
Ronald H. Spector
Trần Quang Nghĩa dịch
CHƯƠNG HAI : “MỘT NỒI LẨU KHỔNG LỒ ĐANG SÔI SỤC”

Trung Quốc và Mãn Châu
Vào 12 giờ trưa giờ Tokyo, ngày 15 tháng 8 năm 1945, trong một phát biểu ngắn trên đài phát thanh Nhật
Hoàng đã tuyên bố kết thúc chiến tranh cho hàng triệu người Nhật Bản đang kinh ngạc ở các đảo chính quốc và khắp đế chế rộng lớn của Nhật Bản, từ những thảo nguyên Mãn Châu đến những khu rừng rậm Đông Nam Á. Vài giờ trước đó, các sĩ quan ngoan cố đã thuyết phục hoặc lừa gạt các lãnh đạo của Sư đoàn Cận vệ Hoàng gia chiếm giữ cung điện và phá hủy các đĩa ghi âm bài phát biểu đã được chuẩn bị của Nhật Hoàng. Nhưng những kẻ nóng nảy này không bao giờ tìm thấy các đĩa ghi âm, được giấu kỹ trong cung điện tối om, và cuộc đảo chính đã thất bại.
Thông điệp của Nhật Hoàng không sử dụng các từ “thảm bại” hay “đầu hàng”, mà chỉ đưa ra nhận xét rằng bất chấp những nỗ lực lớn lao nhất của toàn thể binh lính và thần dân, “tình hình đã diễn biến không còn thuận lợi cho Nhật Bản, trong khi xu hướng chung của thế giới đều đang chống lại lợi ích của nước này.” Nhật Bản sẽ chấp nhận các yêu cầu của phe Đồng minh và người Nhật phải “mở đường cho một nền hòa bình vĩ đại cho tất cả các thế hệ mai sau bằng cách chịu đựng những điều không thể chịu đựng được và vượt qua những điều không thể vượt qua nổi.”
Đối với người Nhật ở nước ngoài cũng như trong nước, việc chiến tranh đột ngột kết thúc là một cú sốc lớn. Tại Quân đoàn phía Nam, chịu trách nhiệm phòng thủ Đông Nam Á, các sĩ quan đã nghe được các bản tin về đàm phán hòa bình trên các đài phát thanh nước ngoài, nhưng mọi thắc mắc gửi về Tokyo đều nhận được chỉ thị tiếp tục chiến đấu đến cùng. Thậm chí đến tận ngày 12 tháng 8, hai ngày sau khi chính phủ Nhật Bản thông báo với Đồng minh về việc sẵn sàng đầu hàng với điều kiện giữ lại Nhật hoàng, Bộ Tổng Chỉ huy Hoàng gia vẫn khuyên các chỉ huy Quân đoàn phía Nam rằng “nhất trí tiếp tục cuộc chiến là chiến lược duy nhất của chúng ta và mỗi người lính nên tuân theo tinh thần này.” Khi Nhật Hoàng chuẩn bị phát thanh lời tuyên bố đầu hàng, chỉ huy Quân đoàn Viễn chinh Trung Quốc, Tướng Okamura Yasuji, đã điện báo cho tổng tham mưu trưởng quân đội rằng: “Các điều khoản hòa bình nhục nhã được các đài phát thanh nước ngoài đưa tin tương đương với việc xóa sổ đế chế Nhật Bản hiện đang tỏa sáng rực rỡ và không một thần dân nào của đế chế chịu tuân phục chúng.”
Cuối cùng, các tướng lĩnh và người Nhật ở khắp mọi nơi đều phải đối mặt với thực tế thất trận. Vào ngày 15 tháng 8, Bộ Tư lệnh Hải quân đã thông báo cho các chỉ huy ở Đông Nam Á rằng “không còn cách nào khác ngoài việc tuân theo mệnh lệnh của Nhật Hoàng” và cảnh báo họ “phải đặc biệt chú ý đảm bảo tất cả binh lính hành động theo đó”. Sáng hôm sau, Tham mưu trưởng Lục quân nói với các chỉ huy quân đội chủ lực rằng “một lệnh ngừng bắn sắp được Nhật Hoàng ban hành”. Tướng Itagaki Seishiro, chỉ huy quân sự Nhật Bản ở Singapore, được cho là đã từ chối đầu hàng cho đến khi nhận được lệnh từ cấp trên của mình, Thống chế Terauchi, “vì danh dự của đất nước mình”. Các thành viên hoàng gia đã được phái đến Trung Quốc, Mãn Châu và Đông Nam Á để truyền đạt mong muốn của Nhật Hoàng về một cuộc đầu hàng có trật tự và nhấn mạnh rằng “tuân theo nguyện vọng của ngài là hành động trung thành cao cả nhất đối với ngài”.
Phản ứng của người dân Nhật Bản bình thường rất khác nhau. Tại Hàng Châu, Cơ quan Tình báo Chiến lược (OSS) báo cáo rằng khi thông điệp của Nhật Hoàng được phát đi, binh lính Nhật Bản “đã quỳ xuống và khóc nức nở”. Cũng như ở Nhật Bản, một số người Nhật ở nước ngoài đã chọn con đường tự sát. Tổng cộng có chín thiếu tá, bảy đại úy, ba mươi mốt sĩ quan cấp dưới khác, tám mươi tám hạ sĩ quan và hai mươi sáu binh sĩ ở Hàng Châu đã tự sát trong tháng sau khi đầu hàng. Arthur Thompson, một người lai Âu Á sống ở Singapore, nhớ lại rằng một nhóm sĩ quan Nhật Bản đã tụ tập tại một ngôi nhà lớn trên đường Bukit Timah. “Họ đặt một quả bom dưới nhà. Họ ăn uống say sưa, hò hét ầm ĩ. Và đến một thời điểm nhất định, quả bom hẹn giờ được kích hoạt. Quả bom phát nổ xuyên qua ngôi nhà, thổi bay mái nhà và tất cả bọn họ đều chết.”
Những người Nhật khác cảm thấy tức giận và bị phản bội. “Sắc lệnh hoàng gia… được ban hành vì Nhật Hoàng đã bán đứng đất nước để giữ lấy ngai vàng của mình,” một sĩ quan trẻ viết. Mặt khác, Tướng Imamura Hitoshi cảm thấy “thực sự vô cùng thất vọng vì sau khi đào xong một pháo đài ngầm, hóa ra những nỗ lực của chúng tôi đã thành vô ích. Tuy nhiên, phản ứng cá nhân của tôi lại là vô cùng nhẹ nhõm. Tôi có thể đưa 70.000 người của chúng ta trở về quê hương an toàn.”
Một số người Nhật Bản coi sự đầu hàng chỉ là một trở ngại tạm thời. “Người dân Nhật Bản không có cách nào xóa bỏ nỗi nhục nhã của chiến tranh ngoại trừ việc vùng lên,” một sĩ quan Nhật Bản ở Triều Tiên viết. “Tôi tin tưởng sâu sắc rằng các vị thần sẽ giúp chúng ta. Năm 1948 có lẽ sẽ là năm đó.” Ngoại trưởng Shigemitsu Mamoru nhận xét rằng mặc dù Trung Quốc nằm trong số các cường quốc chiến thắng, nhưng nước này “nhận thức rõ rằng tương lai của mình sẽ không dễ dàng và cuối cùng sẽ nhận ra sự cần thiết của một liên minh với Nhật Bản.” Ông nói thêm, “Chúng tôi vẫn nuôi dưỡng mong muốn thấy Triều Tiên trở về với đế chế.” Tình báo phản gián OSS báo cáo tin đồn về sự tồn tại của một “Liên minh sĩ quan trẻ” bí mật bao gồm các sĩ quan cấp dưới cuồng tín và các “phần tử cánh hữu” khác. Tổ chức này được cho là được tài trợ bằng tiền bán thiết bị quân đội cũ, kim loại và đồ trang sức và đang lên kế hoạch cho một cuộc nổi dậy vũ trang vào năm 1948. Một sĩ quan cấp cao của Trung Quốc nói với cố vấn người Mỹ của mình về tin đồn rằng “phi công Nhật Bản đã liên lạc với các sĩ quan Không quân Trung Quốc và đưa ra nhiều lý do tại sao Trung Quốc nên hợp tác với Nhật Bản trong tương lai chứ không phải với người Mỹ.”
Nhìn chung, các sĩ quan và binh lính Nhật Bản tuân theo chỉ thị của Tokyo để duy trì kỷ luật. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, quân đội Nhật Bản đã trút sự thất vọng và tức giận của họ lên người dân địa phương. Tại một ngôi làng gần Kuantan ở Malaya, lính Nhật đã xông vào một số nhà của người Hoa và “giết một số người Hoa ngay trên giường ngủ của họ… một đứa nhỏ đã bị một binh lính Nhật bắt giữ, chặt đầu và uống máu.”
Hầu hết người dân vùng Đại Đông Á biết tin chiến tranh kết thúc bằng những cách ít bạo lực hơn. Chin Sin Chong biết tin đầu hàng từ một tờ rơi do máy bay B-29 thả xuống trong một cuộc không kích vào Singapore. Ở Malaya và Singapore, nhiều người thậm chí còn nghe tin trước cả khi Nhật Hoàng lên tiếng thông qua các đài phát thanh bí mật hoặc qua tin đồn. “Chúng tôi thường nghe tin đồn,” Tan Ben Chang nhớ lại. “Đôi khi chúng tôi tin, đôi khi thì không. Nhưng khi tin tức về sự đầu hàng đến, tôi nghĩ hầu hết chúng tôi đều cho rằng đó là sự thật. Bởi vì tôi không nghĩ mọi người sẽ lan truyền loại tin đồn như vậy.” Những người khác nghe được sau đó từ báo chí hoặc thậm chí là các thông báo công khai.
Tại Trung Quốc, một vị tướng Mỹ, khi nghe tin về bom nguyên tử, và lời đề nghị đầu hàng của Nhật Bản, vị tướng này quyết định tổ chức một cuộc duyệt binh chiến thắng sớm để phục vụ cho các máy quay phim. Bằng cách này, những hình ảnh về “chiến thắng” ở Trung Quốc có thể đến Hoa Kỳ kịp thời cho lễ kỷ niệm Ngày Chiến thắng Nhật Bản (VJ Day) thực sự. Nhận được sự ủng hộ của các đồng nghiệp trong lực lượng Quốc dân đảng đóng quân gần đó, vị tướng này đã tập hợp vài trăm binh sĩ Trung Quốc và Mỹ cho một cuộc duyệt binh qua thị trấn Lưu Châu, ở miền nam trung bộ Trung Quốc, nơi vẫn còn đổ nát sau cuộc tấn công tàn khốc của Nhật Bản vào mùa hè năm trước. “Ngay trước cuộc duyệt binh, tôi nhận thấy rằng không ai nghĩ đến việc nói cho người dân Lưu Châu biết điều gì đang chờ đợi họ hoặc tại sao,” Graham Peck, một sĩ quan thuộc Văn phòng Thông tin Chiến tranh và là một nhà ngôn ngữ học tiếng Trung, nhớ lại:
Vậy là tôi đi trước để xem phản ứng ở một quảng trường nhỏ nơi người dân quê bán thức ăn… Vài phút sau khi đến quảng trường, tôi thấy một đội quân tinh nhuệ mặc quân phục kaki với trang thiết bị mới của Mỹ đang tiến đến phía sau những lá cờ lớn của Quốc Dân Đảng và Mỹ. Người dân trong chợ nhìn chằm chằm ngơ ngác, rồi bắt đầu xì xào bàn tán với nhau:
“Họ là ai?”
