa hàng có thái độ không quan tâm khách hàng có mua gì hay không. Thay vì phục vụ khách hàng và cố gắng bán hàng, họ thà khách hàng không đến để họ khỏi phải làm gì cả. Ở một quốc gia tư bản, dịch vụ là tất cả. Khi người dân chúng ta đến thăm Nhật Bản, họ được săn đón bằng câu “Chào mừng, chào mừng, mời vào”. Các quán ăn Nhật Bản có quản lý giám sát nhân viên phục vụ, và bất kỳ nhân viên phục vụ nào gây rắc rối với khách hàng đều bị khiển trách hoặc trừng phạt nghiêm khắc. Ở nước ta, nhân viên phục vụ không bao giờ bị sa thải vì phục vụ kém. Ngược lại, khách hàng được kỳ vọng sẽ trả tiền và cúi chào nhân viên phục vụ vì đặc ân đó. Lẽ ra người nhận tiền nên cảm ơn người cho, nhưng than ôi, ở đất nước này thì ngược lại. Chủ nghĩa tư bản đã tồn tại hơn một trăm năm nay và nó thử đủ mọi cách để sống sót.”
Kim nói về một số thay đổi trong quản lý có thể giúp hệ thống của ông tồn tại. Một trong số đó là tổ chức các kỳ thi tuyển chọn thay vì bổ nhiệm người một cách ngẫu nhiên vào những công việc đòi hỏi cao như quản lý thương mại quốc tế. Ông nhận xét: “Trong các cơ quan như Hợp tác Kinh tế Đối ngoại, bất cứ ai quen biết Kim Guk-tae đều có thể gia nhập phe của ông ta” (ám chỉ vị quan chức đã khiến nhà cải cách Kim Dal-hyon bị giáng chức và đày về tỉnh). “Chúng ta cần thay đổi điều này và yêu cầu kiến thức chuyên sâu về thương mại quốc tế.” Ông nói tích cực về việc cử sinh viên ra nước ngoài đào tạo. “Ở Trung Quốc, một trong những thành tựu lớn của Đặng Tiểu Bình là cử khoảng hai nghìn sinh viên ra nước ngoài học tập mỗi năm, và khi trở về họ được giao những công việc quan trọng,” Kim nói. Triều Tiên nên noi gương Đặng Tiểu Bình về điểm này. “Chúng ta có những người đứng đầu thậm chí không có ý niệm mơ hồ nào về cách thúc đẩy nền kinh tế. Tất cả những gì họ nghĩ đến là mức lương họ nhận được. Tình trạng đáng buồn của chúng ta là như vậy và chúng ta phải thay đổi nhanh chóng. Nhiều công nhân chúng ta có khái niệm kém hoặc không có khái niệm nào về tiền bạc. Họ hoàn toàn không biết gì về việc tạo ra lợi nhuận. Họ biết về việc đạt chỉ tiêu sản xuất, nhưng họ không biết cách bán sản phẩm và kiếm lời.”
Đó quả thực là những lời chỉ trích gay gắt. Nhưng không phải Kim Jong-il sẵn sàng ca ngợi hệ thống tư bản chủ nghĩa, sau khi đã đấu tranh chống lại hệ thống phương Tây xa lạ trong suốt sự nghiệp của mình. “Thành thật mà nói, chúng tôi thích cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại ở châu Á,” ông nói với những vị khách của mình. “Một số người phụ trách nền kinh tế của chúng tôi đã từng ôm ấp một số ảo tưởng về việc bắt chước nền kinh tế tư bản chủ nghĩa của châu Á, nhưng cuộc khủng hoảng hiện tại đã khiến họ nhận ra chính sách Juche của lãnh đạo Kim Il-sung sáng suốt đến mức nào. Đó là một sự thức tỉnh phũ phàng đối với những người này.” Ông nói thêm, “Hiện tại chúng tôi nghèo và cuộc sống khó khăn, nhưng bạn sẽ không thấy bất kỳ dân tộc nào đoàn kết như chúng tôi.”
Tìm kiếm những lý do để lạc quan, Kim Jong-Il tưởng tượng rằng Triều Tiên có thể đảo ngược vận mệnh bằng cách trở thành một quốc gia mà theo ông, giống như một Kuwait hay Brunei mới. “Chúng tôi có những mỏ dầu chưa được khai thác, và một khi chúng tôi phát triển các mỏ dầu, nền kinh tế của chúng tôi sẽ thay đổi mạnh mẽ. Một khi dầu mỏ được khai thác, chúng tôi sẽ không cần phải làm nông nữa. Chúng tôi sẽ bán dầu cho bọn quỷ Nhật và mua gạo của chúng. Dầu mỏ của chúng tôi sẽ giống như vũ khí hạt nhân.”
Ở một khía cạnh thực tế hơn, ông thể hiện sự sẵn lòng mua lại thiết bị đã qua sử dụng từ các nước phát triển, chẳng hạn như nhà máy sản xuất gạch và nhà máy cán thép, để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất mà Triều Tiên vẫn cần thực hiện, bên cạnh việc khuyến khích du lịch. Vấn đề là phải tránh mất mặt, một tình huống còn tệ hơn cái chết đối với một người Đông Á có tư tưởng truyền thống. Vì vậy, ông yêu cầu khách của mình để Chongryon làm trung gian trong những giao dịch như vậy. “Dĩ nhiên chúng tôi có thể có được những thứ này thông qua giao dịch thông thường,” ông nói. “Nhưng làm sao chúng tôi có thể giữ thể diện khi xin bọn quỷ Nhật bán hàng cũ giá rẻ? Người mậu dịch của chúng tôi không muốn đàm phán những giao dịch như vậy, Chongryon nên đứng ra giúp chúng tôi.”
