Nhà Nguyễn: Gia Long [16/2/1817-4/2/1818]

Hồ Bạch Thảo
Tháng giêng năm Đinh Sửu Gia Long thứ 16 [16/2-17/3/1817], lại sai quan tại thành Gia Định điều động 1.000 người đắp đồn Châu Đốc [An Giang], giao cho Phó tướng Nguyễn Văn Xuân trông coi công việc.
Vua muốn dùng quân dân Chân Lạp đào vét đường sông Châu Đốc [sông Vĩnh Tế], Nguyễn Văn Nhân can rằng:
“Việc đào sông là công trình to lớn. Nay dân nước Phiên mới phụ, nếu việc thổ mộc phiền nhọc, thần sợ họ kinh động mà công việc khó thành. Xin hãy tạm thôi”.
Nhà Vua bèn theo lời.
Vua nước Chân Lạp là Nặc Chăn xin đi tuần trong nước, xét hỏi dân tình. Quan Bảo hộ Lưu Phước Tường đem việc tâu lên; Vua dụ rằng:
“Thăm địa phương, xem phong tục cũng là việc đầu của người có nước, có thể theo lời xin được. Duy khi đi nên có nhiều binh phòng vệ để phòng việc chẳng hay”.
Bộ Lễ tâu:
“Năm nay mồng 1 tháng 4 [16/5/1817] có nhật thực, mồng 1 tháng 10 [9/11/1817] lại có nhật thực, hai lễ tế hưởng mùa hạ mùa đông đều xin đổi lại sau ba ngày mà làm lễ”.
Vua y lời tâu, ban sắc lễ miếu hưởng, nếu gặp nhật thực thì đều lui lại 3 ngày. Đúng các ngày tiên đoán, đã xãy ra nhật thực, đó là nhờ sự tính toán chính xác của Phó quản lý Khâm thiên giám Nguyễn Hữu Thận ; nên Vua cùng bầy tôi khi bàn về lịch pháp, khen rằng:
“Phép tính lịch rất là tinh vi, duy có Nguyễn Hữu Thận đủ học thuật để biết được”.
Thấy đất đai đạo Châu Đốc mầu mỡ mà dân thì thưa ít, biết An phủ Chân Lạp là Diệp Hội [người Trung Quốc làm quan Chân Lạp] là người nhanh nhẹn giỏi giang, xử sự cũng được lòng người, bèn dùng làm Cai phủ Châu Đốc. Sai chiêu tập dân Việt, Chân Lạp và Hoa đến ở, nhắm tụ họp đông đúc. Phàm kẻ làm nghề trồng cây, chăn nuôi, buôn bán, thợ gốm, thợ rèn đều theo nghề mình, kẻ cùng thiếu được nhà nước cho vay; lại xuống chiếu dụ quan thành Gia Định rằng:
“Nay mới phủ dụ chiêu tập, nên nhân việc có lợi mà chỉ dẫn để cho họ yên nghiệp ; đợi sau mọi việc xong xuôi thì làm biểu tâu lên”.
Bộ Lễ tâu:
“Từ xưa các đế vương đời nào cũng có quốc húy (1) để dạy bảo cho thiên hạ, như thế là nêu rõ nghĩa tôn người đáng tôn, xem trọng thể thống triều đình, bảo cho dân biết kính. Nay lập ngôi Thái tử danh phận đã định, nghĩa lớn ở đấy xin kính đưa tôn tự để thần dân biết mà kính tránh.”
Vua y lời tâu.
Tháng 2 [18/3-15/4/1817], định lệ xử cai tù để tù trốn, Vua bảo bầy tôi rằng:
“Áp giải tội phạm, ngày đi đêm giữ thì tình có thể thương được, cho nên tội chỉ mãn trượng [phạt 100 trượng] thôi. Nếu là ngục, hoặc nơi đày, chủ thủ không vất vả lắm, mà canh giữ không cẩn thận, đến nỗi mất tù so với người áp giải có khác, tội chỉ mãn trượng thì nhẹ quá, nhưng bắt đồng tội với tù thì lại nặng quá. Vậy đặc chuẩn từ nay áp giải để mất tù thì y luật xét xử, chủ thủ để mất tù thì chiếu theo tội của tù trốn giảm đi hai bậc mà xử”.
