Sao triều đình khinh nhà buôn mà người buôn to nhất kinh đô lại là chúa Trịnh?

Hình: ảnh 1 là vua Lê ngồi triều, tranh trong bộ tranh vẽ kèm sách Mô tả vương quốc Đàng Ngoài của Samuel Baron, khoảng 1684 – 1685. Ảnh 2 là Kẻ Chợ nhìn từ sông Hồng, tranh khắc theo Baron, số 1 là kho vũ khí, số 4 là chỗ người Anh định xây thương điếm, số 5 là thương điếm Hà Lan. Nguồn ảnh: Wikimedia Commons

Nguyễn Đức Lực

I NHỮNG NHÀ BUÔN THỨ THIỆT

Năm 1681, thương điếm của công ty Đông Ấn Anh ở Kẻ Chợ viết thư về London, than phiền rằng chúa Trịnh, thế tử và quan lại xứ này “là những nhà buôn thứ thiệt, lấy hàng hóa của những người nước ngoài để bán kiếm lời, gây ra vô số bực bội và thua lỗ cho chúng ta” [1].
Thử hỏi chúa Trịnh mà lại đi buôn à?
Anh em học sử ở trường chắc còn nhớ Đàng Ngoài thế kỷ 17 là xứ cấy lúa, triều đình theo đạo Nho, coi buôn bán là nghề mạt, nhà nước “ức thương”, tức là kìm nhà buôn. Samuel Baron, con 1 thương nhân Hà Lan với 1 phụ nữ Đàng Ngoài, sinh ra ở xứ này, năm 1685 cũng viết người Đàng Ngoài “khinh miệt hoạt động thương mại và thương nhân” nên mới nghèo [2].

Có điều tôi đọc sổ sách, thư từ của 2 thương điếm Hà Lan và Anh ở Kẻ Chợ thì hóa ra người buôn to nhất kinh đô lại chính là phủ chúa (kéo theo cả thế tử, hoạn quan lẫn mấy bà phi).

II CHÚA MỜI NGƯỜI TÂY VÀO

Người Hà Lan lúc đầu buôn ở Hội An với chúa Nguyễn. Đầu thập niên 1630, chúa Trịnh Tráng “nhiều lần đánh tiếng” sẽ cho họ nhiều đặc quyền nếu bỏ Đàng Trong ra Bắc, hứa đền cả thiệt hại họ chịu ở trong ấy [3].

ăm 1637 tàu Grol vào cửa sông, lệnh chỉ gửi xuống: “Sự xuất hiện của người Hà Lan làm Chúa hài lòng” [3].

iám đốc Carel Hartsinck ngồi chiếu, nhai trầu, lạy chào theo lệ, rồi được nhận làm con nuôi [3], [4]. Năm 1651 chúa nhận luôn ông Toàn quyền Hà Lan ở Batavia (tức Jakarta bây giờ, đại bản doanh của công ty) làm con nuôi, phong tước Thiếu bảo quận công, khắc lên kim bài nặng 20 lạng [3].

Chúa tiếp đón nồng hậu vì chúa cần súng. Hoàng Anh Tuấn viết “một trong những mục tiêu chính để họ Trịnh mời gọi người Hà Lan đến Đàng Ngoài là thu mua vũ khí” [3]. Họ Nguyễn có thần công người Bồ Đào Nha đúc giúp, họ Trịnh cũng phải có súng to chứ. Năm 1668 chúa Trịnh Tạc gửi thư đặt 40 khẩu thần công, 100.000 cân lưu huỳnh, 50.000 cân diêm tiêu, kèm dạ đỏ, hổ phách, dầu ô liu và “càng nhiều đồng và thiếc càng tốt” [3].

Ngoài súng, chúa còn đặt đủ thứ của lạ: ngựa Á Rập, sư tử, vẹt, bình phong Nhật, củ hoa tuy líp, rượu vang Tây Ban Nha [3].

