Trịnh Nguyễn phân tranh, bên nào giàu hơn, dân bên nào khổ hơn?

Hình: Bản đồ Đàng Ngoài và Đàng Trong năm 1757, tác giả TRMC, giấy phép CC BY-SA 4.0, lấy từ Wikimedia Commons.

Nguyễn Đức Lực

Bộ Toàn thư do sử quan triều Lê Trịnh chép, năm 1655 ghi rằng quân của chúa Nguyễn Phúc Tần đánh úp châu Bố Chính, viên tướng giữ châu “đem châu ấy đầu hàng giặc”. Đến năm 1661 thì viết thẳng “giặc Phúc Tần” [1]. Vậy mà bộ Thực lục tiền biên do sử quan nhà Nguyễn chép về chính thời ấy, đầu mỗi năm vẫn ghi niên hiệu vua Lê, như năm 1620 thì đề “Lê Vĩnh Tộ năm 2” [2].

Tức là 2 bên cùng thờ 1 ông vua, cùng dùng 1 niên hiệu, mà bên này gọi bên kia là giặc. Kể cũng lạ thật!

I VUA LÊ CÒN LÀM ĐƯỢC GÌ?

Chuyện này tôi đã có 1 bài riêng nên chỉ nhắc lại. Năm 1599, Trịnh Tùng được vua Lê phong làm Bình An vương, được mở phủ chúa, đặt quan riêng. Từ đấy “của cải, thuế má, quân lính và nhân dân hết thảy về phủ Chúa”, vua chỉ còn ít quân túc vệ canh giữ cung, 7 thớt voi, 20 thuyền rồng và thuế của 1.000 xã gọi là lộc thượng tiến [3]. Nói nôm na thì ông vua được nhà chúa nuôi, mà nuôi cũng chẳng hậu hĩnh gì.

Thế nhưng không quân không tiền mà vua vẫn giữ được cái danh, mà cái danh ấy hóa ra lại có giá phết. Giấy tờ cả nước đều ghi năm theo niên hiệu vua Lê, nhà Thanh bên TQ cũng chỉ nhận họ Lê là chủ nước An Nam.

Năm 1702, chúa Nguyễn Phúc Chu sai người mang quốc thư cùng kỳ nam, vàng, ngà voi sang Quảng Đông xin phong vương riêng. Triều thần nhà Thanh bàn rằng chúa Nguyễn hùng cứ 1 phương, đã thôn tính cả Chiêm Thành, Chân Lạp nhưng “duy nước An Nam còn có nhà Lê ở đó, chưa có thể phong riêng được”, thế là việc xin phong vương đành bỏ [2]. Mang cả kỳ nam lẫn vàng sang mà về tay không!

Lưu ý là ông vua ấy không có lấy 1 đạo quân riêng. Vậy mà chỉ cần nhà Lê còn đó thì chúa Nguyễn mang bao nhiêu vàng sang cũng không xin được cái ấn vương.

II CHÚA TRỊNH NẮM NHỮNG GÌ?

Còn chúa Trịnh thì nắm gần như tất cả, trừ cái danh.

Năm 1600, phủ chúa đặt chức Tham tụng làm việc của tể tướng, rồi đặt thêm Bồi tụng, người nào giữ chức đều do chúa tự chọn [3]. Đến năm 1718, Trịnh Cương lập đủ 6 phiên trong phủ chúa, tên gọi cũng na ná 6 bộ bên triều vua. Thuế tô, thuế dung, binh lính, dân đinh các trấn đều về tay 6 phiên này. Cương mục chép rằng từ đây chính quyền trong nước về hết lục phiên, “mà lục bộ và lục tự chỉ đặt cho đủ vị mà thôi” [4].

Tức là bên vua vẫn có đủ 6 bộ cho đủ lệ, còn công việc thật sự thì nằm cả bên phủ chúa. Nói theo kiểu bây giờ thì quan bên triều vua chỉ còn ngồi chơi xơi nước.

Có điều họ Trịnh cũng chẳng sung sướng gì. Họ phải dẹp dư đảng họ Mạc, mãi đến năm 1677 mới dẹp xong ở Cao Bằng [3], lại phải lo việc bang giao với nhà Minh, nhà Thanh, lại phải nuôi quân đánh họ Nguyễn ở phía nam.

