
Hình: lớp học ở Chợ Chu (Thái Nguyên) thập niên 1920. Trên tường treo bản đồ Đông Dương, phía trên cửa là tấm biển tiếng Pháp “Fais bien ce que tu fais” (làm việc gì thì làm cho tử tế). Nguồn ảnh: Wikimedia Commons.
Nguyễn Đức Lực
Năm 1884, 2 tác giả người Pháp là Bouinais và Paulus đã viết: “Việc đưa bảng chữ cái của chúng ta vào có lẽ là ơn huệ lớn nhất mà nền đô hộ của chúng ta đã ban cho xứ Nam Kỳ” [1]. Hơn 140 năm rồi mà người ta vẫn nhắc lại gần như nguyên văn.
Chữ quốc ngữ đúng là thứ ta đang dùng hằng ngày, tôi cũng đang gõ nó đây. Tôi xin hỏi: người Pháp hồi ấy đem chữ quốc ngữ ra dạy để làm gì, rồi vì sao suốt 40 năm đầu người Việt có học lại quay lưng với nó?
I NGƯỜI PHÁP CẦN QUỐC NGỮ ĐỂ LÀM GÌ?
Chữ quốc ngữ do các giáo sĩ phương Tây đặt ra từ thế kỷ 17 để truyền đạo. Tới lúc người Pháp chiếm Nam Kỳ thì nó đã có hơn 200 năm, mà gần như chỉ có giáo dân dùng, tức là chừng 1% dân trong Nam [2].
Như ta biết, khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, quan lại theo lệnh vua Tự Đức bỏ đi hết, mang theo cả sổ sách. Người Pháp phải tự cai trị lấy 1 xứ mà giấy tờ nào cũng viết bằng chữ Hán, họ chịu, không đọc nổi chữ nào. Đành phải dùng thông ngôn, mà thông ngôn thì họ lại không tin. Năm 1863, đô đốc de la Grandière viết:
Không thể trông chắc vào đám thông ngôn bản xứ, chúng là lũ phản trắc, dối trá và trác táng” [3].
Linh mục Louvet năm 1885 thì nói toạc ra cái lợi của chữ La-tinh: “Làm sao ta phát hiện được gian lận, khi chỉ có họ nắm chìa khoá của hàng nghìn chữ tượng hình ấy? Còn với chữ La-tinh thì viên chức nào cũng vậy, học vài tháng là tiếp xúc thẳng được với dân” [4].
Ngày 15.1.1866, Paulin Vial (chánh văn phòng của thống đốc Nam Kỳ) viết trong 1 lá thư rằng, chữ Hán là bức tường ngăn giữa người Pháp với dân bản xứ, rằng chỉ có lối học của Pháp mới kéo được người An Nam lại gần, bằng cách “cô lập họ khỏi ảnh hưởng thù địch của các nước láng giềng”. Hơn 20 năm sau, cũng ông Vial ấy viết rằng quốc ngữ “là 1 công cụ mới và quan trọng, đã cho phép chúng ta cô lập Nam Kỳ khỏi Trung Kỳ và khỏi Trung Hoa” [5].
Tờ Courrier de Saigon ngày 10.2.1864 có đăng lời 1 người Pháp kể chuyện mấy ông quan trong đoàn sứ bộ Huế vào Sài Gòn. Các ông đứng nghe 1 đứa trẻ mới học trường Pháp được vài tháng, vớ cuốn sách nào cũng đọc vanh vách, sách tiếng An Nam mà in bằng chữ Tây. Người kể tả các ông nghe với vẻ “kinh ngạc lẫn bực bội không giấu nổi” [6].
II QUỐC NGỮ CÓ PHẢI LÀ CÁI ĐÍCH CỦA HỌ KHÔNG?
Giám mục Puginier ở Bắc Kỳ viết: “Tôi coi việc bỏ chữ Hán, thay dần trước hết bằng tiếng An Nam (quốc ngữ) rồi sau đó bằng tiếng Pháp, là 1 cách rất chính trị, thiết thực và hiệu quả để lập nên 1 nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông tại Bắc Kỳ” [7]. Còn Chailley, con rể của Tổng trú sứ Paul Bert, năm 1887 thì dặn nhau rằng muốn được thế, phải “thận trọng, giấu mục đích của mình đi, thấm vào chậm mà liên tục” [8]. Đi ban ơn cho người ta mà lại phải giấu mục đích, quả là 1 kiểu ban ơn lạ đời!