Tình trạng lạc hậu về kinh tế đã trở nên rõ rệt đến mức làm hoen ố hình ảnh của miền Bắc trong mắt giới trẻ Hàn Quốc dễ bị lung lạc. Nhiều người trong số họ lý tưởng hóa Kim Il-sung như một nhà yêu nước vĩ đại và say mê nghiên cứu triết lý Juche của ông, ngay cả sau khi cuộc đấu tranh của người dân Hàn Quốc chống lại các chế độ độc tài trong nước do quân đội hậu thuẫn đã kết thúc thành công. Tuy nhiên, vào thời điểm Kim Il-sung qua đời năm 1994, sự thất bại về kinh tế của hệ thống Bắc Triều Tiên đã trở nên quá rõ ràng đến nỗi không ai, ngoại trừ bọn cánh tả miền Nam quá khích nhất, có thể phớt lờ. Truyền thông Hàn Quốc, vượt qua điều cấm kỵ mà tôi từng gặp phải vào những năm 1970, đã đầu tư nguồn lực lớn vào việc đưa tin về các vấn đề của Bắc Triều Tiên. Tất nhiên là có nhiều tin tiêu cực hơn là tích cực. Nếu có một thời điểm mang tính quyết định cho việc hình ảnh Triều Tiên bị sụt giảm trong mắt bọn cánh tả đầy ảo tưởng ở Hàn Quốc, thì có lẽ đó là năm 1997 khi một nhân vật không ai khác ngoài Hwang Jang-yop đào tẩu sang Hàn Quốc. Hwang là quan chức cấp cao của Triều Tiên được cho là người đã phát triển hệ tư tưởng Juche. Một vụ bê bối năm 1999 ở Seoul đã minh họa sự vỡ mộng của một số người Hàn Quốc từng khua chiêng đánh trống ca tụng Bình Nhưỡng. Kim Young-hwan, một trong những lãnh đạo nổi bật của phong trào sinh viên cực đoan ủng hộ Bình Nhưỡng những năm 1980, từng tự xưng là Jusapa, phe phái theo hệ tư tưởng Juche, được cho là đã thú nhận mình chính là gián điệp cho Bình Nhưỡng. Theo Cơ quan Tình báo Quốc gia (trước đây là KCIA), Kim Young-hwan, khi đó đã gần 36 tuổi, thú nhận rằng y đã gia nhập cơ quan tình báo của Bình Nhưỡng năm 1989 theo yêu cầu của một điệp viên Triều Tiên. Kim cho biết sau đó y được đưa đến Triều Tiên trên một tàu do thám bán ngầm và gia nhập Đảng Lao động Triều Tiên, nhận được huy chương và gặp Kim Il-sung – người đã chỉ đạo y phát triển một phe phái ngầm thân Bình Nhưỡng và thành lập một đảng chính trị hợp pháp ở miền Nam. Y đã làm như vậy, thu hút thêm các cựu chiến binh khác của phong trào sinh viên chống chính phủ.
Kim Young-hwan ngày càng mất niềm tin vào hệ thống chính trị Triều Tiên. Trong một cuộc phỏng vấn trên tạp chí năm 1995, y đã lên án hệ tư tưởng Juche. Y khẳng định rằng Bình Nhưỡng từ đó đã liên tục gây sức ép lên y, âm mưu ám sát y vì y phản bội họ. Y không đi đến chính quyền Hàn Quốc ngay, nhưng vì lo sợ cho tính mạng, y đã trốn sang Trung Quốc. Khi trở về nước và khai ra sự thật, bên công tố đã đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
Những sự kiện đó không hề khiến phe tả Hàn Quốc biến mất. Lòng cảm thông dành cho những người anh em ở phía Bắc vẫn mạnh mẽ. Chủ nghĩa chống Mỹ, vốn đã trở nên rõ rệt vào những năm 1980, sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở miền Nam. Nhưng Kim Jong-il, không giống như người cha quá cố của mình, khó có thể được coi là nhà lãnh đạo hay hình mẫu cho cuộc cách mạng Hàn Quốc tương lai. Ở mức độ mà ông nhận ra điều đó, thì lại càng có lý do tại sao ông cần phải làm điều gì đó cho nền kinh tế.
Ngay từ đầu, việc có thể coi Hàn Quốc là kẻ thù không đội trời chung đã là một yếu tố thiết yếu trong việc kiểm soát người dân của chế độ Triều Tiên. Do đó, việc Bình Nhưỡng ồn ào ủng hộ chính sách “ánh dương” mềm mỏng của Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-jung trong quan hệ Bắc-Nam vào tháng 4 năm 2000, ngay trước thềm cuộc bầu cử Quốc hội Hàn Quốc, dường như mang một ý nghĩa quan trọng. Sự ủng hộ được thể hiện qua tuyên bố chung về kế hoạch tổ chức hội nghị thượng đỉnh vào tháng 6 tại Bình Nhưỡng. Thỏa thuận về việc tổng thống Hàn Quốc gặp Kim Jong-il đạt được trong một phiên họp tại Bắc Kinh, năm ngày trước cuộc bầu cử mà các nhà quan sát cho rằng rất khó đoán trước kết quả. Có vẻ như cả hai bên đều hy vọng tuyên bố này sẽ tạo động lực cần thiết cho đảng của Kim Dae-jung để giành được đa số trong quốc hội, nhằm tiếp tục các chính sách của họ.
Động thái đó diễn ra bất chấp thực tế rằng phe cứng rắn Hàn Quốc, nếu được lên nắm quyền ở Seoul, sẽ đưa ra những “ông ba bị hù dọa” thuyết phục hơn cho các nhà tuyên truyền Triều Tiên khai thác. Đảng đối lập chính của Hàn Quốc đã chỉ trích mạnh mẽ việc Kim Dae-jung sử dụng viện trợ để dụ dỗ Triều Tiên chuyển trọng tâm từ củng cố quân sự sang tái thiết kinh tế. “Hãy giữ lại viện trợ trong nước”, các đại diện phe đối lập liên tục kêu gọi. “Người dân Hàn Quốc cần được giúp đỡ hơn.”
