Đỗ Ngọc Giao
16-Oct-2026
9. Ký-ức tập-thể: sử của phe ta
Bài trước có nhắc tới ký-ức tập-thể (mémoire collective),[1] một thuật ngữ do Maurice Halbwachs (1877–1945), nhà xã-hội-học người Pháp, đặt ra năm 1925.
Bài này nói qua vài mẩu ký-ức tập-thể dùng làm ‘sử của phe ta’.
9.1 Khái niệm
Muốn hiểu ký-ức tập-thể tới nơi tới chốn, thì cần đọc ít nhứt 10,431 tài liệu tiếng Anh công bố trong 30 năm 1993–2023 viết cho chủ đề đó.[2] Dưới đây lược ra mấy ý dễ hiểu.
Susan Sontag (1933–2004), nhà bình-luận văn-hóa (cultural critic) người Mỹ, giải thích như sau:
Thực ra, chẳng có gì gọi là ký-ức tập-thể (collective memory). Mà chỉ có quy-định tập-thể (collective instruction). Ký ức ở trong đầu người ta, khi họ mất thì ký ức cũng mất luôn. [Bởi vậy] ký-ức tập-thể chẳng phải là nhớ (remembering) mà là yêu cầu (stipulating): rằng sự kiện này mới là quan trọng, rằng đây mới là câu chuyện mà sự kiện xảy ra, rằng đây mới là những hình ảnh trình bày câu chuyện. Hình ảnh nào thì tùy theo ý-thức-hệ (ideology) của cộng đồng, thí dụ câu chuyện thế chiến II: người ta hay dùng hình ảnh chiến thắng phía Anh-Mỹ mà bỏ qua hình ảnh trại giam của Nazi.[3]
Tóm lại:
Ký-ức tập-thể thực ra chẳng qua là quy định chọn một cách nào đó giải thích quá khứ cho cộng đồng tin theo.[4]
Minna-Kerttu Kekki, triết-gia người Phần-lan, nói rõ hơn:
Khác với lịch sử nhìn từ quan điểm của ngôi thứ ba, ký-ức tập-thể nhìn từ quan điểm của ngôi thứ nhứt: đó là ‘ta’—dù ‘ta’ là một nước, một đời người, một sắc dân, hay một cái cộng đồng nào khác. Nếu có ai chép lại những sự kiện trong quá khứ của một cái cộng đồng từ quan điểm của người ngoài cộng đồng, thì đó là chép sử chớ chẳng phải chép ký-ức tập-thể.[5]
Moshe Hirsch, luật gia người Do-thái, cho biết:
Ký-ức tập-thể không giữ lại hết mọi biến cố trong quá khứ mà chỉ giữ lại một số biến cố chọn lọc, ngay cả những biến cố này người ta cũng chẳng mô tả cặn kẽ mà phải diễn giải theo bối cảnh xã hội đương thời.[6]
Mihai Rusu, nhà xã-hội-học người Romania, nêu những khác biệt giữa ký-ức tập-thể với chánh-sử như bảng 1.[7]
Bảng 1.
| ký-ức tập-thể
(collective memory) |
chánh-sử
(formal history) |
|
| 1. | tự nhiên, hợp thành, tự phát.
(organic, synthetic, non-reflexive) |
nhơn tạo, phân tách, thẩm định.
(artificial, analytic, self-reflexive) |
| 2. | tình cảm, chọn lọc, chủ quan.
(affective, selective, subjective) |
tách khỏi tình cảm, phê phán, khách quan.
(emotionally detached, critical, objective) |
| 3. | nhìn từ bên trong, phe nhóm, đặc thù.
(emic, partisan, particular) |
nhìn từ bên ngoài, trung lập, phổ biến.
(etic, neutral, universal) |
| 4. | không để mất ‘bổn sắc’ của nhóm.
(implies an identity project)
|
trung thực kể lại quá khứ, bất kể ‘bổn sắc’ của nhóm.
(aspires towards an objective account of the past, irrespective of the consequences for the group’s identity) |
| 5. | không chấp nhận mơ hồ: chỉ có trắng và đen.
(intolerant towards ambiguity) |
chấp nhận mơ hồ và phức tạp.
(acknowledges ambiguity and complexity) |
| 6. | sùng bái, tôn kính, hoài cổ.