Năm 1886 Paul Bert mở lớp cho các thầy đồ ở Hà Nội, tiếng là để khuyến khích chữ Hán. Trong lớp, thầy viết 1 chữ Hán, bên dưới ghi cách đọc bằng quốc ngữ, rồi từ quốc ngữ dắt sang tiếng Pháp. Chưa đầy 1 tháng đã có hơn 120 thầy đồ ghi tên, vì cứ mỗi học trò của thầy thi đỗ tiếng Pháp thì thầy được thưởng tiền [9].
Étienne Aymonier là giám đốc Trường Thuộc địa ở Paris, nơi đào tạo quan cai trị cho các xứ thuộc địa. Ông này cho rằng tiếng Việt chỉ là 1 thứ thổ ngữ nghèo nàn, rồi đề nghị dạy thẳng cho dân 1 thứ tiếng Pháp rút gọn chừng vài trăm từ, khỏi cần chia động từ. Tiếng Việt, theo ông, rồi sẽ tự chết, chỉ sót lại vài chữ trong thứ tiếng Pháp tương lai. Ông viết: “Dù tiếng An Nam có đủ chín đi nữa, thì quyền lợi sơ đẳng của kẻ chinh phục vẫn là kiên quyết đem tiếng mình thay cho tiếng của kẻ bị chinh phục”. Đại hội Thuộc địa quốc tế năm 1889 đến 1890 còn nhất trí thông qua nghị quyết của ông, dồn tiền ngân sách Nam Kỳ cho việc dạy tiếng Pháp [10].
Ở Nam Kỳ đầu thập niên 1880, người ta đã cấm dùng tiếng Việt trong các trường huyện, cấm cả thông ngôn vào lớp, bắt thầy Pháp dạy thẳng bằng tiếng Pháp. Thế là thầy với trò gần như không hiểu nổi nhau! Ở Bắc Kỳ thì cứ đổi quan là đổi ý. Nhà báo Paul Bourde kể trên tờ Le Temps năm 1889, có những ông giáo hôm trước vừa được khen vì dạy quốc ngữ, vài tháng sau đã bị quan lại lôi ra đánh gậy, cũng vì vẫn dạy quốc ngữ [11]!
Đến cuộc cải cách năm 1924, tiếng Việt được dùng để dạy trong 3 năm đầu. Từ năm thứ 4 trở lên, tất cả học bằng tiếng Pháp. Ông Nguyễn Văn Huyên kể, có 1 giáo sư trung học suýt bị đuổi việc, vì giảng bài bằng tiếng Pháp xong ông còn giảng lại cho học trò bằng tiếng Việt [12].
Năm 1939, 1 người Pháp là Francisque Vial đi thăm nhiều trường tiểu học ở Đông Dương. Ông kể ông ngồi dự giờ mà không hiểu thầy nói gì, trò đáp gì. “Tôi cứ ngây thơ tưởng họ đang nói tiếng An Nam hay tiếng Cao Miên”, ông viết [13]. Hoá ra thầy trò đang nói tiếng Pháp với nhau!
Tóm lại, họ cần quốc ngữ để cai trị cho tiện, để cắt người Việt khỏi chữ Hán với lớp nhà nho đang cầm đầu kháng chiến, rồi sau này để dạy tiếng Pháp. Còn chuyện dạy cho dân biết chữ để dân khá lên thì trong mấy lá thư ấy tôi không thấy ai bàn tới.
III HỌ DẠY ĐƯỢC BAO NHIÊU NGƯỜI?
Năm 1904, tức là sau hơn 40 năm cai trị, cả Nam Kỳ có không quá 30.000 học sinh ở mọi cấp học. Trường thầy đồ cũ thì tàn dần, trường mới mở ra không bù lại được. Tháng 5.1907, ông Rodier, cựu phó thống đốc Nam Kỳ, khai trước 1 uỷ ban điều tra của nghị viện Pháp: “Chúng ta đang tạo ra những người mù chữ” [14]. Toàn quyền Beau thì kể, ở nhiều làng Nam Kỳ kiếm không ra người đọc nổi tờ văn tự ruộng đất cũ.