Việc Triều Tiên vào thời điểm này quyết định ủng hộ các ứng cử viên Hàn Quốc theo đường lối ôn hòa không chứng minh rằng họ đang nói lời vĩnh biệt với sự thù địch và chủ nghĩa quân phiệt. Những người theo dõi tình hình Bình Nhưỡng lâu năm tin rằng giới lãnh đạo Triều Tiên duy trì đồng thời nhiều chiến lược để tồn tại tạm thời và một hình thức thắng lợi cuối cùng nào đó, và sẽ thay đổi qua lại giữa các chiến lược đó khi thấy có lợi. Về điểm này, đáng chú ý là thông báo của Triều Tiên khác với thông báo của Hàn Quốc khi nói rằng chuyến thăm Bình Nhưỡng của Kim Dae-jung là theo yêu cầu của ông, thay vì theo lời mời của Kim Jong-il. Kết luận đầu tiên cần rút ra là Bình Nhưỡng không nghĩ rằng kẻ thù nên được đối xử như những vị khách được chào đón. (Chỉ sau này người ta mới nhận ra Bình Nhưỡng đã thực sự đúng khi nói rằng đây là màn trình diễn của Kim Dae-jung.)
Tin tức về thông báo hội nghị thượng đỉnh cho thấy Kim Jong-il đã xem xét các khả năng để khắc phục nền kinh tế đang suy yếu của mình và nhận ra rằng điều đó khó có thể thực hiện được nếu không có sự tham gia của người dân Triều Tiên sống ở phía nam Khu phi quân sự, dù xa cách nhưng giàu sụ- những người vào thời điểm đó đã giữ vững quyền lực khi vượt qua sóng gió của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Hyundai, với các chuyến du lịch bằng tàu biển đến núi Kumgang, đã cho Bình Nhưỡng một ví dụ hấp dẫn về mức độ hỗ trợ mà Hàn Quốc có thể cung cấp nếu quan hệ được cải thiện. Và chiến lược cơ bản được thể hiện trong cả chính sách ánh dương của Kim Dae-jung và “tiến trình Perry” của Hàn Quốc-Mỹ-Nhật Bản, được đặt theo tên của cựu ngoại trưởng quốc phòng, là kết hợp viện trợ với những đảm bảo đáng tin cậy về việc không can thiệp vào công việc nội bộ và ràng buộc Bình Nhưỡng vào cuộc chung sống hòa bình. Mục tiêu cuối cùng là chấm dứt mối đe dọa quân sự mà Bình Nhưỡng gây ra cho miền Nam và, với việc phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt, cho các khu vực khác trên thế giới.
Sự hoài nghi của các chính trị gia đối lập Hàn Quốc là điều hoàn toàn dễ hiểu. Xét cho cùng, hai bên đã tiến xa đến mức đó vào năm 1994 nhưng cuối cùng hội nghị thượng đỉnh dự kiến lại thất bại. Nhiều, nhiều, rất nhiều sáng kiến nhỏ hơn cũng đã không đi đến đâu trong suốt nhiều thập kỷ. Liệu lần này có gì khác biệt? Có, và những khác biệt đó mang lại một số cơ sở để hy vọng rằng điều gì đó tốt đẹp hơn có thể xảy ra từ sáng kiến mới này.
Một điểm khác biệt là nền kinh tế Triều Tiên, mặc dù có một số phục hồi rõ rệt sau những năm tồi tệ nhất giữa thập niên 1990, vẫn ở trong tình trạng bết bát hơn nhiều so với Hàn Quốc cả về tuyệt đối và tương đối so với thời điểm các sáng kiến trước đó thất bại. Kim Jong-il, mặc dù đôi khi bối rối hoặc ngây thơ, nhưng không phải là tên ngu ngốc. Cả ông ta lẫn bất kỳ ai khác ở Bình Nhưỡng đều không thể không nhận thức được rằng nền kinh tế cần phải được khắc phục. Kim Jong-il đã đổ lỗi cho những người chịu trách nhiệm trong nước: các bộ trưởng và các quan chức cấp cao khác, những người đã tìm cách sử dụng các chính sách thừa hướng từ Stalin nhưng (như dự đoán từ góc nhìn của chủ nghĩa tư bản) luôn thất bại. Một số người thuộc cơ quan tình báo nước ngoài tin rằng việc hành quyết và lưu đày các quan chức thất bại đã bắt đầu phản tác dụng, khiến các quan chức khác, những người lo sợ mình có thể là nạn nhân tiếp theo, phải chiêm nghiệm xem lỗi thực sự thuộc về ai nhưng không dám nói ra.
Như chúng ta đã thấy, Kim có nhiều băn khoăn riêng về chính sách của chế độ mình. Ông từng nói với người sáng lập Tập đoàn Hyundai của Hàn Quốc, Chung Ju-yung, rằng ông muốn tìm hiểu về các phong trào Cộng đồng Mới mà nhà độc tài quân sự Park Chung-hee đã sử dụng để đặt nền móng cho nền kinh tế thị trường phần lớn thành công của Hàn Quốc. Có lẽ, một nhà báo của hãng tin Yonhap của Hàn Quốc nhận xét, “năm 2000 sẽ là năm để kiểm chứng xem Kim Jong-il có tự biến mình thành phiên bản Park Chung-hee của Triều Tiên hay không.” Điều đó đã không xảy ra, mặc dù vào tháng 5 năm 2002, con gái 50 tuổi của Park, Park Geun-hye, đã được đón tiếp trọng thể khi bà đến thăm Bình Nhưỡng.
Tại sao Kim không hành động nhanh hơn để thay đổi mọi thứ? Như một số người nước ngoài, các quan chức Triều Tiên có tư tưởng cải cách có thể đổ lỗi cho nhóm lão thành cộng sản bảo thủ, bao gồm cả các tướng lĩnh, vì đã kìm hãm quyền lực của ông. Tuy nhiên, một số quan chức khó có thể không khỏi suy nghĩ rằng quyền lực của Kim là rất lớn; nếu ông có đủ ý chí để chấp nhận rủi ro theo đuổi một tầm nhìn rõ ràng về sự đổi mới có ý nghĩa, ông sẽ có cơ hội thành công cao. Bất kể vị thế là nhà độc tài, Kim hẳn đã nhận ra rằng một số người trong giới tinh hoa ngay bẻn dưới ông sẽ không chấp nhận các thất bại chính sách của ông mãi mãi. Lập luận như vậy có thể giúp giải thích tại sao ông ta coi việc hòa giải với Hàn Quốc là một cơ hội lớn để thực hiện một số thay đổi có thể giúp đảm bảo sự tồn tại lâu dài của mình.