“Bạn nghĩ họ muốn gì ở Lưu Châu?”
“Bạn nghĩ họ đến để lấy thứ gì đó từ chúng ta sao?”
“Không, hãy nhìn quần áo sang trọng của họ kìa. Mọi thứ ở đây đều quá nghèo nàn đối với họ.”
Đoàn diễu hành bắt đầu đi qua quảng trường và chẳng mấy chốc đã đưa đến một vị tướng Mỹ đang mỉm cười trên chiếc xe jeep của mình.
“Kỳ lạ thật đấy,” người đàn ông rách rưới bên cạnh tôi nói với người hàng xóm phía bên kia. “Anh nghĩ sao về chuyện này?”
Người đàn ông kia nhìn anh ta với vẻ mặt hoàn toàn khó hiểu. “Tôi nghĩ họ đã bắt được một số tên cướp và sẽ đưa chúng ra ngoài và bắn chết chúng,” anh ta nói.
Nhiều người chỉ biết về sự đầu hàng vài tuần sau đó. Ng Seng Yong, một chủ tiệm cầm đồ và nhập khẩu gạo ở một làng quê người Mã Lai, chỉ biết sự kiện đầu hàng vào ngày 2 tháng 9, khi ông nghe được bản tin phát thanh về lễ đầu hàng tại vịnh Tokyo được phát qua radio giấu trong gác mái nhà hàng xóm,
- ●
Cuộc chiến chống Nhật đánh thắng tại Thái Bình Dương. Nhưng tại châu Á, quân đội Nhật Bản về cơ bản vẫn còn nguyên vẹn. Họ có một lượng lớn quân lính ở miền bắc và tây Trung Quốc, và cho đến ngày 9 tháng 8, cả Mãn Châu và Triều Tiên nữa. Quân đội Nhật Bản đã bị tổn thất nặng nề ở Miến Điện, nhưng toàn bộ Đông Dương, Mã Lai và Đông Ấn thuộc Hà Lan vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Nhật Bản. Vào thời điểm đầu hàng, có khoảng sáu triệu rưỡi binh lính và thường dân Nhật Bản – khoảng một phần hai mươi dân số Nhật – ở Tây Thái Bình Dương và trên lục địa châu Á. Trong đó có khoảng 1.200.000 người ở Mãn Châu, 750.000 người ở Triều Tiên, 1.500.000 người ở Trung Quốc đại lục, và ít nhất 700.000 người ở nhiều vùng khác nhau của Đông Nam Á.
Chính sách của phe Đồng minh là tất cả những người Nhật này phải được trả về Nhật Bản. Về nguyên tắc, lực lượng Đồng minh sẽ chiếm đóng toàn bộ đế chế cũ của Nhật Bản, nơi họ sẽ nhận được sự đầu hàng chính thức từ các bộ chỉ huy khác nhau, giải giáp và hồi hương người Nhật. Văn kiện đầu hàng cơ bản, Điều Tổng Lệnh số 1, được soạn thảo vội vàng tại Bộ Ngoại giao và Lầu Năm Góc trong đêm ngày 10 tháng 8, quy định rằng lực lượng Nhật Bản ở Trung Quốc, Đài Loan và Bắc Đông Dương, nhưng không phải Mãn Châu, phải đầu hàng Tưởng Giới Thạch. Tất cả lực lượng Nhật Bản ở Mãn Châu và ở Triều Tiên phía bắc vĩ tuyến 38 phải đầu hàng tổng tư lệnh lực lượng Liên Xô ở Viễn Đông. Lực lượng Nhật Bản ở Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương được chỉ thị đầu hàng Tư lệnh Đồng minh Tối cao, Đô đốc Lord Louis Mountbatten, và những lực lượng ở các khu vực khác của Thái Bình Dương đầu hàng Đô đốc Chester Nimitz, Tổng Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ. Chính phủ Nhật Bản và tất cả các lực lượng trên khắp các đảo chính quốc phải đầu hàng Tướng Douglas MacArthur, người được chỉ định làm Tư lệnh Tối cao quân Đồng minh tại Nhật Bản. Lực lượng Nhật Bản ở Triều Tiên phía nam vĩ tuyến 38 và ở Philippines cũng sẽ đầu hàng MacArthur.
Tổng thống Truman đã phê chuẩn sắc lệnh vào ngày 14 tháng 8 và nó được gửi đến Nhật Bản để Nhật Hoàng ban hành cho quân đội của mình. Theo đề nghị của Thứ trưởng Bộ Chiến tranh John J. McCloy, một điều khoản đã được thêm vào, hướng dẫn người Nhật rằng các chỉ huy Đồng minh được liệt kê trong sắc lệnh là “những đại diện duy nhất được trao quyền chấp nhận sự đầu hàng và tất cả các cuộc đầu hàng của lực lượng Nhật Bản chỉ được thực hiện cho họ hoặc đại diện được chỉ định của họ.”
Tuy nhiên, phải mất một thời gian khá lâu thì quân đội của các cường quốc chiến thắng mới có thể đến được tất cả các khu vực khác nhau của Đại Đông Á cũ. Ở một vài nơi, khoảng thời gian đó tương đối ngắn; ở nhiều nơi khác, nó có thể kéo dài vài tuần hoặc hơn. Thời điểm xuất hiện của các lực lượng Đồng minh này tỏ ra vô cùng quan trọng.
Liên Xô là lực lượng đầu tiên đến. Họ tham chiến vào ngày 9 tháng 8, khi hơn một triệu rưỡi quân Liên Xô, cùng với 3.700 xe tăng và 1.900 pháo tự hành, tràn vào Mãn Châu từ phía bắc, đông và tây. Bị che khuất bởi những cơn mưa lớn, quân Liên Xô đã đạt được tính bất ngờ hoàn toàn. Vượt qua những sa mạc, núi non và vùng đầm lầy tưởng chừng không thể vượt qua, mười một đạo quân Liên Xô tiến sâu vào trung tâm đất nước, không ngừng nghiền nát hoặc đánh bọc sườn những binh lính thiếu chuẩn bị và ít hỏa lực hơn của Quân đoàn Quan Đông Nhật Bản. Binh lính Nhật Bản nhận ra rằng pháo của họ thường bất lực trong việc ngăn chặn xe tăng T-34 của Liên Xô. “Pháo binh của chúng tôi bắn vào xe tăng ở phía sau”, một sĩ quan Nhật Bản nhớ lại, trong khi các đội cảm tử tấn công từ ven đường. “Tuy nhiên, mặc dù xe tăng bị trúng đạn, nhưng vì đạn không xuyên giáp nên thiệt hại thực tế gần như bằng không… Kẻ địch bình tĩnh sửa chữa xe tăng của chúng ở một vị trí lộ thiên trước mặt chúng tôi. Hành vi của chúng thật kiêu ngạo và xấc xược trước sự bất lực của chúng tôi.”
Vào thời điểm phát sóng thông báo đầu hàng của Nhật Hoàng, quân đội Liên Xô đã tiến sâu hàng trăm dặm vào Mãn Châu, chiếm được các thành phố trọng yếu Mutanchiang (Mudanjiang) và Wangching (Wangjing) và hoàn toàn bao vây Quân đội Quan Đông đang trong tình trạng bất lực. Liên Xô tuyên bố đã tiêu diệt khoảng 84.000 binh lính Nhật Bản, bao gồm cả quân Mãn Châu và quân bù nhìn Trung Quốc, và bắt giữ gần 600.000 người. Tổn thất của Liên Xô là khoảng 12.000.
Quân đội Quan Đông phản ứng chậm chạp trước tuyên bố đầu hàng của Tokyo. Ngày 16 tháng 8, Bộ Tổng tham mưu Đế quốc chỉ thị các chỉ huy quân đội Quan Đông liên lạc với các chỉ huy Nga tại địa phương để đàm phán về các thỏa thuận đầu hàng. Thông tin liên lạc rất kém, và Liên Xô từ chối cho phép quân Nhật tự do di chuyển giữa các đơn vị. Kết quả là, một số cuộc giao tranh tiếp tục đến ngày 20 tháng 8. Các cuộc tiến công của Nga không hoàn toàn chấm dứt cho đến những ngày cuối tháng 8, khi đó Liên Xô đã chiếm được thành phố Kalgan, đầu mối đường sắt chính của khu vực đông bắc, các đạo quân Hồng quân đang tiến vào các tỉnh Hà Bắc và Vực Hà của Trung Quốc. Khoảng một triệu rưỡi người Nhật ở Mãn Châu, Triều Tiên và miền bắc Trung Quốc đã trở thành tù binh của Liên Xô. Nhiều người đã phải trải qua nhiều năm trong các trại tù của Liên Xô, và ít nhất ba trăm nghìn người vẫn còn mất tích. Đối với nhiều người Nhật khác, cuộc chiến ở Mãn Châu vẫn chưa kết thúc.
Trong bốn mươi năm, Mãn Châu là trọng tâm của những giấc mơ và tham vọng của Nhật Bản về phát triển công nghiệp, độc lập kinh tế, khoa học xã hội và cải thiện Đại Á dưới sự lãnh đạo của Nhật Bản.Từ năm 1931 đến năm 1941, Nhật Bản đã chi số tiền tương đương sáu tỷ đô la cho các nhà máy, nhà máy thủy điện, đường sắt, mỏ, xưởng đóng tàu và các dự án phát triển công nghiệp khác ở Mãn Châu. Các tập đoàn Nhật Bản kiểm soát hầu hết các hoạt động khai thác mỏ, đánh bắt cá, sản xuất và thông tin liên lạc của đất nước. Phần lớn trong số 1.200.000 người Nhật ở Mãn Châu là binh lính của Quân đội Quan Đông, nhưng cũng có một số lượng lớn thường dân tham gia kinh doanh, sản xuất và ngân hàng. Vài nghìn người là nhân viên của Đường sắt Nam Mãn Châu và hơn ba nghìn người là cố vấn hoặc nhân viên của chính phủ bù nhìn Mãn Châu Quốc.
Chỉ khoảng 2% người Nhật ở Mãn Châu làm nông nghiệp, nhưng 2% đó lại nằm trong một kế hoạch quy hoạch xã hội phức tạp. Họ là một phần của dự án thuộc địa hóa quy mô lớn khu vực này bằng những nông dân nghèo từ Nhật Bản, những “binh lính của cái cuốc” được tái định cư trên đất nông nghiệp ở Mãn Châu. Khoảng một nửa số khu định cư nằm dọc theo biên giới Xô Viết-Mãn Châu. Nhiều khu định cư được thành lập cho những người định cư trẻ tuổi đến Mãn Châu thông qua việc phục vụ trong Lữ đoàn Thanh niên Yêu nước, một tổ chức tuyển mộ thanh niên từ 14 đến 21 tuổi để huấn luyện bán quân sự và nông nghiệp trong ba năm. Cùng với những người vợ trẻ của họ, cũng được đưa từ Nhật Bản đến, họ được coi là phương tiện lý tưởng để truyền bá tinh thần Nhật Bản ra nước ngoài và giảm bớt nghèo đói ở nông thôn trong nước cũng như “làm lực lượng dự bị cho các hoạt động của Quân đội Đế quốc” trong trường hợp chiến tranh với Nga.