Năm 1917, trong hơn 23.000 xã chỉ có 3.000 xã có trường. Tới năm 1939, cả Đông Dương có chừng 500.000 học sinh, phần lớn ngồi ở 2 lớp đầu, mà cứ 10 đứa nhập học thì chỉ 1 đứa học quá năm thứ 3. Số người biết chữ vào quãng ấy, sử gia Lê Thành Khôi ước là 20%, còn ông Nguyễn Văn Huyên (sau này là Bộ trưởng Giáo dục) thì ước chỉ có 5% [15].
Trước khi người Pháp tới, theo 1 ước tính, số người thạo chữ Hán cũng chỉ chừng 3 đến 5% [16]. Vậy là sau 80 năm khai hoá, số người biết chữ vẫn quanh quẩn ở mức ấy!
IV VÌ SAO NHÀ NHO TẨY CHAY RỒI LẠI ĐEM RA DẠY?
Trong 40 năm đầu, người Việt có học coi quốc ngữ là chữ của Tây và của những người theo Tây. Cụ Nguyễn Đình Chiểu nhất định không học. Phạm Quỳnh kể về 1 nhà nho có đầu óc cởi mở mà ông biết, mỗi lần giở sách vần ra là phải chui vào 1 góc khuất trong nhà, cấm không cho ai vào, vì sợ nhục. Còn các cuộc khởi nghĩa thời ấy thì không để lại lấy 1 tờ giấy nào viết bằng quốc ngữ, hịch hay thư từ đều viết chữ Hán, chữ Nôm cả [17]. Suốt 40 năm đó cả nước chỉ có đúng 5 tờ báo quốc ngữ, đều ở Nam Kỳ.
Tới quãng 1905, phong trào Cần Vương đã thua, các nhà nho duy tân thấy rằng muốn cứu nước thì dân phải biết chữ, mà chữ Hán thì khó học quá. Cụ Phan Châu Trinh đi diễn thuyết rằng không bỏ chữ Hán thì không cứu được nước Nam. Cụ gọi quốc ngữ là sự sống lại của tiếng nước mình [18].
Tháng 3.1907, Đông Kinh Nghĩa Thục mở ở Hà Nội, có 400 đến 500 học trò, dạy quốc ngữ không lấy tiền. Trường có câu thơ: “Chữ quốc ngữ là hồn trong nước / Phải đem ra tính trước dân ta”. Nguyễn Văn Vĩnh thì viết: “Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ quốc ngữ” [19].
Có điều chính các cụ lại không quen viết quốc ngữ. Cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh đều viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm rồi nhờ người chuyển sang. Thành ra các cụ dùng chữ Hán để kêu gọi bỏ chữ Hán [20]! Người Việt hồi ấy biết tới Rousseau, Montesquieu cũng là qua sách chữ Hán.
Theo tôi, hồi đầu nhà nho tẩy chay quốc ngữ vì người dạy nó là ông thông ngôn với ông cố đạo. Chữ thì vẫn mấy chục chữ cái ấy, tới khi cụ Phan, cụ Lương đứng ra dạy thì người ta kéo nhau đi học.
V NGƯỜI VIỆT TỰ DẠY NHAU THÌ NGƯỜI PHÁP LÀM GÌ?
Ngày 16.4.1907, Toàn quyền Beau báo cáo về Paris rằng, sẽ không khỏi nguy hiểm nếu để cho 1 nền giáo dục bản xứ tự do mọc lên bên ngoài sự chỉ đạo của người Pháp. Tháng 1.1908, Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa, khi chưa đầy 1 năm tuổi. Cũng trong năm ấy, gần hết các sĩ phu duy tân ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ bị bắt, nhiều người bị đày ra Côn Lôn [21].
Đóng trường xong thì người Pháp quay ra tự làm báo quốc ngữ. Năm 1913, sau 1 vụ ném bom ở Hà Nội, tờ Đông Dương Tạp Chí ra đời, số đầu viết rằng phải làm sao để “bom của bọn phản nghịch không còn ai nghe thấy”. Năm 1917 có tờ Nam Phong, mà người đứng ra lập lại là Louis Marty, trùm mật thám Đông Dương. Chính quyền còn khuyên các làng xã mua báo. Tháng 8.1927 cụ Huỳnh Thúc Kháng ra tờ Tiếng Dân ở Huế, thì ngay trong tháng ấy chính quyền cũng cho ra 1 tờ quốc ngữ khác để đối lại [22].