Buổi tiếp đón Kim Dae-jung tại Bình Nhưỡng được truyền hình trực tiếp vào ngày 13 tháng 6 năm 2000 đã gây bất ngờ cho nhiều khán giả không phải là người Triều Tiên. Nó cho thấy một Kim Jong-il thư thái, tự tin và hóm hỉnh, một người chủ nhà hoàn hảo. Mười bảy năm sau chuyến đi ngoại giao đầu tiên, tới Trung Quốc, ban đầu có phần không mấy suôn sẻ,, cuối cùng ông dường như đã sở hữu tính thu hút xứng đáng với vị trí người thừa kế của Kim Il-sung. Ông đích thân đến sân bay đón Kim Dae-jung, bắt tay và thể hiện sự kính trọng dành cho người lớn tuổi. “Tôi chắc hẳn người dân Hàn Quốc sẽ rất ngạc nhiên khi thấy ông đến đón tôi”, Kim Dae-jung nói với ông ta khi hai người bắt đầu cuộc gặp gỡ thực chất đầu tiên vào ngày hôm sau.
Kim Jong-il đã thể hiện một tài năng trước đây ít được đánh giá cao trong việc pha trò tinh tế. “Một số người châu Âu đã tự hỏi tại sao tôi lại sống khép kín như vậy,” ông nói với người đồng cấp phía Nam. “Tôi không phải là một nhân vật vĩ đại xứng đáng được gọi là người sống ẩn dật. Sự thật là tôi đã thực hiện nhiều chuyến đi bí mật đến các nước như Trung Quốc và Indonesia. Sao người ta lại nói tôi xuất hiện hiếm hoi để chào đón các bạn? Dù sao đi nữa, tôi đã đi khắp nơi mà không ai hay biết.”
Trong một phát ngôn, ông ta bộc lộ cả tính nghiện tin tức và điều gì đó có thể được coi là lòng thương cảm. Ông ta nói rằng mình đã xem các chương trình truyền hình của Hàn Quốc để xem việc đón tiếp Kim Dae-jung được đưa tin như thế nào. “Tôi thấy người Hàn Quốc phấn khích như thế nào – đặc biệt là những người có quê hương ở Triều Tiên, Tôi đã chứng kiến nhiều người trong số họ, cả những người đào thoát từ Triều Tiên. Tôi thấy rất nhiều người trong số họ rưng rưng nước mắt, lo lắng chờ đợi tin tức về quê hương của mình.” Quay sang một quan chức đi cùng, ông nói thêm, “Tôi đã thấy cảnh người ta thực sự khóc.”
Một bài báo của phóng viên tại Seoul thuộc tờ Taipei Times của Đài Loan đã đưa tin về sự thay đổi nhận thức của người dân miền Nam. Cùng với cái bắt tay lịch sử, “thái độ thoải mái và vui vẻ của ông ấy ngày hôm qua đang làm thay đổi hình ảnh “ngông cuồng” của ông ấy ở Seoul”, bài báo cho biết. Bài báo trích dẫn lời một cư dân Seoul nói rằng, “Tôi luôn nghĩ ông ấy là một kẻ thất bại với mặc cảm, nhưng việc nhìn thấy ông ấy trên TV đã thực sự thay đổi hình ảnh của tôi về ông ấy. Ông ấy cư xử như người hàng xóm và trông rất bình thường.” Người viết bài tường thuật rằng trên truyền hình “Kim Jong-il trông thoải mái và nói bằng giọng vang dội, trái ngược với tổng thống Hàn Quốc có vẻ mệt mỏi.” “Hành vi tự tin của nhà lãnh đạo Triều Tiên trong suốt hội nghị thượng đỉnh đang thay đổi hình ảnh của ông từ một người thừa kế yếu đuối, hạng hai thành một chính khách.”
Nhờ cùng nói một ngôn ngữ, hai nhà lãnh đạo đã có thể tiến hành một số cuộc thảo luận nghiêm túc và đôi khi thẳng thắn vào phiên họp chính. Như được thuật lại trong một bài phát biểu ở Seoul ngay sau đó của Tướng Hwang Won-duk, cố vấn ngoại giao và an ninh của Tổng thống Hàn Quốc, cuộc trao đổi diễn ra như sau: “Kim Jong-il nói, ‘Các vấn đề Triều Tiên phải do chính người Triều Tiên giải quyết. Ông có đồng ý không?’ Kim Dae-jung trả lời, ‘Vâng, đúng vậy. Đó là điều chúng tôi đã yêu cầu và chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ngài.’ Kim Jong-il đáp lại, ‘Vậy tại sao ông lại thúc đẩy liên minh với Hoa Kỳ và Nhật Bản?’ để bóp nghẹt chúng tôi?”
Kim Dae-jung đáp lại: “Đó là sự hiểu lầm của ngài. Liên minh ba nước không phải để ba nước âm mưu tiêu diệt ngài. Ngược lại, nó là để giúp đỡ ngài… Chính sách của tôi đối với Triều Tiên là ‘ánh dương’ vì hòa bình, hòa giải và hợp tác. Chính vì chính sách ánh dương của tôi mà chúng ta có mặt ở đây ngày hôm nay. Chính sách hòa giải của chúng tôi là để giúp đỡ ngài – chứ không phải để tiêu diệt ngài. Liên minh ba nước là để hỗ trợ chính sách ánh dương của tôi. Chúng ta có thể đạt được một số thỏa thuận tự quyết, nhưng nếu các nước láng giềng phớt lờ các thỏa thuận của chúng ta và cản trở việc thực hiện chúng, thì những thỏa thuận đó có ích gì? Chúng sẽ trở nên vô nghĩa. Do đó, ngài phải thiết lập quan hệ hữu nghị với các quốc gia khác. Ngài phải thân thiện với Hoa Kỳ và cũng nên hòa giải với Nhật Bản. Bằng cách này, chúng ta sẽ nhận được sự hỗ trợ từ bốn cường quốc lớn xung quanh – bao gồm cả Trung Quốc và Nga.