Vua nước Chân Lạp là Nặc Chăn đem việc người bề tôi là Cao La Hâm Biện làm việc phi pháp, tâu xin xét định. Vua nói:
“Đấy là việc của nước Phiên, đã có chính lệnh của nước Phiên, sao phải xin chỉ?”.
Chiếu ban cho vua Chân Lạp, y theo phép nước mà xử định.
Lấy Ký lục Quảng Bình Hồ Công Thuận làm Cần chánh điện học sĩ sung Chánh sứ sang nhà Thanh, Tham hiệp Lạng Sơn là Nguyễn Huy Trinh và Hàn lâm viện Phan Huy Thực sung Giáp, Ất phó sứ; dụ rằng:
“Chuyến đi này nên cùng mưu hợp sức với nhau, để trọng quốc thể, giữ vững bang giao”.
Bọn Công Thuận xin mỗi người cử một người thân và xin chọn người hành nhân cũ để đi theo, Vua nói:
“Đi sứ là việc công triều đình không thiếu chi người, sao lại phải người thân và người cũ?”.
Quyết định không cho; từ đó sứ bộ không được lấy người thân và hành nhân cũ mà cử vào.
Vào tháng 9 sứ bộ đến Bắc Kinh, yết kiến Vua Gia Khánh:
“Ngày 22 Quí Hợi tháng 9 năm Gia Khánh thứ 22 [1/11/1817]
Thiên tử ngự tại núi Vạn Thọ, Sứ thần Việt Nam bọn Hồ Công Thuận 3 người chiêm cận ngoài cửa vườn rêu.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 334, trang 17)
Tuần sau Sứ thần dâng đồ cống, lại được thưởng và ban yến:
“Ngày mồng một Ðinh Mùi tháng 10 năm Gia Khánh thứ 22 [9/11/1817]. Quốc vương Việt Nam Nguyễn Phúc Ánh sai sứ dâng biểu cống sản vật địa phương. Ban thưởng và yến tiệc theo lệ.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 335, trang 2)
Bắc Thành bắt được sáu con của ngụy Tư khấu Định, đem tâu; Vua nói:
“Tội của cha chúng có can gì đến chúng?”.
Bèn tha cho.
Giặc người Trung Quốc là Cao La Y chiếm giữ đất Lâm An [Vân Nam], quan nhà Thanh đưa thư sang Bắc Thành yêu cầu giúp ngăn chặn. Sự việc tâu lên; hạ lệnh cho các trấn điều quân phòng giữ nghiêm ngặt các nơi trọng yếu tại các châu Chiêu Tấn [phủ An Tây, Hưng Hóa], Thủy Vĩ [Lao Cai], Lai Châu. Rồi La Y bị người Thanh bắt được, quân ta bèn rút .
Tháng 3 [16/4-15/5/1817], quan Bảo hộ Chân Lạp là Lưu Phước Tường trước làm Trấn thủ Vĩnh Thành, cùng với Cai bạ Lê Đắc Tần, Ký lục Trần Bá Bảo, nhân việc công bắt đóng góp, tham nhũng tiền đến vài vạn, nay việc phát giác; Vua bảo bầy tôi rằng:
“Trẫm yêu dân như con, mà không cai trị một mình được, cho nên đặt chức thú mục để vỗ nuôi dân. Nay quan lại Vĩnh Thanh như thế, rất không xứng chức”.
Bèn sai quan Gia Định thành xét hỏi.