(sacralizing, reverential, passeistic) |
báng bổ, bất kính, cách tân.
(sacrilegious, irreverent, iconoclastic) |
| 7. | lược bớt quá khứ, bỏ qua dữ liệu không hợp với câu chuyện muốn kể.
(simplifies the past and ignores the findings that do not match the selfserving narrative) |
tuân theo tài liệu lưu trữ.
(constrained by archive material) |
| 8. | thận trọng, ngại thay đổi: bỏ qua chứng cớ nào ngược lại câu chuyện đã kể.
(conservative and resistant to change: bypasses counter-evidence in order to preserve the already established story) |
sẵn sàng sửa đổi: chịu dùng dữ liệu mới và thay đổi diện mạo quá khứ theo chứng cớ mới.
(opened to revision: embraces the findings of new research and alters the image of the past in the light of new evidence) |
Vamık Volkan (1932–), nhà tâm-thần-học người Mỹ gốc Cyprus, nói rõ hơn khái niệm ‘nhóm’ ở mục 4 bảng 1 như sau.
Mỗi nhóm (large group) gồm hàng ngàn hàng triệu người, gắn bó qua một cảm giác nhứt quán rằng ai nấy đều giống nhau, theo quốc-tịch, sắc-tộc, tín-ngưỡng, hay ý-thức chánh-trị. Bổn sắc của một nhóm (large-group identity) là kinh nghiệm chủ quan (subjective experiences) của những người trong nhóm, thí dụ ‘ta là người Pháp’, dù có đôi ba tánh cách giống với người ngoài nhóm, như người Anh chẳng hạn, thì ta vẫn là ‘người Pháp’. Hầu hết người một nhóm chưa bao giờ gặp nhau, mà cũng chẳng biết có bao nhiêu kẻ khác cùng nhóm với mình. Dù vậy, bọn họ đều chung nhau một cái giá trị nào đó: một tiếng nói, một nỗi niềm, một lời ru, một câu hò, một điệu múa, một cái đền. Họ cũng chung nhau những thứ mà John Mack (1929–2004), nhà tâm-thần-học người Mỹ, gọi là cultural amplifiers: những cái biểu-tượng hay dấu-hiệu nào đó, cụ-thể hay trừu-tượng, mà gây ra niềm tự-hào cho mọi người trong nhóm.
Theo tâm-lý-học, con người có những ‘cách thức tự động’ (unconscious strategies) gọi chung là ‘cơ chế phòng ngự’ (defense mechanisms) để bảo vệ cái ‘tôi’ (ego) mỗi khi bị một nỗi đau lòng nào đó, thí dụ stress hoặc trauma; một cái cơ-chế như vậy là regression, nói nôm na là ‘sống lại tuổi thơ’,[8] thí dụ trường hợp của em Huỳnh thị Ngọc Trâm ở Đồng Tháp năm 2007.[9]
Tương tự, một nhóm khi gặp mối nguy nào đó, thí dụ bị đe dọa gây chiến, cũng có cách để bảo vệ bổn sắc của nhóm mình, na ná như cơ-chế regression của con người: đó là gợi lại (reactivate) những hình ảnh xa xưa trong quá khứ mà người một nhóm chung với nhau, gồm hai loại:
- glory: mỗi lần chọn ra để gợi lại thì làm cho người trong nhóm cảm thấy tự hào,
- trauma: mỗi lần chọn ra để gợi lại thì làm cho người trong nhóm cảm thấy hổ thẹn.[10]
Ngoài ra, đôi khi một nhóm bị ép phải bỏ đi bổn sắc vốn có để nhận lấy một cái bổn sắc mới lạ, thí dụ trường hợp phong trào Nazi ở Đức hồi 1920–1945, và đôi khi amplifier là những điều bịa đặt chớ chẳng có thực.[11]
Tới đây, ta hiểu rằng:
- Ký-ức tập-thể là lịch sử nhìn từ quan điểm của một nhóm gọi là ‘phe ta’, mà mọi người trong nhóm đều phải tin (cấm cãi). Chừng nào phe ta còn giữ quan điểm thì ký-ức tập-thể vẫn còn ‘trúng’.