Mà nuôi quân lâu thì quân nó cũng thành ông. Đội lính Thanh Nghệ giữ kinh thành được chiều chuộng lâu ngày thành ra kiêu binh. Năm 1782 họ kéo vào phủ chúa phế bỏ Trịnh Cán, lập Trịnh Khải lên làm chúa, rồi đi phá nhà các quan khắp kinh thành, đòi chúa phong chức, thưởng tiền. Năm 1784 lính lại kéo vào phủ đòi g.i.ế.t mấy viên quan từng định trị tội họ. Chúa Trịnh Khải với Dương Thái phi phải lạy lục van xin, đem 1.000 lạng bạc, 3 vạn quan tiền ra chuộc mạng cho Dương Khuông, em ruột Thái phi [3].

III CHÚA NGUYỄN NẮM NHỮNG GÌ?

Trên giấy tờ, chúa Nguyễn chỉ là quan trấn thủ của vua Lê ở Thuận Hóa, Quảng Nam. Có điều trong ấy không có vua, cũng không có phủ chúa Trịnh, nên việc gì chúa Nguyễn cũng tự quyết định. Năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên bỏ 3 ty do triều Lê đặt, lập 3 ty mới của riêng mình [3].

Xin lưu ý là các chức võ quan to, từ chưởng dinh đến cai đội, chỉ giao cho người trong họ, người cùng huyện Tống Sơn hoặc người gốc Thanh Hóa. Người Thuận Quảng bản địa thì chỉ được làm cai, làm đội trông coi đầu nguồn, coi việc canh gác [3]. Mà họ Trịnh thì cũng là người Thanh Hóa. Nghĩa là đánh nhau mấy chục năm, người cầm quân 2 bên phần nhiều đều là dân Thanh Hóa cả.

Năm 1702 nhà Thanh không chịu phong vương thì đến năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát chẳng cần ai phong cho nữa. Ông tự đúc ấn quốc vương, lên ngôi vương ở Phú Xuân, gọi phủ là điện, đổi 3 ty thành 6 bộ, định lại triều phục cho quan văn võ, lại bắt “đổi y phục, thay phong tục” [2].

Thế nhưng Thực lục vẫn ghi: “phàm văn thư vẫn dùng niên hiệu vua Lê, nhưng với các thuộc quốc thì xưng là thiên vương” [2]. Đại khái là trong nước thì vẫn đề năm theo niên hiệu vua Lê, còn với Chân Lạp, Chiêm Thành thì xưng thiên vương. Tôi cho rằng chúa cần giữ cái danh “phò Lê” để có cớ đánh họ Trịnh, mà giữ cái danh ấy thì có mất gì đâu, chỉ là mấy chữ đầu tờ giấy.

So ra thì chúa Nguyễn sướng hơn chúa Trịnh ở 1 điểm. Chúa Trịnh ở chung 1 kinh thành với ông vua mà mình đã lấy hết quyền, vẫn phải giữ lễ bề tôi. Chúa Nguyễn ở tận Phú Xuân, chẳng phải đứng chầu ai, chỉ cần ghi niên hiệu cho đủ lệ.

IV BÊN NÀO GIÀU HƠN?

Nếu hỏi nhà nước bên nào giàu hơn thì Đàng Ngoài lớn mạnh hơn hẳn. Li Tana tính đất đai và quân lính của họ Trịnh đều gấp 3 đến 4 lần họ Nguyễn [5]. Riêng 4 trấn đồng bằng quanh Thăng Long, theo bản điều trần của Ngô Thì Sĩ, đã có 9.668 xã thôn [3].

Sổ sách thu chi thì Đàng Trong còn để lại ít nhiều. Sổ của viên thái giám Mai Văn Hoan ghi những năm 1746 đến 1752 mỗi năm họ Nguyễn thu chừng 338.100 đến 423.300 quan, trong đó 260.000 quan chi cho quân lính [6]. Tức là hơn 1 nửa số tiền thu được là để nuôi quân.