Đày tù phạm tội lưu từ các địa phương đến Tam Độc [Ba Ngòi] trấn Bình Hòa [Khánh Hòa]; Vua bảo bộ Hình rằng:
“Đất ấy vốn mầu mỡ, trước có dân làm ruộng để sống. Từ sau binh lửa dân vật điêu hao, nên thành hoang rậm. Nay đưa người đến ở cũng có cách để sống”.
Rồi hạ lệnh cho quan tại trấn, phàm tù tội lưu đưa đến nơi, thì tha xiềng khóa chỉ đeo một vòng sắt ở cổ có buộc bài sắt, trên bài có khắc hai chữ “lưu tù”, cấp cho trâu và ruộng để khai khẩn ruộng đất, làm lấy mà ăn.
Vét đường sông ở ngoài Kinh thành, từ phía tây nam thành thông đến Long Hồ [huyện Hương Trà, Thừa Thiên], Trúc Lâm [Hương Trà, Thừa Thiên].
Tháng 4 [16/5-14/6/1817], đồn Châu Đốc làm xong. Sai quan thành Gia Định điều động 100 lính cơ ở bốn trấn, 200 lính đồn Uy viễn; chọn người giỏi cai quản. Lính thì ba tháng một lần đổi, quản thủ thì một năm một lần đổi; lại sai chở 40 cỗ súng gang và thuốc đạn chia đặt các nơi trong đồn, phòng giữ nghiêm.
Bảy sách dân thiểu số Cam Lộ [Quảng Trị] vào cống mừng đại lễ sách lập Hoàng thái tử. Vua bảo các quan rằng:
“Man ấy ngu xuẩn chất phác, từ tiên triều đến giờ, hơn hai trăm năm chưa từng ngang ngạnh, hằng năm vẫn nộp cống thuế, trẫm từng đã xuống chiếu xá cho mà họ vẫn cố xin giữ như cũ, thực đáng yêu đáng thương”.
Sai cho bạc lụa, đãi yến rất hậu.
Tháng 5 [15/6-13/7/1817] Nguyễn Văn Thành bị gán tội nên tự sát. Vào năm ngoái Bắc Thành xử án Diên tự công Lê Duy Hoán, án làm xong đưa về Kinh, lại sai bộ Hình hỏi lại. Duy Hoán khai thêm rằng Nguyễn Văn Thuyên có âm mưu với ông ta, gửi thư bảo làm phản. Bộ Hình đem việc tâu, Vua nói:
“Văn Thuyên ở trong ngục làm sao bảo người khác vì mình mà làm phản được? Lời ấy lại giống trẻ con nói đùa, vậy sai các nội thần hội bàn xét đến cùng cho rõ tội trạng”.
Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đình Đức đều nói:
“Bọn kia ngầm mưu làm càn ngay từ ngày Văn Thành còn làm Tổng trấn Bắc Thành, chứ không phải đợi khi đã phải tội rồi sau mới gởi thư”.
Vua nhân bảo Phạm Đăng Hưng rằng:
“Trẫm từ lúc đất một thành, binh một lữ, gian nan trăm trận để có ngày nay không phải là dễ dàng. Nguyễn Văn Thành ngôi cao nhất trong hàng bầy tôi, con đỗ Hương cống mà lại đi giao thiệp bậy mà kết bè đảng, toan muốn làm gì? Xưa Hoài Nam vương (2) nhà Hán chiêu nạp nhiều tân khách, sau đến bị tội phải giết. Từ xưa bề tôi gian giảo nhòm ngó ngôi vua, đại khái đều như thế cả.”
Phạm Đăng Hưng tâu rằng:
“Kẻ sĩ áo vải còn không nên giao du bậy huống chi là con cháu công thần? Tội vạ ngày nay của Văn Thành là tự làm ra”.
Vài ngày sau, đình thần lại tâu rằng:
“Xét lại lời cung của Duy Hoán thì tình trạng làm phản của cha con Văn Thành đã rõ. Xin trị tội”.