III MUA TRƯỚC, ĐỊNH GIÁ, TRẢ BẰNG TƠ

Thư của thương điếm Anh năm 1672 ghi rằng chì, lưu huỳnh, diêm tiêu, súng, vải Anh thì “không thể bán cho ai khác ngoài Chúa”, hàng khác chúa cũng được chọn trước. Rồi: “Chúa sẽ lấy tất cả những gì mình thích và trả giá tùy ý” [1]. Nhật ký thương điếm ngày 25/7/1672 ghi: “Giá cả là do Chúa áp chứ chúng tôi không đề nghị được” [1].
Chúa ít khi trả bạc mà trả bằng tơ, tơ của phủ chúa. Lưu ý là cùng 1 lạng bạc mà mỗi nhà giao 1 mức: năm 1637 phủ chúa giao 15 lạng tơ, nhà buôn giao 16, quan lại giao 17 [3], tức là mua của chúa thì đắt nhất. Người Anh tính ngoài chợ 1 lạng bạc đổi được 14 lạng tơ, chúa chỉ giao 13. Họ viết thẳng: “Chúa làm lợi từ việc trưng thu những hàng hóa mà ông ta thu mua thay đánh thuế” [1]. Nghĩa là chúa chả cần đánh thuế cao, chúa thu bằng chênh lệch giá, đúng kiểu vừa đá bóng vừa thổi còi.

Người Hà Lan không phải nộp thuế tàu đến tàu đi, đổi lại mỗi chuyến phải nộp trước cho chúa 25.000 lạng bạc (lạng là đơn vị cân, chừng 37 gam) rồi chờ chúa giao tơ sau [3].

Năm 1644 có sắc chỉ bảo tàu nào không mang đủ số ấy thì “tốt nhất là họ nên quay tàu đi khỏi Đàng Ngoài” [3].

Năm 1648 tơ của chúa và thế tử chiếm phần lớn số tơ người Hà Lan mua cả năm [3]. Đến năm 1653, cộng cả phần thế tử, mỗi năm thương điếm Hà Lan nộp phủ chúa “gần 50.000 lạng, chiếm khoảng ½ số lượng vốn kinh doanh”, mà Batavia than phiền rằng chúa và thế tử “thường giao tơ lụa kém chất lượng nhưng ở mức giá cao” [3].

Nhật ký Anh ngày 6/8/1675 ghi chúa định giá tơ theo độ trung thành của từng nhà: người Hà Lan “đã phục vụ Chúa lâu năm nên được ưu ái” giá 15, Hoa thương Netthoe giá 14, còn người Anh, “những kẻ gian dối hứa sẽ có tàu đến mà mấy năm nay chẳng thấy bóng dáng đâu”, xếp bét với giá 13 [1].

Muốn nhận bạc thay tơ thì đừng hòng. Năm 1673 người Anh xin, “Chúa rất giận dữ và tuyên bố không bao giờ muốn nghe chuyện này nữa” [1]. Năm 1686 người Hà Lan không còn bán được tơ ở Nhật nên xin thôi nhận tơ, chúa Trịnh Căn trả lời “không có lý gì để Phủ Chúa thay đổi một thông lệ buôn bán vốn đã tồn tại từ nhiều đời nay” [3].

Chưa kể năm 1662 chúa Trịnh Tạc hứa trả 10 lạng rưỡi mỗi tạ diêm tiêu, đến khi giao hàng thì chúa chia diêm tiêu làm 3 loại và chỉ trả 7 lạng [3]. Thương nhân Anh William Dampier đến Kẻ Chợ năm 1688 viết chúa mua đại bác “nhưng đã trả giá tồi đến nỗi các lái buôn chẳng mong ước gì được giao thiệp với chúa nếu họ tránh được điều đó” [4].