Sau khi được bố trí chỗ ở mới, những dân định cư bỗng thấy mình sở hữu những vùng đất nông nghiệp màu mỡ, vượt xa mọi kỳ vọng của họ ở quê nhà. Chính phủ Mãn Châu Quốc đã giành lại được một phần đáng kể diện tích đất từ những chủ sở hữu người Hoa trước đây thông qua “thao túng giá cả, ép buộc bán đất gia đình và cưỡng chế trục xuất.” Giờ đây, sở hữu nhiều đất đai hơn mức gia đình họ có thể canh tác, bọn thực dân Nhật Bản đã tiến hành thuê một số lượng lớn lao động người Hoa và Triều Tiên , hoặc thậm chí cho thuê lại một số vùng đất vừa chiếm đoạt cho chủ sở hữu cũ. Không có gì đáng ngạc nhiên, mối quan hệ giữa dân định cư Nhật Bản và cư dân người Hoa và Triều Tiên lớn tuổi nhìn chung là không mấy dễ chịu, đôi khi còn thù địch. Cư dân Nhật được phép mang súng và hành động chống lại người Hoa hoặc người Triều Tiên nào có vẻ đe dọa. Fukushima Yoshi, cô vợ trẻ của một chủ cửa hàng giàu có ở phía đông bắc Mãn Châu, đã được chồng cảnh báo phải đối xử tử tế với người Mãn Châu, “nhưng trong lòng tôi không thể hoàn toàn tin tưởng họ…. Họ biểu lộ tình cảm thù hận đối với Nhật Bản. Ngay cả bọn trẻ bản xứ làm việc cho chúng tôi đôi khi cũng buột miệng nói với tôi rằng Nhật Bản thật xấu xa vì đã chiếm đất đai của chúng.” Gia đình Yoshi có nuôi một con chó chăn cừu Đức to lớn được huấn luyện “chỉ cắn người Mãn Châu. Họ sẽ mặc cho ai đó quần áo Mãn Châu và huấn luyện con chó tấn công khi người đó bước vào phòng, cắn một miếng lớn vào bắp chân kẻ xâm nhập.”
Khi nguy cơ bị Liên Xô tấn công ngày càng hiện hữu, các khu định cư dần bị tước đoạt lực lượng lao động khỏe mạnh. Lính dự bị và thanh niên từ Lữ đoàn Thanh niên được gọi nhập ngũ vào năm 1944. Trong đợt huy động “cạn kiệt” (nekosoki) cuối cùng vào tháng 7 và tháng 8 năm 1945, hầu hết các khu định cư đều mất đi số ít đàn ông còn lại. “Việc gọi nhập ngũ ở Mãn Châu thật điên rồ,” một nhà văn nhớ lại. “Ngay cả người già và người bệnh cũng bị gọi nhập ngũ và họ không được cấp đồng phục hay vũ khí thông thường. Thay vào đó, họ được lệnh mang theo bất kỳ vũ khí nào có ở nhà, bao gồm kiếm, giáo và súng săn. Những ai không bị gọi nhập ngũ dưới 45 tuổi bị buộc huấn luyện để thực hiện các cuộc tấn công tự sát và phục vụ trong đội cứu hỏa bằng xô nước trong trường hợp hỏa hoạn và sử dụng giáo gỗ.” Trong khi đó, Quân đội Quan Đông đã hoàn thành kế hoạch rút lui về các vị trí phòng thủ ở phía nam và phía đông, bỏ lại hầu hết các khu định cư nông nghiệp cho Liên Xô.
Những dân định cư gần biên giới Liên Xô chỉ biết về cuộc tấn công của Nga khi họ đột nhiên nhận được lệnh sơ tán hoặc tình cờ gặp dân định cư khác đang chạy trốn về phía nam. Cư dân khu định cư của Yoshi ở Fukushima “không biết phải chạy trốn theo hướng nào. Ai cũng muốn đi theo bất kỳ hướng nào được biết là quân Liên Xô sẽ không đến đó … Từ đêm đầu tiên đó, bạn hoàn toàn phải tự xoay xở. Nếu gặp người quen, bạn sẽ chào hỏi và có thể cùng nhau đi bộ, nhưng chẳng mấy chốc đã bị tách ra. Tôi không biết chúng tôi đang ở đâu. Có lẽ đường ray xe lửa sẽ đưa chúng tôi đến Thẩm Dương. Tôi tìm thấy đường ray và đi dọc theo nó. Nhiều người kiệt sức gục ngã và chết ngay bên đường ray. Nhưng chẳng bao lâu sau, bạn không thể đi bộ trên đường ray nữa. Quân Liên Xô bắt đầu sử dụng nó…. Chúng tôi phải di chuyển vào vùng núi. Đó là một vùng hoang vu, đôi khi thậm chí là một khu rừng nguyên sinh, và có xác chết khắp nơi trên các con đường mòn…. Nếu quân Mãn Châu tìm thấy bạn, bạn sẽ bị tước đoạt tất cả mọi thứ. Nhưng quân Liên Xô là đáng sợ nhất. Chúng giết người Nhật chỉ vì thích giết chóc. Tôi đã thấy nhiều người bị đâm bằng lưỡi lê. Hàng đống xác chết. “
Ono Eiko, một học sinh lớp bốn sống trong một khu định cư cách biên giới Liên Xô vài dặm, đã chạy trốn về phía nam cùng cha, ông nội, mẹ và hai em gái sau khi quân đội và cảnh sát Nhật Bản trưng dụng tất cả ngựa có sẵn để phục vụ cho cuộc chạy trốn của họ. Sau khi phải đi bộ suốt đêm về phía ga xe lửa gần nhất, họ bị máy bay Liên Xô bắn phá. Đến ga xe lửa, họ biết rằng các chuyến tàu đã ngừng hoạt động và quyết định đi đường vòng qua núi hiểm trở để tránh quân đội Liên Xô. Trên đường mòn trên núi, các nhóm dân tản cư bị bắn phá thêm vài lần và bị các băng nhóm vũ trang Trung Quốc tấn công. Lương thực cạn kiệt và những người tản cư sống sót nhờ cỏ và rễ cây. Chỉ có 15 người trong nhóm của Eiko gồm hơn một trăm dân định cư sống sót trở về Nhật Bản. Tổng cộng, người ta ước tính rằng ít nhất 11 nghìn dân định cư đã thiệt mạng do các cuộc tấn công của Nga, các vụ hành hung của người Trung Quốc và Triều Tiên tại địa phương, và trong cuộc lội bộ gian khổ về phía nam. Hơn bốn nghìn trong số tử vong này là do tự sát. Trớ trêu thay, 73% dân định cư nam giới được gọi nhập ngũ đã sống sót sau cuộc xâm lược của Liên Xô, nhưng chỉ có 27% số người ở lại trong khu định cư may mắn như vậy.
Trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh là đối tượng dễ tử vong nhất trong chuyến lội bộ dài về phía nam. Tiếng khóc một đứa bé có thể gây nguy hiểm cho cả nhóm vì tiết lộ vị trí của họ cho quân Nga hoặc bọn cướp Trung Quốc. Tình trạng mệt mỏi và suy dinh dưỡng thường khiến các bà mẹ không thể cho con bú. “Những trẻ sơ sinh là đáng thương nhất,” một người tị nạn trước đây nhớ lại. “Vì đói, chúng không còn sức để khóc, và khi mẹ cúi xuống kiểm tra kỹ, thân thể chúng lạnh ngắt với những ngón tay gầy guộc co rúm cho vào miệng.” Nhiều người tị nạn bất hạnh cảm thấy buộc phải rời bỏ nhà cửa, gửi lại con thơ nhỏ tuổi nhất cho các gia đình người Hoa thân thiện nuôi dưỡng, cách duy nhất đảm bảo chúng có thể sống sót qua sự sụp đổ của Mãn Châu Quốc.
Hầu hết những người hoàn thành cuộc hành trình kinh hoàng về phía nam chỉ tìm thấy thêm gian khổ ở các thành phố đông đúc của Mãn Châu và miền bắc Trung Quốc. Một quan chức lãnh sự Nhật Bản báo cáo: “Một số người tị nạn đã đi bộ hơn một nghìn dặm để đến các trại tị nạn. Họ gầy gò; một số người thậm chí trần truồng. Có rất ít đàn ông trưởng thành trong trại. Nhiều người bệnh đã tự tử dọc đường để không trở thành gánh nặng cho người thân. Một số phụ nữ đã đồng ý cho quan hệ tình dục để được đi tàu.” Những người mới đến “bị bọ chấy bám đầy cơ thể gây bệnh sốt phát ban. Họ bốc mùi hôi thối đến nỗi không ai có thể đến gần,” một nhà báo nhớ lại. “Tất nhiên họ không có giày dép và lòng bàn chân của họ đen ngòm vì bùn, mồ hôi và dầu mỡ.” Đến cuối tháng 8, đại sứ Nhật Bản tại Mãn Châu ước tính rằng có khoảng nửa triệu người tị nạn từ cả thành thị và nông thôn ở Thẩm Dương. “Họ đã bị cướp hết mọi thứ ngoại trừ những gì họ có thể giấu giếm. Họ được bố trí chỗ ở mà không có thức ăn; đôi khi phải nhịn ăn trong nhiều ngày liền.”
Các hiệp hội khu phố Nhật Bản ở Thẩm Dương và các thành phố lớn khác đã góp nguồn lực để thành lập các tổ chức tự lực trong các trại, cố gắng cung cấp thực phẩm, chăm sóc y tế và lo dịch vụ mai táng, lưu giữ hồ sơ và điều hành các trạm y tế sơ sài và thậm chí cả một hợp tác xã tín dụng. Nhưng với đồng tiền Mãn Châu cũ nhanh chóng trở nên vô giá trị và lực lượng chiếm đóng của Liên Xô tràn ngập thị trường bằng các loại chứng từ thanh toán quân sự có giá trị đáng ngờ, hầu hết người Nhật đều bị ảnh hưởng nặng nề bởi lạm phát ngay cả khi họ thoát khỏi sự bóc lột của người Nga. Dịch bệnh hoành hành các trại giam trong suốt mùa đông và mùa xuân năm 1945-46.
Tại một trại tị nạn gần Cáp Nhĩ Tân, tất cả 1.020 người đều mắc bệnh sốt phát ban. Một nghĩa trang tạm bợ trên khuôn viên của một trường học cũ đã có lúc đắp thêm tới một trăm ngôi mộ mỗi ngày. Tổng cộng, khoảng 15% người Nhật ở khu vực Cáp Nhĩ Tân đã chết trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946.