Vua nói:
“Trẫm đãi Văn Thành không bạc, nay hắn tự mình làm nên tội, thì phép công của triều đình trẫm cũng không thể làm của riêng được”.
Bèn sai bắt Văn Thành và con giam ở nhà quân Thị trung. Bầy tôi họp ở Võ công thự để xét hỏi Văn Thành. Hỏi:
“Có làm phản không?”
Thành nói:
“Không”.
Hỏi :
“Có dự biết không?”
Thành nói:
“Không”.
Văn Thành trả lời rồi đi ra, sắc mặt bừng bừng, trở về nhà quan, nói với Thống chế Thị trung là Hoàng Công Lý rằng:
“Án đã xong rồi, vua bắt bề tôi chết, bầy tôi không chết không phải là trung”. Rồi Thành đi nằm hồi lâu, uống thuốc độc chết. Việc tâu lên, vua triệu Hoàng Công Lý hỏi rằng:
“Văn Thành khi chết có nói gì không?”
Công Lý đem hết lời Thành nói thưa lên. Vua giận nói rằng:
“Văn Thành không biện bạch mà chết, sự nhơ bẩn càng rõ rệt”.
Bỗng có quân lại nhặt được tờ di chiếu trần tình của Văn Thành ở nhà quân đem dâng. Vua cầm tờ biểu khóc to lên đưa cho bầy tôi xem mà dụ rằng:
“Văn Thành từ lúc trẻ theo trẫm có công lao to. Nay nhất đán đến nỗi chết, trẫm không bảo hộ được ấy là trẫm kém đức”.
Nhân quay hỏi Phạm Đăng Hưng rằng:
“Văn Thành chết, nên lấy lễ nào mai táng”.
Đăng Hưng thưa:
“Táng như thường dân”.
Vua yên lặng. Sai một cai đội Trung quân và 30 binh lính làm việc tang, cho 500 quan tiền cấp trả mũ áo, cho thêm ba cây gấm Tống, 10 tấm vải và 10 tấm lụa. Các con Thành bị giam tha ra hết.
Lê Duy Hoán và Nguyễn Văn Thuyên bị giết. Nguyễn Văn Thành chết rồi, đình thần đem án phản nghịch dâng lên. Duy Hoán và Văn Thuyên đều bị xử lăng trì; Võ Trinh bị tội a tòng, xử trảm giam hậu; Tống Phước Ngoạn bị tội kiện điêu, xử trượng và cách chức; Trần Ngọc Nhữ bị tội vu cáo, xử tội lưu tột bậc. Nguyễn Trương Hiệu cáo giác, thưởng 500 quan tiền.
Xét về vụ án Nguyễn Văn Thành, bắt nguồn từ việc ông chống đối lập Hoàng Tử thứ tư là Minh Mệnh, công khai ủng hộ sách lập Hoàng tôn Đán, con Hoàng tử Cảnh lên làm Vua. Việc này trái với ý định của Gia Long, nên nhà Vua nhận xét rằng:
“Hắn muốn dựng vua nhỏ để dễ khống chế, ngày sau có thể chẹt họng vỗ lưng…”
Kíp đến khi phát giác bài thơ của người con là Nguyễn Văn Thuyên với lời lẽ ngông cuồng, thì mối nghi ngờ lại càng nặng thêm, nên tìm cách giết cho bằng được. Bản tính của Vua Gia Long mưu an toàn tuyệt đối cho bản thân và dòng dõi, nên trước kia đã giết Đỗ Thành Nhân, bức tử Chưởng tiền quân Lê Văn Quân; nay về già, lại mưu an toàn cho Vua nối dõi Minh Mệnh, nên trù tính giết Nguyễn Văn Thành cho bằng được. Nhà Vua thấy việc dùng một bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên mà giết công thần Nguyễn Văn Thành không đủ thuyết phục, nên nhân vụ án Diên tự công Lê Duy Hoán xãy ra ngoài Bắc, bèn cố gài việc Nguyễn Văn Thuyên cấu kết với Lê Duy Hoán, để chứng tỏ việc bức tử Nguyễn Văn Thành là hợp lý. Quần thần biết ý Vua nên hùa theo; sau khi Nguyễn Văn Thành chết; mục đích đạt được; nhà Vua ra vẻ thương xót khóc lóc, rồi cấp tiền lụa chôn cất. Riêng Võ Trinh là danh thần, không tiện giết, bèn đày đi Quảng Nam, cuối đời dạy học. Năm 70 tuổi, nhân Vua Minh Mệnh tuần du Quảng Nam, bèn sai con xin trở về quê, được mấy hôm thì mất.
