Bắc Triều Tiên và Triều Đại Kim (Bài 35)

BRADLEY K. MARTIN

Trần Quang Nghĩa dịch

BA MƯƠI SÁU : Sợ hãi và ghê tởm

Mặc dù các sự kiện xung quanh thời điểm chuyển giao thiên niên kỷ cho thấy Kim Jong-il đã sẵn sàng nhượng bộ một số điểm về chính sách kinh tế và pháp lý, ông ta vẫn có những mối quan tâm khác, ít hòa bình hơn. Chính sách tiếp tục đặt nặng trọng tâm vào hành động sẵn sàng quân sự của ông đã dẫn đến một cuộc chiến tâm lý căng thẳng với Washington, Tokyo và Seoul. Cuộc đấu tranh đó đã đe dọa bất kỳ thành quả nào mà người dân Triều Tiên có thể hy vọng đạt được từ các sáng kiến ​​khác của ông.

Quan điểm chính thức, được một giáo sư kinh tế tại Đại học Kim Il-sung đưa ra vào đầu năm 2000, là việc Kim Jong-il nhấn mạnh chính sách “quân sự là trên hết” có nghĩa là “vũ khí và bơ sữa”. Đúng vậy, nó nhằm mục đích “bảo vệ quốc gia khỏi sự xâm lược của các thế lực thù địch”. Nhưng đó là “một kế hoạch toàn diện bao gồm cả phương tiện hiệu quả để phát triển kinh tế”. Chính sách này “không liên quan gì đến quân đội cai trị hay chế độ quân phiệt.” Và “nhà nước hùng mạnh” mà Lãnh đạo Kính yêu muốn tạo ra không có nghĩa là một quốc gia theo đuổi bá quyền. Thay vào đó, chính sách này có “hai mục tiêu: bảo vệ hệ thống và khôi phục nền kinh tế.” Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001 và các cuộc tấn công khủng bố của Al Qaeda vào Trung tâm Thương mại Thế giới và Lầu Năm Góc, những tay viết diễn văn cho bài phát biểu Thông điệp Liên bang của Tổng thống Bush năm 2002 thích cụm từ dễ nhớ “trục ma quỷ”. Một phần để tránh tạo ấn tượng rằng Hoa Kỳ chỉ tập trung vào người Hồi giáo trong Cuộc chiến Chống Khủng bố mới, họ đã thêm Triều Tiên vào nhóm các thành viên “trục” ban đầu là Iraq và Iran. Nhiều người cho rằng lập trường này là chính đáng khi Washington thu thập được bằng chứng cho thấy Triều Tiên có thể đang bí mật tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhân – bất chấp các thỏa thuận năm 1994-1995. Một cuộc khủng hoảng vũ khí hạt nhân thứ hai đã nổ ra.

Tuy nhiên, ngay cả khi sự chú ý của quốc tế một lần nữa tập trung vào vũ khí của Triều Tiên, chế độ của Kim Jong-il vẫn tiếp tục thử nghiệm trong nước những điều chỉnh có khả năng ảnh hưởng sâu rộng đến hệ thống Stalin-Kimilsung. Đầu năm 2004, các du khách nước ngoài và các nhà phân tích bên ngoài khác dường như đang có chung một sự đồng thuận đang hình thành: Bình Nhưỡng nghiêm túc hơn trước trong việc chấp nhận và thậm chí khuyến khích những thay đổi kinh tế.

 

Đầu năm 2000, Bộ Quốc phòng Hàn Quốc báo cáo rằng Triều Tiên đã dự trữ đủ lương thực cho một cuộc chiến kéo dài một năm và đủ dầu mỏ cho ít nhất ba tháng, ngoài ra còn có đạn dược. Các cách lý giải khác nhau. Một bộ phận đáng kể dư luận nước ngoài cho rằng Triều Tiên, không còn là một quốc gia hiếu chiến có thể tấn công miền Nam bất cứ lúc nào, mà là một quốc gia yếu kém chỉ đơn thuần tìm cách tự vệ trước nguy cơ bị tấn công từ phía Hoa Kỳ và Hàn Quốc. Tất nhiên, quan điểm này từ lâu đã bao gồm cả phe cảm tình viên với Triều Tiên và lý tưởng xã hội chủ nghĩa của nước này. Nhưng cũng có khá nhiều người khác đến từ các hệ tư tưởng khác đã kết luận vào những năm 1990 rằng Triều Tiên – với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và đặc biệt là thảm họa kinh tế đã ảnh hưởng đến đất nước trong phần lớn thập kỷ đó – đã thực sự suy yếu không thể phục hồi. Bình Nhưỡng hẳn phải biết rằng thời kỳ họ có thể tiến hành một cuộc xâm lược phía nam thắng lợi đã qua rồi. Nhìn vấn đề từ góc độ đó, Triều Tiên có thể đang tích trữ lương thực, nhiên liệu và đạn dược cho chiến tranh chỉ để răn đe kẻ thù tấn công. Xét cho cùng, Bộ Quốc phòng Hàn Quốc tuyên bố biết vị trí các kho chứa của Triều Tiên – có lẽ nhờ ảnh vệ tinh và các thông tin tình báo khác. Biết rằng mình đang bị theo dõi và hy vọng có thể ngăn chặn cuộc tấn công, Bình Nhưỡng cần phải đảm bảo tạo ra một bộ mặt đáng tin cậy về tính sẵn sàng, thậm chí tinh thần chiến đấu hiệu quả.

Có rất nhiều lý do để hoài nghi về lập luận đó, và tôi cũng hoài nghi. Người ta có thể nghi ngờ rằng việc khước từ kiên quyết thay đổi về cơ bản của chế độ Bình Nhưỡng trong nhiều thập kỷ qua hoàn toàn nhằm hiện thực hóa mục tiêu hơn 50 năm qua của họ là thống trị toàn bộ bán đảo. Để chế độ này từ bỏ mục tiêu đó và ngồi xuống vĩnh viễn chấp nhận rủi ro trong việc cạnh tranh hòa bình với nước anh em phía Nam, chẳng phải sẽ cần một sự thay đổi to tát hay sao? Có thể sẽ có những thay đổi chính sách tạm thời, chẳng hạn như nhấn mạnh răn đe hơn là chuẩn bị cho hành động gây hấn bất cứ khi nào chế độ cảm thấy mình tạm thời suy yếu. Nhưng nếu một sự thay đổi chính sách dài hạn và to lớn như việc từ bỏ tham vọng chinh phục xảy ra, liệu chúng ta có biết về điều đó không? Làm thế nào điều đó có thể được thực hiện mà không gây ra biến động nội bộ đủ lớn để những người theo dõi Bình Nhưỡng ghi nhận? Chỉ cần loại bỏ một nhân tố của “ý tưởng thống nhất”, như chính Kim Jong-il đã cảnh báo trong nhiều thập kỷ, thì hệ thống sẽ bắt đầu tan rã. Cùng với sự thay đổi chính sách lớn như vậy, liệu chúng ta có thấy, ít nhất là một vài gương mặt mới ở vị trí lãnh đạo, thay vì tiếp tục chứng kiến ​​một đất nước bị cai trị, dù tốt hay xấu – thường là xấu – bởi cùng một nhóm người đã nắm quyền trong nhiều thập kỷ?

Nhưng những người đã gặp Kim Jong-Il trực tiếp vẫn có ấn tượng rằng ông ta sẵn sàng thỏa hiệp để từ bỏ các chính sách cũ, giúp đất nước tiến lên phía trước. Một trong những người đó là Ngoại trưởng Mỹ lúc bấy giờ, Madeleine Albright, tác giả cuốn hồi ký có một chương mô tả chuyến thăm Bình Nhưỡng vào những ngày cuối cùng của chính quyền Clinton. Bà nhận thấy Kim là “một người đàn ông thông minh, biết mình muốn gì.” Với vẻ tự tin, ông đã nói rõ rằng ông muốn thiết lập quan hệ bình thường với Hoa Kỳ, điều sẽ “bảo vệ đất nước ông khỏi mối đe dọa mà ông cho là do sức mạnh của Mỹ gây ra và giúp ông được thế giới coi trọng.”

Albright đã có mặt tại Bình Nhưỡng để tiến hành các cuộc đàm phán sơ bộ hướng tới một cuộc gặp thượng đỉnh có thể diễn ra giữa Tổng thống Clinton và Kim Jong-Il và điều mà cả hai bên hy vọng sẽ là một thỏa thuận toàn diện về tên lửa và các vấn đề khác khiến hai nước bất đồng. Trong cuộc gặp đầu tiên với Kim Jong-Il (“Tôi đi giày cao gót, nhưng ông ấy cũng vậy”), bà nói với ông rằng bà không thể đề xuất một cuộc gặp thượng đỉnh nếu không có thỏa thuận về tên lửa. Kim Jong-Il nói với bà rằng nước ông đang bán tên lửa cho Iran và Syria vì cần ngoại tệ. “Vì vậy, rõ ràng là, vì chúng tôi xuất khẩu để lấy tiền, nếu bà đảm bảo bồi thường thì việc đó sẽ bị đình chỉ.” Thật vậy, ông đã đề nghị không chỉ ngừng xuất khẩu mà còn ngừng sản xuất để triển khai trong nước. “Nếu không có xung đột, vũ khí không có ý nghĩa gì”, ông giải thích.

Mô tả về cuộc họp ngày hôm sau, Albright viết: “Tôi nói rằng chúng tôi đã đưa cho phái đoàn của ông ấy một danh sách các câu hỏi và sẽ rất hữu ích nếu các chuyên gia của ông ấy có thể cung cấp ít nhất một số câu trả lời trước khi kết thúc ngày. Thật ngạc nhiên, Kim đã yêu cầu danh sách đó và bắt đầu tự trả lời các câu hỏi, thậm chí không tham khảo ý kiến ​​của chuyên gia bên cạnh.”

Kim nói với Albright rằng mình có thể hình dung ra một vai trò hậu Chiến tranh Lạnh của quân đội Mỹ tại Hàn Quốc: duy trì ổn định. Nhưng ông nói rằng quân đội của ông đang chia rẽ về việc có nên cải thiện quan hệ Triều Tiên-Mỹ hay không và một số người trong Bộ Ngoại giao của ông đã phản đối việc ông nói chuyện với phía Mỹ. “Cũng như ở Mỹ,” ông nói, “ở đây có những người có quan điểm khác với tôi, mặc dù họ không phản đối mạnh mẽ như ở các ông.”

Kim xác nhận rằng đất nước ông đang gặp khó khăn kinh tế nghiêm trọng, và Albright hỏi liệu ông có cân nhắc việc mở cửa nền kinh tế hay không. Không nếu làm tổn hại đến truyền thống của chúng tôi,” ông đáp. Ông nói rằng ông không quan tâm đến sự kết hợp giữa kinh tế thị trường tự do và chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc, mà thích mô hình của Thụy Điển hơn, vì ông cho rằng mô hình này còn xã hội chủ nghĩa hơn Trung Quốc.

“Về mặt cá nhân,” Albright viết, “tôi phải cho rằng Kim thực sự tin vào những lời lẽ hoa mỹ mà ông ta được dạy và tự coi mình là người bảo vệ và ân nhân của quốc gia. Người ta không thể lãnh đạo một hệ thống tàn bạo như của CHDC Triều Tiên mà không tự mình trở nên tàn bạo, nhưng tôi không nghĩ chúng ta có thể tùy tiện phớt lờ ông ta. Ông ta không phải là người như vậy. Ông ấy không sắp ra đi và đất nước ông ấy, dù yếu kém, cũng không sắp sụp đổ.”

Albright kết luận rằng Kim Jong-Il rất nghiêm túc trong việc đàm phán một thỏa thuận về tên lửa, và chi phí mà Hoa Kỳ phải gánh chịu “sẽ rất nhỏ so với chi phí phòng thủ trước các mối đe dọa mà chương trình tên lửa của nước này gây ra”. Tuy nhiên, những nỗ lực nhằm sắp xếp cho Clinton gặp Kim Jong-Il đạt được thỏa thuận như vậy đã gặp phải nhiều trở ngại. Đầu tiên, Albright viết, có sự phản đối đáng kể ở Washington từ những người “lo ngại rằng một thỏa thuận với Triều Tiên sẽ làm suy yếu lập luận về chương trình phòng thủ tên lửa quốc gia” hoặc những người “lập luận rằng một hội nghị thượng đỉnh sẽ ‘hợp pháp hóa’ các lãnh tụ tàn bạo của Triều Tiên.” Nhưng điều thực sự khiến chuyến đi được đề xuất thất bại là một yêu cầu cạnh tranh khác đối với Clinton trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng Trung Đông mới nhất trong thời gian tại vị còn lại của ông ngày càng ngắn ngủi.

Chính quyền George W. Bush lên nắm quyền ở Washington vào đầu năm 2001. Các quan chức đảng Cộng hòa phụ trách chính sách đối ngoại, nghi ngờ những nỗ lực của chính quyền Clinton trong việc tìm kiếm sự thỏa hiệp với Bình Nhưỡng, đã bắt đầu xem xét lại chính sách của Mỹ. Sau bài phát biểu “Trục ma quỷ” của Bush, vẫn còn nhiều điều nữa sẽ xảy ra. Vào tháng 10 năm 2002, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ James Kelly và các quan chức khác đến thăm Bình Nhưỡng đã khiến chủ nhà bất ngờ với bằng chứng cho thấy Triều Tiên đang tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhân bằng cách làm giàu uranium, một quy trình khác biệt và tách biệt với quy trình sản xuất plutonium mà nước này đã tạm dừng trước đó. Phái đoàn trở về Washington và báo cáo rằng các đối tác của họ đã thừa nhận sự thật về dự án uranium, đồng thời khẳng định một cách thách thức rằng không có lý do gì để một quốc gia không nên sở hữu vũ khí hạt nhân riêng.