Mặc dù người Nhật chịu thiệt hại nặng nề nhất, nhưng tất cả những ai không may mắn sống ở Mãn Châu vào tháng Tám định mệnh đó đều phải trải qua một thử thách khó khăn. Tại Thẩm Dương, người Trung Quốc, người Mãn Châu và người Triều Tiên chào đón sự xuất hiện của quân đội Nga với sự nhiệt tình. Không có gì ngạc nhiên khi quân đội Liên Xô bắt đầu nhanh chóng tấn công và cướp bóc các cửa hàng và doanh nghiệp thuộc sở hữu của người Nhật,. Nhà cửa và các công trình của người Nhật đôi khi bị đốt rụi hoàn toàn. Tại thành phố Jinzhou, phía nam Thẩm Dương, “nhà cửa của người Nhật bị cướp bóc và mẹ tôi nhận thấy một người hàng xóm vốn nghèo khó của bà đột nhiên sở hữu rất nhiều đồ vật có giá trị để bán. Học sinh trả thù các giáo viên người Nhật của chúng và đánh đập họ một cách dã man. Một số phụ nữ Nhật Bản bỏ con nhỏ của họ trước cửa nhà các gia đình địa phương với hy vọng chúng sẽ được sống sót.”
Các băng nhóm người Hoa, thường được trang bị súng trường do quân Nhật bỏ lại khi tháo chạy, đã hoành hành khắp thành phố, đánh đập, cướp bóc và hãm hiếp. Nhiều người Nhật đã chống cự hết sức có thể và, theo một nhà quan sát người Mỹ của Đội Chào mào OSS, “thương vong lên tới hàng trăm người ở cả hai phía.” Tại Thẩm Dương, Hạ sĩ Hal Leith bắt gặp “một đám đông người Trung Quốc đang tìm cách giết một đứa trẻ Nhật Bản – có lẽ khoảng mười hai tuổi…. Tôi đã quát tháo đám đông người Trung Quốc (gọi chúng là trứng rùa và nói rằng chúng hành động tệ hại như người Nhật!). Một số người Trung Quốc đứng về phía tôi và một số người nhận xét giọng nói tiếng Hoa của tỏi rất tốt . … Tôi đã giao cậu bé cho các nhà chức trách bệnh viện…. Tôi thực sự nổi điên – quay trở lại nhà ga xe lửa và lao vào đám đông người Trung Quốc, giật lấy gậy của chúng và quật vào hàng rào bê tông lề đường cho gãy…. Tôi không bao giờ biết làm sao mình có thể thoát được sự trừng phạt của đám người đó. Một số . người trong đám đông lại một lần nữa nhận ra tôi là người Mỹ và nhận xét về giọng nói tiếng Hoa khá tốt của tôi.” Sau ba ngày, Liên Xô can thiệp và yêu cầu tất cả vũ khí phải được giao nộp trong vòng bảy mươi hai giờ tiếp theo. Hình phạt cho việc không tuân thủ là tử hình.
Liên Xô nhanh chóng bắt giữ tất cả các quan chức cảnh sát, công tố viên, thẩm phán, chủ tịch ngân hàng và người đứng đầu công ty Nhật Bản. Tổng cộng, khoảng 1900 quan chức dân sự đã bị giam giữ, đối mặt với số phận bất định. Cựu quan chức Trung Quốc và Mãn Châu của chính phủ Mãn Châu Quốc “đã chất đống quà tặng chung quanh chính quyền chiếm đóng Liên Xô và cầu xin được diện kiến giới chỉ huy. Liên Xô chấp nhận quà tặng nhưng không cho phép diện kiến.”
Binh lính Liên Xô nhanh chóng tiếp nối những gì người dân địa phương đã làm, hăng hái cướp bóc nhà cửa của cả người Trung Quốc và người Nhật Bản. Theo ý kiến của nhóm OSS, “Người Nga vượt trội hơn người Trung Quốc trong việc cướp bóc, cướp phá nhà cửa quy mô lớn và trong nhiều trường hợp, hãm hiếp.” Lãnh sự quán Nhật Bản báo cáo rằng phụ nữ bị hãm hiếp tại các bến xe buýt, nhà ga xe lửa, và đơn giản bởi binh lính Nga đi ngang qua. Tin đồn lan truyền rằng chính quyền địa phương đã được chỉ thị phải “cung cấp một số lượng phụ nữ nhất định mỗi đêm cho Liên Xô.” Phụ nữ xén tóc, bôi mực và băng bó mặt để làm mình trông càng kém hấp dẫn càng tốt. Đối với binh lính Liên Xô, những người vừa đến từ một quốc gia từ lâu đã thiếu các loại hàng tiêu dùng, Mãn Châu có vẻ giàu có hơn nhiều so với Nga. Họ ngay lập tức bắt tay vào việc khắc phục sự mất cân bằng này. Lính Nga “xông vào nhà riêng và cướp phá nhà cửa, lấy đi mọi thứ có giá trị ngoại trừ đồ đạc. Sau đó, một xe tải quân sự sẽ đến và chở đồ đạc đi.” Các sĩ quan Liên Xô hiếm khi cố gắng ngăn cản binh lính của họ cướp bóc và trên thực tế thường tham gia vào việc đó.
“Tất cả những gì chúng làm là cướp bóc và giết chóc,” Hal Leith tuyên bố, “và chúng không chỉ cướp bóc người Nhật. Một số binh lính đeo tới mười chiếc đồng hồ… Tôi đã gặp một số quân nhân Liên Xô rất đàng hoàng ở Thẩm Dương nhưng họ chỉ chiếm khoảng 1/10.” Một vị tướng Liên Xô đã biện minh cho hành vi tham tàn của quân đội mình với một người Mỹ bằng cách giải thích rằng họ là “lực lượng xung kích” được thành lập từ những người từng có gia đình bị người Đức tàn sát và rất khao khát trả thù. Sau khi Đức đầu hàng, họ được phái đến Viễn Đông. “Vì không bình thường trong tâm trí, họ chỉ chăm chăm cướp bóc, giết chóc và hãm hiếp.”
Phó lãnh sự Nhật Bản tại Port Arthur (Lunchun) báo cáo rằng công dân Trung Quốc đã đánh cắp vũ khí từ căn cứ hải quân để tự trang bị thành dân quân nhằm ngăn chặn sự cướ bóc của Nga. Ngay cả những người Cộng sản Trung Quốc cũng phản đối với Liên Xô rằng quân đội Hồng quân “đang tham gia vào các hoạt động không phù hợp với tập quán của một đội quân vô sản, đặc biệt là hãm hiếp phụ nữ và tước đoạt sinh kế của nông dân.” Bí thư Ủy ban Đông Bắc Đảng, Hu Fujia, đã thúc giục các chỉ huy Hồng quân ban hành mệnh lệnh hứa hẹn trừng phạt nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm kỷ luật. Hu Fujia cho rằng sẽ cần một chiến dịch tuyên truyền quy mô lớn để lấy lại thiện cảm của người Trung Quốc đối với Liên Xô.
Điều đáng ngạc nhiên là người Nhật phát hiện ra một số binh lính Liên Xô “rất giản dị và thân thiện. Họ yêu trẻ con và liên tục xin những phụ nữ đang bế con cho họ bế bé một lúc, ngay cả khi đang làm nhiệm vụ.” Các bà mẹ trẻ có con được cho là an toàn khỏi bị hãm hiếp. Một điểm đặc biệt khác là binh lính Liên Xô ưa thích thưởng thức nghệ thuật biểu diễn. Phó tư lệnh Liên Xô được cho là đặc biệt yêu thích sân khấu, và các diễn viên, vũ công, ca sĩ, nhạc công…Các nghệ sĩ được hưởng nhiều đặc quyền. Đoàn Nghệ thuật Biểu diễn, vốn đã được thành lập để mua vui cho Quân đoàn Quan Đông, nhanh chóng tự tái cấu trúc thành “hội nghệ thuật hòa bình” dưới sự lãnh đạo của một cựu quan chức Hiệp hội Điện ảnh Mãn Châu. Các nghệ sĩ được bố trí ở trong một khách sạn hạng sang cũ và được lính canh vũ trang bảo vệ ngày đêm. Thức ăn và quần áo của họ tốt hơn nhiều so với những người Nhật sống sót khác và gây ra không ít sự ghen tị và thù địch từ những người đồng hương của họ.
Trong khi phần lớn cư dân phải vật lộn để kiếm đủ lương thực sinh tồn và binh lính Liên Xô lùng sục khắp các đường phố tìm kiếm những vật dụng bị bỏ sót để cướp bóc, Thẩm Dương lại có một đời sống văn hóa sôi động. Nơi đây có bốn nhà hát chính quy và một số rạp chiếu phim. Toàn bộ doanh thu từ các nhà hát được dành cho nghệ thuật. Phó tướng chỉ huy cung cấp than để sưởi ấm. Một học viện nghệ thuật hoạt động với các bộ phận riêng biệt về kịch, múa, thanh nhạc và nhạc cụ. “Tất cả binh lính Liên Xô tại các nhà hát đều rất lịch thiệp. Họ cởi mũ và coi các nhà hát như những nơi thiêng liêng.”
Những hành vi trộm cắp của cá nhân binh lính Hồng quân trở nên không đáng kể so với quá trình phi công nghiệp hóa Mãn Châu một cách có hệ thống do chính quyền Xô Viết thực hiện. Làm việc suốt ngày đêm, Liên Xô đã tháo dỡ toàn bộ các nhà máy và nhà máy điện, rồi vận chuyển chúng lên phía bắc đến Siberia trên những đoàn tàu chở hàng dài vô tận. Phóng viên Hallett Abend của tờ New York Times đưa tin rằng ngay cả những nhà máy sản xuất đầu máy và toa xe lửa khổng lồ ở Dairen cũng “được vận chuyển nguyên vẹn về phía bắc sông Amur.” Liên Xô tập trung vào thiết bị phát điện, động cơ điện, phòng thí nghiệm và bệnh viện cũng như các máy công cụ hiện đại nhất. Khoảng 3 triệu đô la vàng thỏi đã biến mất khỏi các ngân hàng Thẩm Dương. “Có lẽ không mấy quá đáng khi cho rằng,” Thiếu tá Lamar của đội Chào mào viết, “Liên Xô đang có ý định kiểm soát tất cả các nhà máy và gửi thiết bị của chúng về Nga trước khi rút quân khỏi đất nước.”
Trong vài tuần tiếp theo, dự đoán của Thiếu tá Lamar được chứng tỏ không sai. Trong số 972 nhà máy ở Thẩm Dương, chỉ có 20 nhà máy có đủ máy móc để tiếp tục hoạt động sau sáu tháng. Các nhà máy nước và xử lý nước thải không hoạt động được do thiếu điện, và các mỏ cần cung cấp than cho mùa đông sắp tới không thể tiếp tục sản xuất do thiếu máy móc. “Họ đã lấy đi tất cả mọi thứ có thể lấy được,” Robert Seck, một thợ máy bay thuộc Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, người đã bay vào thành phố ngay sau khi Liên Xô rời đi, nhớ lại. “Thứ duy nhất họ để lại là một đài tưởng niệm cho chính họ với một chiếc xe tăng trên đỉnh ngay trung tâm thị trấn.” Các chuyên gia Mỹ ước tính thiệt hại trực tiếp đối với nền kinh tế Trung Quốc do việc Liên Xô rút quân gây ra vào khoảng 850 triệu đô la. Người Nga cũng sử dụng loại tiền tệ chiếm đóng của họ để mua lại hầu hết các tài sản quan trọng ở Mãn Châu. Đến Thẩm Dương vào tháng 3 năm 1946, Hallett Abend phát hiện ra rằng một số tòa nhà văn phòng hiện đại, hai nhà máy giấy, một nhà máy sản xuất máy bay, khách sạn lớn nhất và, tất nhiên, bốn rạp chiếu phim, đều thuộc sở hữu của Nga. “Thiệt hại mà ngành công nghiệp Mãn Châu phải gánh chịu kể từ Ngày Chiến thắng Nhật Bản,” các chuyên gia kinh tế kết luận, “đã làm chậm lại sự tiến bộ công nghiệp của Trung Quốc trong một thế hệ.”