Thổ phỉ ở Thanh Bình [Ninh Bình] là Quách Công Thận cướp bóc ở ven núi; quan trấn Thanh Hoa tâu xin đem quân đánh. Chiếu trả lời rằng:
“Lũ giặc lúc ẩn lúc hiện không thường; đất ấy núi khe hiểm trở, lại thông với các địa đầu Sơn Nam thượng, Sơn Tây, Hưng Hóa. Nếu dò xét chưa đích xác đã vội xuất quân, thì chưa thuộc đường, không quen nước, lại thành mệt nhọc. Nay nên dò cho biết rõ bọn ấy đi đâu tới đâu rồi dùng người thổ sở tại cho vào bọn, để xem tình hình động tĩnh. Nếu có cơ thừa được thì mật báo trước cho Bắc Thành để hội đánh. Lại nên đòi họp binh hạ ban và thổ binh để phòng điều khiển, cốt sao trọn vẹn muôn phần, đánh là hẳn được. Không thì cứ yên lặng để chờ, chớ nên khinh cử”.
Tháng 6 [14/7-12/8/1817], Vua cho rằng trấn Vĩnh Thanh giáp nước Chân Lạp địa vị rất quan trọng, phải lưu tâm bố trí sao cho trong cõi được yên, bên ngoài phải phục; bèn sai Phó quản đồn Uy viễn là Hồ Văn Thất đóng giữ đồn Châu Đốc [An Giang], Khâm sai cai cơ Võ Văn Sáng quản lãnh ba đạo Tân Châu [An Giang], Chiến Sai [An Giang], và Hùng Ngự [Hồng Ngự, Đồng Tháp].
Thuyền Mã Cao [Quảng Đông] đậu ở Đà Nẵng, đem địa đồ đảo Hoàng Sa dâng lên; thưởng cho 20 lạng bạc.
Vua nước Chân Lạp là Nặc Chăn gửi thư đến thành Gia Định, xin thân hành đến thành hỏi về việc chính sự; quan tại thành viết thư trả lời rằng:
“Chính sự nước Phiên đã có quan bảo hộ có thể giúp để bàn bạc. Huống chi sự biến loạn ở trong nước mới yên, lòng dân mới phụ, không nên đi xa.”
Sau đó đem sự việc ấy tâu lên; Vua bảo có thể phúc thư chấp nhận lời xin, nếu đến thì nên lấy điều lợi về đào sông Châu Đốc [ Vĩnh Tế] mà bảo, khiến quy hoạch trước, đợi ngày phát động quân dân góp sức đào, cho chóng xong việc.
Thuyền sứ giả nước Xiêm sang nhà Thanh, gặp gió đậu vào Đà Nẵng; rồi thuyền lại bị cháy mất hết cả, sự việc tâu lên. Vua nói rằng thuyền sứ giả bị cháy cũng như thuyền buôn bị nạn; sai quan dinh Quảng Nam cấp cho gạo lương hơn 200 phương.
Tháng 7 [13/8-10/9/1817], nước Chân Lạp sai sứ đến chầu. Vua cho rằng Chân Lạp là nước bề tôi, hàng năm đến chầu là bổn phận, không giống như sứ giả nước khác. Chỉ sai cấp cho tiền gạo; khi sứ giả về, Vua nhắc lại việc đào sông:
“Trẫm sắp đào sông Châu Đốc [Vĩnh Tế] để thông tới Hà Tiên, lợi của nước ngươi cũng là lợi cho nông thương. Về bảo với chúa ngươi nên hiểu ý ấy”.