Lịch triều hiến chương liệt kê các “hiệu” thu tiền cho 6 cung (kho riêng của phủ chúa), trong đó có hiệu thu “các tàu Hoà Lan và Bút-kê-chi” (tàu Hà Lan và Bồ Đào Nha), hiệu thu “các tàu Ngô và ngoại quốc”. Phan Huy Chú ghi từ đời Vĩnh Thịnh trở đi các khoản thu ấy thuộc về 6 cung, “công việc tài chính thuế khoá không còn liên quan gì đến Hộ bộ nữa” [5]. Nói nôm na là tiền thu từ tàu Tây đi thẳng vào kho riêng của phủ chúa, Hộ bộ (bộ lo thuế khóa của nhà nước) chả được sờ đến đồng nào.

IV CẢ PHỦ CHÚA CÙNG BUÔN

Năm 1637 các hoạn quan đòi bao thầu luôn việc cung cấp tơ, “nhân danh Chúa thu mua một số lượng đáng kể hàng hóa nhập khẩu với giá rẻ, sau đó bán ra thị trường với giá cao” [3]. Hartsinck ghi hoạn quan ở Kẻ Chợ “phần lớn cũng là những người đầu cơ, môi giới” [3] (nói theo kiểu bây giờ là dân cò).

Ông già tư lễ Hoàng Nhân Dũng, hoạn quan làm đến chức Tư lễ giám, tước quận công, góp vốn vào thuyền buôn sang Nhật của thương nhân Nhật tên Resimon, lại tìm cách kéo thương điếm Hà Lan về khu đất mình cai quản để nắm nguồn tơ. Năm 1653 ông bị xử tử, lúc chết còn nợ thương điếm Hà Lan 14.499 guilder, mà tài sản thì chúa đã tịch thu cả [3].

Năm 1637 Hartsinck phải nhờ 1 bà phi người Nhật tên Ouru San làm môi giới để xin vào cung [4]. Thư công ty Anh năm 1680 viết: “Thật hiếm có trường hợp đi tới dinh một ông hoàng để kêu ca than phiền về việc buôn bán, mà không nhờ đến vai trò của các bà phi” [4].

Năm 1676 quan bảo hàng do “phi tần và con cái của Chúa mua” cũng trả theo giá chúa định. Sang năm 1677 vẫn còn khoản phi tần lấy hàng chưa trả [1]. Năm 1696 chị gái chúa mua chịu vải của người Anh, trả 60 lạng bạc nhưng tính 2.000 đồng 1 lạng trong khi giá chợ là 2.650 [1].

Năm 1697 người Anh làm đơn đòi nợ, định đưa lên chúa. Quan Trấn thủ Phố Hiến bảo phải bỏ tên chị gái chúa ra, “nếu không chẳng có thê thiếp nào dám đưa đơn lên Chúa cả”. Rồi 1 ông quan khác khuyên “nên thuê một thê thiếp của Chúa với giá 30 lạng bạc” để đưa đơn hộ [1]. Muốn kêu lên chúa thì phải trả tiền cho thiếp của chúa?!

V DÂN THÌ BỊ CHẶN

Hartsinck muốn mua tơ thẳng của dân, vừa rẻ vừa tốt. Triều đình bắt người Hà Lan chỉ được mua tơ của nhà nước, “giá ấn định cao hơn, chất lượng kém hơn” [4]. Thợ dệt mang tơ đến thương điếm bán thì “thường bị lính canh của các quan đuổi đánh” [4]. Người Hà Lan kêu lên chúa rằng quan cho lính chặn dân đến bán, chúa đáp: “ta đâu gọi các ngươi đến xứ này!” [3]. Ô! Chính họ Trịnh nhiều lần đánh tiếng mời người Hà Lan bỏ Đàng Trong ra Bắc cơ mà.