- Dữ liệu chọn dùng trong ký-ức tập-thể thì sơ sài nhưng ướt át hơn so với mớ dữ liệu khô khan dùng trong chánh-sử, bởi vậy, ký-ức tập-thể dù chẳng phải là ‘nhớ’ nhưng lại dễ nhớ hơn so với chánh-sử.
- Ký-ức tập-thể không phải là chánh-sử, và cũng chẳng thay được cho chánh-sử.
Ở bài này, ta tạm gọi ‘người chép ký-ức tập-thể’ là ‘người-kể-sử’ (historiographer), để tách bạch với ‘sử-gia’ (historian) là người nhìn lịch sử từ quan điểm của ngôi thứ ba.
Nói thêm, ‘nhìn từ quan điểm của ngôi thứ ba’ thì chẳng phải là không bị thiên-kiến (bias),[12] mà vẫn có thể bị thiên-kiến nếu sử gia không lưu ý.
9.2 Vài mẩu ‘sử của phe ta’
9.2.1 Ngàn năm Bắc-thuộc
- Quan điểm của phe ta thời nay
Ngày nay, tức nhiên, chẳng còn ai nhớ chuyện gì đã xảy ra ở miền bắc nước ta 2000 năm trước. Thay cho cái ‘ký ức’ đó, sẽ là một câu chuyện khác, nhưng chẳng phải muốn kể sao thì kể, mà là kể theo quy định.[13]
Theo quy định đó, người-kể-sử đã bịa ra nhóm ‘người Việt’ sanh sống trên bãi sình mà nay là đồng bằng sông Hồng, với những cái amplifier thí dụ:
- trauma: bị ‘người Hán’ đô hộ hàng ngàn năm,
- glory: chẳng bị ‘đồng hóa’ thành ‘người Hán’.1
Đó là một mẩu ‘sử của phe ta’. Học giả người Việt phe ta thời nay bị lậm cái glory hư ảo kia, nên tối ngày cặm cụi làm một việc mà ông bà ta gọi là ‘gánh vàng đi đổ sông Ngô’.[14],[15]
- Quan điểm của ‘ngôi thứ ba’
Xin hẹn độc giả ở một bài khác.
9.2.2 Phong trào Tây Sơn (1773–1802)
- Quan điểm của phe ta thời nay
Ngày nay, tức nhiên, chẳng còn ai nhớ chuyện gì đã xảy ra lối 300 năm trước ở Đàng Trong và Đàng Ngoài. Thay cho cái ‘ký ức’ đó, sẽ là một câu chuyện khác, nhưng chẳng phải muốn kể sao thì kể, mà là kể theo quy định đã nêu.13
Theo quy định đó, người-kể-sử đã bịa ra nhiều cái amplifier để tô đậm bổn sắc của phe Tây Sơn, gọi là ‘kỳ tích’ ở đoạn ‘sử’ dưới đây.[16]
‘Từ một cuộc khởi nghĩa ở Tây Sơn thượng đạo, khởi nghĩa Tây Sơn phát triển thành phong trào nông dân rộng lớn, vươn lên gánh vác sứ mệnh lịch sử của dân tộc, lập nên những kỳ tích hiếm có. Đó là: đánh đổ chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chính quyền chúa Trịnh cùng chế độ quân chủ vua Lê ở Đàng Ngoài, đập tan cuộc xâm lược của quân Xiêm ở phía nam, quân xâm lược Mãn Thanh ở phía bắc, bảo vệ nền độc lập dân tộc, xóa bỏ tình trạng chia cắt đất nước, bước đầu đặt nền móng cho sự thống nhất nước nhà.’