Washington tìm cách gạt vấn đề này sang một bên trong khi ưu tiên giải quyết vấn đề Iraq trước. Triều Tiên đã sử dụng nhiều hành động khiêu khích để cố gắng buộc Hoa Kỳ phải nhượng bộ trong khi Lầu Năm Góc đang bận rộn ở Trung Đông. Vào tháng 12 năm 2002, nước này đã trục xuất các thanh tra của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế và bắt đầu tái kích hoạt một lò phản ứng đã sản xuất plutonium trước khi chương trình bị đóng băng năm 1994. Vào tháng 1 năm 2003, Triều Tiên rút khỏi Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí hạt nhân.

Thành công nhanh chóng ban đầu của cuộc chiến tranh Iraq rất có thể là tin tức kinh hoàng đối với Kim Jong-il, người mà tung tích không được biết đến trong nhiều ngày. Người ta cho rằng ông ta đang lẩn trốn vì sợ một trong những vũ khí thông minh của Mỹ, được phóng trong cuộc tấn công phủ đầu mà chính quyền Bush công khai cân nhắc, sẽ tìm thấy ông ta. Sau tất cả, Bush đã nói với nhà văn và phóng viên của tờ Washington Post, Bob Woodward, rằng ông “ghét cay ghét đắng” Kim Jong-il, người mà ông gọi là “gã lùn”.

Tháng 10 năm 2003, Bình Nhưỡng tuyên bố rằng họ đã tái chế khoảng 8.000 thanh nhiên liệu đã qua sử dụng được lưu trữ trong suốt thời gian chương trình bị đóng băng. “Nếu quả thực là như vậy, nó có thể sản xuất đủ vật liệu phân hạch cho thêm năm hoặc sáu vũ khí hạt nhân nữa,” Kelly nói. Khi Bình Nhưỡng ám chỉ một cách chung chung rằng họ có thể tuyên bố mình là một cường quốc hạt nhân, Trung Quốc, chẳng hạn, không thích ý tưởng đó và đã cắt nguồn cung dầu cho Triều Tiên trong vài ngày để buộc nước này phải đàm phán. Đến đầu năm 2004, Bình Nhưỡng đã đề nghị đóng băng trở lại chương trình dựa trên plutonium của mình (rõ ràng là nhận ra rằng việc thừa nhận đó là một sai lầm chiến thuật, giờ đây nước này lại phủ nhận việc mình thừa nhận có chương trình làm giàu uranium) trong khi đàm phán với Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và Nga để xem có thể đạt được thỏa thuận nào. Những gì nước này muốn từ Washington bao gồm một hiệp ước không xâm lược và thiết lập quan hệ ngoại giao.

Trong khi cuộc khủng hoảng hạt nhân đầu tiên dường như đã làm đình trệ hoàn toàn tiến trình thay đổi kinh tế, thì lần thứ hai, Bình Nhưỡng vẫn tiếp tục đi theo một con đường song song – đến mức khiến khá nhiều người nước ngoài hoài nghi bắt đầu tin rằng lần này có điều gì đó trọng đại sắp xảy ra.

Một hệ quả tất yếu từ cuộc đối đầu giữa Kelly và các quan chức Triều Tiên về vấn đề bom uranium là, dĩ ​​nhiên, sẽ không có tiến triển nào trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế giữa Washington và Bình Nhưỡng trong thời gian này. Tuy nhiên, một tháng sau chuyến thăm của Kelly, anh rể của Kim Jong-il, Chang Song-taek, đã dẫn đầu một phái đoàn cấp cao đến Hàn Quốc để học hỏi kinh nghiệm kinh tế từ phía Nam. Bỏ qua các hoạt động công nghệ siêu cao, đòi hỏi vốn đầu tư lớn và vượt quá khả năng của mình, khách miền Bắc chỉ chú trọng vào những gì nằm trong tầm tay: các mặt hàng công nghiệp thông thường như thép và phân bón, những sản phẩm mà họ đã và có thể sản xuất hiệu quả hơn, cùng các doanh nghiệp nhỏ hơn như golf và du lịch. Một tờ báo ở Seoul đưa tin: “Vì vậy, trong khi các hướng dẫn viên người Hàn Quốc kỳ vọng các vị khách muốn tham quan công nghệ tiên tiến của Samsung Electronics, thì họ lại quan tâm hơn đến cách một công ty con của LG sản xuất bàn chải đánh răng.”

Nam-ki, nhà hoạch định kinh tế hàng đầu của Triều Tiên, chăm chú quan sát xem và đặt nhiều câu hỏi chi tiết. Người Hàn Quốc suy đoán rằng, khi trở về Bình Nhưỡng, các nhà tiền trạm trước tiên giúp Kim Jong-il hiểu rõ hơn về những quan niệm sai lầm của ông ta về nền kinh tế Hàn Quốc, sau đó sẽ soạn thảo một kế hoạch mới để khôi phục và cải cách nền kinh tế Triều Tiên.

Còn giả định cũ cho rằng cải cách sẽ phá vỡ hệ tư tưởng đã trói buộc dân chúng vào ách cai trị của người lãnh tụ thì sao? Đến tháng 2 năm 2003, chế độ này đã đẩy mạnh bộ máy tuyên truyền để khẳng định rằng các sáng kiến ​​mới hoàn toàn phù hợp với giáo điều đã được truyền bá. Báo Nodong Shinmun đăng một bài báo ca ngợi “sự lãnh đạo sáng suốt của Kim Jong-il nhằm cải thiện quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa” – một bài báo đề cập đến thuật ngữ “lợi nhuận” nhiều lần. Giải thích về thời điểm công bố, tờ báo cho biết đó là dịp kỷ niệm 30 năm tác phẩm của cha ông, “Về một số vấn đề cải thiện quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa“. Kim Jong-il đã đã hoàn thành một “kỳ tích vĩ đại” bằng cách duy trì “nguyên tắc quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh bị đế quốc bao vây và gặp vô vàn khó khăn,”  tờ báo viết. Đồng thời, ông “dẫn dắt chúng ta đảm bảo triệt để lợi nhuận thực sự trong quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Có lẽ, người từng là sinh viên chuyên ngành kinh tế chính trị đã suy nghĩ lại về thái độ khinh thường của mình đối với việc học tính toán. Bài báo viết về phương pháp quản lý của ông: “Kinh tế đòi hỏi quản lý khoa học có tính toán”.

Trong bài phát biểu trước Hội đồng Nhân dân Tối cao – quốc hội – về ngân sách nhà nước năm 2003, Bộ trưởng Tài chính Mun Il-bong đã đi xa hơn. Ông nói: “Trong tất cả các cơ quan và doanh nghiệp, cần phải thiết lập đúng hệ thống tính toán dựa trên tiền tệ, tăng cường hệ thống kế toán sản xuất và tài chính, thực hiện triệt để các hoạt động sản xuất và quản lý bằng cách tính toán lợi nhuận thực tế.” Học giả người Đức Ruediger Frank đã tìm thấy trong một đoạn khác trong bài phát biểu của ông Mun một nỗ lực nhằm ghép vào hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũ một nhận thức mới về vai trò của các doanh nhân. “Nhân dân ta, giữ vững tư tưởng xây dựng quốc gia sau giải phóng của Lãnh tụ Vĩ đại, đã xây dựng một nước Triều Tiên dân chủ mới trên đống đổ nát,” Mun nói, “người có sức mạnh dùng sức mạnh, người có tri thức dùng tri thức và người có tiền dùng tiền.” Frank lưu ý rằng sức mạnh tượng trưng cho công nhân và nông dân, còn tri thức tượng trưng cho giới trí thức – ba nhóm được thể hiện trong biểu tượng búa-liềm-bút lông trên Tháp Juche ở Bình Nhưỡng. “Nhưng ‘tiền’ là một thành tố mới,” ông viết. “Nó đại diện cho những người xuất sắc trong các hoạt động kinh tế.” Frank nhận thấy “điều đáng chú ý là việc san bằng chiến trường ý thức hệ đã bắt đầu sớm như vậy. Kim Jong-il có thể không phải là Mikhail Gorbachev, cũng không phải là Đặng Tiểu Bình, nhưng bằng chứng cho thấy khó có thể tin rằng ông ta là một người ngoan cố chống lại cải cách.”

Tại kỳ họp ngân sách quốc hội năm 2003, một sáng kiến ​​khác đã được công bố: phát hành Trái phiếu Nhân dân. “Tại sao một quốc gia như Triều Tiên lại quan tâm đến việc thu thập một lượng lớn tiền tệ của chính mình?” Frank hỏi. Ông suy đoán rằng “khoản thu thêm một lần từ việc phát hành trái phiếu sẽ được dùng để trả lương cho đến khi hệ thống giá cả mới hoạt động.” Frank nhận thấy trong việc phát hành trái phiếu “không chỉ là dấu hiệu của một nỗ lực tuyệt vọng nhằm ngăn chặn sự thất bại của các cuộc cải cách, mà còn là một chỉ báo khác về quyết tâm mạnh mẽ của giới lãnh đạo Triều Tiên trong việc ổn định với mục tiêu tạo ra một nền kinh tế quốc gia hoạt động hiệu quả trong nước và tương thích quốc tế trong tương lai.” Ông lo lắng rằng hoàn cảnh – đặc biệt là việc không có sẵn các khoản vay và trợ cấp từ bên ngoài – sẽ cản trở việc đạt được mục tiêu đó. Học giả kết luận rằng “một điều gì đó đã bắt đầu mà khó có thể dừng lại được nữa, trừ khi nó trở thành một thành công rực rỡ hoặc một thất bại thảm hại.”

Tôi vẫn không tin, vào thời điểm đó, rằng những thay đổi này thực sự có ý nghĩa to lớn, và tôi không phải là người duy nhất. Người đứng đầu một tổ chức từ thiện chuyên viện trợ y tế và lương thực cho người dân Triều Tiên đã đi khắp đất nước vài tháng sau bài phát biểu của Mun, so với những gì ông đã chứng kiến ​​trong các chuyến đi trước, người tổ chức viện trợ nhận thấy cuộc sống của người dân thường vẫn “khó khăn đến mức khó tả”. Bắt đầu từ những năm nạn đói trầm trọng nhất, “người Triều Tiên đã phải tìm đến những cơ chế ứng phó không chính thức”, ông nói với một ủy ban quốc hội Hoa Kỳ. Nhưng một ví dụ ông đưa ra cũng có thể được hiểu là điềm báo về sự thay đổi tốt đẹp hơn. “Ngay cả những cá nhân làm việc trong các bộ ngành chính phủ cũng phải dựa vào các nguồn thu nhập bên ngoài để mua hàng hóa và dịch vụ mà họ cần cho gia đình mình,” ông nói, đồng thời cho biết “nền kinh tế Triều Tiên đã dần cải thiện trong vài năm qua,” chủ yếu nhờ “nền kinh tế phi chính thức.” Ông kể về cách các cơ chế ứng phó phi chính thức, bao gồm sản phẩm từ các mảnh đất tư nhân và chợ nông sản, đã “ngăn chặn sự suy thoái kinh tế nhanh chóng của Triều Tiên.”

Tuy nhiên, người đứng đầu quỹ vẫn nhận thấy đất nước này không thể “vượt qua được ‘nền kinh tế phi chính thức’ ở cấp độ vĩ mô”. Ông cho rằng điều còn thiếu chính là “cuộc cải cách cơ cấu cần thiết để thúc đẩy thương mại quốc tế hợp pháp. Trong khi một số người cho rằng những nỗ lực thiết lập các khu kinh tế đặc biệt và điều chỉnh tiền tệ thể hiện thiện chí thực sự trong việc đón nhận cải cách kinh tế, thì những chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế này vẫn chưa tạo ra tác động đáng kể nào đến cuộc sống hàng ngày.”

Tuy nhiên, các bằng chứng không chính thức tiếp tục được tích lũy, cho thấy bước đột phá đã kết liễu sức kháng cự ngoan cố của chế độ đối với những thay đổi lớn. Ít nhất, Triều Tiên đang thể hiện thiếu vắng sự nhộn nhịp mà tôi đã chứng kiến ở Trung Quốc trong những thập kỷ trước. Một học giả Nga đã đến thăm Triều Tiên vào tháng 7 năm 2003 và nhận thấy ánh đèn ở Bình Nhưỡng sáng rực rỡ hơn, nơi hệ thống điện đã được sửa chữa và đang được hiện đại hóa với sự hỗ trợ của Thụy Điển. Điện thoại di động được sử dụng rộng rãi ở thủ đô, nơi bắt đầu gặp phải những vấn đề an toàn dễ đoán trước do người dân vừa lái xe hoặc đạp xe vừa chát chít. Xe đạp với số lượng lớn là một đặc điểm tương đối mới của cảnh quan đô thị; tôi đã thấy rất ít trong các chuyến thăm của mình bắt đầu từ năm 1979. Điều đáng chú ý là, “mọi người đã sử dụng từ ‘cải tổ’ mà không hề ngần ngại,” người Nga nói. Do thế hệ cũ nhạy cảm với một từ ngữ gắn liền mật thiết với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản Liên Xô và Đông Âu, người Triều Tiên cho đến năm trước đó vẫn trung thành với cụm từ uyển chuyển hơn “các biện pháp quốc gia”. Khi đi thị sát bên ngoài Bình Nhưỡng, người Nga đã tìm thấy bằng chứng cho thấy “tình hình kinh tế tổng thể đang dần được cải thiện và cuộc cải cách kinh tế đang được tiếp tục thực hiện bất chấp ‘khủng hoảng hạt nhân’,” trong khi tình hình nội bộ đã ổn định.”