Baron viết: “Bởi chính sách của triều đình là không để cho dân chúng giàu có, bởi e ngại sự giàu có sẽ làm bọn họ sinh kiêu căng và có nhiều tham vọng”. Ai giàu quá mức mà để nhà vua (tức chúa, người Âu gọi chúa là vua) biết thì “chẳng chóng thì chày sẽ bị lột sạch sành sanh”, nên người có của đành “chôn tiền giữ của mà chẳng dám vung tiền ra để kinh doanh sinh lợi” [2]. Ông cũng thấy “Chẳng có lấy một thương nhân Đàng Ngoài nào có đủ tiềm lực cũng như sự can đảm để mua đứt và thanh toán dứt điểm món hàng trị giá 2.000 đô-la” [2]. Bảo sao ở xứ này chỉ có 1 nhà buôn lớn.

Luật nhà Lê ghi bán binh khí, thuốc súng cho người nước ngoài thì “đều xử chém”, bán đồng, sắt thì đày đi xa [5]. Năm 1670 lại có lệnh “cấm thông đồng với người nước ngoài bán trộm súng” [6], nên súng chỉ có 1 đường đi là từ tàu Tây vào phủ chúa.

Năm 1661 có lệnh bắt nho sĩ, chức sắc, lý trưởng, con cháu các quan và thường dân “phải dùng bát đĩa nội hoá”. Người Việt dùng hàng Việt, hóa ra có từ thời ấy rồi. Thế mà năm 1676 nhà vua mua 7.000 cốc vẽ rồng với 7.000 đĩa nhập về, đến năm 1681 người Hà Lan lại giao “6.000 đồ sứ Nhật Bản cho Chúa” [3].

VI NGƯỜI TÂY TỰ BỎ ĐI

Năm 1699 chúa Trịnh Căn viết thư sang Batavia: “Bản thân ta từng bị nhiều người chê trách vì đã ưu ái thương nhân ngoại quốc đến từ phương xa vạn dặm, vì chào đón họ đến vương quốc của mình với vòng tay rộng mở” [3]. Chúa nói vậy có đúng không? Đúng 1 phần. Phải thấy rằng chúa mở cửa thật, cho người Hà Lan xây thương điếm bằng gạch ngay trong kinh thành. Có điều check ngày tháng thì lá thư ấy viết lúc người Hà Lan đang dọn đồ về nước.

Thời người Hà Lan lãi to chỉ kéo dài 14 năm, từ 1641 đến 1654, lãi trung bình 130% nhờ bán tơ Đàng Ngoài ở Nhật. Sau đó Nhật chuyển sang mua tơ Bengal, lãi tụt dần. Năm 1678 thương điếm Kẻ Chợ tiêu hết 24.049 guilder mà tiền lãi chỉ được 3.016 [3]. Batavia cắt bớt quà biếu, năm 1682 chúa báo rằng quà mà còn nghèo nàn như thế thì công ty “nên rời khỏi Đàng Ngoài” [3].

Năm 1693 chúa Trịnh Căn giam giám đốc Jacob van Loo và 1 thuyền trưởng vì Batavia không giao được hổ phách chúa đặt. Năm 1694 thế tử đòi 200 lạng bạc, giam 1 thương nhân và người thông ngôn 10 ngày đến khi nộp đủ. Năm 1696 thông ngôn bị giam 20 ngày, thương điếm bị “25 lính đội lục soát từ trên xuống dưới” [3].

Năm 1697 Batavia quyết đóng cửa, lý do là nhiều năm “không thu được đồng lãi nào trong khi nhân viên thương điếm ở Kẻ Chợ liên tục bị Phủ Chúa hành hung” [3]. Đầu năm 1700 Van Loo trao chìa khóa thương điếm cho quan giám thương, “không có những nghi lễ tiền đưa long trọng như khi họ đến 63 năm trước” [3]. Batavia viết: “hãy để cho các người châu Âu khác hưởng niềm vui đến xứ Đàng Ngoài và sẽ bị vặt trụi lông ở đó” [4].