- Quan điểm của phe ta trào Nguyễn
Năm 1802 vua Gia Long ban ra mấy cái ‘chiếu’và ‘hịch’ như sau.[17]
Đại xá
‘Ta nghe … từ tiên-thái-vương dựng nền ở miền nam … đã 200 năm. Gần đây Tây Sơn nổi loạn, vận nhà Lê đã hết, hơn vài mươi năm trong nước không có chính thống. … Nay ơn Trời giúp đỡ … bờ cõi cũ đã lấy lại … các quan văn võ tại triều dâng sớ chương khuyên ta lên ngôi hoàng đế … Nhưng ta nghĩ rằng giống giặc chưa trừ xong…’
Dụ quân dân Bắc Hà
‘Nghĩa lớn kinh Xuân Thu không gì bằng trả thù … Ngẫm từ khi Tây Sơn gây biến, từ Thuận Quảng ra Bắc nhân dân khổ sở đã lâu. Ta đây … giết thù là chỉ nghĩ đánh kẻ có tội để cứu dân …’
Dụ dân Bắc Hà
‘Từ khi giặc Tây Sơn nổi loạn, nhân dân lầm than … Trẫm nay vâng làm lệnh phạt của Trời, trên để trả thù cho tổ tiên đất nước, dưới để cởi bỏ đau khổ cho nhân dân. Nay đại binh tới đâu, chỉ giết những giặc đầu sỏ, còn người nào bị ép phải theo thì đều tha …’
Mấy văn bổn trên nói rõ nhóm Tây Sơn là giặc nổi loạn cướp ngôi nhà Lê, và cũng nêu ra những cái amplifier cho sử-quan chọn dùng để tô đậm bổn sắc của trào Nguyễn, nào là ‘vâng làm lịnh phạt của Trời’, nào là ‘trả thù’, vân vân.
- Quan điểm của ‘ngôi thứ ba’: George Dutton, học giả người Mỹ
Dutton giải thích như sau trong cuốn sách của ông.[18]
(lược dịch một số đoạn ở mục Conclusion: looking back and looking ahead)
Nếu gọi Tây Sơn là ‘phong trào nông dân’ (peasant rebellion) thì trật lất, bởi cừ-soái của nhóm đó chẳng phải là ‘nông dân’ (peasants), mà số đông đi theo họ ban đầu cũng chẳng phải là ‘dân quê’ (small-scale agriculturalists). Gia dĩ, nông dân là đám khổ nhứt thời chánh quyền Tây Sơn. Đàng khác, gọi là ‘khởi nghĩa phát triển thành phong trào’ thì cũng chẳng trúng, bởi tới năm 1775 thì Nguyễn Nhạc đã coi mình là vua chớ chẳng còn là ‘cừ-soái khởi nghĩa’. Ta chỉ biết rõ rằng cuộc nổi-dậy này (1) xảy ra do quan lại đồi bại làm dân nghèo đói, và (2) thành công nhờ các chế độ Lê, Nguyễn yếu ớt chẳng cự nổi binh lính thiện chiến của anh em Tây Sơn cùng đồng bọn.
Rốt cuộc, khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc mất thì chánh quyền Tây Sơn cũng mất theo. Cái đà mà nhờ đó hai anh em từng đánh thắng hết trận này tới trận khác thì bây giờ chẳng còn nữa, trong tình thế mới. Xáo trộn do chiến sự, chưa kể mất mùa và quan lại đồi bại, đều là những việc khó mà muốn làm cho xong thì phải cần thời gian và lòng nhẫn nại mà Huệ và Nhạc chẳng ai có. Gia dĩ, chẳng có chánh quyền nào của Tây Sơn ăn sâu vô xã hội và hợp với lòng dân cho đủ để theo kịp những thay đổi sau cái chết của các vị cừ-soái Tây Sơn.
Khi quân Nguyễn Ánh ra Thăng Long mùa hè năm 1802, đó là lúc kết thúc cuộc chiến kéo dài gần hết phần tư thế kỷ để lại nhiều nỗi đau lòng (psychological wounds) cho mọi tầng lớp xã hội người Việt … Song le, bề ngoài là thống nhứt đất nước, nhưng thắng lợi của nhà Nguyễn chẳng dứt hết những mối xung đột gây nên do cuộc chiến với Tây Sơn … Dưới con mắt của nông dân người Việt, chuyện đổi trào năm 1802 với họ chẳng có ý nghĩa gì ráo. Bởi chiến cuộc thì bớt rồi, nhưng sưu dịch và quân dịch thời Tây Sơn chưa bớt mà còn tệ hơn dưới trào Nguyễn sau đó. Gia dĩ, trào Nguyễn có cách thâu thuế khéo hơn, làm cho dân nộp thuế nhiều hơn … Hàng trăm lần nông dân nổi dậy chống Gia Long—có lần hàng ngàn người—là bằng chứng rằng trào này còn yếu hơn nhiều so với Tây Sơn trước đó.