Hwang tiếp tục kể, “Kim Jong-il đã chăm chú lắng nghe bài thuyết giảng của Kim Dae-jung và nói, ‘Tôi hiểu rồi,’ và chấp nhận luận điểm của Kim Dae-jung.” Hai nhà lãnh đạo đã thảo luận về việc liệu quân đội Mỹ có nên rút khỏi miền Nam. “Kim Dae-jung tuyên bố, ‘Quân đội Mỹ ở Hàn Quốc giúp ngăn ngừa chiến tranh ở Triều Tiên. Ngoài ra, họ còn cần thiết để duy trì sự cân bằng quân sự ở Viễn Đông. Họ sẽ vẫn cần thiết ngay cả sau khi thống nhất.'” Hwang cho rằng Kim Jong-il đã chấp nhận lập luận này. Dù sao đi nữa, Kim Jong-il cũng không quay lại “chủ đề đơn độc chống lại các cường quốc nước ngoài” của mình.
Hwang cho biết, “Bằng cách này, hai nhà lãnh đạo Hàn Quốc đã tranh luận và nhất trí về từng vấn đề một. Một số vấn đề chỉ mất chưa đến hai mươi phút, số khác thì hơn ba mươi phút mới được giải quyết.” Hwang cho biết, một vấn đề gai góc là yêu cầu của Hàn Quốc rằng Kim Jong-il hứa sẽ quay lại thăm Seoul. “Khi Kim Dae-jung nói rằng Kim Jong-il phải đến Seoul, Kim Jong-il nói, ‘Ồ không! Tôi không thể đến Seoul với cương vị hiện tại.’ Kim Dae-jung: ‘Tại sao không?’ Kim Jong-il: ‘Tôi không thể đến đó với cương vị chính thức hiện tại. Nếu tôi đến đó, người của tôi sẽ tức giận.’ Kim Dae-jung: ‘Vớ vẩn! Ngài phải đến. Ngài và tôi đã thảo luận về việc hòa giải.’ Và nếu ngài không đến Seoul thì ai sẽ thúc đẩy các thỏa thuận của chúng ta? Ngài phải đến.’ Kim Jong-il: ‘Không, tôi không thể đi… Là một quan chức, tôi không thể đến Seoul.’ Kim Dae-jung đã thử nhiều cách nhưng không thành công. Trong nỗ lực cuối cùng, Kim Dae-jung nói, ‘Ngài đã nhiều lần đề cập đến việc thực hành đạo đức phương Đông. Tôi lớn tuổi hơn ngài nhiều, phải không? Một người lớn tuổi đến thăm ngài và ngài, một người trẻ hơn, lại từ chối đáp lại lời thăm của người lớn tuổi hơn. Điều đó có đúng đạo lý không?’ Cuối cùng, Kim Jong-il chấp nhận nội dung trong tuyên bố chung nói rằng ông đã đồng ý đến thăm Seoul vào thời điểm thích hợp trong tương lai.”
Cuộc tranh luận cuối cùng xoay quanh việc ai sẽ ký vào bản tuyên bố. Kim Jong-il khăng khăng rằng Kim Yong-nam, người đứng đầu Hội đồng Nhân dân Tối cao và trên danh nghĩa là người đứng đầu nhà nước, nên ký thay cho Triều Tiên. “Kim Dae-jung nói, ‘Không, như vậy không được. Ngài mới là người lãnh đạo thực sự của Triều Tiên. Người lãnh đạo thực sự phải ký. Tôi là tổng thống Hàn Quốc và tôi mới là người nên ký. Ngài cũng phải ký.’ Họ tranh luận về vấn đề này trong khoảng hai mươi lăm phút.”
Mọi chuyện chẳng đi đến đâu cả. Cuối cùng các phụ tá của Kim Dae-jung can thiệp và nói, ‘Hai ngài đã gặp nhau và đang bàn bạc các thỏa thuận, không nên để bất kỳ ai khác ký vào đó.’ Cuối cùng, Kim Jong-il đồng ý tự mình ký. Hwang nói rằng, miền Nam muốn ký ngay đêm đó để tin tức được đưa lên Seoul vào sáng hôm sau, trước khi họ trở về. “Kim Jong-il cười khúc khích và nói, ‘Ông muốn trở về như người anh hùng chiến thắng, phải không?’ Kim Dae-jung nói, ‘Vậy thì có gì sai khi chính ngài biến tôi thành anh hùng?’ Kim Jong-il nói, ‘Được rồi, được rồi, chúng ta ký hôm nay thôi.’ Họ đã ký vào đêm hôm đó, ngày 14. Tuy nhiên, họ ghi lùi ngày lại thành ngày 15 để ngày đó không bao gồm con số 4 xui xẻo, vì khi phát âm trong tiếng Triều Tiên (như tiếng Hán “tứ” nghe như “tử”), con số này nghe giống như từ “chết chóc”.
Bản tuyên bố hoàn chỉnh là một văn bản ngắn gọn và đơn giản, bắt đầu bằng thỏa thuận rằng Bắc và Nam Triều Tiên sẽ “giải quyết vấn đề thống nhất đất nước một cách độc lập bằng những nỗ lực chung của toàn thể dân tộc Triều Tiên có trách nhiệm với vấn đề này.” Trong một đoạn, các nhà lãnh đạo cam kết tìm kiếm điểm chung giữa đề xuất liên bang của Triều Tiên và đề xuất liên minh lỏng lẻo hơn của Hàn Quốc. Họ cũng hứa sẽ giải quyết các vấn đề nhân đạo liên quan đến các gia đình ly tán và một số binh lính và đặc vụ Triều Tiên vẫn đang bị giam giữ ở Hàn Quốc vì từ chối từ bỏ lòng trung thành với Bình Nhưỡng. Họ cam kết hợp tác và trao đổi trong nhiều lĩnh vực và hứa sẽ “thúc đẩy sự phát triển cân bằng của nền kinh tế quốc gia thông qua hợp tác kinh tế.”