Việc chế độ có thực sự nghiêm túc trong cải cách hay không lại là một câu hỏi hoàn toàn khác so với việc liệu các cuộc cải cách có thành công hay không. Về vấn đề thứ hai, bằng chứng khá mâu thuẫn. Một quan chức của tổ chức viện trợ Công giáo Caritas, người đã đến thăm Triều Tiên vào tháng 8 và tháng 9 năm 2003, đã thấy khói bốc lên từ các ống khói nhà máy và các công trình xây dựng nhà ở đang được tiến hành. Bà gặp ít sự cố mất điện hơn trước. “Các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp gia đình hoặc các hợp tác xã nhỏ đang cung cấp các dịch vụ hoặc sản xuất hàng hóa (sửa chữa xe đạp, vận chuyển gỗ, mua bán và trao đổi nông sản và hàng tiêu dùng). Một quá trình “từ dưới lên” dường như đã bắt đầu; động lực phát triển mạnh mẽ hơn khi người dân phải tự xoay xở. Những người lao động thiếu việc làm hoặc thất nghiệp đang tích cực tìm kiếm các chiến lược ứng phó khác nhau.

Bà nhận thấy các vườn bếp của các gia đình nông dân đã cung cấp một “mạng lưới hỗ trợ cho người thân không có đất canh tác.” Những khu vườn cá nhân có nghĩa là thêm thu nhập cho nông dân, ngoài công việc đồng áng thường xuyên, được trả công chủ yếu bằng lương thực. Ngô và gạo vẫn là cây trồng chính, nhưng “kể từ khi bắt đầu quá trình cải cách kinh tế, các quản lý nông trường hợp tác xã có xu hướng tự do hơn trong việc trồng trọt. Hiện nay, các cây trồng thương mại như thuốc lá, vừng, dâu tằm, trái cây và rau quả đã được đưa vào sử dụng rộng rãi.” Những cây trồng này “không chỉ mang lại cho nông dân thu nhập cao hơn mà còn giúp họ tiếp cận nhiên liệu diesel và các vật tư nông nghiệp khác cần ngoại tệ. Chợ nông sản đã phát triển thành các chợ tổng hợp bán nhiều loại hàng tiêu dùng và các khu chợ truyền thống đang được phát triển trên khắp cả nước.” Giá cả, mặc dù được giữ trong giới hạn nhất định, vẫn biến động theo cung và cầu.

Nhân viên cứu trợ đó đã nhìn thấy cả mặt tích cực và tiêu cực trong những gì bà quan sát được trong các chuyến đi của mình. “Sự an toàn từ lúc sinh ra đến khi chết đã biến mất,” bà nói. “Lần đầu tiên, mỗi cá nhân được trao nhiều trách nhiệm hơn và do đó cảm thấy mình làm chủ được vận mệnh của chính mình. Điều này đã giải phóng năng lực, nhưng đồng thời cũng làm tăng nhu cầu hỗ trợ những người gặp khó khăn trong việc thích ứng với những thay đổi này. Số người giàu và người nghèo đang lớn dần ; các gia đình có xu hướng chi từ 50% đến 80% thu nhập gia đình cho thực phẩm.” Bà cảnh báo rằng nền kinh tế đang “đứng thăng bằng trên lưỡi dao” và cần sự giúp đỡ quốc tế nếu muốn các cải cách thành công: “Sự chú ý của cộng đồng quốc tế đang tập trung vào cuộc khủng hoảng hạt nhân, bỏ qua – sau nhiều năm kêu gọi cải cách và thay đổi – thực tế là giới lãnh đạo CHDC Triều Tiên hiện đang nỗ lực xây dựng các chính sách cải cách kinh tế và mở cửa.” Tổ chức của bà không kỳ vọng kết quả sẽ đến nhanh chóng, “vì sự thay đổi thực sự phải đến từ bên trong”. Nhưng bà nhấn mạnh rằng “Việc mở cửa nền kinh tế chỉ có thể thành công nếu cộng đồng quốc tế sẵn lòng giúp đỡ.”

Tháng 9 năm 2003, Pak Pong-ju, người từng là bộ trưởng công nghiệp hóa chất và là thành viên của phái đoàn nghiên cứu cấp cao đến thăm Seoul năm trước đó, đã nhậm chức Thủ tướng Triều Tiên, vị trí cao nhất điều hành nền kinh tế trong nước. Trong khi đó, việc điều chỉnh các biện pháp kinh tế mới vẫn tiếp tục được tiến hành. Việc phá giá ban đầu năm 2002 của tỷ giá won không đủ để thu hút người dân đến các điểm đổi tiền chính thức. Vào mùa hè năm 2003, tỷ giá được cho là đã được điều chỉnh để phù hợp với tỷ giá chợ đen.

Cuối tháng 9 năm 2003, Bình Nhưỡng ban hành các quy định về thuế và lao động được xem là thực tế cho một khu công nghiệp mới dự kiến ​​xây dựng tại Kaesong, kinh đô cũ gần biên giới Hàn Quốc. Mức lương tối thiểu ở đó được ấn định là 50 đô la một tháng cộng với gói bảo hiểm xã hội được tính bằng 15% tiền lương. Các doanh nghiệp được thành lập trong khu công nghiệp này sẽ được hưởng lợi từ các quy định đó. Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào khu công nghiệp sẽ phải nộp 14% lợi nhuận dưới dạng thuế doanh thu. (Tuy nhiên, một số thành viên còn lại của gia đình sáng lập Hyundai, vốn đã đầu tư vào cả dự án phát triển núi Kumgang và khu công nghiệp Kaesong, đang trở nên nản lòng vì thiếu lợi nhuận từ các khoản đầu tư. Các quy định khác được công bố sau đó trong năm bao gồm lệnh cấm nhập cảnh vào lãnh thổ đối với “những kẻ khủng bố quốc tế, người nghiện ma túy, người điên”. Khi các quy định về Kaesong đang được ban hành, bộ trưởng thống nhất miền Nam gọi những nỗ lực cải cách của Triều Tiên là “có ý nghĩa”. Ông nói thêm rằng các quan chức Bình Nhưỡng đã giải thích với các đối tác phía Nam rằng họ đang tuân theo một chỉ thị vủa Kim Il-sung đã bị phớt lờ trước đây, đó là nghiên cứu hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Chính quyền đã thông báo sẽ cấp phép cho một công ty kế toán nước ngoài và một công ty luật nước ngoài thành lập chi nhánh tại Bình Nhưỡng, và tiến hành sáp nhập một số ngân hàng mất khả năng thanh toán. Một số nhà đầu tư châu Âu cho biết họ sẽ thành lập một công ty vốn tại Bình Nhưỡng, tư vấn về việc tái cấu trúc hệ thống tài chính – có thể khởi đầuq là hệ thống thanh toán thẻ tín dụng và mở thị trường trái phiếu – và khuyến khích đầu tư nước ngoài. Vào tháng 1 năm 2004, Phòng Thương mại Liên minh Châu Âu tại Seoul đã mở một văn phòng vệ tinh hai người tại Bình Nhưỡng.

Bình Nhưỡng đã hình dung một cú hích lớn vào ngành công nghệ thông tin để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Năm 2003, nước này chuyển trọng tâm từ phát triển phần mềm sang điện thoại, Internet và phần cứng. Họ đã có thể tuyên bố rằng trong vòng một năm, số lượng thuê bao điện thoại di động tăng gần gấp bảy lần, lên 20.000 người. Năng lực sản xuất phần cứng của nước này đã tăng lên 135.000 máy tính và 100.000 màn hình mỗi năm. Kế hoạch bao gồm việc cung cấp đường dây điện thoại cố định đến mọi hộ gia đình Triều Tiên trong vòng 5 năm. Nhưng đất nước này phải đối mặt với tình trạng thiếu tiền mặt nghiêm trọng, đe dọa tất cả các dự án đầy tham vọng của họ. Một quan chức Triều Tiên nhận định vào cuối năm 2003 rằng việc mở rộng hợp tác quốc tế – hiểu là “chuyển giao công nghệ” – sẽ giúp mọi việc tiến triển. Các quan chức Hàn Quốc, tuy nhiên, cảnh báo rằng mức độ tiến bộ sẽ phụ thuộc vào việc liệu vấn đề vũ khí hạt nhân có thể được giải quyết hay không.

Lý thuyết của chính phủ Hàn Quốc là chính cảm nhận dễ bị tổn thương đã thúc đẩy Bình Nhưỡng chế tạo vũ khí hạt nhân. Chắc chắn đó không phải là một trường hợp hoang tưởng khó hiểu nào đó khiến Kim Jong-il và các cộng sự lo lắng rằng họ có thể bị tấn công. Chuyên gia kiểm soát vũ khí Peter Hayes cho biết người Triều Tiên đã “nhìn vào nòng các vũ khí hạt nhân của Mỹ trong nhiều thập kỷ. Thật vậy, đó là một phần lớn lý giải tại sao họ lại xây dựng một xã hội dưới lòng đất.”

Năm 1998, nhà báo Richard Halloran đưa tin rằng lực lượng Hoa Kỳ và Hàn Quốc đã thay thế kế hoạch chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên. Kế hoạch cũ chỉ đơn giản là đẩy lùi bất kỳ cuộc xâm lược nào của Triều Tiên vào miền Nam, đẩy lùi lực lượng Triều Tiên về phía sau Khu phi quân sự. Kế hoạch mới tham vọng hơn nhiều, và bao gồm khả năng tấn công phủ đầu nếu tổng thống Hoa Kỳ và Hàn Quốc đồng ý rằng chiến tranh sắp xảy ra. Người Mỹ và người Hàn Quốc sẽ xâm lược Triều Tiên để chiếm Bình Nhưỡng, tiêu diệt chế độ và quân đội của nó, và đặt đất nước này dưới sự kiểm soát của Hàn Quốc. Halloran dẫn lời một quan chức cấp cao của Mỹ nói rằng, “Khi chúng ta hoàn thành, họ sẽ không thể tiến hành bất kỳ hoạt động quân sự nào nữa. Chúng ta sẽ giết hết bọn chúng.” Một sĩ quan nói với Halloran rằng kế hoạch này nhằm đáp ứng những lo ngại rằng người Triều Tiên, khi cân nhắc bằng chứng cho thấy lực lượng mình đang suy yếu, có thể quyết định rằng họ phải “sử dụng nó hoặc mất nó.”

Kế hoạch mới và những lời lẽ cứng rắn đi kèm rõ ràng có thể khiến Kim Jong-il tỉnh ngộ và có lẽ có thể ngăn cản ông ta khỏi bất kỳ cuộc phiêu lưu nào như vậy. Không nghi ngờ gì nữa, đó là một phần của ý định. Năm 2003, Halloran đã báo cáo thêm chi tiết về cái được gọi chính thức là Kế hoạch Chiến dịch 5027. Ông viết: “Người ta tin rằng Triều Tiên biết được những nét chính của kế hoạch 5027”, cho thấy rằng kế hoạch này là “một yếu tố trong những lời đe dọa mới nhất của Triều Tiên và mong muốn của nước này về một hiệp ước không xâm lược với Hoa Kỳ.”

Trong khi quân đội Hàn Quốc hợp tác với Lầu Năm Góc về kế hoạch mới, các quan chức dân sự ở Seoul lại theo đuổi một hướng đi khác. Họ tin rằng việc chuyển đổi thành công sang nền kinh tế phụ thuộc lẫn nhau với thế giới bên ngoài sẽ làm giảm bớt cảm giác bất an của Bình Nhưỡng (cũng như tình trạng thiếu ngoại tệ) và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vấn đề vũ khí hủy diệt hàng loạt. Thật vậy, Bộ trưởng Thống nhất Hàn Quốc vào tháng 10 năm 2003 đã đồng ý với tuyên bố của Bình Nhưỡng rằng chính sách “ưu tiên quân sự” của Kim Jong-il thực chất có thể được xem như một phần nỗ lực nhằm làm cho nền kinh tế hiệu quả hơn.  Làm thế nào trên đời lại lại có chuyện đó được ? Học giả người Đức Ruediger Frank đã giải thích điều đó trong một luận văn đầy tính khiêu khích. Frank nói rằng chính sách “quân sự trên hết” đang loại bỏ một cách có hệ thống các yếu tố xã hội chủ nghĩa trong hệ tư tưởng của đất nước, trong khi vẫn giữ nguyên các yếu tố dân tộc chủ nghĩa. Ông trích dẫn tờ báo của đảng Nodong Shinmun ngày 21 tháng 3 năm 2003 rằng chính sách này – hiện được gọi là “hệ tư tưởng quân sự là trên hết” – đã nâng giới quân đội lên trên giai cấp công nhân. Điều đó rõ ràng có nghĩa là vứt bỏ Tuyên ngôn Cộng sản của Karl Marx vào giữa thế kỷ 19 như tờ báo đã chỉ ra trong bài báo ngày 3 tháng 4: “Trước đây, việc đề cao giai cấp công nhân được coi là công thức bất khả xâm phạm trong chính trị xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, lý thuyết và công thức được hình thành cách đây một thế kỷ rưỡi không thể áp dụng vào thực tế ngày nay.”

Frank lập luận rằng việc xác định địa vị của người dân dựa trên mối quan hệ của họ với quân đội thay vì giai cấp kinh tế sẽ cho phép hợp thức hóa tầng lớp “quý tộc đỏ” mới nổi ở Triều Tiên. Lập luận này khá thú vị. Xét cho cùng, như Chương 33 của cuốn sách này đã làm rõ rằng, nhiều thương nhân mới nổi lên từ quân đội và khá nhiều công ty của họ có liên hệ với quân đội hoặc các tổ chức quân sự khác như vệ sĩ và cảnh sát. Việc ra sắc lệnh rằng phần còn lại của các doanh nghiệp thuộc về tổ hợp công nghiệp quân sự có thể là một vấn đề tương đối nhỏ. Trong bất kỳ trường hợp nào, như Frank đã viết, Kim Jong-il sẽ không cần phải “ép buộc nhóm doanh nhân, những người ắt hẳn sẽ nổi lên như một kết quả của các cuộc cải cách kinh tế thành công, vào một khuôn khổ ý thức hệ, nặng tính tuyên truyền, rõ ràng lỗi thời.”