Dinh Quảng Đức [Thừa Thiên] có người tù bị thích chữ đày đi Hà Tiên, chưa đưa đi lại đổi đi Bình Hòa [Ninh Hòa, Khánh Hòa]. Tham tri bộ Hình Lê Bá Phẩm lại sai thích chữ lại. Việc đến tai, Vua khiển trách rằng:
“Ngươi là hình quan mà không biết nên xét cẩn thận. Người không phải là gỗ đá, sao không nghĩ đến sự đau đớn của người ta?”.
Sắc cho các thành dinh trấn từ nay án xử tội sung quân và tội lưu, cuối năm làm danh sách tâu lên đợi định chỗ đày, rồi sau mới thích chữ. Phép thích chữ thì bên tả thích tội danh, bên hữu thích chỗ đày, chỉ lấy bốn chữ làm hạn.
Bọn giặc ở Thanh Bình [Ninh Bình], nổi lên ở Gia Viễn, sai quan Bắc Thành phát binh cùng với binh ở đạo này, họp đánh dẹp yên.
Tháng 8 [11/9-10/10/1817] phong tước Công cho chú và các con, cháu: Quốc thúc quận công Tôn Thất Thăng làm Phước Long công, Hoàng tử thứ năm là Đài làm Kiến An công, Hoàng tử thứ sáu là Bính làm Định Viễn công, Hoàng tử thứ bảy là Tấn làm Diên Khánh công, Hoàng tử thứ tám là Phổ làm Điện Bàn công, Hoàng tử thứ chín là Chẩn làm Thiệu Hóa công, Hoàng tử thứ mười là Quân làm Quảng Oai công, Hoàng tử thứ mười một là Cự làm Thường Tín công, Hoàng tôn Kính làm Thái Bình công, Hoàng tôn Đán làm ứng Hòa công; ban cho sách bạc, ấn bạc và ấn quan phòng mỗi người một cái.
Đặc cách cho con các đại thần được tập ấm chức tước: Con Chưởng Hậu quân Võ Tánh là Võ Khánh làm Khinh xa Đô úy; con Chưởng Tiền quân Tôn Thất Hội là Tôn Thất Trinh, con Tổng trấn Gia Định Nguyễn Huỳnh Đức là Nguyễn Hoàng Toán, con Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân là Nguyễn Văn Đức, con Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt là Lê Văn Yến, con Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên là Nguyễn Đức Thiện, con Đô thống chế Hậu dinh Thần sách Mai Đức Nghị là Mai Đức Nho, con Đô thống chế Thị trung Nguyễn Văn Khiêm là Nguyễn Thường Tuân đều làm Kiêu kỵ đô ký; con Đô thống chế Trung dinh Thần sách Tống Viết Phước là Tống Viết Tri làm Kỵ đô úy; con Lưu thủ Nguyễn Đức Thịnh là Nguyễn Đức Long làm Vệ úy.
Nước Chân Lạp đói, xin đong thóc ở Gia Định; ra lệnh cho đến các xứ Long Hồ [Vĩnh Long], Sa Đéc [Đồng Tháp] đong 10.000 hộc thóc.
Sai Phó tướng Tả quân là Nguyễn Văn Xuân quyền lãnh việc bảo hộ Chân Lạp. Bảo hộ là Lưu Phước Tường dung túng cho thuộc hạ sách nhiễu, làm khổ dân Chân Lạp, việc phát giác, vua nói:
“Phước Tường trước ở Vĩnh Thanh đã làm nhiều việc trái phép, nay lại như thế, tội không thể nói xiết được”.
Tức thì hạ lệnh lột ấn bảo hộ, đưa về Gia Định xét trị.