Những vấn đề còn lại trong danh sách mong muốn của Seoul được để dành cho các quan chức cấp thấp hơn đàm phán sau này.
Người Hàn Quốc tin rằng Kim Jong-il thực sự quan tâm đến một cách tiếp cận mới. Trong bữa ăn cuối cùng của hội nghị thượng đỉnh Bình Nhưỡng, nhà lãnh đạo Triều Tiên đã mời tất cả các cấp dưới cao cấp của mình trong đảng và quân đội, và kêu gọi họ nâng ly chúc mừng Kim Dae-jung như một biểu hiện ủng hộ các thỏa thuận trong tuyên bố. Có lúc, Kim Jong-il quay sang người đứng đầu Chính ủy Quân đội Nhân dân và hỏi liệu ông ta đã ngừng các chương trình phát thanh tuyên truyền chống Seoul Hàn được phát dọc theo Khu phi quân sự hay chưa. “Chúng tôi sẽ dừng nó ngay hôm nay,” ủy viên nói. Kim Jong-il không hài lòng với câu trả lời đó và nói: “Tại sao các ông không dừng sớm hơn? Dừng lại ngay bây giờ!” Và thế là xong. Hàn Quốc cũng làm theo vào ngày hôm sau, ngừng các chương trình phát thanh tuyên truyền của riêng mình.
Bài phát biểu của Hwang ở Seoul, trình bày chi tiết về các cuộc đàm phán thượng đỉnh, được đọc trước một nhóm cựu chiến binh. Một trong những cựu chiến binh hỏi ông: “Trước hội nghị thượng đỉnh, Triều Tiên là kẻ thù của chúng ta. Bây giờ chúng ta nên nhìn nhận Triều Tiên như thế nào?” Vị tướng trả lời: “Cả anh và tôi đều từng phục vụ trong quân đội. Chúng ta phải nhìn nhận Triều Tiên bằng sự phán đoán tốt nhất và dựa trên chức năng công việc của mình. Ví dụ, cần phải tuyên bố rõ ràng rằng Triều Tiên là kẻ thù đối với các binh sĩ tiền tuyến của chúng ta. Nếu binh lính của chúng ta coi binh lính Triều Tiên là bạn bè, họ sẽ không thể bảo vệ đất nước. Một ví dụ khác: nếu các doanh nhân của chúng ta giao dịch với Triều Tiên coi người Triều Tiên là kẻ thù, sẽ không có bất kỳ sự hợp tác kinh tế nào.” Lưu ý rằng cách diễn đạt của ông gần như giống hệt với những gì Kim Jong-il đã nói với những vị khách Chongryon của ông vào năm 1998 liên quan đến Triều Tiên và những kẻ thù Mỹ.
“Khi chúng ta nói về những thay đổi ở Triều Tiên, thực chất chúng ta đang nói về những thay đổi trong tư duy của Kim Jong-il,” Hwang nói với các cựu chiến binh Hàn Quốc. “Kim Jong-il khá khác so với những gì chúng ta dự đoán.” Nhà lãnh đạo Triều Tiên “nói năng lưu loát và vui vẻ, hiểu biết rộng và thông minh.” Phản ánh quan điểm đó về Kim Jong-il, Hwang nói, “chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của Triều Tiên đã thay đổi. Họ không còn như xưa nữa. Nếu chúng ta tiếp tục thúc đẩy những thay đổi này sẽ không ai có thể ngăn cản được nữa. Chúng ta phải đảm bảo rằng những thay đổi đó tiếp tục diễn ra.”
Chính sách “ánh dương” của Hàn Quốc, với hội nghị thượng đỉnh tượng trưng cho sự thành công được cho là của chính sách này, đã giúp Kim Dae-jung giành được giải Nobel Hòa bình năm 2000. Kim Jong-il, dù rất lịch thiệp trong vai trò chủ nhà, chỉ được vinh danh là “Người châu Á của năm” do tạp chí Time bình chọn. Trên phạm vi toàn thế giới, tạp chí này đã chọn George W. Bush, người chiến thắng đầy sít sao và gây tranh cãi trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm đó là “Nhân vật của năm”.
Kim Jong-il tiếp tục phát tín hiệu về những thay đổi lớn sắp tới khi một bài báo in chữ lớn mang tên ông xuất hiện trên tờ Nodong Shinmun ngày 4 tháng 1 năm 2001. Với tiêu đề “Thế kỷ 21 là thế kỷ của những thay đổi và sáng tạo lớn lao”, bài báo cảnh báo người dân Triều Tiên rằng “mọi thứ không còn như những năm 1960 nữa, vì vậy không ai nên làm theo cách làm cũ”. Cũng như trường hợp Hiến pháp năm 1998 nhấn mạnh đến chi phí, giá cả và lợi nhuận, có thể lập luận rằng lời kêu gọi của Kim không chỉ là lời nói suông mà là sự thay đổi tư tưởng thực sự.
Theo quan điểm của một học giả người Đức, “Năm 2001, một chính sách cải cách sâu rộng cuối cùng đã bước vào giai đoạn thực thi ở Triều Tiên sau một vài năm chuẩn bị, thảo luận và xây dựng.”
Kim Jong-il đã nói với các quan chức Trung Quốc đến thăm rằng ông muốn đến thăm đất nước họ một lần nữa. Ông đã thực hiện chuyến thăm vào tháng 1 năm 2001 với đoàn tùy tùng bao gồm các lãnh đạo quân sự cũng như các quan chức kinh tế dân sự. Ông đã dành phần lớn thời gian tham quan Thượng Hải, thành phố kiểu mẫu của Trung Quốc mới, nơi ông đã xem các cơ sở công nghệ cao và tham quan một nhà máy sản xuất ô tô liên doanh giữa Trung Quốc và General Motors. Ông thậm chí còn đến thăm Sở Giao dịch Chứng khoán Thượng Hải – hai lần. Cải cách Trung Quốc đã diễn ra mạnh mẽ kể từ chuyến thăm của Kim vào năm 1983, khi ông đã thu thập được một vài ý tưởng nhưng – rõ ràng là không mấy ấn tượng – đã chỉ trích chủ nhà vì “chủ nghĩa xét lại”. Lần này, ông dường như đã đớp mồi, được cho là đã thốt lên rằng “Thượng Hải đã có sự thay đổi đáng kinh ngạc và thu hút sự chú ý trên toàn thế giới.” Người ta trích dẫn lời ông nói với các quan chức Trung Quốc rằng ông sẽ xây dựng một thành phố công nghệ cao ở Triều Tiên được mô phỏng theo Thượng Hải. Ông nói với các thuộc cấp đi cùng: “Hãy xây dựng những tòa nhà chọc trời. Trung Quốc đã thành công trong cải cách kinh tế. Tại sao chúng ta lại thất bại?”