Kim Jong-Il đã thể hiện “tầm nhìn phi thường khi giải quyết vấn đề này ngay từ giai đoạn đầu của cải cách kinh tế”, học giả này viết. “Giai cấp công nhân mất đi vị thế là nhóm lãnh đạo trong xã hội Triều Tiên. Không có giai cấp công nhân, điều gì sẽ xảy ra với chủ nghĩa xã hội và giai đoạn cuối cùng của nó, chủ nghĩa cộng sản? Rất đơn giản: chúng sẽ biến mất, mặc dù điều này chưa được thừa nhận công khai ở Triều Tiên.” Vậy điều gì thay thế? “Cũng có một câu trả lời đơn giản cho điều đó, và chúng ta gọi đó là chủ nghĩa dân tộc, hay còn gọi là chủ nghĩa Juche,” Frank viết. “Quá trình chuyển đổi sẽ diễn ra suôn sẻ, bởi vì ngay từ khi được giới thiệu vào năm 1955, chủ nghĩa Juche đã bắt đầu dần dần thay thế chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô ở Triều Tiên.”

Frank đã đúng khi nói rằng chủ nghĩa dân tộc nên được xem là cốt lõi của tư tưởng Juche. Tự lực cánh sinh của Triều Tiên chỉ là một thành phần và, như chúng ta đã thấy từ buổi nói chuyện của Kim Jong-il với các quan chức Chongryon vào năm 1998, Lãnh tụ kính yêu đã tin rằng yếu tố tự lực cánh sinh đã bị nhấn mạnh quá mức, gây tổn hại cho nền kinh tế.

Còn nhiều điều nữa về cách phân tích của Frank về cách thức chính sách “ưu tiên quân sự” phù hợp với cải cách kinh tế. Quân đội muốn có vũ khí hiện đại, nhưng đất nước không đủ khả năng chi trả. “Tiền từ đâu ra? Từ cải cách kinh tế.”

 

Đến đầu năm 2004, sự tích lũy các biện pháp về tư tưởng và thực tiễn đã đạt đến một mức độ quan trọng, thuyết phục khá nhiều người hoài nghi lâu năm rằng Kim Jong-il có lẽ thực sự nghiêm túc về việc thay đổi. Mặc dù tôi chưa nhận được giấy phép đến thăm đất nước này kể từ năm 2000, nhưng một thống kê về những gì người khác đã tìm thấy cuối cùng đã thuyết phục được tôi. Nhà báo Hideko Takayama đã nghe kể từ một nhà đầu tư Nhật Bản, người gần đây đã nhiều lần khẩn cầu đối tác liên doanh Triều Tiên của mình tắt những thông báo tuyên truyền liên tục phát ra từ nhà máy chế biến hải sản của họ. Thay vì từ chối một cách hậm hực như trước, đối tác đã tắt loa. Ông giải thích rằng, “Chính trị giờ đây tách biệt với kinh tế.” Trong khi đó, Newsweek International đưa tin, các băng video phim truyền hình nhiều tập Hàn Quốc đang được bày bán tại các chợ của Triều Tiên và Pyeonghwa Motors đã thuê không gian quảng cáo trên bảng hiệu ở thủ đô để quảng cáo mẫu xe sedan Fiat sản xuất trong nước của họ, xe hiệu Huiparam.

Học giả John W. Lewis của Đại học Stanford (người mà tôi đã tham dự các bài giảng về kiểm soát vũ khí năm 1983) đã nhận thấy những thay đổi “đáng kể” trong chuyến thăm thứ chín của ông đến đất nước này kể từ năm 1987. “Điều gây sốc thực sự là sự bùng nổ mạnh mẽ của thị trường bán tư nhân ở Bình Nhưỡng, nơi người mua tiềm năng có thể tìm thấy số lượng lớn thịt, rau quả cũng như đồ kim khí, đồ nội thất và quần áo,” Lewis báo cáo. “Một nền kinh tế thị trường, dù hạn chế đến đâu, đã đến miền Bắc.”

Trong nhiều năm, chế độ này đã kịch liệt từ chối cam kết với mô hình của Trung Quốc hay bất kỳ quốc gia cộng sản nào khác đã thay đổi hướng đi. Tuy nhiên, cuối cùng, theo báo cáo của Newsweek International, một số quan chức đã thừa nhận với các đối tác Hàn Quốc rằng mô hình của họ là thí nghiệm của Hungary vào những năm 1970 trong việc kết hợp các biện pháp thị trường vào cấu trúc kế hoạch nhà nước cơ bản. Thật vậy, nhiều biện pháp được áp dụng ở Triều Tiên từ năm 1998 đến năm 2004 tương tự như “chủ nghĩa cộng sản goulash (món thịt hầm Hung)” của Hungary, như nó đã từng được gọi như vậy vào thời điểm đó vì sự pha trộn giống như món hầm giữa các biện pháp kế hoạch hóa thị trường và kế hoạch hóa tập trung.

Ở một mức độ mà việc gọi tên mô hình này đã trả lời cho câu hỏi liệu Bình Nhưỡng có đang cân nhắc một nền kinh tế thị trường nào đó hay không, thì tin tức này khá đáng khích lệ. Tuy nhiên, Hungary những năm 1970 dường như là một mô hình kỳ lạ mà Bình Nhưỡng đã chọn. Đã có nhiều vấn đề với các cuộc cải cách của Hungary trong giai đoạn đó. Bộ máy quan liêu lâu đời đã trì trệ, buộc phải đảo ngược các quyết định cải cách. Nhiều biện pháp mới đã bị trì hoãn cho đến khi làn sóng cải cách thứ hai bắt đầu vào năm 1978. Có lẽ một nỗ lực để tránh cái bẫy đó là đằng sau mệnh lệnh được cho là của Kim Jong-il nhằm thu nhỏ bộ máy quan liêu đảng và nhà nước Triều Tiên – với mức giảm đáng kinh ngạc lên tới 30 phần trăm. (Tất nhiên, nền kinh tế Hungary cần những thay đổi mạnh mẽ hơn nữa, bắt đầu từ năm 1989-90 khi rút lui hoàn toàn khỏi chủ nghĩa cộng sản.)

Trung Quốc và Việt Nam thường được các nhà kinh tế học nước ngoài chọn làm hình mẫu. Nhưng nhà kinh tế học Marcus Noland nhận xét rằng cả hai quốc gia châu Á này đều sẽ không phù hợp vì cả hai đều bắt đầu quá trình này chủ yếu với tư cách là các nền kinh tế nông thôn, có khả năng sử dụng việc hợp lý hóa nền nông nghiệp kém hiệu quả để thúc đẩy phát triển công nghiệp. Triều Tiên, giống như Hungary, bắt đầu cải cách khi đã là một quốc gia công nghiệp hóa. Để giải phóng đủ lao động dư thừa nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho tất cả các doanh nghiệp phi nhà nước mới mà Bình Nhưỡng muốn xây dựng, cần phải thu hẹp quy mô không chỉ bộ máy hành chính mà còn cả quân đội cồng kềnh. Lợi ích hòa bình đó sẽ có được nếu Triều Tiên có thể chấm dứt tình trạng đối đầu quân sự với Hoa Kỳ và Hàn Quốc – hoặc, như Kim Jong-il rõ ràng đã tính toán theo một cách khác, nếu nước này xây dựng kho vũ khí hạt nhân của mình thành một lực lượng răn đe đủ mạnh để bù đắp cho việc cắt giảm lực lượng quân sự thông thường.

Nếu tìm hiểu sâu hơn về lý do lựa chọn mô hình Hungary, chúng ta có thể đoán rằng ít nhất một nhà hoạch định chính sách cấp cao của Triều Tiên là cựu sinh viên của một trường đại học Hungary. Chúng ta cũng có thể suy đoán rằng mô hình Hungary ở một mức độ nào đó được đại diện cho một mô hình thực tế gần gũi hơn, một mô hình không thể công khai danh tính mà qua đó không dán nhãn là dối trá đối với những lời tuyên truyền đã tuôn ra như suối từ Bình Nhưỡng trong nhiều thập kỷ. Hàn Quốc, trong thời kỳ độc tài quân sự những năm 1970 và 1980, đã rất thành công trong việc kết hợp kế hoạch hóa tập trung quy mô lớn với các quyết định thị trường.

 

Mặc dù thừa nhận rằng Kim Jong-il đã dành phần lớn sự nghiệp của mình để đàn áp những  Đặng Tiểu Bình tiềm năng muốn trồi lên, các quan chức Hàn Quốc rõ ràng tin rằng không ai là không thể cứu vãn. Một Kim Jong-il được tái sinh về mặt tư tưởng có thể được xem như một Đặng Tiểu Bình triển vọng cho đất nước mình nếu ông nhận được sự khích lệ đúng đắn. Vì vậy, Hàn Quốc đã cố gắng giúp đỡ, mặc dù vẫn còn thận trọng. Hàn Quốc đang vượt qua Nhật Bản và Trung Quốc về giá trị tổng nhập khẩu từ Triều Tiên. Nhập khẩu của Hàn Quốc từ Triều Tiên trong mười tháng đầu năm 2003 đã tăng gần 30% so với cùng kỳ năm trước..Các kế hoạch đang được tiến hành để xây dựng lại đường bộ và đường sắt xuyên biên giới.

 

Nếu Kim Jong-il thực sự nghiêm túc về việc thay đổi đường lối, thì điều gì có thể giải thích tại sao điều đó lại xảy ra vào thời điểm này? Thời điểm cụ thể đó là khi nào và tại sao ông ấy lại mất nhiều thời gian đến vậy? Nhiều yếu tố đã được thảo luận ở trên. Những yếu tố khác được tóm tắt trong bảng dưới đây. So sánh giữa quá khứ và hiện tại của tôi cho thấy rằng ngay cả khi Kim Jong-il muốn cải cách đất nước sớm hơn, thì đất nước có thể chưa sẵn sàng và các điều kiện khác cũng không thuận lợi.

Liệu suy luận đó có phù hợp với những gì chúng ta tưởng chừng đã biết về Kim Jong-il? Phải chăng ông ta đã chờ đợi hàng thập kỷ, dự định đóng vai trò nhà cải cách ngay khi điều kiện cho phép?

Những bằng chứng hiện có cho thấy rằng từ thời sinh viên những năm 1950 đến những năm 1980 và đầu những năm 1990, Kim Jong-Il – nếu không phải lúc nào cũng là người phản đối thực lòng việc thay đổi đáng kể hệ thống mà cha ông đã xây dựng – cùng lắm từng là một người theo chủ nghĩa cơ hội thận trọng. Nếu giờ đây ông ấy đã sẵn sàng cho những thay đổi sâu rộng, tôi nghĩ, đó là do những hoàn cảnh áp đảo – nhiều trong số đó là những hoàn cảnh tương tự đã làm thay đổi suy nghĩ của những người khác được nuôi dưỡng ở Triều Tiên, để trở thành kẻ tin tưởng thực sự.

NHỮNG THAY ĐỔI VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ THỂ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRIỂN VỌNG CẢI CÁCH HỆ THỐNG

Đầu đến giữa những năm 1990 Từ năm 1998 đến đầu năm 2004

 

Hàn Quốc khi đó vẫn do những người theo đường lối cứng rắn lãnh đạo, những người đã ngừng hợp tác kinh tế sau cuộc khủng hoảng hạt nhân đầu tiên. Theo chính sách “ánh dương”, Hàn Quốc tiếp tục đàm phán về hợp tác kinh tế trong khi cuộc khủng hoảng hạt nhân thứ hai đang diễn ra ác liệt.

 

Nhiều người ở miền Bắc vẫn tin rằng việc giành chiến thắng bằng vũ lực trước miền Nam là điều khả thi; thanh niên tham gia một phong trào quần chúng tình nguyện gia nhập quân đội để chuẩn bị cho sự thống nhất năm 1995. Tình trạng suy giảm tương đối về sức mạnh quân sự, điều mà các quan chức cấp cao đều biết, vẫn tiếp diễn; tinh thần của những người lính đói khát đã sa sút khi năm 1995 trôi qua mà vẫn chưa có sự thống nhất đất nước.

 

Kim Jong-il, người vẫn bị coi là yếu thế, đang củng cố quyền lực của mình bằng cách tập trung vào việc giành được sự ủng hộ của quân đội trong khi giao quyền giám sát kinh tế cho cấp dưới. Sau khi củng cố vững chắc vị thế nhà độc tài quân sự, Kim Jong-Il đã chứng minh được sức mạnh bền bỉ của mình và chuyển sự chú ý sang nền kinh tế; ba nhà lãnh đạo quân sự đã cùng ông tham gia chuyến đi Trung Quốc năm 2001.
Đất nước chìm trong hỗn loạn sau cái chết của Kim Il-sung (ngay khi ông bắt đầu quan tâm đến những thay đổi lớn), rồi sau đó là lũ lụt và nạn đói. Sau khi nạn đói tồi tệ nhất (và thời kỳ để tang ba năm theo truyền thống) qua đi, nền kinh tế đang dần phục hồi.

 

Shin Kanemaru, người đứng đầu phe ủng hộ việc bồi thường cho Triều Tiên, đã mất ảnh hưởng trong chính trường Nhật Bản vào năm 1993. Vụ phóng tên lửa của Triều Tiên qua Nhật Bản năm 1998 đã tạo cho Tokyo một lý do dài hạn mới để cân nhắc việc mua chuộc một mối quan hệ tốt đẹp hơn.
Saddam Hussein đã đưa ra một hình mẫu: làm theo ý mình và coi thường Hoa Kỳ. Người dân Triều Tiên sống cô lập và bài ngoại nên chưa sẵn sàng giao tiếp với người nước ngoài.
Saddam Hussein bị bắt giữ vào tháng 12 năm 2003 trong một “hang nhện”. Việc tiếp xúc với các nhà tài trợ nước ngoài đã làm thay đổi một số thái độ.
Hầu hết người dân Triều Tiên đều tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội, kỳ vọng vào một “bát cơm sắt” và ngoan ngoãn chấp nhận sự kiểm soát cực đoan của chế độ đối với cuộc sống của họ. Nhiều người đã cố gắng hết sức để noi theo tính cách “con người mới” cộng sản chủ nghĩa, coi sự tính toán là điều xấu xa. Do thiếu lương thực để phân phối, chính phủ đã nới lỏng nhiều hạn chế về đi lại cá nhân và người dân đã học cách tự lo liệu cho bản thân. Cuộc đấu tranh sinh tồn khốc liệt đòi hỏi họ phải thay thế đạo đức tập thể bằng lợi ích cá nhân trần trụi, vốn là động lực thúc đẩy nền kinh tế thị trường.
Đội ngũ nhân sự thiếu trình độ đào tạo và kinh nghiệm để vận hành một nền kinh tế định hướng thị trường. Các thương nhân và doanh nhân đã xuất hiện; giới trẻ theo học kinh doanh ở phương Tây.