Tháng 9 [11/10-8/11/1817], nước Xiêm có tang vua thứ hai, sai bầy tôi là bọn Long A Nô Lạc Phu Thích đến báo. Vua bèn sai Thiêm sự bộ Lễ Ngô Văn Duyệt và Hàn lâm viện Trương Quang Hải sung Chánh, Phó sứ sang nước Xiêm phúng điếu. Tặng Phật vương lụa trắng, the trắng, vải nhỏ trắng mỗi thứ 300 tấm; phúng vua thứ hai 300 cân sáp ong, 100 tấm vải trắng; đường phổi, đường phèn đều 300 cân, 2.000 cân đường cát. Khi Sứ thần trở về, nước Xiêm đưa thư tạ ơn và gửi phẩm vật biếu tặng.
Thống quản đồn Uy Viễn [huyện Trà Ôn, Vĩnh Long] Nguyễn Văn Tồn cho rằng các đội tinh binh sở thuộc hiện có hơn 300 người, sai phái không đủ, xin cho con là Nguyễn Văn Vị mộ người lập ba đội Uy Viễn nhất, nhị, tam; rồi mộ được hơn 100 người, sai bổ vào các đội tinh binh, lại xin mộ thêm đủ 1 cơ tinh binh, cơ có 10 đội, đội có 50 người.
Ngày Tân Mùi mồng 1 tháng 10 [9/11/1817] có nhật thực; đúng như Nguyễn Hũu Thận tiên đoán.
Giặc biển Chà Và [Java, Indonesia] thường nương tựa các cù lao thuộc Hà Tiên để cướp thuyền buôn. Quan tại trấn phát binh tuần xét, bắt được rất nhiều; sai đóng gông tướng giặc đưa về kinh giết.
Tháng 11 [8/12/1817-6/1/1818], vét sông Tam Khê, sông cách trấn lỵ Vĩnh Thanh [Vĩnh Long] 214 dặm. Vua thấy đất ấy gần Chân Lạp, mênh mông lầy rậm, đường sông đi qua Kiên Giang bị bùn cỏ ủng tắc, thuyền bè không đi được, bèn sai Trấn thủ Nguyễn Văn Thụy sửa sang đường sông, điều động dân Việt, dân Miên 1.500 người để vét, nhà nước cấp cho tiền gạo, theo lối cũ mà đào sâu rộng thêm. Hơn một tháng sông vét xong ngang hơn 10 trượng, sâu 18 thước, dân Hán, dân Di đều lợi cả. Vua khen công của Thụy, đặt tên sông là Thụy [Thoại] Hà. ở phía đông sông có núi Lạp Sơn, cũng đặt tên Thụy [Thoại] Sơn, cấm dân không được chặt cây cối.
Lại thu thuế sân chim ở Kiên Giang trấn Hà Tiên. Sân chim ở hai thôn Đông An và Vĩnh Hòa thuộc Kiên Giang, trước đã bãi thuế mà thu lông và quạt. Đến nay những làng bên cạnh viện lẽ là không có thuế, tranh chia lấy lợi. Dân hai thôn ấy xin mỗi năm nộp tiền thuế 500 quan, còn lông quạt nộp như lệ. Quan tại thành Gia Định tâu lên; Vua y cho.
Về việc giao thiệp với người Pháp, vào năm này [16/2/1817-4/2/1818] có 2 chiếc tàu La Paix và Henry, từ Bordeaux chở hàng hóa đến Đà Nẵng; nhưng hàng không hợp với thị hiếu người Việt nên bán không chạy. Thấy thế, Vua tha cho không bắt đóng thuế, lại sai chỉ cho những hàng hóa có thể nhập cảng được.