Khi quân Liên Xô tiếp tục tiến vào Nhiệt Hà và Hà Bắc, quân Nga lặp lại những hành động tương tự ở phía bắc. Thành phố Pingchuan thuộc tỉnh Nhiệt Hà đã mong đợi sự xuất hiện của quân đội Tưởng Giới Thạch và bất ngờ khi thấy thị trấn của họ bị Hồng quân chiếm đóng. Các cựu thành viên của quân đội và cảnh sát của chính quyền bù nhìn bị bắt giữ và bỏ tù mà không được cung cấp đủ thức ăn, trong khi quân Nga cướp phá mọi nhà cửa và mang đi tất cả gia súc. Cư dân địa phương báo cáo rằng lính Liên Xô “cưỡng bức lấy đồng hồ đeo tay của người dân. Nếu họ từ chối giao nộp, họ sẽ bị xử bắn… Quân đội Nga buộc nông dân phải tìm phụ nữ cho họ. Khi một số người không thể cung cấp phụ nữ, quân Nga, không thể thỏa mãn dục vọng của mình, đã bắn chết hai người lao động và một nông dân.”
Cuộc hành quân tàn khốc của Liên Xô ở miền bắc Trung Quốc chỉ là một trong những hậu quả ngoài ý muốn của việc Mỹ và Anh mời Nga tham gia chiến tranh chống Nhật Bản. Khi Churchill, Roosevelt và Stalin gặp nhau tại Yalta vào tháng 2 năm 1945, sự yểm trợ của Liên Xô trong việc khuất phục Nhật Bản vẫn còn rất quan trọng. Quân Nhật đang ở thế yếu nhất ở Thái Bình Dương khi lực lượng Mỹ chuẩn bị đổ bộ lên Okinawa, nhưng Tokyo vẫn còn những đạo quân lớn trên lục địa có thể phải tham chiến vào một thời điểm nào đó để ngăn chặn họ tham gia vào trận chiến giành lại các đảo chính quốc Nhật Bản.
Giá mà Stalin đưa ra là việc khôi phục tất cả các đặc quyền mà Đế quốc Nga từng nắm giữ ở Mãn Châu trước khi bị tước đoạt “bởi cuộc tấn công phản bội của Nhật Bản năm 1904”. Điều này bao gồm việc kiểm soát Dairen và Port Arthur và hoạt động liên hợp của đường sắt Mãn Châu. Liên Xô sẽ công nhận “chủ quyền hoàn toàn” của Trung Quốc ở Mãn Châu, nhưng Trung Quốc phải chấp nhận sự tồn tại tiếp tục của chế độ do Liên Xô bảo trợ ở Ngoại Mông, Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ. Thỏa thuận về Viễn Đông này đạt được mà không có bất kỳ sự tham vấn nào với chính phủ Trung Quốc.
Roosevelt hứa sẽ lấy được sự đồng ý của Tưởng Giới Thạch đối với thỏa thuận, và Liên Xô hứa sẽ ký một “hiệp ước hữu nghị và liên minh” với Trung Quốc. Một hiệp ước như vậy sẽ công nhận rõ ràng chế độ Quốc dân đảng của Tưởng là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc và, trên thực tế, từ bỏ Đảng Cộng sản Trung Quốc. Các cuộc đàm phán về hiệp ước ở Moscow kéo dài từ tháng Sáu đến tháng Tám. Liên Xô lúc thì khinh miệt, lúc thì nài nỉ, còn Trung Quốc thì lo lắng nhưng không hề nao núng. Cuối cùng, vào ngày 10 tháng 8, Stalin cảnh báo các đại diện của Tưởng rằng họ nên ký hiệp ước nhanh chóng vì quân đội Cộng sản Trung Quốc đang tiến vào Mãn Châu sau cuộc xâm lược của Liên Xô. Vào ngày 14 tháng 8, ngày Nhật Bản cuối cùng tuyên bố đầu hàng, các ngoại trưởng Trung Quốc và Liên Xô đã ký hiệp ước. Cái giá mà Tưởng phải trả rất cao: mọi điều khoản đã được thỏa thuận tại Yalta và thậm chí còn hơn thế nữa; nhưng Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bị cô lập, và hai cường quốc mạnh nhất thế giới giờ đây chính thức gắn bó với Trùng Khánh.
Mặc dù có hiệp ước và Tổng Lệnh số 1 chỉ thị các tướng lĩnh Nhật Bản chỉ tuân lệnh ông ta, nhưng Tưởng Giới Thạch không ở vị thế tốt để tận dụng lợi thế của mình. Trong suốt mùa xuân và mùa hè năm 1945, quân Nhật đã tiến hành một loạt các cuộc tấn công quy mô lớn mang tên Ichigo, khiến Tưởng Giới Thạch chỉ còn kiểm soát được ít lãnh thổ hơn so với thời kỳ sau những chiến thắng của Nhật Bản năm 1937-1938. Quyền lực còn lại của ông ta chủ yếu nằm ở góc tây nam của một Trung Quốc bị chia cắt. Như nhà ngoại giao John Paton Davies, một người dày dạn kinh nghiệm nhiều năm ở Đông Á, nhớ lại, “chế độ của Tưởng Giới Thạch và phe Cộng sản là những yếu tố chính,” nhưng cũng có “một số lãnh chúa tàn dư, các phe phái và tướng lĩnh cấp tỉnh bán tự trị, và ở Trung Quốc và Mãn Châu bị chiếm đóng, các chính phủ bù nhìn do Nhật Bản dựng lên. Các nhà môi giới chính trị, đặc vụ và kẻ khiêu khích di chuyển giữa các yếu tố đa dạng này để thực hiện các thỏa thuận, mua bán lòng trung thành và sự phản bội có lợi.” Tổng cộng, vào thời điểm Nhật Bản đầu hàng, có năm chính phủ đang hoạt động ở Trung Quốc: chính phủ Tưởng Giới Thạch, Đảng Cộng sản và ba chế độ bù nhìn do Nhật Bản tạo ra. Mỗi chính phủ trong số năm chính phủ này đều có tiền tệ, hệ thống pháp luật và thuế má riêng, ngoài ra còn có quân đội. Các chế độ bù nhìn ở Mãn Châu, Bắc Kinh và Nam Kinh có tổng cộng khoảng một triệu rưỡi người trong quân đội của họ. Quân đội của Mao Trạch Đông được báo cáo là có khoảng chín trăm nghìn người với lực lượng dân quân hai triệu người. Lực lượng Cộng sản đã bao vây các thành phố lớn Bắc Kinh, Hàn Khẩu, Thanh Đảo, Thượng Hải và Nam Kinh, như các đội OSS đã nhanh chóng phát hiện ra, và lực lượng Cộng sản kiểm soát hàng trăm dặm đường sắt.
Trong cuộc tái chiếm Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch, như một sĩ quan Mỹ đã nói, “bắt đầu từ con số không.” Quân đội của Tướng quân Tưởng Giới Thạch cách các thành phố lớn ở phía bắc và phía đông hơn một nghìn dặm. Trên giấy tờ, lực lượng của ông rất lớn, với tổng cộng bốn triệu người, nhưng Tướng Wedemeyer ước tính rằng chỉ có khoảng hai mươi sư đoàn được huấn luyện và trang bị đúng cách, mười chín sư đoàn khác được trang bị và huấn luyện một phần, và số còn lại “hầu như không đáng giá gì theo tiêu chuẩn chiến tranh hiện đại.” Sau tám năm chiến tranh, chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch mệt mỏi, thiếu tổ chức và tham nhũng, vừa kém hiệu quả vừa đàn áp. “Nếu hòa bình đến đột ngột, có lý do để dự đoán sự hỗn loạn và vô trật tự lan rộng,” Tướng Wedemeyer tuyên bố vào đầu tháng Tám. “Người Trung Quốc không có kế hoạch phục hồi, ngăn ngừa dịch bệnh, khôi phục tiện ích, thiết lập một nền kinh tế cân bằng và tái định cư hàng triệu người tị nạn.”
Bản thân Tưởng Giới Thạch đã được truyền thông Mỹ ca ngợi là một anh hùng dân tộc dũng cảm và tận tụy. Tuy nhiên, đối với nhiều người quen biết ông, ông không phải là một nhân vật gieo được lòng tin. “Tôi có cảm giác ông ấy không phải là một người hiện đại,” một trong những cố vấn thân cận của ông nhớ lại. “[Ông ấy] có tư tưởng Nho giáo truyền thống, trước hết dựa vào con người và các mối quan hệ cá nhân hơn là các thể chế.” Một vị bộ trưởng Quốc dân đảng nhận xét rằng Tưởng Giới Thạch “luôn chọn tướng lĩnh của mình ít vì khả năng của họ mà vì lòng trung thành cá nhân. Miễn là người đó trung thành với mình, ông ta sẽ không bận tâm nếu y có chút tật tham nhũng.” Kiêu hãnh và cứng nhắc, với sự tự tin tuyệt đối vào khả năng của mình, Tưởng Giới Thạch “nghĩ rằng ông ta không bao giờ có thể sai lầm. Khi có ai báo cáo bất kỳ sự kiện nào không phù hợp với quan sát của ông ta, ông ta không bao giờ nghĩ rằng chúng có thể là sự thật. Nếu có xảy ra bất kỳ sai lầm nào, ông đổ lỗi cho sự thiếu sót của cấp dưới khi thực hiện.”
Wedemeyer, vốn có nhiệm vụ chính là tổ chức, huấn luyện và trang bị quân đội Tưởng Giới Thạch cho một cuộc tấn công nhằm từng bước tiến tới giành lại miền đông Trung Quốc từ tay quân Nhật, ông Wedemeyer giờ đây lại có thêm một nhiệm vụ mới khi chiến tranh sắp kết thúc. Washington chỉ thị ông rằng sau khi Nhật Bản đầu hàng, ông phải tiếp tục viện trợ quân sự cho Tưởng Giới Thạch và hỗ trợ lực lượng của ông tái chiếm tất cả các khu vực trước đây do Nhật Bản chiếm đóng ở Trung Quốc cũng như Đài Loan. Lực lượng hải quân và thủy quân lục chiến Mỹ sẽ kiểm soát các cảng quan trọng trên bờ biển Trung Quốc để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải giáp quân Nhật và cho quân đội Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch tiến vào. Wedemeyer phải làm tất cả những điều này đồng thời đảm bảo rằng lực lượng Mỹ không bị cuốn vào “cuộc chiến huynh đệ tương tàn”.