 

 

Một giả thuyết khác có thể được rút ra từ những dữ kiện được tóm tắt trong bảng. Nếu sự thay đổi hạn chế ở Hungary những năm 1970 là mô hình thực sự,  thì những hoàn cảnh tương tự đó hẳn có khuynh hướng buộc các nhà quản lý kinh tế Triều Tiên di chuyển xa hơn – giống như tình hình của các nhà hoạch định chính sách Hungary. Nhưng vẫn còn đó nguy cơ là ngay cả khi Kim cuối cùng đã quyết định cải cách một cách triệt để, quyết định đó không nhất thiết sẽ dẫn đến cải cách thành công và các chính sách mới có thể bị đảo ngược. Marcus Noland cảnh báo rằng những nỗ lực cải cách cuối cùng có thể “tạo ra những thay đổi xã hội không thể kiểm soát được.”

Tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng đến mức từ “khan hiếm” cũng không thể lột tả hết được những nguồn lực cần có để thực hiện các cải cách đã được phê chuẩn. Chính quyền đã phải vật lộn vô cùng vất vả chỉ để nuôi sống dân chúng. Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hợp Quốc đã thông báo rằng họ sẽ phải tạm ngừng viện trợ lương thực vào tháng 2 và tháng 3 năm 2004, ngoại trừ cho khoảng 80.000 phụ nữ mang thai và cho con bú cũng như trẻ em ở các trung tâm giữ trẻ ban ngày.

Doanh thu được cải thiện cho các doanh nghiệp Triều Tiên chỉ đến sau một thời gian họ chi tiêu nhiều hơn trước đây do lạm phát do chính phủ quy định. Ruediger Frank lưu ý rằng điều này tạo ra một khoảng cách nghiêm trọng, “cần phải được lấp đầy bằng các khoản vay. Nếu không có các khoản vay, các doanh nghiệp về mặt kỹ thuật sẽ phá sản và không thể thanh toán các hóa đơn và tiền lương.” Nhưng vì tình trạng phá sản, thất nghiệp là “không thể chấp nhận được đối với một quốc gia như CHDC Triều Tiên, các doanh nghiệp này sẽ được đưa trở lại dưới sự quản lý của hệ thống phân phối do nhà nước điều hành, điều này trên thực tế sẽ dẫn đến sự thất bại của các cuộc cải cách kinh tế và rất có thể là sự kết thúc của chúng.”

Tiền sẽ đến từ đâu? Giống như Hoa Kỳ, Hàn Quốc cũng đang trải qua giai đoạn phục hồi kinh tế do thất nghiệp, một lý do để chi tiêu nguồn vốn sẵn có trong nước. Và ngay cả khi Seoul tiếp tục tham vấn với Bình Nhưỡng tại các cuộc họp cấp bộ trưởng, nhiều biện pháp hợp tác thực tế và dự kiến ​​của họ đã bị tạm dừng cho đến khi tranh chấp hạt nhân được giải quyết. Bực bội vì Seoul bắt tay với Washington để gây áp lực, các quan chức Bình Nhưỡng đã nói một cách khá liều lĩnh về việc có thể đóng cửa các tour du lịch của Hyundai đến núi Kumgang.

Trong khi đó, dư luận Nhật Bản lại càng phẫn nộ về vấn đề dân Nhật bị Triều Tiên bắt cóc nhiều hơn về mối đe dọa vũ khí hạt nhân. Lời thú nhận của Kim Jong-Il với Thủ tướng Junichiro Koizumi năm 2002 rằng Triều Tiên thực sự đã bắt cóc 13 người và việc 8 người trong số họ đã chết dường như nhằm mục đích khép lại vấn đề – nhưng lại gây ra tác dụng ngược lại. Mặc dù 5 người sống sót đã được trả về Nhật Bản, Tokyo vẫn yêu cầu tất cả các thành viên gia đình của họ cũng phải được thả để trở về Nhật Bản. Và họ muốn biết thêm nhiều thông tin hơn nữa về những người được cho là đã chết. Xét đến hồ sơ nhân quyền của chế độ Bình Nhưỡng, dường như việc họ không hoàn toàn hỗ trợ có thể xuất phát từ việc không muốn thừa nhận một số tội ác thậm chí còn tồi tệ hơn cả vụ bắt cóc – chẳng hạn giam cầm đến chết đói và chết trong các trại lao động cưỡng bức (gulag). Chẳng những không gửi tiền bồi thường, Quốc hội Nhật Bản vào đầu năm 2004 đã thông qua một dự luật cho phép chính phủ áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế nếu vấn đề bắt cóc không được giải quyết. Các biện pháp trừng phạt có thể là chặn kiều hối (chủ yếu từ các thành viên Chongryon) gửi về Triều Tiên và có thể ngăn chặn thương mại. Hãng thông tấn Trung ương Triều Tiên (KCNA) của Bình Nhưỡng đã lên án rằng lịch sử chưa bao giờ biết đến “một quốc gia không đáng tin cậy như Nhật Bản.”

 Những động thái cải cách kinh tế dường như hướng đến chính sách có thể dẫn đến giải quyết vấn đề hạt nhân. Đến đầu năm 2004, dường như Triều Tiên không còn mấy quan tâm đến việc duy trì là một quốc gia “xỏ lá”. Kim Jong-il muốn gia nhập hệ thống quốc tế và sẵn sàng từ bỏ vai trò của đất nước mình trong việc phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt để đổi lấy sự giúp đỡ cần thiết nhằm đạt được mục tiêu đó. Nếu ông ta và các đồng nghiệp quân sự có thể được thuyết phục rằng họ sẽ không bao giờ bị Hoa Kỳ hoặc Hàn Quốc tấn công, họ thậm chí có thể từ bỏ tên lửa tầm xa và bom nguyên tử trong kho dự trữ của họ.

Tuy nhiên, sự tin cậy và xác minh là những vấn đề lớn liên quan đến việc phổ biến vũ khí hạt nhân và đặc biệt là vấn đề kho vũ khí hiện có. Về điểm thứ hai, theo tôi, sẽ vô cùng khó để thuyết phục Bình Nhưỡng đủ tin tưởng Washington để từ bỏ “vũ khí răn đe” hạt nhân. Hiệp ước không xâm lược mà Kim Jong-Il theo đuổi có thể giúp ích trong vấn đề này. Bình Nhưỡng rõ ràng hy vọng đảng Dân chủ sẽ giành quyền kiểm soát chính phủ Mỹ. Tuy nhiên, Kim Jong-Il  có đủ kinh nghiệm khi đàm phán với Washington là khi làm việc với một tổng thống Dân chủ, ông ấy không khỏi lo lắng về sự đảo ngược chính sách khi đảng Cộng hòa lên nắm quyền trong tương lai, có thể khiến ông ấy một lần nữa trở thành tầm ngắm của Lầu Năm Góc.

Ai có thể thuyết phục ông ta rằng ông ta không có gì phải lo lắng về người Mỹ? Có lẽ Tổng thống Bush có thể. Có sự so sánh rõ ràng với chuyến thăm Trung Quốc năm 1972 của Richard Nixon, người nổi tiếng bài Cộng sản và chỉ trích Trung Quốc. Có lẽ chỉ một tổng thống Cộng hòa đã công khai căm ghét Kim Jong-il mới có thể lãnh đạo phe diều hâu Cộng hòa chấp nhận một sự thỏa hiệp với ông ta. Nhưng có những khác biệt lớn giữa hai trường hợp. Nixon đã không yêu cầu Trung Quốc từ bỏ khả năng răn đe tấn công. Và không nghi ngờ gì nữa, Trung Quốc đã rất vui mừng mỗi khi tên tuổi của họ được nhắc đến nhiều trong danh sách kẻ thù tiềm năng của Washington, bởi vì họ sở hữu vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí khác.

Bên cạnh việc không thể tin tưởng những lời hứa của Mỹ, Kim có lẽ còn có một động cơ khác để giữ lại vũ khí hạt nhân của mình. Bất kể khi nào Triều Tiên thống nhất, những vũ khí có thể biến một Triều Tiên thống nhất với 70 triệu dân trở thành thành viên của câu lạc bộ hạt nhân có thể giúp cân bằng các nguồn lực mà Bắc và Nam Triều Tiên mang đến bàn đàm phán – và cho phép Bình Nhưỡng có tiếng nói trong các thỏa thuận. Nếu không, cuộc đối đầu sẽ vô cùng bất cân xứng, trừ khi Triều Tiên trong thời gian đó tạo ra phép màu kinh tế của riêng mình.

Thay vì thúc đẩy sự thịnh vượng vượt bậc của miền Bắc, Washington lại áp đặt các biện pháp trừng phạt và theo đuổi các chính sách khác, mà kết quả là sẽ làm chậm lại sự phát triển kinh tế ở Triều Tiên. Một số nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng lớn nhận thấy rủi ro quá lớn trong hoàn cảnh đó để tiếp tục các dự án cơ sở hạ tầng khổng lồ mà họ đã cân nhắc.

 

Một số nhà quan sát tin rằng nhóm quyền lực xung quanh tổng thống Mỹ kỳ vọng vấn đề sẽ tự giải quyết nếu các cuộc đàm phán nghiêm túc bị trì hoãn đủ lâu. “Trong năm bầu cử, chính quyền Bush dường như không muốn yêu cầu Quốc hội phân bố ngân sách để đền bù cho hành vi xấu của Triều Tiên, và có vẻ như họ hài lòng với việc chờ đợi thời cơ, hy vọng Triều Tiên sẽ tự khắc sụp đổ,” nhà quan sát Bình Nhưỡng ở Washington Marcus Noland viết vào tháng 1 năm 2004. Noland đã chỉ trích những tính toán như vậy. Xét đến các đợt thúc đẩy kinh tế ngắn hạn do các cuộc cải cách mang lại, “xác suất thay đổi chế độ hiện nay không cao lắm, khoảng 5% trong bất kỳ năm nào,” ông lập luận. “Nếu Nhà Trắng muốn tìm cách thay đổi chế độ ở Triều Tiên, họ sẽ phải cho lịch sử một cú hích. Quốc gia này khó có thể sụp đổ trong điều kiện hiện tại.”

Một số người ở Washington rất mong muốn có thể tác động đến lịch sử và loại bỏ Kim Jong-il. Đã có những đề xuất khác nhau nhằm loại bỏ (theo cách phẫu thuật hoặc cách khác) Kim Jong-il, có lẽ cùng với gia đình và các cố vấn thân cận nhất của ông ta, giống như Saddam Hussein và những thuộc hạ Iraq khác đã được in trên bộ bài nổi tiếng đó (trong đó Ách Bích là Tổng thống Saddam Hussein,  Già Bích là Ali Hassan al-Majid, Cố vấn Tổng thống về vũ khí hóa học….). Hàn Quốc không sẵn sàng cho kế hoạch như vậy, lo ngại rằng ngay cả khi nó dẫn đến một chiến thắng tương đối dễ dàng trước Triều Tiên, gánh nặng tiếp nhận một nền kinh tế yếu kém và một xã hội kỳ lạ như vậy sẽ làm quá tải nguồn lực của miền Nam. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu người Triều Tiên có hành động bẩn thỉu là lật đổ Kim Jong-il và gia đình ông ta trong một cuộc đảo chính và thiết lập một chế độ độc tài quân sự chuyên chế ở Bình Nhưỡng, tương tự như chính phủ Park Chung-hee đã giúp Hàn Quốc phát triển nhanh chóng trong những năm 1960 và 1970?

Theo các nguồn tin rò rỉ, Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld và Thứ trưởng Quốc phòng Paul Wolfowitz ủng hộ việc thay đổi chế độ – dựa trên đánh giá tình báo rằng Bình Nhưỡng sẽ không bao giờ đàm phán để từ bỏ vũ khí hạt nhân. Một ý tưởng bị rò rỉ về cách tiến hành là “đạt được mục tiêu đó “nhờ giới quân sự Trung Quốc dẫn đầu bằng cách nói với các tướng lĩnh Triều Tiên rằng tương lai của họ sẽ u ám chừng nào Kim còn nắm quyền.” Sau đó, các tướng lĩnh Triều Tiên sẽ tiến hành một cuộc đảo chính chống lại Lãnh tụ kính yêu.

Kế hoạch như vậy gặp phải những vấn đề nghiêm trọng. Trước hết, ngay cả khi chỉ cần một số người thuộc Quân đội Nhân dân Triều Tiên (KRPA) bất mãn tiến hành đảo chính, thì khả năng thành công cũng rất thấp do gần như không thể xuyên thủng hệ thống an ninh kiên cố của Kim Jong-il. Có tin đồn về một âm mưu đảo chính năm 1995 do các phần tử thuộc Quân đoàn 6 của quân đội thực hiện (tin đồn mà Kim đã phủ nhận trong cuộc gặp với đoàn khách Chongryon 1998) đã bị dập tắt, mặc dù gặp một số khó khăn.