Năm 1938, Hội Truyền bá Quốc ngữ xin được giấy phép, có điều chính quyền ngờ vực, không cho hội mở rộng. Vậy mà hội vẫn dạy được 50.000 người [23].
Sau tháng 9.1945, phong trào Bình dân học vụ mở ra, tới cuối năm 1946 đã có 2,7 triệu người biết đọc biết viết. Sử gia Joseph Buttinger nhận xét, chiến dịch ấy trong 1 năm đã làm được nhiều hơn những gì người Pháp “đã làm được, hay nói đúng hơn là đã buồn làm, trong hơn 60 năm” [24].
Cũng trong 1 năm ấy, trường đại học ở Hà Nội đổi từ dạy bằng tiếng Pháp sang dạy bằng tiếng Việt. Có những giáo sư soạn 1 bài giảng bằng tiếng Pháp chỉ mất vài giờ, mà ngồi dịch nó ra tiếng Việt mất mấy ngày. Mùa xuân 1946, Hà Nội có 120 tờ báo [25].
VI VẬY CÓ PHẢI ƠN HUỆ KHÔNG?
Đến cái tên quốc ngữ cũng không do người Pháp đặt. 2 chữ ấy người Việt vốn dùng để chỉ tiếng nói với chữ Nôm của mình, cho khác với chữ Hán. Giáo dân gọi thứ chữ La-tinh là Tây quốc ngữ, rồi gọi tắt đi. Người Pháp dùng theo, mãi sau mới có người để ý rằng cái tên ấy nghĩa là tiếng nói của 1 nước. Ông Aymonier thì chê cái tên ấy là man rợ, còn thứ chữ ấy ông bảo là “kẻ thù do chính người Pháp tạo ra, nuôi nấng và nâng niu”. Ông kể nhiều quan chức ở Bắc Kỳ đã quyết lo sao cho “bên bờ sông Hồng, bé Quốc Ngữ đừng lớn quá” [26].
John DeFrancis, nhà ngôn ngữ học người Mỹ, viết rằng người Việt cảm ơn người Pháp về chữ quốc ngữ cũng chỉ như cảm ơn họ về mấy khẩu súng đã lấy được của họ [27].
Năm 1890, khi các nhà nho còn coi học quốc ngữ là chuyện nhục, ông Aymonier đã viết để can chính phủ mình rằng, nếu thứ chữ này làm cho người Việt có được 1 tiếng nói quốc gia thật sự, thì nó sẽ là “vũ khí nguy hiểm nhất trong tay những người Việt yêu nước thù địch với nước Pháp” [28].
Nguồn:
[1][7][8][9][10][11] – Colonialism and Language Policy in Viet Nam – John DeFrancis, chương 4 French colonialism (1861-1945), mục Civil administration (1879-1905). Các lời trích của người Pháp trong bài đều dịch từ bản tiếng Anh của DeFrancis.
[2][3][4][6] – Colonialism and Language Policy in Viet Nam – John DeFrancis, chương 4, mục Rule of the Admirals (1861-1879).
[18][19][20][21] – Colonialism and Language Policy in Viet Nam – John DeFrancis, chương 4, mục Russo-Japanese War to World War I (1905-1918).
[13][23] – Colonialism and Language Policy in Viet Nam – John DeFrancis, chương 4, mục World War I to World War II (1918-1945).
[5][14][17][22][26] – Colonialism and Language Policy in Viet Nam – John DeFrancis, chương 4 French colonialism (1861-1945), rải ở nhiều mục.
[16] – Colonialism and Language Policy in Viet Nam – John DeFrancis, chương 2 Monarchical independence (939-1651).
[24][25] – Colonialism and Language Policy in Viet Nam – John DeFrancis, chương 5 National independence (1945-Present).
[12][15][27][28] – Colonialism and Language Policy in Viet Nam – John DeFrancis, chương 4 và chương 5.