Ở phía bắc, Mao Trạch Đông thậm chí còn không biết đến hiệp ước Xô-Trung, nhưng ông ta không hề lãng phí thời gian. Ngay cả trước khi Tổng Lệnh số 1 được ban hành, Tướng Chu Đức, chỉ huy lực lượng Cộng sản ở phía bắc, đã tuyên bố rằng “bất kỳ lực lượng vũ trang chống Nhật nào cũng có thể chấp nhận sự đầu hàng của quân Nhật”. Trong các công văn gửi cho các phái đoàn ngoại giao Đồng minh ở Trùng Khánh, phe Cộng sản khẳng định chính họ đã chiến đấu hết mình trong cuộc chiến chống Nhật Bản. Các bản tin phát thanh của họ tuyên bố rằng “lãnh đạo phát xít”, Tưởng Giới Thạch, “không thể đại diện cho nhân dân Trung Quốc và lực lượng Trung Quốc thực sự chống lại quân Nhật”. Các đơn vị thuộc Bát Lộ Quân của Mao tiến lên để giải giáp quân Nhật và hướng về phía bắc để gặp quân Nga đang thắng thế. Lực lượng Cộng sản cũng chiếm đóng, hoặc đe dọa chiếm đóng, một số thành phố lớn và chiếm giữ thêm nhiều tuyến đường sắt.
Tưởng Giới Thạch ra lệnh cho quân Cộng sản giữ yên vị trí và chờ lệnh của ông. Ông nhắc nhở người Nhật chỉ được đầu hàng khi có ông đi cùng. Nhưng người Cộng sản phớt lờ chỉ thị này và nhanh chóng giao tranh với binh lính Nhật từ chối đầu hàng, đồng thời tịch thu vũ khí và trang thiết bị của những người đầu hàng. Một số người Nhật đầu hàng sau đó được tuyển mộ vào Bát Lộ Quân. Lo ngại trước những diễn biến này, Wedemeyer thúc giục Washington ưu tiên Trung Quốc trong việc phân bổ lực lượng chiếm đóng của Mỹ. Sau khi mô tả sự tiến công của quân đội Cộng sản, ông cũng nêu khả năng một số binh lính Nhật Bản có thể tiếp tục chiến đấu. Trong bất kỳ trường hợp nào, lực lượng địch cũ và dân thường Nhật sẽ phải được tập trung tại các khu vực cảng lớn để vận chuyển trở lại Nhật Bản. Wedemeyer muốn bảy sư đoàn Mỹ được gửi đến Trung Quốc và yêu cầu, như “mức tối thiểu tuyệt đối”, rằng hai sư đoàn Mỹ được gửi đến Taku (Dagu), một cảng gần Bắc Bình, một sư đoàn đến Thượng Hải, và các đơn vị của sư đoàn thứ tư đến Quảng Châu. Marshall đã nhanh chóng báo cáo cho Wedemeyer rằng “đề xuất của ông về việc chúng ta ưu tiên Trung Quốc hơn Nhật Bản và Triều Tiên sẽ không thể chấp nhận được” và điều tối đa ông có thể mong đợi là hai sư đoàn của Mỹ, việc họ đến nơi sẽ phụ thuộc vào khả năng vận chuyển.
Vào thời điểm Wedemeyer đọc được thư trả lời này, trụ sở của ông đã nhận được báo cáo về “các cuộc đụng độ vũ trang giữa Chính phủ Trung ương và Lực lượng Cộng sản ở một số khu vực.” Có thông tin cho rằng 1,5 triệu quân Cộng sản đã được “triển khai để chiếm đóng khu vực Thượng Hải-Nam Kinh-Hàng Châu, phần lớn nằm giữa quân Nhật và Chính phủ Trung ương.” Trước những diễn biến này, Wedemeyer tin rằng việc cấp bách phải vận chuyển quân đội của Tưởng Giới Thạch bằng đường biển và đường không đến miền đông và miền bắc Trung Quốc càng sớm càng tốt. Đô đốc Nimitz báo cáo rằng một lực lượng đặc nhiệm đổ bộ sẽ sẵn sàng vận chuyển hai sư đoàn Thủy quân lục chiến đến Trung Quốc, nhưng chỉ sau khi tất cả các tàu vận tải tấn công hiện có đã được sử dụng để vận chuyển lực lượng của MacArthur đến Nhật Bản và Triều Tiên. Tất cả điều này sẽ mất thời gian. Trong thời gian đó, Tưởng Giới Thạch và các đồng minh Mỹ của ông sẽ phải phụ thuộc rất nhiều vào kẻ thù cũ của họ, người Nhật và “những con rối”, để ngăn chặn làn sóng Đỏ.
Hầu hết các tướng lĩnh Nhật Bản ở Trung Quốc đều có cái nhìn khinh miệt đối với phe Cộng sản và phe Quốc dân đảng. Họ không hề cảm thấy mình bị Tưởng Giới Thạch hay du kích Cộng sản đánh bại. Một vị tướng Mỹ kết luận rằng “các sĩ quan Nhật Bản mà ông gặp [để sắp xếp chi tiết đầu hàng] là đại diện cho một quân đội Nhật Bản chưa hề bị đánh bại. Mọi cử chỉ đều cho thấy họ ngoan ngoãn tham dự một cuộc họp, và chính thức đầu hàng nhưng chỉ có vậy thôi.” Trong nhiều tuần ở Thượng Hải và Bắc Kinh, quân đội Nhật Bản với lưỡi lê sáng bóng tiếp tục tuần tra đường phố và các sĩ quan Nhật Bản vẫn lái xe riêng của họ. Đến tận ngày 4 tháng 9, một sĩ quan OSS báo cáo từ Thượng Hải rằng “cho đến nay, quân Nhật vẫn chưa hề từ bỏ quyền kiểm soát thành phố.”
Ngày 23 tháng 8, tướng Hà Ứng Khâm .(Ho Ying-chin), tổng tư lệnh quân đội Quốc dân đảng, ra lệnh cho các tướng lĩnh Nhật Bản ở miền bắc và đông Trung Quốc giữ vững và bảo vệ tất cả các khu vực mà họ chiếm đóng trước quân Cộng sản cho đến khi quân của Tưởng Giới Thạch đến. Mặc dù coi thường quân đội Trung Quốc, các tướng lĩnh Nhật Bản vẫn sẵn lòng tuân lệnh để đổi lấy thỏa thuận ngầm rằng người Nhật và tài sản của họ ở Trung Quốc sẽ được chăm sóc chu đáo.
Nhiều tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng, tin đồn đã lan truyền về những thỏa thuận bí mật giữa Tưởng Giới Thạch, các chính quyền bù nhìn và người Nhật để thành lập một mặt trận chung chống lại phe Cộng sản. Một nhà báo Trung Quốc nhận xét: “Ở Trung Quốc, bất kể điều gì xảy ra, luôn luôn có mặt cùng một nhóm quan chức chuyên nghiệp.” Với chiến thắng của Đồng minh, các quan chức cấp cao từng hợp tác với Nhật Bản giờ đây tự xưng là đặc vụ tiên phong được chính phủ Quốc dân đảng giao nhiệm vụ “duy trì trật tự”. Tại tỉnh Hồ Bắc, quân đội bù nhìn trước đây do Nhật Bản kiểm soát giờ đây trở thành “Quân đội Tiên phong Hồ Bắc” của Quốc dân đảng, do một quan chức từng hợp tác với Nhật Bản chỉ huy. Các thông điệp của Nhật Bản được tình báo Mỹ giải mã cho thấy chính quyền bù nhìn Nam Kinh và một đại diện của chính phủ Quốc dân đảng, Ku Chu-tung, “đã liên lạc với nhau hơn một năm.” Ku và tướng Hà Ứng Khâm được cho là đã “bí mật đề xuất với chính quyền bù nhìn một kế hoạch phòng thủ chung chống lại phe Cộng sản.” Tại Bắc Bình, “chính quyền bù nhìn địa phương, với sự hiểu biết đầy đủ về Trùng Khánh.(thực tế là dưới sự chỉ đạo của Trùng Khánh), đang thực hiện các bước hợp tác với Nhật Bản để ngăn chặn Cộng sản Trung Quốc giành quyền kiểm soát khu vực.” Tại Thượng Hải, thị trưởng Chu Pháp Hải, một cựu bộ trưởng cấp cao trong chế độ cộng tác với Nhật Bản của Uông Tinh Vệ, đã điều hành thành phố cho người Nhật. Giờ đây, ông tuyên bố rằng ông đã được Tưởng Giới Thạch chỉ thị duy trì trật tự công cộng, tất nhiên là với sự hợp tác của người Nhật.
Việc Nhật Bản ngầm liên minh với Tưởng Giới Thạch trở nên dễ dàng hơn nhờ thực tế là một số vị tướng hàng đầu của Tưởng Giới Thạch từng theo học các trường quân sự ở Nhật Bản trong những năm 1920 và đầu những năm 1930 và vẫn giữ sự kính trọng sâu sắc đối với những người thầy cũ của họ. Khi Thiếu tướng Imai Takeo, phó tham mưu trưởng của Okamura, đến Chiết Giang để dàn xếp lễ đầu hàng chính thức của quân Nhật, ông phát hiện ra rằng ba sĩ quan trong phái đoàn Trung Quốc là học trò cũ của ông tại học viện quân sự Nhật Bản. Theo Imai, người đứng đầu phái đoàn Trung Quốc đã chuẩn bị một bàn tròn cho hội nghị đầu hàng để ngụ ý rằng người Nhật sẽ được đối xử bình đẳng. Tuy nhiên, người Mỹ lại khăng khăng đòi hai bàn dài đối diện nhau. Đại diện Mỹ tại lễ đầu hàng cũng lo ngại rằng người Trung Quốc dường như có ý định cho phép các sĩ quan Nhật Bản mang theo kiếm cá nhân của họ vì chúng là “vật gia truyền”. Ông nhắc nhở người Trung Quốc về “tuyên bố Potsdam rằng tầng lớp quân đội Nhật Bản phải bị tiêu diệt”.
Theo các nguồn tin, các quan chức Trung Quốc “bực mình trước việc người Mỹ thiếu hiểu biết về phép lịch sự giữa bạn bè phương Đông. Sau khi hội nghị kết thúc, họ đã trò chuyện với các đại biểu Nhật Bản về Nhật Bản một cách vui vê.”
Tướng Okamura, dù đã thực hiện một cuộc tấn công bằng khí độc lớn nhất trong chiến tranh nhằm vào quân đội Trung Quốc và chỉ huy chiến dịch bình định tàn bạo ở miền bắc Trung Quốc gây ra cái chết của hàng trăm nghìn thường dân, vẫn được các tướng lĩnh của Tưởng Giới Thạch tiếp đón nồng hậu. Một trong những phụ tá của tướng Hà Ứng Khâm nhớ lại rằng khi Hà đến Nam Kinh để dự lễ đầu hàng chính thức, “ông lập tức đến gặp tướng Okamura, người đã dạy ông tại học viện quân sự ở Tokyo, và gọi ông là ‘sensei’ [tiên sinh], xin lỗi rối rít vì đã khiến ông phải chịu sự sỉ nhục khi đầu hàng.” Phiên dịch viên cao cấp của Hà, Thiếu tá Vương Diệu Vũ, rất đau lòng trước hành vi của Hà đến nỗi ông đã tâm sự với một cố vấn Mỹ rằng ông sợ “đồng bào mình đã quên mất vụ thảm sát Nam Kinh.” Tướng Quốc dân đảng Diêm Tích Sơn (Yan Xishan), lãnh chúa tỉnh Sơn Tây, là bạn cùng lớp với Okamura tại học viện quân sự và đã nhận xét với một sĩ quan tham mưu của Okamura rằng ông không tin rằng Nhật Bản thực sự đã bị đánh bại ở châu Á.