Ngoài ra, ai có thể thay thế Kim? Một nhà cải cách quân sự trẻ trung, tài giỏi thuộc thế hệ trẻ hơn, như Park Chung-hee khi ông lên nắm quyền ở Seoul năm 1961? Thật may mắn. Người đào thoát Hwang Jang-hyop từng nói rằng có một nhân vật ở Triều Tiên – ông từ chối nêu tên – có thể làm tốt công việc cai trị đất nước sau Kim. Nhưng những người có tiềm năng lãnh đạo tốt nhất không phải lúc nào cũng chiến thắng trong các cuộc đấu đá giành quyền lực. Đường lối cứng rắn là đặc trưng của những người mặc quân phục trên toàn thế giới, và người Triều Tiên đặc biệt ưu ái với vai trò “người cứng rắn”. Ngay cả khi một cuộc đảo chính thành công, nguy cơ rất cao là bất cứ ai lên nắm quyền cũng dễ trở thành một thủ lĩnh tồi tệ hơn – nguy hiểm hơn – cả Kim Jong-il. Tính tàn ác thường lấn át lòng nhân từ. Hãy nhớ lại tiền lệ đáng buồn ở Hàn Quốc năm 1979-1980. Người đứng đầu tình báo của Park Chung-hee đã ám sát ông – và sau đó là kẻ khát máu, tham nhũng và cực kỳ phản dân chủ Thiếu tướng Chun Doo-hwan, đã lên nắm quyền bằng một cuộc đảo chính của chính mình.

Có lẽ các quan chức Washington khi thực hiện cuộc thăm dò dư luận về một cuộc đảo chính ở Bình Nhưỡng đã không biết điều mà độc giả của chương 31 đã biết: Những thành phần có tư tưởng quốc tế tương đối trong quân đội Triều Tiên – những sĩ quan được đào tạo tại một học viện ở Nga, những người đã trở về nước và tìm cách thay đổi hệ thống Triều Tiên – đã bị thanh trừng vào năm 1992. Bằng chứng cho thấy các nhà cải cách có tầm nhìn còn sống sót sau cuộc thanh trừng đó và đang nắm giữ ảnh hưởng trong hàng ngũ sĩ quan cấp cao thật là hiếm hoi, nếu không muốn nói là không tồn tại. Trong nhiều năm, các nguồn tin nội bộ cho biết rằng giới quân sự là thế lực có ưu thế hơn trong các tranh chấp chính sách với giới cải cách dân sự. Ví dụ, vào năm 1995, một người đào thoát ưu tú đã công bố một biểu đồ chia 30 nhà lãnh đạo dân sự hàng đầu gần như đồng đều thành ba nhóm: cải cách, bảo thủ và “những kẻ cơ hội” (nhóm trung gian có phiếu bầu dao động, trong đó người đào thoát xếp Kim Jong-il). Một phần khác của biểu đồ, trong đó người đào thoát phân loại 11 vị tướng quân đội là diều hâu hoặc bồ câu, tuy nhiên lại mất cân bằng. Ông ta liệt kê chín con diều hâu và chỉ hai con bồ câu trong số những người đứng đầu.

Một người Mỹ gốc Hàn từng nhiều lần đến thăm Bình Nhưỡng khi còn là quan chức chính quyền Clinton đã cảnh báo rằng nếu chính quyền Bush thực sự nghiêm túc về việc thay đổi chế độ, “họ nên cẩn thận với những gì mình mong muốn”. Philip W. Yun viết vào năm 2003: “Các nhà lãnh đạo tương lai của Triều Tiên – hiện ở độ tuổi cuối 40 và 50 – bị cô lập hơn bao giờ hết so với thế hệ tiền nhiệm, và có khả năng rõ rệt là nhóm lãnh đạo này sẽ càng thù địch hơn với phương Tây.” Ông Yun từng là cố vấn cấp cao cho William Perry khi Perry còn là cố vấn đặc biệt cho tổng thống về chính sách đối với Triều Tiên. Ông kể về chuyến thăm năm 1999, khi chủ nhà là một đại tá cấp cao, tương đương với cấp bậc chuẩn tướng của Mỹ. “Một người đàn ông dữ dằn ở độ tuổi giữa 50, vị sĩ quan này đã nói rõ rằng sự hiện diện của ông ta không phải là do ông ta lựa chọn” và thể hiện “sự khinh miệt rõ rệt đối với toàn bộ nhóm chúng tôi,” Yun nhớ lại. “Thái độ khinh miệt của vị đại tá cấp cao đã chứng thực những câu chuyện tôi từng nghe về các sĩ quan quân đội và quan chức đảng Triều Tiên – ngay dưới cấp cao nhất – “hung hăng hơn cấp trên của họ. Đối với nhóm này, 50 năm nhào nắn chủ nghĩa cộng sản có thể đã phát triển thành một hình thức chủ nghĩa cực đoan, theo kiểu Triều Tiên – ý tưởng về một nước Triều Tiên thống nhất đã trở thành khát vọng thiêng liêng và xung đột vũ trang.”

Thật buồn khi nghĩ đến, có khả năng Kim Jong-il chính là người Triều Tiên có cơ hội thực tế nhất để thực hiện một hành động kiểu Park Chung-hee, một nhà độc tài biết cổ vũ cải cách kinh tế, hứa hẹn những thời kỳ tốt đẹp hơn cho người dân. Có lẽ may mắn như người ta dự đoán, Trung Quốc dường như dửng dưng với âm mưu giàu tưởng tượng của Lầu Năm Góc nhằm tiến hành một cuộc đảo chính quân sự chống lại Kim Jong-il.

Thay vì một cuộc đảo chính, ít nhất là vào thời điểm này, Washington đã đạt được sự đồng thuận về một chính sách trung dung, về cơ bản có nghĩa là vừa kiềm chế vừa đối thoại với Bình Nhưỡng, tạo cơ hội cho Kim Jong-il chứng minh rằng đàm phán có thể giải quyết được vấn đề. Hoặc như những người bi quan nhìn nhận, Kim sẽ được trao đủ dây thừng để tự thắt cổ bằng cách chứng minh rành rành cho các quốc gia thấy rằng đàm phán không thôi sẽ không đủ. Khi đó, Washington có thể làm tốt hơn trong việc tập hợp sự ủng hộ quốc tế cho một cách tiếp cận cứng rắn hơn so với những gì họ đã làm được đối với Iraq vào năm 2002-03. Các chuyên gia về Hàn Quốc Victor D. Cha và David C. Kang gọi chính sách đó là “đối thoại diều hâu”

Ông Kelly thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mô tả chính sách của Mỹ trong đó “Triều Tiên có cơ hội thay đổi con đường của mình. Như một số người Mỹ có thể nói, đây là cơ hội để chuộc lỗi… Với tình tương trợ quốc tế tiếp tục được duy trì, sẽ có lý do chính đáng để tin rằng Triều Tiên cuối cùng sẽ xem xét lại các giả định của mình và đảo ngược hướng đi.”

Nếu chính sách này diễn ra suôn sẻ, có lẽ người ta có thể hình dung ra một kết quả tương tự như thỏa thuận từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân của Libya năm 2004. Nhận thấy quyết tâm của Hoa Kỳ, Kim Jong-il có thể nhận ra rằng việc từ chối giải quyết triệt để mọi vấn đề sẽ dẫn đến sự cô lập hơn nữa, các biện pháp trừng phạt kinh tế và các biện pháp khác nhằm gây bất ổn hoặc tiêu diệt hoàn toàn chết độ của ông ta. Đến lúc đó, ông ta có thể quyết định đầu hàng, từ bỏ cả những vũ khí hạt nhân hiện có (nếu ông ta thực sự sở hữu; sự tồn tại của chúng chủ yếu chỉ là tin đồn và suy đoán) và chấp nhận rủi ro đổi lấy những đảm bảo mà Mỹ đưa ra. Nhưng việc tưởng tượng ra một kết quả như vậy đòi hỏi sự lạc quan đáng kể.

Đây là cách mà phó trưởng đoàn đại biểu Triều Tiên tại cuộc đàm phán sáu bên trình bày lập trường của nước mình: “Nếu Mỹ thay đổi căn bản chính sách thù địch đối với Triều Tiên, chúng tôi cũng sẽ từ bỏ khả năng răn đe hạt nhân của mình. Đó là chỉ khi nào một cơ chế an ninh pháp lý và có hệ thống đảm bảo rằng Mỹ sẽ không đe dọa chúng tôi được thiết lập, và một mức độ tin tưởng nhất định được xây dựng và chúng tôi không còn cảm thấy bị Mỹ đe dọa, thì chúng tôi mới có thể thảo luận với Mỹ về các vấn đề liên quan đến vũ khí hạt nhân mà chúng tôi đã chế tạo. Các tiêu chí để đánh giá rằng Mỹ đã từ bỏ chính sách thù địch đối với Triều Tiên như sau: Thứ nhất, cung cấp một cách đáng tin cậy cho chúng tôi một cam kết không xâm lược, tuyên bố rằng Mỹ sẽ không tấn công chúng tôi. Thứ hai, quan hệ ngoại giao giữa Triều Tiên và Hoa Kỳ được thiết lập. Thứ ba, Hoa Kỳ không được can thiệp vào các giao dịch kinh tế của Triều Tiên với Hàn Quốc và các quốc gia khác.

Cuộc đàm phán sáu bên tại Bắc Kinh vào tháng 2 năm 2004 hầu như không đạt được tiến triển đáng kể nào trong việc giải quyết các vấn đề. John Kerry, ứng cử viên tổng thống tiềm năng của đảng Dân chủ, phàn nàn rằng tiến trình “quá chậm và miễn cưỡng” vì chính quyền Bush từ chối tiếp tục các sáng kiến ​​của chính quyền Clinton và đàm phán trực tiếp với Bình Nhưỡng. Một số nhà phân tích cho rằng Bình Nhưỡng cũng đang trì hoãn giống như Washington, nhưng với hy vọng rằng Kerry sẽ đánh bại Bush trong cuộc bầu cử tổng thống sắp tới và thay đổi giọng điệu của cuộc đối đầu.

Bình Nhưỡng tỏ ra quan ngại khi vào tháng 3 năm 2004 Quốc hội Hàn Quốc luận tội Tổng thống Roh Moo-hyun với cáo buộc vi phạm luật bầu cử, bất tài và tham nhũng. Hàn Quốc đã nâng cao mức độ cảnh giác quân sự trong khi Triều Tiên tuyên bố đang thực hiện các bước để tăng cường “khả năng răn đe hạt nhân”. Trong hơn một năm cầm quyền, Roh đã tiếp tục chính sách “ánh dương” của người tiền nhiệm Kim Dae-jung. Các quan chức Triều Tiên lo ngại rằng phe bảo thủ cứng rắn do Mỹ xúi giục sắp nắm quyền ở Seoul và đảo ngược chính sách này. Cử tri Hàn Quốc đã bỏ phiếu ủng hộ ông Roh, mang lại chiến thắng lớn cho những người ủng hộ ông trong cuộc bầu cử Quốc hội hồi tháng Tư.

Bất kể điều gì đã xảy ra ở miền Nam, dường như không thể nào người Triều Tiên lại tin rằng Hoa Kỳ trong các phiên đàm phán kéo dài chỉ vài tuần hoặc vài tháng lại từ bỏ mọi thái độ thù địch với chế độ này. (Điều đó thể hiện mặt trái của việc Washington không đủ tin tưởng Bình Nhưỡng để từ bỏ thái độ thù địch.) Kelly đã đề cập đến điều đó bằng cách nói rằng Washington không nhất thiết mong đợi “giải quyết vấn đề hạt nhân trong vòng vài tuần hoặc thậm chí vài tháng,” nhưng sự kiên nhẫn trong giới chính trị ở Washington chắc chắn là không vô hạn.

Điều gì sẽ xảy ra nếu giai đoạn đối thoại theo kiểu “đối thoại diều hâu” không mang lại giải pháp? Bước tiếp theo sẽ là hành động diều hâu – những nỗ lực nhằm lật đổ chế độ – nhưng bằng cách nào?

Người Mỹ thật ngốc nghếch khi cho rằng họ biết được ý chí của người dân Triều Tiên, ngoài việc chắc chắn không khuất phục trước lũ quỷ Mỹ vẫn là ưu tiên hàng đầu. Vẫn bị tiêm nhiễm tư tưởng, vẫn kiêu hãnh, công dân Triều Tiên sẽ chào đón bất kỳ người Mỹ nào muốn giải phóng bằng đạn và bom, chứ không phải bằng hoa. Xã hội của họ không phải là xã hội mà bất kỳ ai bên ngoài đất nước sẽ lựa chọn, nhưng rất nhiều người Triều Tiên vẫn tán thành phần lớn nền tảng tư tưởng của nó.

Có nguy cơ là nếu một Kim Jong-il nhất quyết không nhượng bộ về vấn đề vũ khí hủy diệt hàng loạt của mình, ít nhất một số người ở Washington sẽ bị cám dỗ lợi dụng sự ngoan cố của ông ta để biện minh cho chiến tranh dưới hình thức này hay hình thức khác. Tổng thống Bush, trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình vào tháng 2 năm 2004, đã đưa ra một lý do biện minh tối thiểu cho cuộc xâm lược Iraq khi ông mô tả Saddam Hussein là “một gã đàn ông nguy hiểm” người “ít nhất cũng có khả năng chế tạo vũ khí.” Rõ ràng một lập luận tương tự có thể được đưa ra để biện minh cho hành động quân sự chống lại Kim Jong-il. Kim có khả năng chế tạo vũ khí và, ít nhất ở mức độ đó, ông ta rất nguy hiểm.