Còn đời sống của dân thì lại khác. Năm 1608, Thực lục chép Đàng Trong được mùa lớn, mỗi đấu gạo giá 3 đồng tiền, “bấy giờ từ Nghệ An ra Bắc bị đại hạn, giá gạo đắt, nhiều dân xiêu dạt chạy về” với chúa Nguyễn [2].

Hơn 1 thế kỷ sau, năm 1741, Cương mục chép Đàng Ngoài đói kém đến mức “một trăm đồng tiền không được một bữa no”, dân ăn rau, ăn củ, ăn cả rắn, chuột, người c.h.ế.t đói nằm chồng chất, làng nào vốn trù mật cũng chỉ còn “độ năm ba hộ” [4]. Ngô Thì Sĩ thống kê ở 4 trấn đồng bằng có 1.076 xã xiêu tán hoặc cùng khổ đến mức không thu nổi thuế, Thanh Hóa có 297 trong 1.393 xã bị xiêu tán, Nghệ An có 115 trong 706 xã [3].

Trong khi đó ở Thuận Hóa, Lê Quý Đôn vào đây năm 1776 ghi rằng đất này yên ổn đã lâu, từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát người ta đua nhau xa hoa. Quan lớn quan nhỏ nhà nào cũng chạm trổ, dùng đồ đồng, đồ gỗ trắc, đồ sứ, gấm vóc, lính cũng ngồi chiếu mây uống chè bằng chén sứ bịt bạc. Rồi ông chốt lại 1 câu: “coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ rất mực” [6].

Tất nhiên Lê Quý Đôn chỉ tả cuộc sống của quan lại, lính tráng quanh Phú Xuân. Ở Lệ Thủy, Khang Lộc, ông cũng ghi mỗi người chỉ được chia 5, 6 sào ruộng công, nhiều người xin đi lính chỉ để được cấp thêm 3 phân ruộng [6].

Như vậy, nhà nước họ Trịnh lớn hơn, đông dân hơn, mà dân Đàng Ngoài thế kỷ 18 lại khổ hơn. Bộ Lịch sử Việt Nam tập 4 giải thích rằng dân Đàng Trong bị bóc lột thì còn bỏ đi khai hoang nơi khác được, nên khủng hoảng ở Đàng Trong nổ ra muộn hơn [3]. Còn Đàng Ngoài thì đất chật người đông, bỏ làng ra đi thì đi đâu cũng là làng người ta.

V BÊN NÀO PHÁT TRIỂN HƠN?

Câu này còn tùy nhìn vào cái gì.

Nhìn vào chữ nghĩa thì Đàng Ngoài hơn hẳn. Triều Lê Trịnh mở thi Hương, thi Hội đều đặn 3 năm 1 lần [3]. Ở Đàng Trong, Li Tana thống kê từ năm 1645 đến năm 1693 họ Nguyễn chỉ mở 7 kỳ thi, có 140 người đỗ [5], quan lại chủ yếu tuyển chọn bằng lối tiến cử. Tức là gần 50 năm mà số khoa thi chỉ bằng ngoài Bắc mở trong chừng 20 năm.

Nhìn vào buôn bán thì Đàng Trong hơn. Chuyện này tôi đã viết trong bài về Hội An, ở đây chỉ nhắc rằng tàu Trung Hoa, Nhật Bản, Ma Cao, Hà Lan ra vào tấp nập, chúa Nguyễn đặt hẳn 1 ty riêng lo việc thu thuế tàu buôn [6]. Đàng Ngoài cũng có Phố Hiến, Kẻ Chợ. Có điều sang thế kỷ 18 thì tàu buôn không tới buôn bán nữa, theo Lịch sử Việt Nam tập 4, các cảng thị một thời sầm uất ấy “nhanh chóng tàn lụi và bị nông thôn hóa” [3].

Bán quan thì 2 bên giống hệt nhau, kiểu chạy chức bây giờ nhưng công khai, có bảng giá đàng hoàng. Năm 1740, chúa Trịnh Doanh ra lệnh ai nộp tiền, nộp thóc thì được ban tước phẩm, 2.500 quan thì được làm tri phủ nơi rất nhiều việc, 500 quan thì được làm tri huyện, tri châu nơi ít việc [3].