(lược dịch đoạn chót ở mục Introduction)
Tóm lại, thay vì coi ‘Tây Sơn nổi dậy’ là thắng lợi của lớp nông dân nghèo đói, ta nên hiểu đó là Tây Sơn nhảy ra tranh giành quyền lực với trào Lê yếu ớt mà Tây Sơn cho rằng mình sẽ thắng. Cuộc ‘nổi dậy’ đó chẳng phải là một phong-trào có ý-thức chặt-chẽ, nhằm đạt được mục-tiêu chánh-trị nhứt-quán (uniform political agenda) nào hết, mà chỉ là một biến cố xảy ra do những tình huống thường xuyên thay đổi, cừ-soái thì thích gì làm nấy, tùy theo phản ứng của các nhóm cùng tranh giành.
- Nhận xét
Dutton ắt đã hiểu rõ ‘phong trào Tây Sơn’, theo cái nhìn của ngôi thứ ba ở thế kỷ 18 chớ chẳng phải thế kỷ 19, 20 hay 21, như ông nói.18 Ở đây xin nêu thêm mấy điều, cũng nhìn thấy từ ngôi thứ ba.
Với phe ta thời nay:
- Nguyễn Ánh là cháu của cố vương nước Đàng Trong, còn Nguyễn Huệ là thường dân có tham vọng làm vua. Hai vị này đánh nhau một sống một chết là vì mục tiêu làm vua chớ chẳng vì bất kỳ mục tiêu nào khác, kể cả ‘thống nhứt đất nước’: lúc đó chưa ai biết khái niệm ‘thống nhứt đất nước’ là cái giống gì—nói Nguyễn Ánh và/hoặc Nguyễn Huệ đã biết khái niệm ‘thống nhứt đất nước’ thì là một lỗi anachronism.
- Nguyễn Ánh ban đầu yếu thế, ắt phải cầu viện nước ngoài—chẳng có lý do gì mà ông không được làm như vậy. Nên cái chuyện ‘vua Xiêm cho một toán quân qua nước Đàng Trong của nhà Nguyễn để giúp Nguyễn Ánh đánh quân phiến loạn Tây Sơn’, theo cái nhìn của Nguyễn Ánh và vua nước Xiêm lúc đó, thì chẳng có chút xíu gì giống như chuyện ‘nước Xiêm cho quân xâm chiếm nước ta’ theo cái nhìn của phe ta thời nay. Nói lúc đó đã có ‘nước ta’ thì là một lỗi anachronism.
- Tương tự, vua Lê Chiêu Thống bị soán ngôi, ắt phải cầu viện trào Thanh—chẳng có lý do gì mà ông không được làm như vậy (vua Khang Hy đã công nhận trào Lê năm 1667). Nên cái chuyện ‘vua Càn Long cho một toán quân qua nước An Nam của trào Lê để giúp vua Lê Chiêu Thống đánh quân phiến loạn Tây Sơn’, theo cái nhìn của vua Lê Chiêu Thống và vua Càn Long lúc đó, thì chẳng có chút xíu gì giống như chuyện ‘nước Thanh cho quân xâm chiếm nước ta’ theo cái nhìn của phe ta thời nay. Nói lúc đó đã có ‘nước ta’ thì cũng là một lỗi anachronism.
- Để giúp vua Lê Chiêu Thống, trào Thanh có lẽ chỉ cần một toán quân chừng mấy tiểu đoàn, nói theo từ ngữ thời nay, là đủ, để ra oai nhiều hơn là đánh đấm. Chớ nếu trào Thanh thiệt muốn xâm lược, đưa đại binh hàng chục sư đoàn qua, thì đừng nói một Nguyễn Huệ, mà mười Nguyễn Huệ cũng chưa chắc cự nổi. Khi nghe trào Thanh chẳng muốn giúp vua Lê Chiêu Thống nữa, coi như ông này đã hết thời vận, thì Nguyễn Huệ chẳng còn tin gì vui hơn.