Đối với Hoa Kỳ và bất kỳ lực lượng đồng minh nào có thể phát động một cuộc tấn công phòng ngừa hạn chế – chẳng hạn như tấn công các cơ sở hạt nhân đã được xác định – thì thành công ban đầu có thể không hề rẻ về mặt thương vong như ở Iraq. “Phản ứng của Triều Tiên sẽ rất nhanh chóng,” một chuyên gia người Nga về nghiên cứu Đông Á đã viết trên một tờ báo ở Seoul sau chuyến thăm Bình Nhưỡng vào tháng 7 năm 2003. “Sau khi nghiên cứu vấn đề này trong một thời gian dài, giới lãnh đạo Triều Tiên đã đi đến kết luận rằng vì một cuộc tấn công hạn chế có thể dẫn đến một cuộc tấn công thậm chí còn nguy hiểm hơn, nên họ phải đáp trả ngay lập tức bằng toàn bộ sức mạnh trước khi sức mạnh quân sự của họ trở nên vô hiệu.” Mục tiêu của cuộc tấn công trả đũa của họ có thể là Seoul, ông viết. Hãy nhớ lại lời thề mà Kim Jong-il được cho là đã đưa ra khi ông được thăng cấp lên thống soái (xem chương 28), rằng ông sẽ “phá hủy thế giới” chứ không chấp nhận thất bại quân sự. Tướng Gary Luck, cựu tổng tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại Triều Tiên, ước tính rằng một cuộc chiến tranh Triều Tiên thứ hai sẽ cướp đi một triệu sinh mạng và gây thiệt hại 1 nghìn tỷ đô la về tài sản và tổn thất kinh doanh.

Một chính quyền Mỹ thận trọng rõ ràng sẽ phải suy nghĩ rất kỹ xem liệu họ có thực sự cần phải đến mức cực đoan như vậy để loại bỏ ngay lập tức tất cả vũ khí hủy diệt hàng loạt của Kim Jong-il hay không. Trong một thế giới không hoàn hảo, liệu Washington cuối cùng có nhắm mắt làm ngơ và đạt được một thỏa thuận tạm thời đảm bảo chấm dứt việc sản xuất và xuất khẩu vũ khí của Triều Tiên, phá hủy các nhà máy và thiết lập một chế độ thanh tra toàn diện – nhưng để nguyên các vũ khí hạt nhân và tên lửa đã được triển khai tại chỗ trong thời gian này, chờ đợi sự phát triển lòng tin mà cả hai bên hiện vẫn chưa cảm nhận được? Mặc dù giọng điệu được cải thiện tại cuộc đàm phán tháng 6 năm 2004 ở Bắc Kinh có thể đã chỉ ra một cách mơ hồ theo hướng đó, nhưng rất ít sự ủng hộ công khai cho một thỏa hiệp như vậy có thể được nghe thấy ở Washington. Mặt khác, Washington đang cố gắng nói bằng một giọng điệu thống nhất với đề xuất rằng Bình Nhưỡng tốt hơn hết nên từ bỏ tham vọng hạt nhân của mình ngay bây giờ, nếu không thì.

“Nếu không thì…” được mong muốn nhất, theo một số người ở Washington dường như cảm thấy, là việc một cộng đồng thống nhất toàn cầu áp đặt các biện pháp trừng phạt hà khắc hơn nhiều so với những biện pháp trừng phạt hiện đang có hiệu lực.

Hoa Kỳ đã chấp nhận việc Ấn Độ, Pakistan và Israel gia nhập câu lạc bộ các quốc gia hạt nhân không chính thức. Bắt quả tang Pakistan tham gia vào một âm mưu toàn cầu về phổ biến vũ khí hạt nhân một cách bừa bãi cho nhiều quốc gia thù địch của Hoa Kỳ, bao gồm cả Triều Tiên, chính quyền George W. Bush đã chấp nhận một giải pháp trong đó một nhà khoa học duy nhất phải chịu trách nhiệm và Islamabad hứa rằng điều đó sẽ không xảy ra nữa.

Lý lẽ của Washington là tránh làm bất cứ điều gì gây bất ổn cho Pakistan, quốc gia có kho vũ khí hạt nhân khổng lồ – ngay cả khi nước này ngừng phổ biến vũ khí hạt nhân – vẫn tiềm ẩn mối nguy hiểm lâu dài đối với Hoa Kỳ. Việc các phần tử Hồi giáo cực đoan nắm quyền kiểm soát Pakistan và kho vũ khí hạt nhân của nước này dường như là một khả năng đáng sợ nhưng hoàn toàn có thể xảy ra trong tương lai. Việc giúp đỡ một chính phủ thân thiện duy trì quyền lực ở đó dường như là một quyết định hiển nhiên.

 

Nhưng hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy có một nhóm cử tri đáng kể ở Washington ủng hộ việc thành lập liên minh với Triều Tiên – theo quan điểm của tôi, điều đó là khả thi, vì với một chút kiên nhẫn, nhu cầu cơ bản của hai nước có thể được dung hòa như một phương tiện để đảm bảo rằng kho vũ khí của Bình Nhưỡng sẽ không được sử dụng chống lại lợi ích của Hoa Kỳ.

Nếu Hoa Kỳ buộc phải can thiệp vào cuộc chiến với Triều Tiên, như tôi đã nói và viết trong suốt một thập kỷ qua, thì cuộc chiến nên được tiến hành bằng thông tin chứ không phải bằng đạn dược. Người đào thoát Ko Jun, một cựu tài xế xe tải, đã nói với tôi trong một cuộc phỏng vấn năm 1998: “Nếu người dân Triều Tiên biết về thế giới bên ngoài, thì sinh viên sẽ biểu tình trên khuôn viên trường đại học, 100% công dân sẽ đứng lên. Họ sẽ không sợ bị bắn. Nhưng họ không biết làm cách nào. Họ không hề biết gì về thế giới bên ngoài.” Các dự luật đang chờ được thông qua tại Quốc hội vào đầu năm 2004 kêu gọi các biện pháp phá vỡ rào cản thông tin như thả đài xuống Triều Tiên và phát sóng bằng tiếng Hàn trên tần số AM và FM với thời lượng dài hơn mỗi ngày. May mắn thay, đã có tiền lệ từ một số quốc gia khá hiểm ác, Liên Xô cũ và các nước vệ tinh Đông Âu của nó, những nước đã tự mình thay đổi đường lối hoạt động – mà không cần có nước ngoài chiếm đóng hay vũ lực bên ngoài trấn áp – ít nhất một phần là nhờ vào việc phát sóng từ bên ngoài.

Tôi cảm thấy việc mở rộng phạm vi phát sóng là một ý tưởng hay bất kể chính sách tổng thể nào được lựa chọn, miễn là các đài truyền hình giữ vững lập trường đưa tin khách quan và không sa vào những lời tuyên truyền gay gắt và phiến diện. Ngay cả khi Hoa Kỳ chọn cách tránh gây bất ổn đột ngột cho chế độ Bắc Triều Tiên, việc cố gắng nâng cao hiểu biết của người dân về thế giới bên ngoài vẫn là điều hợp lý. Trong mọi trường hợp, thành công trong việc thay đổi suy nghĩ và tác động đến tư tưởng thông qua phát sóng sẽ diễn ra tương đối dần dần và tích lũy.

Dự thảo của Thượng viện, do một tổ chức tư nhân quan tâm đến tự do tôn giáo soạn thảo, đặc biệt có nhiều thiếu sót. Nó cho Quốc hội can thiệp quá mức vào các quyết định chính sách vượt quá thẩm quyền của nhánh lập pháp Hoa Kỳ. Dự thảo thậm chí còn đề xuất một mô hình kinh tế – mô hình Việt Nam – cho Triều Tiên noi theo. Và nó kêu gọi Hoa Kỳ tích cực nỗ lực thống nhất Triều Tiên – vào thời điểm mà Hàn Quốc chỉ muốn trì hoãn việc thống nhất.

Tóm lại, dự luật này nhằm mục đích lập pháp hóa việc thay đổi chế độ. Các dự luật sẽ cho phép chuyển hàng chục triệu đô la cho các tổ chức phi chính phủ, những tổ chức này sẽ được giao nhiệm vụ thực hiện công tác viện trợ hoặc ngoại giao công chúng (đó là cách nói giảm nhẹ cho tuyên truyền) thay mặt chính phủ Hoa Kỳ. Nổi bật trong số các tổ chức dường như đang chờ nhận các khoản tài trợ này là một số nhóm tôn giáo, đáng khen vì là những người tiên phong trong phong trào ngày càng lớn mạnh nhằm vạch trần các vi phạm nhân quyền của Triều Tiên và giúp đỡ các nạn nhân bản địa. Những nhóm này cũng có một chương trình nghị sự riêng. Mối quan tâm sâu sắc hơn của họ ngoài việc thúc đẩy nhân quyền là truyền bá tôn giáo, thường là Cơ đốc giáo Tin Lành, cho người dân Triều Tiên. Khi họ chuẩn bị những chiếc đài bán dẫn nhỏ thả từ bóng bay, các gói hàng cũng bao gồm Kinh Thánh. Đặc biệt, người soạn thảo dự luật của Thượng viện dường như muốn khuyến khích các nhóm tận dụng đề xuất chi tiêu quỹ thuế của Tổng thống Bush cho “các sáng kiến ​​dựa trên đức tin”.

Hãy nhớ lại lòng nhiệt thành truyền giáo đã gây hoang mang như thế nào trong chuyến hành trình cuối cùng của vị tướng Sherman, khiến mối quan hệ Mỹ-Triều khởi đầu đầy bi kịch vào năm 1866 (xem chương 2). Tôi vẫn thích các nhóm tiếp tục dựa vào các khoản đóng góp tư nhân tự nguyện để tài trợ cho các hoạt động thiện nguyện của họ. Quỹ thuế được phân bổ cho viện trợ và ngoại giao công chúng hướng tới người dân Triều Tiên có thể được quản lý tốt nhất bởi các chuyên gia tận tâm, chuyên nghiệp. Loại chuyên môn về truyền thông cần thiết đã từng thuộc về Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ – cho đến khi Chiến tranh Lạnh kết thúc và sớm báo hiệu cơ quan này không còn cần thiết nữa, và đã bị giải thể. Trước những vấn đề to lớn mà Mỹ đang gặp phải với dư luận nước ngoài – không chỉ ở Triều Tiên mà còn ở thế giới Hồi giáo và hầu hết mọi nơi khác – tôi cảm thấy đã đến lúc chính phủ nên khôi phục lại cơ quan này, triệu hồi một số người đã nghỉ hưu và tận dụng kinh nghiệm của họ. Còn về viện trợ lương thực của chính phủ Mỹ cho Triều Tiên, nó có thể tiếp tục được chuyển qua Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hợp Quốc.

 

Dù quyết định cuối cùng là gì đi nữa, người Mỹ không thể chấp nhận việc quyết định một vấn đề chiến tranh và hòa bình khác dựa trên sự hiểu lầm và thông tin sai lệch. Cần một cách tiếp cận dựa trên sự thật và sáng suốt. Vì vậy, tôi lo ngại khi chứng kiến ​​nhiều người không để sự thật bác bỏ những câu chuyện miêu tả Kim Jong-il như một kẻ phạm tội trên mọi phương diện – như hiện thân của cái ác.

Một ví dụ dường như là chiến dịch vận động hành lang đã thuyết phục Tổng thống Bush áp đặt lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên vào tháng 9 năm 2003 vì điều mà một số nhóm nhân quyền cáo buộc là “buôn bán người”. Vụ việc thiếu chứng cứ vững chắc. Thứ nhất, có luận điệu cũ rích về lao động “cưỡng bức” của người Triều Tiên ở Siberia. (Xem chương 22 để biết quan điểm của tôi rằng việc gửi công nhân nhập cư đến Nga có nhiều tác động tích cực hơn là tiêu cực, xét về khía cạnh tự do và nhân quyền.) Thứ hai, phụ nữ tị nạn Triều Tiên đang bị bán làm vợ và thiếp cho đàn ông Trung Quốc. Bằng chứng do các nhóm nhân quyền đưa ra thực tế chủ yếu chỉ ra công dân Trung Quốc, hoạt động trên lãnh thổ Trung Quốc, là thủ phạm trong vụ buôn người này. Chính quyền Bình Nhưỡng không cho phép phụ nữ bay sang Trung Quốc và thể hiện sự không tán thành đối với những mối quan hệ như vậy bằng cách cưỡng bức những phụ nữ trở về Triều Tiên phải phá thai – một hành vi vi phạm nhân quyền được ghi nhận kỹ lưỡng hơn nhiều so với bất kỳ sự tham gia chính thức nào của Triều Tiên trong việc buôn bán phụ nữ. 

Một bác sĩ tâm thần ở Washington, người từng làm công việc lập hồ sơ cho CIA, đã kết luận rằng Kim mắc “một chứng bệnh tâm thần nghiêm trọng”. Trong một bản báo cáo dự thảo được lưu hành ở Washington và được trích dẫn rộng rãi trên các phương tiện truyền thông, vị bác sĩ tâm thần này đã củng cố bài phân tích phân tâm từ xa của mình bằng một bản tường thuật dài dòng từ những thông tin công khai tiêu cực về Kim Jong-il. Chúng ta đã biết rằng Kim lớn lên như một hoàng tử được nuông chiều, được phép làm theo ý mình về bất cứ điều gì mà trái tim nhỏ bé của cậu ta mong muốn. Điều đó, bác sĩ nói, đã khiến ông ta có khuynh hướng trở thành một người có tính cách  ái kỷ. Tôi không phản đối điều đó. Nhưng sau đó, suy đoán rằng ngay cả Kim Jong-il trưởng thành (lúc đó đã ngoài sáu mươi) cũng hẳn cảm thấy không đủ tốt so với cha mình, nhà phân tích tâm lý đã tiếp tục theo mạch suy đoán đó để cho rằng chứng tự yêu bản thân của Kim thuộc dạng nguy hiểm nhất, dạng ác tính. Để biện minh cho nhận định cực đoan đó, ông ta đã mô tả nhà lãnh đạo Triều Tiên một cách phiến diện là người quá tự mãn và kiêu ngạo đến mức hoàn toàn thiếu khả năng đồng cảm – không chỉ với kẻ thù bao gồm người Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản mà còn với chính người dân của mình. Thiếu khả năng đồng cảm? Vị bác sĩ đã bỏ qua rất nhiều bằng chứng cho thấy đây là một sự phóng đại.