Ở Đàng Trong, theo lệ năm 1725, ai nộp 49 quan tiền lễ thì được làm tướng thần, 41 quan thì được làm xã trưởng, đến nỗi có xã có 16, 17 tướng thần, hơn 20 xã trưởng [3]. Theo những khoản Lê Quý Đôn chép lại, riêng 5 người được thăng chức trong 1 năm đã nộp cộng lại hơn 1.466 quan tiền lễ [3]. Không biết 1 xã cần đến 20 ông xã trưởng để làm gì?

VI CHÚA TRỊNH CÓ CÔNG GÌ, TỘI GÌ?

Theo tôi, công lớn nhất của họ Trịnh là dẹp được họ Mạc, đưa vua Lê về lại Thăng Long năm 1593, rồi giữ yên biên giới phía bắc. Phải thấy rằng gần 200 năm họ Trịnh cầm quyền, quân Minh, quân Thanh không kéo sang đánh lần nào, mãi đến năm 1788, khi họ Trịnh đã sụp đổ, quân Thanh mới kéo sang.

Còn tội lấn quyền vua thì sử nhà Nguyễn sau này đã chê trách nhiều rồi, tôi không bàn thêm. Tôi cho rằng tội nặng hơn là để dân khổ.

Năm 1730, các quan trong phủ chúa tâu với Trịnh Giang rằng “dân nghèo phiêu lưu, ngày càng khốn khổ tiều tụy”, số làng phiêu tán lên đến 527 làng. Thế mà cũng năm ấy Trịnh Giang vẫn cho tăng thuế những hộ ngụ cư, rồi bắt dân 3 huyện kéo gỗ, xe đá sửa sang 2 chùa Quỳnh Lâm, Sùng Nghiêm, “thường có hàng vạn người làm, ngày đêm không được nghỉ ngơi” [4]. Dân bỏ làng đi hết 527 làng mà chúa vẫn bắt hàng vạn người đi xây chùa, thì chùa ấy cầu phúc cho ai?

Nguyên tắc thu thuế thời chúa Trịnh Cương, theo Lịch sử Việt Nam tập 4, là “lượng số chi trước rồi định số thu của dân sau” [3]. Nói dễ hiểu thì chúa cần tiêu bao nhiêu thì dân nộp bấy nhiêu.

VII CHÚA NGUYỄN CÓ CÔNG GÌ, TỘI GÌ?

Công lớn nhất của họ Nguyễn thì ai cũng biết, là mở mang đất đai. Lúc Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558, cõi nam mới tới Quảng Nam. Đến năm 1744, Thực lục chép Đàng Trong đã chia làm 12 dinh, vào tận Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ, lại thêm trấn Hà Tiên [2]. Tôi cho rằng không có 2 thế kỷ ấy thì chưa chắc đã có miền Nam như bây giờ.

Còn tội thì cũng chẳng ít. Lê Quý Đôn, 1 ông quan bên địch, viết rằng quan liêu ở Đàng Trong nhũng lạm quá lắm, bổng lộc của quan đều lấy vào của dân, “dân chịu sao nổi” [3]. Ở Gia Định, người ta còn bắt con trai con gái người thượng ở đầu nguồn đem bán làm nô tì [6]. Cuối thời chúa Nguyễn thì quốc phó Trương Phúc Loan chuyên quyền, tiền kẽm mất giá, thuế má chồng chất, rồi năm 1771 Tây Sơn nổi lên.

Chia đôi đất nước thì cả 2 họ cùng có phần. Họ Trịnh nhân danh vua Lê đem quân vào đánh, họ Nguyễn cũng nhân danh vua Lê mà chống lại, 7 trận lớn trong 45 năm, người c.h.ế.t là lính Thanh Nghệ, lính Thuận Quảng. Năm 1661, chúa Trịnh Tạc còn rước cả xa giá vua Lê theo vào đánh “giặc Phúc Tần” [1]. Tức là đi đánh nhau cũng mang ông vua theo cho chính danh.

VIII DÂN 2 MIỀN CÓ CÒN LÀ 1 NƯỚC KHÔNG?

Trên giấy tờ thì vẫn là 1 nước: cả 2 bên đều ghi niên hiệu vua Lê, nhà Thanh cũng chỉ nhận 1 nước An Nam của họ Lê [2].