Nhờ phần lớn vào người Nhật và các chính quyền bù nhìn, phe Cộng sản đã bị ngăn chặn không cho vào các thành phố lớn nhất ở miền bắc Trung Quốc và bị trục xuất một cách cưỡng bức khỏi nhiều thành phố nhỏ hơn. Người Nhật tuần tra các tuyến đường sắt, bảo vệ các cơ sở trọng yếu và dùng lưỡi lê để đàn áp cuộc đình công do phe Cộng sản tổ chức ở Thượng Hải. “Không có gì ở Nam Kinh cho thấy thành phố đã được giải phóng”, một nhà báo Trung Quốc viết vào cuối tháng 8. “Okamura vẫn đang tại vị trong tòa nhà Bộ Ngoại giao. Hiến binh Nhật vẫn chiếm giữ khu vực cũ của Viện Tư pháp. Lính canh Nhật Bản được bố trí khắp nơi.” Các tờ báo Cộng sản đưa tin về hơn một trăm cuộc đụng độ vũ trang với quân đội Nhật Bản hoặc quân đội bù nhìn từ cuối tháng 8 đến cuối tháng 9. Tại khu vực Khai Phong, OSS báo cáo rằng khoảng 130 binh sĩ thuộc Tập đoàn quân số 12 của Nhật Bản đã thiệt mạng trong các cuộc giao tranh với quân Cộng sản từ khi Nhật Bản đầu hàng đến cuối tháng 11 năm 1945. Mặc dù quân Nhật chiến đấu tốt, “nhưng họ khinh thường đối với sự kém hiệu quả của lực lượng Trung Quốc và mong muốn duy nhất của họ là trở về nhà.”
Đối với nhiều người, việc trở về đó vẫn còn xa vời. Một sĩ quan hải quân Mỹ báo cáo, sau cuộc gặp với Tưởng Giới Thạch, “Thống chế không muốn giải giáp và hồi hương thêm quân Nhật từ Bắc Trung Quốc vào thời điểm này vì ông lo sợ quân đội mình không đủ sức ngăn chặn quân Cộng sản Trung Quốc tiến vào các khu vực mà quân Nhật đã rút lui.” Đến tận tháng 12 năm 1946, một nhà ngoại giao Mỹ ước tính vẫn còn ít nhất 80.000 quân Nhật hoạt động dưới sự chỉ huy của Quốc dân đảng ở Trung Quốc.
Ngoài người Nhật, Mao Trạch Đông còn phải đối mặt với một vấn đề khác ở phía bắc: người Nga. Tin tức về hiệp ước giữa Liên Xô và Tưởng Giới Thạch đã khiến nhiều người ở Diên An kinh ngạc. Mặc dù có những khác biệt về học thuyết, nhưng Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn liên kết về mặt tư tưởng và chính trị với Liên Xô. Đảng Cộng sản Trung Quốc là một phần của Quốc tế Cộng sản. Mới đây vào tháng Tư, Mao đã gọi Liên Xô là “người bạn tốt nhất của nhân dân Trung Quốc”. Về mặt chính thức, Đảng chấp nhận hiệp ước là “có lợi cho Trung Quốc và thế giới”, nhưng, như một cán bộ Đảng đã nói thêm sau khi nhắc lại quan điểm chính thức trong một bài giảng, “Chúng tôi không hiểu chính sách thực sự của Nga”. Một nhà báo người Mỹ đã đến được Mãn Châu vào đầu tháng Mười đã “ấn tượng bởi thực tế là những người Cộng sản bối rối và thất vọng về chính sách của Liên Xô”. Một số lãnh đạo Đảng đã suy đoán riêng rằng Stalin đã sợ hãi trước bom nguyên tử của Mỹ và rất muốn tránh bất cứ điều gì có thể dẫn đến xung đột với người Mỹ.
Ngày 14 tháng 8, khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng, Tưởng Giới Thạch, được củng cố bởi những đảm bảo về sự hỗ trợ quân sự và chính trị liên tục của Mỹ và hiệp ước với Nga, đã mời Mao Trạch Đông đến Trùng Khánh để đàm phán. Cả Tưởng Giới Thạch và Mao đều nhận thức được rằng người dân Trung Quốc, kiệt sức sau tám năm chiến tranh, phản đối mạnh mẽ viễn cảnh xung đột quân sự tiếp diễn, nhưng Mao không mấy hào hứng với lời mời này. Với quan điểm ngoại giao của Tưởng Giới Thạch và lịch sử đối đầu giữa hai người, có khả năng Mao sẽ không thể rời Trùng Khánh an toàn. Nhưng đại sứ Mỹ Patrick J. Hurley đã đến Diên An bằng máy bay riêng để đích thân hộ tống Mao đến Trùng Khánh, đảm bảo an toàn cho ông. Quan trọng hơn, Stalin đã nói rõ với Mao rằng ông ta phải nói chuyện với Tưởng Giới Thạch. Trong một thông điệp bí mật từ Moscow, Stalin cảnh báo rằng một cuộc nội chiến sẽ hủy diệt Trung Hoa. Vài giờ sau, một thông điệp còn mạnh mẽ hơn nữa được gửi tiếp: Nếu Mao từ chối đàm phán, “vị thế của ông sẽ bị bác bỏ ở Trung Quốc và nước ngoài.” Vào ngày 28 tháng 8, Mao cùng Hurley bay đến Trùng Khánh.
Đó là chuyến đi máy bay đầu tiên của Mao, nhưng không phải là chuyến thăm đầu tiên của Hurley đến Diên An. Được bổ nhiệm làm đặc phái viên của Tổng thống Roosevelt tại Trung Quốc vào tháng 8 năm 1944, và làm đại sứ vài tháng sau đó, Hurley là một chính trị gia nổi tiếng của Đảng Cộng hòa, một tướng lĩnh Vệ binh Quốc gia, và cựu Bộ trưởng Chiến tranh đến từ Oklahoma. Trong chuyến thăm đầu tiên đến Diên An, Hurley, trong bộ quân phục thiếu tướng với đầy đủ huân chương, đã chào đón Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo Cộng sản khác bằng tiếng hò reo lâm chiến của dân Da Đỏ Choctaw khi ông bước xuống máy bay. Hurley có những người ủng hộ quan trọng ở Washington, nhưng đối với nhiều người tiếp xúc với ông ở Trung Quốc, hành vi của ông dường như vượt quá mức lập dị. “Hurley bị điên,” John F. Melby, một viên chức chính trị của Bộ Ngoại giao tại Trùng Khánh, kết luận. “Tôi nghĩ ông ấy bắt đầu hơi lẫn rồi. Ông ấy không làm đại sứ lâu nhưng chắc chắn ông ấy đã gây ra rất nhiều rắc rối trong thời gian ở đây. “
Ngay cả vị tướng thận trọng Wedemeyer cũng tâm sự với Marshall rằng Hurley “đôi khi quá lắm lời vì ông ấy nói liên tục và không phải lúc nào cũng thận trọng về những gì mình nói và với những ai mình chia sẻ thông tin… Giữa anh và tôi, tôi nghĩ sức khỏe của ông ấy đang suy giảm và điều đó đôi khi ảnh hưởng đến quan điểm của ông ấy trong các mối quan hệ với người khác.” Nóng tính và đa nghi, Hurley thường xuyên bất đồng với nhiều chuyên gia về Trung Quốc của đại sứ quán, những người mà ông cho là sai lầm và có lẽ không trung thành. “Nhiều phóng viên Mỹ [ở Trung Quốc] có khuynh hướng cộng sản,” ông nói với Bộ trưởng Hải quân James Forrestal, “cũng như nhiều người trong Bộ Ngoại giao… những người không cảm thấy có nghĩa vụ gì với Hoa Kỳ ngoại trừ việc nhận lương.”
Trong gần một năm qua, Hurley đã nỗ lực để dàn xếp một thỏa thuận giữa Quốc dân đảng và Cộng sản nhằm chấm dứt xung đột giữa hai bên và thống nhất Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch. Nhưng trong khi Hurley tận tâm với việc đạt được một kết thúc hòa bình cho cuộc xung đột nội bộ ở Trung Quốc, ông cũng hết lòng ủng hộ Tưởng Giới Thạch; ông tin rằng không bao giờ nên gây áp lực với hay ép buộc Tưởng chấp nhận bất kỳ thỏa thuận nào mà ông ta cho là không thể chấp nhận được. Không có gì đáng ngạc nhiên khi Hurley đạt được rất ít tiến triển với phương pháp này khi chiến tranh đột ngột kết thúc. Giờ đây, ông nhìn thấy một cơ hội mới để đạt được một thỏa thuận. Trong một chuyến thăm Moscow vào tháng Tư, Hurley được Stalin đảm bảo rằng Liên Xô rất lấy làm tiếc về khả năng xảy ra nội chiến ở Trung Quốc và sẽ công nhận Quốc dân đảng là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc. Với sự hỗ trợ được bảo đảm bởi Hiệp ước Xô-Trung như vậy, Hurley lập luận rằng phe Cộng sản sẽ không còn đường lui.
Mao đến Trùng Khánh đội mũ cối và tỏ ra bình tĩnh, tự tin, hầu như không thể hiện sự khinh miệt và căm ghét đối với Quốc dân đảng. Trong khi Chu Ân Lai, sĩ quan liên lạc thường trực của Đảng Cộng sản tại Trùng Khánh, lo lắng kiểm tra phòng của Mao xem có bom hay không và ngửi thức ăn của ông xem có độc không, Mao vẫn bình tĩnh tiến hành các cuộc đàm phán, tham dự một buổi biểu diễn opera Trung Quốc và nâng ly chúc mừng với Tưởng Giới Thạch – đây là lần cuối cùng hai người gặp nhau trực tiếp.
Trong khi Hurley đang lo lắng theo dõi các cuộc đàm phán, một vấn đề mới nảy sinh. Vào ngày 25 tháng 8, một sĩ quan OSS Mỹ, Đại úy John Birch, đã bị lính Cộng sản sát hại gần Tô Châu. Birch đang trên đường đến bán đảo Sơn Đông để khảo sát các sân bay cũ của Nhật Bản trong khu vực nhằm xem xét khả năng sử dụng chúng cho các hoạt động vận chuyển tù binh chiến tranh và thiết lập liên lạc vô tuyến cho OSS trong khu vực. Tại thị trấn Hwang Ko, nhóm binh sĩ của Birch bị lính Cộng sản chặn lại và yêu cầu OSS đầu hàng. Birch, người nói tiếng Trung Quốc trôi chảy, đã từ chối và yêu cầu được nói chuyện với sĩ quan phụ trách. Một cuộc tranh cãi gay gắt đã xảy ra sau đó. Birch và cấp phó của anh, Trung úy Tung Chin-seng, một sĩ quan Quốc dân đảng, đã bị lính Cộng sản bắn chết và thi thể của họ bị vứt xuống một hố gần đó. Thi thể của Birch sau đó bị lính Cộng sản cắt xẻo, có lẽ nhằm mục đích khiến việc nhận dạng trở nên bất khả thi. Tuy nhiên, Trung úy Tung đã sống sót và được người dân địa phương giúp đỡ, đến được một đơn vị Quốc dân đảng gần đó.