Tôi hy vọng rằng người Mỹ, bất cứ khi nào họ bắt đầu nghe thấy một dàn đồng ca lớn tiếng của các nhà lãnh đạo chính trị và dư luận kêu gọi xâm lược thêm một quốc gia nữa do một “kẻ điên” nguy hiểm khác lãnh đạo, nên buộc  xem xét kỹ lưỡng lại kết quả chẩn đoán đó Tôi không phải bác sĩ, nhưng tôi nghĩ Kim Jong-il điên rồ – như một con cáo. Để dọa những kẻ xâm lược và tống tiền viện trợ, ông ta và bộ phận tuyên truyền của mình đã khiến kẻ thù tin rằng Lãnh tụ kính yêu – người thực sự có tính cách kỳ quặc – có thể bị điên nghiêm trọng và vì vậy không nên bị khiêu khích. Tôi nghĩ sẽ rất hữu ích nếu các nhà phân tích Tây phương, thay vì nín thở tin một cách nghiêm túc vào chuyện dở hơi, họ nên  xem xét kỹ hơn trước khi đưa ra quyết định. Như Michael Breen, một người theo dõi tình hình Bình Nhưỡng ở Seoul, đã nói, “trong khi thái độ trung lập trước sự lãnh đạo tồi tệ là không thể chấp nhận được, thì việc khách quan trong việc đánh giá nó lại rất cần thiết.”

Điều thiếu sót trong những lời kể của những người bôi nhọ Kim là bất kỳ gợi ý nào cho thấy câu chuyện có thể có hai mặt. Chắc chắn có những kẻ độc ác không thể dung thứ. Hai người con trai tàn bạo của Saddam Hussein là Uday và Qusay có lẽ thuộc nhóm này. Nhưng tôi không thể hoàn toàn xếp con người thực sự của Kim Jong-il dễ dàng vào vai một con quái vật. Sau nhiều năm nghiên cứu Kim Jong-il khá kỹ lưỡng, tôi mô tả ông ta là một bạo chúa thường vô cảm và tàn bạo, nhưng cũng có mặt hào phóng và ngày càng – khi ông ta trưởng thành – thu hút hơn. Ông ta là một nhà quản lý kinh tế bất tài trong những thập kỷ mà sự bướng bỉnh hoặc thiếu tự tin đã ngăn cản ông ta mạo hiểm thực hiện những thay đổi cần thiết trong hệ thống. Nhưng sau đó, khi trở nên quyết đoán hơn, ông ta rõ ràng là người bảo trợ cho các nỗ lực cải cách. Việc bán vũ khí hủy diệt hàng loạt cho các quốc gia thù địch khác có thể gây ra những vấn đề to lớn cho Hoa Kỳ, cả trong nước và trong vai trò cảnh sát toàn cầu – nhưng nếu được giá ông ta dường như sẵn sàng từ bỏ, ít nhất là khả năng sản xuất và bán chúng.

Tình hình nhân quyền ở Triều Tiên thực sự là tội ác chồng chất lên tội ác, như độc giả của chương 14, 16 và 34 đã biết. Hệ thống cảnh sát mật đưa tù nhân chính trị vào trại lao động cưỡng bức là do cha ông tạo ra, nhưng Kim Jong-il đã chủ động hoặc thụ động duy trì nó. Có ít điểm tích cực trên hồ sơ nhân quyền để bù đắp cho những nỗi kinh hoàng trong các trại giam của ông. Sau những lời phàn nàn từ các nhóm nhân quyền, chế độ đã đóng cửa một số trại. Nhưng các tù nhân đã được chuyển đến những địa điểm xa xôi hơn, nơi mà thế giới bên ngoài không thể với tới. Kết luận khả quan nhất từ ​​sự việc đó là Kim có thể bị tác động bởi dư luận bên ngoài. Sau đó ông đưa ra những chỉ thị ôn hòa nhằm “tránh tạo ra kẻ thù nội bộ” và khuyến khích chú trọng hơn đến tính hợp pháp. Tuy nhiên, đến cuối cùng vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy ông ta sắp loại bỏ các trại giam và hệ thống giám sát hà khắc.

Tôi tự hỏi có thể thuyết phục Kim điều gì bây giờ khi mà ông đang thay đổi hệ tư tưởng của đất nước mình. Trong giấc mơ lạc quan nhất của mình, tôi tưởng tượng một đặc phái viên cấp cao từ tổng thống hoặc ứng cử viên tổng thống của Hoa Kỳ đến gặp Kim, có lẽ vào đầu mùa thu của năm bầu cử, và nói, “Thưa Chủ tịch, tôi biết rằng ngài muốn gặp người mà tôi đại diện. Với sự cho phép của ngài, tôi sẽ nói thẳng thắn về điểm này. Với những gì chúng tôi đã biết về cách đối xử với công dân Triều Tiên bị cho là đã đi chệch hướng chính trị so với đường lối chính thức, sẽ rất khó để ông ấy đồng ý gặp ngài. Hiện đang có mối lo ngại ngày càng tăng trong dư luận Hoa Kỳ về tình hình này.

“Ngài và tôi đã thảo luận về các biện pháp để có thể bắt đầu giải quyết những vấn đề chung khác của chúng ta. Nhưng ngài yêu cầu chúng tôi không nhất quyết đòi quốc gia của ngài phải giải trừ vũ khí hạt nhân ngay lập tức. Ngài yêu cầu chúng tôi chấp nhận việc tạm ngừng khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân trong một thời gian theo dõi và chờ đợi, trong khi hai bên cần xây dựng lòng tin lẫn nhau. Nếu không có một bước đột phá về vấn đề nhân quyền, tôi phải nói với ông rằng sẽ rất khó về mặt chính trị để biện minh cho một thỏa thuận không mang lại nhiều hơn những gì Thỏa thuận Khung năm 1994 đã cung cấp—một thỏa thuận mà hơn nữa lại còn phải dựa trên lòng tin. Tôi cũng xin gợi ý rằng trong những hoàn cảnh như vậy, có lẽ ông cũng sẽ khó tin vào những tuyên bố của chúng tôi rằng chúng tôi không có thái độ thù địch. Rốt cuộc, ông có thể nghĩ rằng bất cứ khi nào dư luận Mỹ thực sự bị kích động bởi các tin tức về tình hình nhân quyền ở đây, một sự đảo ngược chính sách tại Washington có thể dẫn đến việc tái xuất hiện thái độ thù địch. Vì vậy, hãy cùng thảo luận xem chúng ta có thể đẩy nhanh quá trình xây dựng lòng tin như thế nào.”

Trong giấc mơ của tôi, Kim Jong-il sẽ chăm chú lắng nghe khi người phiên dịch dịch những lời đó sang tiếng Triều Tiên, trước khi đặc phái viên tiếp tục: “Người cử tôi đến đây biết rằng nhiều tù nhân bị giam giữ vì thái độ và xuất thân giai cấp của họ, hoặc có cha mẹ hay ông bà bị coi là không phù hợp với kiểu kinh tế và hệ thống xã hội mà đất nước của ngài đang xây dựng từ những năm 1940. Ông ấy biết ngài đã chỉ thị ‘tránh tạo ra kẻ nội thù’. Ông ấy biết về những điều chỉnh mà ngài đã bắt đầu thực hiện để hiện đại hóa hệ thống kinh tế. Ông ấy tự hỏi liệu ngài có cân nhắc việc tiến xa hơn để tạo ra vai trò cho những tù nhân chính trị còn sống sót – và cả những cai ngục của họ – như những con người tự do làm việc trong các doanh nghiệp kinh tế mới mà ngài kỳ vọng sẽ được hình thành hay không. Nếu ngài trả tự do cho các tù nhân, ông ấy sẽ rất vui lòng gặp ngài.”

Chúng ta đã thấy Kim Jong-il hành động quyết đoán (hay bốc đồng, nếu bạn muốn) như thế nào. Ông ấy đã phản ứng với những lời nói thẳng thắn nhưng lịch sự của mình trong các cuộc gặp năm 2000 với Kim Dae-jung và Madeleine Albright. Những phản hồi trực tiếp của ông khác xa so với thái độ ngoan cố, cứng đầu mà cấp dưới của ông thường dùng khi đàm phán thay mặt ông. Khi kết thúc bài thuyết trình về nhân quyền của vị đặc phái viên giả định, tôi tưởng tượng vị Lãnh tụ Kính yêu sẽ cười toe toét đầy mưu mô và hỏi: “Vậy là ông ta muốn tôi biến ông ta thành Người Giải Phóng Vĩ Đại ở CHDC Triều Tiên, kịp thời cho cái mà các tay bỉnh bút chính trị của các ông gọi là ‘bất ngờ tháng Mười’ phải không [“October surprise” là một thuật ngữ trong chính trị Hoa Kỳ, dùng để chỉ một sự kiện bất ngờ xảy ra vào tháng Mười, ngay trước cuộc bầu cử tổng thống vào tháng Mười Một, có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến kết quả bầu cử tổng thống.?” Vị đặc phái viên lúc này sẽ mỉm cười và đáp lại, có phần tinh nghịch, “Có gì sai khi ngài để ông ấy nhận một phần công lao? Nhưng nói nghiêm túc nhé, ông ấy muốn ngài trở thành Người Giải phóng Vĩ đại.”

Và rồi, ai biết được? Kim có thể quay sang một  thuộc hạ của mình và nói: “Hãy gọi ngay các lãnh đạo An ninh Nhà nước và Công an đến văn phòng tôi. Triệu tập các chủ tịch từ tất cả các tỉnh đến họp tối nay để lên kế hoạch biến những trại giam đó thành các khu dân cư bình thường. Có lẽ tôi sẽ hối tiếc, nhưng tôi sẽ dỡ bỏ hàng rào kẽm gai – trong vòng một tháng.”

Cách tiếp cận như vậy quả là một điều khó xảy ra, nhưng tôi thấy việc này cũng đáng thử một lần. Việc nói chuyện lịch sự là điều thiết yếu. Một cựu tổng thống Hoa Kỳ sẽ có tầm vóc phù hợp để đóng vai trò là đặc phái viên. “Khi giao tiếp với một quốc gia đang cố gắng cải cách, hình thức quan trọng không kém gì nội dung,” nhà khoa học chính trị David C. Kang viết. “Bạn không thể nói với người Triều Tiên bất cứ điều gì ngoài những đề xuất về giải pháp có thể sẽ được họ đón nhận một cách cởi mở.”

Người ta có thể không thích hoặc thậm chí căm ghét Kim Jong-il. Theo ý kiến ​​cá nhân tôi, Triều Tiên và phần còn lại của thế giới có lẽ đã tốt đẹp hơn nhiều nếu cậu bé tên Yura (Kim Jong-il thời bé) cũng chết đuối trong cái ao nước đó cùng với em trai Shura của mình vào năm 1948. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện tại vào đầu năm 2004, việc suy ngẫm về những gì có thể đã xảy ra cũng không có ý nghĩa gì hơn việc quyết định xem mình thích hay không thích vị lãnh tụ kính yêu. Điều quan trọng là phải tránh bỏ qua bất cứ điều gì về Kim có thể chỉ ra con đường dẫn đến một giải pháp thỏa đáng, không dùng đến quân sự.

 

Tôi cảm thấy rằng trong những năm tháng nghiên cứu về Kim, tôi đã đạt được một số thành công nhất định trong mục tiêu thấu hiểu tâm lý của vị bạo chúa phương Đông truyền thống đó, người tình cờ lại cùng tuổi với tôi. Cái yếu tố quan trọng, tôi kết luận, là tầm quan trọng của việc giữ thể diện. Trong nhiều năm, tôi tin rằng Kim Jong-il vẫn quyết tâm giành chiến thắng – cai trị toàn bộ bán đảo Triều Tiên. Tuy nhiên, gần đây, tôi bắt đầu nghĩ rằng mục tiêu thực sự của ông ta là tránh bị sỉ nhục. Tôi nhớ lại và suy ngẫm lại câu nói kỳ lạ của ông ta năm 1998 (xem chương 29) khi biết Tổng thống Hàn Quốc Kim Young-sam từ chối tham dự tang lễ của Kim Il-sung: “Nếu ông ấy đến, ông ấy có thể đã tiếp quản Triều Tiên và trở thành tổng thống của một Triều Tiên thống nhất. Thật là một kẻ ngốc!” Có lẽ Kim Jong-il ước gì mình có thể thực hiện được di nguyện cuối cùng của cha mình và hiện thực hóa nền liên bang hoặc liên minh đã được thảo luận từ lâu, trong đó hai quốc gia riêng biệt có thể cùng tồn tại, giao thương và dần dần sáp nhập thành một. Dù sao đi nữa, lời nhận xét đó đối với tôi không giống như lời nói của một lãnh tụ quyết tâm khuất phục hoặc là hủy diệt thế giới. Rốt cuộc, Kim không nói về thắng lợi. Nghe giống như lời nói của một nhà lãnh đạo không thể chấp nhận sự mất mặt của chính mình và của đất nước mình hơn. Như một nhà đàm phán của ông đã nói vào tháng 12 năm 2003: đối với người Triều Tiên, đầu hàng có nghĩa là “chính cái chết”.

Nếu phần đó đúng, thì có thể giải quyết các vấn đề của Hoa Kỳ và các nước khác với Kim Jong-Il thông qua đàm phán. Ông ta có thể thỏa hiệp nếu họ cũng thỏa hiệp – và nếu họ thể hiện sự tôn trọng thay vì thái độ khinh miệt thù địch. Việc xác minh [vũ khí hạt nhân] có thể được đàm phán. Người đào thoát Hwang Jang-yop, vốn hầu như không có gì tốt đẹp để nói về Kim Jong-il, đã tỏ ra hoài nghi khi được một phóng viên của tờ Washington Times hỏi liệu có thể tin tưởng Lãnh tụ Kính yêu sẽ giữ lời hứa về thỏa thuận vũ khí hạt nhân hay không. Nhưng rồi Kwang thừa nhận: “Con người có thể thay đổi, và hoàn cảnh có thể buộc một người phải đi theo một lộ trình nhất định.”

 

 

Trả lời