Thực tế thì ranh giới ở sông Gianh có lũy, có đồn canh, năm 1702 người châu Bố Chính bên Nguyễn còn bắt được thám tử của họ Trịnh sang dò la tin tức [2]. Thuyền buôn Trung Hoa quen ra vào Hội An thì gọi thẳng Đàng Trong là “nước Quảng Nam” [2]. Chưa kể Đàng Trong có lệ thuế riêng, cách tuyển quan riêng, chúa thì xưng quốc vương, lại còn bắt dân đổi cả y phục. Thế thì người ngoài nhìn vào bảo là 2 nước cũng chẳng oan.

Ngô Thì Sĩ, người Đàng Ngoài, viết lời bạt cho Phủ biên tạp lục năm 1777, câu mở đầu là “Thuận Quảng là biên thùy phía Nam của Nhà nước”. Ngay sau đó ông viết: “từ La Hà trở về Nam biến thành cõi khác”, 200 năm nay cắt đất Bố Chính làm 2 phía, “lấy một cây lau nhỏ làm giới hạn” [7]. Cùng 1 đoạn văn mà vừa gọi là biên thùy của Nhà nước, vừa gọi là cõi khác.

Rồi khi nói đến đất Thuận Quảng vừa được quân Trịnh chiếm lại, ông viết: “nước là nước mới dựng, dân là dân ngoan ngạnh” [7]. Thử hỏi, người ta có bao giờ gọi đồng bào của mình là dân ngoan ngạnh của 1 nước mới dựng không?

***

Kể những chuyện trên, tôi không có ý bênh bên nào. Dân Đàng Ngoài c.h.ế.t đói ngoài đường, dân Đàng Trong bị quan lại nhũng nhiễu, người thượng ở đầu nguồn bị đem bán làm nô tì, trong khi 2 ông chúa đều bán quan bán chức, đều nhân danh vua Lê mà đánh nhau.

Năm 1786 Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc, cũng nói là giúp vua Lê diệt họ Trịnh. Năm 1802 Nguyễn Ánh thu phục trọn cả 2 miền, đất nước lại về 1 mối. Năm 1821, Quốc sử quán nhà Nguyễn bắt đầu chép lại thời các chúa, đầu mỗi năm vẫn cẩn thận đề niên hiệu vua Lê…

P/S

Sổ sách thu chi của phủ chúa Trịnh thì tôi chưa tìm được con số tổng để đặt cạnh sổ sách của họ Nguyễn, mấy bộ sử tôi đọc đều không chép. Ai biết nguồn nào có thì bổ sung giúp tôi.


Nguồn:

[1] – Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ tục biên, năm Thịnh Đức thứ 3, tức năm 1655 và năm Vĩnh Thọ thứ 4, tức năm 1661.
[2] – Đại Nam thực lục tiền biên – Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học dịch, quyển 1 năm 1608, quyển 2 năm 1620, quyển 7 năm 1702, quyển 10 năm 1744.
[3] – Lịch sử Việt Nam tập 4, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII – Viện Sử học, Trần Thị Vinh chủ biên, chương II Tình hình chính trị Đàng Ngoài và Đàng Trong, chương IV Tình hình kinh tế nông nghiệp ở Đàng Ngoài và Đàng Trong, chương VI và VII về khủng hoảng thế kỷ XVIII. Các đoạn về lệ bán chức ở Đàng Trong, lời Lê Quý Đôn chê quan liêu Đàng Trong, bản điều trần của Ngô Thì Sĩ đều dẫn lại theo sách này.
[4] – Khâm định Việt sử thông giám cương mục – Quốc sử quán triều Nguyễn, chính biên quyển XXXV năm 1718, quyển XXXVII năm 1730, quyển XXXIX năm 1741.
[5] – Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 – Li Tana, Nguyễn Nghị dịch, phần Dẫn nhập và chương 2.
[6] – Phủ biên tạp lục – Lê Quý Đôn, Viện Sử học dịch, quyển IV và quyển VI.
[7] – Phủ biên tạp lục – Lê Quý Đôn, lời bạt của Ngô Thì Sĩ, Cảnh Hưng thứ 38, tức năm 1777.

 

Trả lời