Tin tức về cái chết của Birch đã gây chấn động mạnh tại bộ chỉ huy Mỹ ở Trùng Khánh. Tướng Chu Đức giải thích với Wedemeyer đang vô cùng tức giận rằng ông ta đã báo cho Bộ chỉ huy Tân Quân đoàn 4 của Cộng sản về việc Birch dự kiến sẽ đến thị trấn Ninh Xuyên (Nam Xương), nhưng Birch lại xuất hiện tại ga Hwang-ko, cách Ninh Xuyên 250 dặm về phía bắc, trong một khu vực vẫn nằm dưới sự kiểm soát của quân đội bù nhìn Trung Quốc. Lực lượng Cộng sản trong khu vực là một phần của Bát Lộ Quân và không được thông báo về sự xuất hiện của Birch. Một lời giải thích hợp lý hơn cho hành vi của Bát Lộ Quân là người Mỹ đã lên lịch gặp gỡ với Tướng Hu Peng-chu, chỉ huy Quân đoàn 6 của chính quyền bù nhìn trước đây. Vào thời điểm đó, Cộng sản đang tiến hành những mưu tính tế nhị nhằm lật đổ bộ chỉ huy Quân đoàn 6 và đưa các binh lính bù nhìn trước đây về phe Bát Lộ Quân.
Năm ngày sau vụ ám sát Birch, Wedemeyer đã trực tiếp đối chất với Mao và Chu Ân Lai tại nhà riêng của Hurley ở Trùng Khánh. Cả hai đều khẳng định không hề hay biết về vụ việc. Wedemeyer nói với các nhà lãnh đạo Cộng sản rằng “Tôi sẽ sử dụng bất kỳ lực lượng nào cần thiết để bảo vệ mạng sống của người Mỹ.” Ông cảnh báo rằng sẽ có hậu quả nghiêm trọng nếu công chúng Mỹ biết được cái chết của Birch dưới tay những người Cộng sản. Mao đáp lại bằng giọng điệu hòa giải, nhắc nhở người Mỹ rằng những người Cộng sản đã giúp cứu các phi công bị bắn rơi và đã chào đón một nhóm quan sát viên người Mỹ đến Diên An. Ông gợi ý rằng vụ nổ súng có thể do “các du kích địa phương đang chiến đấu chống lại quân Nhật và trong cuộc giao tranh có thể đã xảy ra một số hiểu lầm.” Dù tức giận, Wedemeyer không có ý định gây ra một cuộc đối đầu với Mao về vụ việc, đặc biệt là vì ông tin rằng Birch “thực sự đã khiêu khích cuộc xung đột đáng tiếc với những người Cộng sản Trung Quốc dẫn đến cái chết của ông.” Nhiều năm sau, một số người chống cộng cứng rắn ở Hoa Kỳ coi Birch là nạn nhân đầu tiên của Chiến tranh Lạnh, và Hội John Birch cánh hữu cực đoan trước đây được đặt theo tên ông.
Tại Trùng Khánh, Mao nhận ra rằng mình đang tạm thời ở vào thế khó. Ông hầu như không nghi ngờ gì về kết quả lâu dài của cuộc đối đầu với Quốc dân đảng. Phong trào của ông năng động, đang phát triển và có động lực cao, với những nhà lãnh đạo giỏi và chiến lược đã được chứng minh, trong khi phong trào của Tưởng Giới Thạch ngày càng bị cô lập, tham nhũng, phản động và bất tài. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, với sự ủng hộ của Mỹ dành cho Tưởng Giới Thạch và thái độ không chắc chắn của Nga, ông đã sẵn sàng nhượng bộ. Đảng Cộng sản đã từ bỏ yêu cầu trước đó về việc chia sẻ quyền lực với Tưởng Giới Thạch trong một chính phủ liên minh và đồng ý nhường lại một số khu vực căn cứ của họ ở một số tỉnh. Quốc dân đảng công nhận Đảng Cộng sản là một đảng chính trị hợp pháp và bình đẳng, đồng thời hứa hẹn dân chủ hóa chính phủ của họ và thành lập một hội nghị hiệp thương chính trị để soạn thảo hiến pháp mới.
Hurley kêu gọi hai bên nhất trí về các nguyên tắc cơ bản và để dành các chi tiết lại sau. Và đó là những gì họ làm – rồi ngay lập tức bắt đầu đấu tranh về các chi tiết. Đảng Cộng sản từ chối đặt lực lượng vũ trang của họ dưới quyền chỉ huy của Quốc dân đảng hoặc giải tán chúng, và tất nhiên họ không muốn từ bỏ quyền kiểm soát các căn cứ còn lại, nền tảng quyền lực khu vực của họ, cho chính quyền Trùng Khánh. Ngày 10 tháng 10, Mao rời Trùng Khánh, để lại Chu Ân Lai tiếp tục các cuộc đàm phán. Hurley đã khởi hành đến Washington vài tuần trước đó, với hy vọng rằng những nỗ lực của ông cuối cùng đã thành công.
“Tưởng đã mất hết linh hồn rồi,” Mao tuyên bố khi trở về từ Trùng Khánh. “Ông ta chỉ còn là một cái xác và không ai còn tin ông ta nữa.” Tuy nhiên, trong khi Mao tự tin vào khả năng hiểu được Tưởng Giới Thạch, thì việc hiểu được ý định của Stalin lại là một vấn đề khác. Những cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Liên Xô và Bát Lộ Quân không mấy suôn sẻ. Các đơn vị Cộng sản Trung Quốc chạm trán với Hồng quân trong giai đoạn đầu của chiến dịch Mãn Châu nhận thấy mình không thể thiết lập được liên lạc thực sự vì họ không nói được tiếng Nga và Hồng quân không có phiên dịch viên tiếng Trung cho đến đầu tháng 9, khi một vài quan chức lãnh sự Liên Xô đến. Vương Tử Phong (Wang Zi-feng), một cán bộ trẻ của Đảng Cộng sản, đã tham dự một bữa tiệc tối chiêu đãi Liên Xô vào tháng 10. Chỉ một phiên dịch viên có mặt, một nữ y tá người Nga 19 tuổi. Các binh sĩ Trung Quốc “kinh ngạc trước khả năng uống rượu của Liên Xô. Họ uống hết bát này đến bát khác.” Trong bữa tiệc, Vương “có thể thấy sự khác biệt” giữa binh lính của hai quốc gia. Người Liên Xô nhanh chóng mất đi sự e dè và bắt đầu ca hát nhảy múa, trong khi người Trung Quốc vẫn “dè dặt trong việc thể hiện cảm xúc công khai.”
Các tướng lĩnh Liên Xô không mấy ấn tượng với vẻ ngoài của quân đội Cộng sản Trung Quốc được trang bị kém, thường thiếu cả đồng phục, và đôi khi gọi họ là “quân du kích”. Về phần mình, người Cộng sản Trung Quốc đôi khi thấy việc liên kết với quân đội Liên Xô tham lam, những kẻ đã gây bất hòa với nhiều bộ phận dân chúng địa phương, là một thảm họa về mặt chính trị và tâm lý.
Thêm vào nỗi tức giận và lo ngại của họ về việc Liên Xô cướp bóc và lạm dụng dân chúng, các nhà lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc sớm phát hiện ra rằng Hồng quân có thể không mấy hợp tác trong việc giúp lực lượng vũ trang của Đảng thiết lập căn cứ ở Mãn Châu. Mặc dù các sĩ quan và binh lính Hồng quân bình thường, những người được đào tạo tư tưởng theo kiểu Liên Xô, có xu hướng thân thiện với những người anh em vô sản của họ trong Bát Lộ Quân, nhưng bộ chỉ huy cấp cao của Liên Xô biết rằng Moscow có những lợi ích riêng ở Mãn Châu và không muốn gây tổn hại cho thỏa thuận rất tốt đẹp của mình với Tưởng Giới Thạch. Ở một số thị trấn và khu vực, Hồng quân đã chào đón các cán bộ Cộng sản Trung Quốc và giao nộp vũ khí và thiết bị của Nhật Bản đã tịch thu cho họ. Ở Nhiệt Hà, cư dân địa phương báo cáo rằng Liên Xô giữ lại những vũ khí tốt nhất cho mình, giao những vũ khí tốt thứ hai cho Cộng sản và phá hủy phần còn lại. Tuy nhiên, về mặt chính thức và đôi khi trên thực tế, các tướng lĩnh Liên Xô đã ủng hộ Trùng Khánh.
Đầu tháng 9, Moscow chỉ thị Thống chế Vasilevskii cử một phái viên đến Diên An để cố gắng thiết lập các quy tắc cơ bản cho quan hệ quân sự giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Liên Xô tại Mãn Châu. Đại diện của Vasilevskii nói với các nhà lãnh đạo Diên An rằng Liên Xô có nghĩa vụ tuân thủ các điều khoản của Hiệp ước Trung-Xô và giữ các thành phố lớn Thẩm Dương, Trường Xuân và Cáp Nhĩ Tân cùng với các tuyến đường sắt cho Quốc dân đảng. Ở những nơi khác, phe Cộng sản được tự do di chuyển và nhận sự giúp đỡ của Liên Xô nếu họ đồng ý tránh các thành phố lớn, không công khai tiến hành các hoạt động của mình trong các khu vực do Liên Xô chiếm đóng và không cho phép lực lượng của họ hoạt động dưới danh nghĩa Bát Lộ Quân.
Đó không phải là một cuộc mặc cả lớn, nhưng như vậy là đủ. Ngay đêm đầu tiên sau cuộc gặp với đại diện Liên Xô, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhất trí đánh cược vào một nỗ lực toàn diện để giành quyền kiểm soát Mãn Châu. Từ Sơn Đông, từ sông Dương Tử và miền Trung Trung Quốc, hàng ngàn binh lính và cán bộ đảng đã đổ về phía đông bắc. “Chỉ cần chúng ta kiểm soát được vùng Đông Bắc, Nhiệt Hà và Chahar [Trường Sa]”, Lưu Thiếu Kỳ, người chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị, viết, “chúng ta sẽ đảm bảo thắng lợi cho nhân dân Trung Hoa”. Đến tháng 12, đã có 400.000 binh lính và cán bộ ở Mãn Châu sẵn sàng thử sức.

Người Nhật đã chi hàng triệu đô la để phát triển Mãn Châu Quốc. Bưu thiếp này cho thấy phố chính của thành phố Kirin (giờ là Cát Lâm) với các tòa nhà hiện đại.

Tượng đài chiến thắng Nhật Bản được binh lính Xô-Viết xây dựng gần ga đường sắt Thẩm Dương.

Khách sạn Yamato trước đây ngay trung tâm Thẩm Dương, ngày nay còn hoạt động, là trụ sở của OSS ở Trung Quốc sau thế chiến