Kim Jong-Il trở về Bình Nhưỡng và sau đó vào năm 2001, ra lệnh cho các cố vấn kinh tế của mình theo đuổi “lợi ích thiết thực” trong khi vẫn duy trì các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Tháng 3 năm 2002, Thủ tướng Hong Song-nam tuyên bố rằng các biện pháp “quyết liệt” đã được thực hiện. Những thay đổi quả thực có vẻ quyết liệt. Giá cả thấp do chính phủ ấn định sẽ nhường chỗ cho giá cả phản ánh mối quan hệ thực tế trên thị trường, điều này dẫn đến lạm phát khổng lồ so với giá cũ. Giá vé xe buýt và tàu điện ngầm ở Bình Nhưỡng tăng gấp mười lần. Giá gạo bán qua các cơ quan nhà nước tăng chóng mặt gấp 550 lần, để phản ánh giá mà người dân đã trả cho ngũ cốc trên thị trường tư nhân. “Phí cư trú”, tiền thuê nhà và căn hộ trả cho nhà nước, tăng từ mức tượng trưng lên những con số rất lớn. Một quốc gia từng tự hào là không thuế nay lại áp thuế đối với các thiết bị điện tử gia dụng – vẫn được coi là hàng xa xỉ. Mức tăng lương gấp khoảng hai mươi lần đã được thực hiện.
Chính sách này được công bố nhằm giúp người dân thích nghi với hệ thống mới. Từ bỏ cấu trúc tiền lương tương đối đồng đều, nhà nước giờ đây sẽ tính đến tính chất công việc. Thợ mỏ, những người phải làm công việc khó nhọc nhất, sẽ nhận được mức lương cao gấp ba lần so với công nhân nhà máy – và gấp đôi so với các nhà quản lý công ty thương mại. Cấu trúc lương thưởng mới cũng tính đến các yếu tố khu vực và – phản ánh sự bất mãn kéo dài hàng thập kỷ mà Kim Jong-il đã bày tỏ riêng tư về những công nhân lười biếng – hiệu suất công việc. Tỷ giá hối đoái ngoại tệ được điều chỉnh gần hơn với mức chợ đen. Tỷ giá chợ đen đã khiến tỷ giá hối đoái chính thức của đô la Mỹ trở thành 200 won thay vì 2,2 won.
Dù những biện pháp đó ấn tượng đến đâu, vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp. Cụ thể: Liệu Kim Jong-il có hình dung ra một nền kinh tế thị trường trong một quốc gia do đảng cộng sản cai trị – một cấu trúc tương tự như cấu trúc lai mà Trung Quốc đã tạo ra? Hay ông ta lại một lần nữa cố gắng củng cố một nền kinh tế về cơ bản là xã hội chủ nghĩa, phi thị trường – phần lớn không thay đổi? Các nhà phân tích có ý kiến khác nhau về câu hỏi đó. Những người hoài nghi lưu ý rằng giá cả mới, tuy phản ánh thực tế thị trường, nhưng đó vẫn không phải là giá do thị trường quyết định mà là giá do nhà nước quy định.
Liệu những thay đổi này, bất kể mục đích là gì, có dẫn đến những thay đổi căn bản hơn? Một phóng viên của báo Dong-A Ilbo (Seoul) lần đầu tiên đến thăm Triều Tiên vào thời điểm công bố các biện pháp mới hồi tháng 7. Anh ta quay lại ba tháng sau đó và tìm thấy những bằng chứng thú vị mang tính giai thoại. Trong mùa hè, Bình Nhưỡng đã tổ chức một lễ hội có tên Arirang, để kỷ niệm sự phục hồi kinh tế của đất nước sau thời kỳ nạn đói khủng khiếp – hiện được gọi là “đoạn đường gian khổ”.
Lễ hội này thể hiện sự hao phí lớn về ngân sách mà không mang lại nhiều lợi ích thiết thực, và ở mức độ đó cho thấy chế độ có thể đã không rút ra được bài học từ lễ hội thanh niên năm 1989. Cũng giống như năm 1989, động cơ chính là sự cạnh tranh với miền Nam – quốc gia cùng với Nhật Bản đồng đăng cai các trận đấu World Cup bóng đá năm 2002. Mặt khác, lễ hội Arirang cũng là dịp để các quan chức cấp phép hoạt động cho các quầy hàng trên đường phố Bình Nhưỡng bán đồ uống, thức ăn nhẹ và đồ ăn mang đi. Các giấy phép này chỉ có hiệu lực tạm thời. Tuy nhiên, như phóng viên tờ Dong-A Ilbo ghi nhận, sau khi lễ hội kết thúc vào tháng 8, các quầy hàng nhộn nhịp vẫn tiếp tục bày bán dọc các con phố đông đúc gần ga tàu điện ngầm và bến xe buýt. Hoạt động kinh doanh của họ giờ đây đã được hợp pháp hóa bởi các biện pháp được ban hành vào tháng 7. Những quầy hàng này không chỉ giới hạn ở Bình Nhưỡng mà còn có thể được tìm thấy ở những nơi khác như bãi đậu xe dành cho khách du lịch tham quan núi Mỹ Dương. Phóng viên dẫn lời một hướng dẫn viên cho biết cơn sốt bán hàng rong đã ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh truyền thống. “Trong mùa hè, người bán hàng rong bán nhiều nước ngọt hơn các cửa hàng thông thường. Nhiều doanh nghiệp muốn mở rộng sang lĩnh vực kinh doanh bán hàng rong, điều này đã dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt để giành được những vị trí tốt.