Với phe ta trào Nguyễn:
- Nguyễn Huệ ắt là một người thực tế, thì mới dám tranh giành quyền lực với nhiều nhóm, chẳng thua nhóm nào. Mà nếu là người thực tế, hẳn ông chẳng bao giờ bỏ phí nguồn lực đi làm cái chuyện phá mồ các vị chúa Nguyễn, như lời sử quan trào Nguyễn bịa ra. Nói ‘bịa ra’, bởi phá mồ là chuyện vô ích, chẳng đáng làm, với một người luôn thiếu thời gian và lòng nhẫn nại như Dutton mô tả Nguyễn Huệ bên trên.
- Và bởi Nguyễn Huệ không làm chuyện đó, hoặc vua Gia Long không có bằng chứng rằng Nguyễn Huệ đã làm chuyện đó, nên lời sử quan chép chuyện vua Gia Long trả thù Nguyễn Huệ thì dường như cũng là bịa ra, tuân theo lời nhà vua ở mấy cái hịch nêu trên (9.2.2).
9.3 Kết luận
Bài này phân tách ‘ngàn năm Bắc-thuộc’ và ‘phong trào Tây Sơn’ trong sách sử thời nay, cho thấy đó là lịch sử nhìn từ quan điểm hạn hẹp của một nhóm gọi là ‘phe ta’, chớ chẳng phải là chánh sử nhìn từ ngôi thứ ba dành cho mọi người quan tâm.
Nếu sử gia cứ mãi chép ‘sử của phe ta’ mà bỏ qua chánh sử, thì độc giả cứ mãi bị tách ra hai phe (polarization) mà chẳng phe nào nhận ra sự thực.
Bài này chẳng đề nghị dùng cuốn sách của Dutton làm chánh sử cho phong trào Tây Sơn, bởi vì, như đã nêu ở 9.1, chừng nào phe ta còn giữ quan điểm thì chưa cần thay ‘sử của phe ta’.
Chót hết, bài này chẳng ngụ ý ai trúng ai trật, mà muốn nói nếu nước ta có thêm một cái bằng gọi là Tiến-sỹ ký-ức tập-thể để phân biệt với cái bằng Tiến-sỹ sử-học, thì hay biết mấy.
[1] https://nghiencuulichsu.com/2026/08/24/su-ta-chep-hoai-chua-trung-bai-8/
[2] Amal Hamada, Ruqayyah Al-Jaafari, Nahed Zeini (2015) A review of collective memory research (1993-2023): trends, patterns, and prospects. Interdisciplinary Journal of Humanities, Media, and Political Science, vol 2, no 1.
[3] Susan Sontag (2003) Regarding the pain of others.
[4] https://www.ebsco.com/research-starters/psychology/collective-memory/
[5] Minna-Kerttu Kekki. Our past vs theirs: collective memory as an emergent collective experience. Puncta: Journal of Critical Phenomenology vol 8.1 2025.
[6] Moshe Hirsch. Uses of history and collective memories by international courts and tribunals. Max Planck Encyclopedia of Public International Law (2018).
[7] Mihai Stelian Rusu. History and collective memory: the succeeding incarnations of an evolving relationship. Philobiblon vol XVIII (2013).
[8] Cynthia Vinney (2026) Why you may act immature during anxiety-provoking situations. https://www.verywellmind.com/
[9] https://vnexpress.net/benh-nguoi-lon-hoa-thanh-tre-con-2265521.html
[10] Vamık Volkan (2008) Large-group identity, international relations and psychoanalysis.
[11] Vamık Volkan. Finding the truth in individual and large-group psychology. In Truth: developmental, cultural, and clinical realms, ed Salman Akhtar (2024).
[12] https://nghiencuulichsu.com/2026/03/19/su-ta-chep-hoai-chua-trung-bai-4/
[13] https://www.thivien.net/H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh/L%E1%BB%8Bch-s%E1%BB%AD-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta/poem-NjHZhJYtu1u28vSkEmRsug
[14] https://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/
[15] https://nghiencuulichsu.com/2016/12/12/nhin-lai-lich-su-bach-viet-va-qua-trinh-han-hoa-bach-viet/
[16] Trần Thị Vinh et al (2017) Lịch sử Việt Nam, tập 4: từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 18, p 390.
[17] Quốc-sử-quán trào Nguyễn. Đại Nam thực lục đệ nhứt kỷ, vol 17.
[18] George Dutton (2006) The Tây Sơn uprising: society and rebellion in eighteenth-century Vietnam.