Tháng 11 [8/12/1817-6/1/1818] có tàu binh La Cybèle dương cờ trắng của Vua Louis 18 mới dành lai ngôi, đi tuần vùng biển Ấn Độ và Trung Hoa. Thuyền ghé cửa biển Đà Nẵng, Thuyền trưởng Kergarion đưa thư cho Nguyễn Văn Thắng [Chaigneau] nói vua nước ấy lấy lại được nước, sai treo cờ ở thuyền đi đến các cửa biển để các nước láng giềng biết, xin dâng phẩm vật gồm binh khí, đồng hồ, lọ thủy tinh, ảnh Vua Louis 18, và xin đến kinh đô chiêm yết.
Vua lấy cớ không có quốc thư nên khước từ. Sai quan tại dinh Quảng Nam khoản đãi hậu, rồi bảo đi. Lại sắc cho tấn thủ Đà Nẵng rằng nếu thuyền người Pháp có treo cờ bắn súng mừng 21 tiếng thì ở trên đài Điện Hải cũng bắn trả lời đúng số ấy. Từ sau có thuyền buôn nước ngoài vào cửa biển, bắn súng dẫu nhiều, trên đài chỉ bắn 3 tiếng làm hiệu mà thôi.
Tháng chạp [7/1-4/2/1818], Thanh Hoa và Nghệ An đói kém, giặc giã nổi lên nhiều. Vua nghe tin, sai Phó đô thống chế Tôn Thất Bính đem lính tại kinh hơn 2.900 người đi kinh lược miền ấy; lại sai quan tại trấn điều thêm binh lính thuộc trấn, sai phái đi bắt giặc.
Sau khi xử tội chết Diên tự công Lê Duy Hoán vào nữa năm trước; nhà Vua sai quan tại Bắc Thành chọn dùng con cháu nhà Lê để lo việc thờ cúng, ban chiếu như sau:
“Phép là của chung thiên hạ, mà ngoài phép gia ơn là thịnh đức của đế vương. Trẫm khi mới dẹp yên, rất nghĩ đến nghĩa nối đời đã dứt, tức thì phong Lê Duy Hoán làm Diên Tự công, cho tự điền tự dân, khiến giữ việc phụng tự nhà Lê; lại ân cấp gạo lương cho các chi con cháu nhà Lê, đều chu đáo khắp. Trẫm đối với họ Lê để tâm hậu đãi, vẫn mong cho đều nhờ phước lớn, cùng nước cùng vui. Không ngờ Duy Hoán nổi lên, dụ dỗ đảng giặc, thầm mưu phản nghịch, đã giao đình nghị, đều xin xử cực hình và giảm bớt ân lệ để rõ phép nước. So với phép thường, vẫn phải nên thế. Trẫm để tâm lo việc thiên hạ, rất mang lòng thương xót, há lại vì tội nghiệt của một đứa tự làm, mà bỏ cái lòng nhân nuôi nấng bao dung của nhà nước sao? Vậy đặc sai thành thần chọn người thừa tự họ Lê, ân điển cấp phát vẫn như cũ, khiến cho họ Lê hương khói có chỗ nương tựa, con cháu không đến thất sở, kẻ còn người mất đều được thấm ơn, để cùng hưởng Phước thái bình”.
Lấy Tả tham tri Hộ bộ là Nguyễn Hữu Thận làm Thượng thư Lại bộ. Vua từng bảo Nguyễn Văn Nhân rằng:
“Trong sáu bộ duy bộ Lại việc rất quan trọng. Trẫm xem Nguyễn Hữu Thận là người cần mẫn cẩn thận và thuần hậu, có thể đương được”.
Nhưng Nguyễn Hữu Thận dâng biểu xin chối từ, Vua dụ rằng:
“Trẫm chọn ngươi có thể làm được, sao lại từ?”.
Chú thích:
1.Quốc húy: Tên húy cả nước phải kiêng, viết đến thì bớt nét đi hoặc đổi dùng chữ khác, đọc đến thì phải đọc trại đi.
2.Hoài Nam vương : Hán cao tổ phong cho cháu tên là Trường làm Hoài Nam vương, sau y làm phản.