Một tinh thần mới cũng đã ảnh hưởng đến nông dân. “Trước đây, công chức và binh lính thường ra giúp làm cỏ,” phóng viên viết. “Tuy nhiên, năm nay, những người làm nông thông báo với họ rằng không cần ai đến vì họ sẽ tự làm.” Anh giải thích thêm, “Nông dân đã nhận ra rằng mỗi người có thể kiếm được nhiều tiền hơn bằng cách tăng sản lượng và giảm chi phí. Họ cũng hiểu rằng việc chấp nhận những người phụ việc không cần thiết để đổi lấy tiền công hàng ngày sẽ làm giảm lợi nhuận của việc chăn nuôi dê và trồng ngô. Thu nhập của nông dân mà phóng viên đã đến thăm đã tăng vọt nhờ việc tăng giá vào tháng Bảy. Việc giới thiệu trước đó về một “hệ thống cạnh tranh cá nhân” đã làm thay đổi thái độ và thói quen làm việc của nhiều nông dân. “Dựa trên sản lượng năm ngoái, sự khác biệt về thu nhập giữa nhóm người khéo tính toán và bọn chây lười biếng là gấp năm lần,” người quản lý trang trại cho biết. Người làm việc có tính toán “chăn dê lên đồi lúc tám giờ sáng mang theo hộp cơm trưa và trở về lúc tám giờ tối.” Còn bọn chây lười thì “ngủ nướng dậy muộn. Sau đó, họ xuống đồi cùng đàn dê để ăn trưa và ngủ trưa trước khi leo trở lại sau hai giờ chiều, rồi lại quay về sớm.” Phóng viên hỏi một cách mỉa mai: “Chẳng phải đương nhiên là có sự khác biệt giữa những con dê gặm cỏ cả ngày và những con dê đi lại cùng người chăn dê sao?”
Phóng viên nhận thấy rằng các từ khóa xuất hiện thường xuyên trên truyền thông Triều Tiên bao gồm “sáng tạo” và “giỏi tính toán”. “Trước đây, ‘giỏi tính toán’ có nghĩa là “ích kỷ”, một cách diễn đạt hoàn toàn xúc phạm trong xã hội Triều Tiên. Tuy nhiên, hiện nay, việc giỏi tính toán đối với cả công ty và cá nhân đang trở thành một đức tính tốt.”
Người ta có thể tìm kiếm thêm manh mối trong các sự kiện tiếp theo. Sẽ rất khó để Triều Tiên hội nhập vào nền kinh tế thế giới nếu thị trường Mỹ về cơ bản vẫn đóng cửa đối với các sản phẩm của nước này. Về điểm đó, triển vọng dường như không mấy khả quan. Cả chính quyền Clinton và George W. Bush, viện dẫn lý do an ninh, đã hạn chế phạm vi nới lỏng các lệnh trừng phạt của Mỹ mà Clinton đã hứa. Chính quyền Bush đã tỏ ra khá khinh thường khi phủ nhận chính sách ánh dương của Kim Dae-jung, bắt đầu bằng buổi tiếp đón tổng thống Hàn Quốc tại Washington, trong đó Bush đã cố tình tạo ra sự tương phản đầy mỉa mai và xúc phạm với sự kính trọng và hiếu khách mà Kim Jong-il dành cho ông.
Tháng 4 năm 2002, Hàn Quốc hy vọng có thể mời phái đoàn của Bình Nhưỡng tham dự hội nghị thường niên của Ngân hàng Phát triển Châu Á, nơi Triều Tiên đã nộp đơn xin gia nhập. Nhưng chính trị một lần nữa đã cản trở các thỏa thuận kinh doanh. Washington, cổ đông lớn nhất của ngân hàng, đã phủ quyết lời mời. Thậm chí còn đáng ngại hơn, phóng viên của báo Dong-A Ilbo đã ghi nhận trong chuyến thăm tháng 10 của mình rằng “phái đoàn của chúng tôi đã nhìn thấy sáu chiếc xe Mercedes-Benz chở các đại biểu Hoa Kỳ đến Bình Nhưỡng, trong đó có James Kelly, trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương.” Như chúng ta sẽ thấy trong chương 36, chuyến thăm của Kelly sẽ đóng sầm cánh cửa hy vọng về sự hợp tác của Hoa Kỳ trong thời gian ngắn.
Và vẫn còn nhiều tin tức chính trị tồi tệ hơn nữa sắp xảy ra. Năm 2003, các cáo buộc nổi lên ở Seoul rằng các phụ tá của Kim Dae-jung, thông qua Hyundai, đã mua chuộc sự tham gia của Kim Jong-il vào hội nghị thượng đỉnh năm 2000 bằng cách chuyển 500 triệu đô la hoặc hơn vào tài khoản của nhà lãnh đạo Triều Tiên. Chung Mong-hun, con trai thứ năm của người sáng lập Hyundai Chung Ju-yung và là chủ tịch của tập đoàn Hyundai, đơn vị đã phát triển các dự án ở Triều Tiên, đã bị đưa ra xét xử vì vi phạm các quy định về ngoại hối với các khoản chuyển tiền bí mật. Vào ngày 4 tháng 8 năm 2003, Chung Mong-hun đã nhảy lầu tự tử từ tầng 12 của tòa nhà Hyundai, để lại một tin nhắn ghi: “Kẻ ngu ngốc này đã phạm phải một tội lỗi ngu ngốc.” Tháng sau, sáu quan chức của Hyundai và chính phủ bị kết tội trong vụ án nhưng được hưởng án treo. Vụ bê bối này đã đặt ra nghi vấn về cả giải Nobel của Kim Dae-jung và thành ý của Kim Jong-il về việc hòa giải. Bình Nhưỡng kịch liệt chỉ trích đảng đối lập cánh hữu chính ở Hàn Quốc vì đã thúc đẩy cuộc điều tra, nói rằng những kẻ chủ mưu sẽ không thể “thoát khỏi tội ác mà chúng đã gây ra trước mặt người dân và lịch sử của họ.”