Người Anh rút trước 3 năm. Họ xin vay chúa thì chúa khôgn cho, phải vay nặng lãi 2,5% rồi 4% 1 tháng, có món vay của chính 1 ông quan. Đi đòi nợ thì các quan khất, “nói là chưa nhận được bổng lộc” [1]. Tháng 8/1697 họ ghi “đã 3 năm nay cả người Hà Lan và người Anh chúng ta đều không được cho vào lạy”. Ngày 24/11/1697 họ rời Kẻ Chợ, sau khi thấy “không thể đòi được những món nợ mà quan lại và thương nhân Đàng Ngoài còn nợ” [1].

Xin lưu ý là người Hà Lan theo Tin Lành, công ty còn cấm nhân viên mang kinh thánh, tràng hạt lên tàu sang Đàng Ngoài cho khỏi rắc rối [3], nên lệnh cấm đạo chả dính gì đến họ. Năm 1694 quan Phố Hiến có đốt lá cờ Anh vì có hình chữ thập nhưng sang năm sau người Anh lại được treo cờ [1].

Mở Toàn thư, bộ sử của chính nhà Lê, thì chỉ thấy vài dòng cấm người nước ngoài ở lẫn với dân, cấm bán trộm súng. Không lần nào nhắc đến tên người Hà Lan, dù thương điếm của họ đứng ngay giữa kinh thành mấy chục năm. Năm 1643 hạm đội Hà Lan hẹn đánh Đàng Trong cùng quân Trịnh, quân Trịnh không ra đúng hẹn, 1 tàu Hà Lan bị đốt, viên chỉ huy tử trận [3]. Toàn thư chỉ ghi chúa “thấy trời nóng nực ra lệnh rút quân” [6].

VII THẾ KỶ SAU VẪN LỆ ẤY

Người Tây đi rồi, khách buôn vẫn đến, chủ yếu là người Hoa. Lịch triều hiến chương ghi lệ buôn quế, buôn đồng thế kỷ 18: thuyền buôn nước ngoài đến mua thì phải “làm tờ khải nộp quan giám đương đệ lên chúa xem và hầu chỉ, cho mua bao nhiêu cân”, mua xong thì quan “sai người đưa đi hết địa phận” cho khỏi chở lậu [5].

Thư thương điếm Anh năm 1672 viết: “Triều đình rất tự hào rằng họ hầu như coi khinh, không thèm giao thiệp với thương nhân. Người Hà Lan vì thế phải gọi Toàn quyền của họ bằng cái tên Hoàng tử Batavia” [1]…
P/S: Chuyện ai nhận Hartsinck làm con nuôi thì 2 sách ghi khác nhau, Hoàng Anh Tuấn ghi chúa Trịnh Tráng, Nguyễn Thừa Hỷ ghi vua Lê Thần Tông. Anh em nào có tư liệu khác thì bổ sung giúp tôi.


Nguồn:

[1] – Tuyển tập tư liệu Công ty Đông Ấn Anh ở Kẻ Chợ – Đàng Ngoài (1672 – 1697) – Hoàng Anh Tuấn biên soạn, phần nhật ký và thư từ của thương điếm Anh.
[2] – Mô tả vương quốc Đàng Ngoài – Samuel Baron, Hoàng Anh Tuấn dịch, chương Hàng hóa, thương mại và tiền tệ của xứ Đàng Ngoài và chương về tài chính của phủ chúa.
[3] – Công ty Đông Ấn Hà Lan ở Kẻ Chợ – Đàng Ngoài (1637 – 1700) – Hoàng Anh Tuấn, chương III đến chương VIII.
[4] – Thăng Long – Kẻ Chợ thời Mạc – Lê Trung hưng (1527 – 1788) – Nguyễn Thừa Hỷ, chương III, mục Chính sách ngoại thương và mục Giao thương buôn bán với người nước ngoài.
[5] – Lịch triều hiến chương loại chí – Phan Huy Chú, Quốc dụng chí và Hình luật chí.
[6] – Đại Việt sử ký toàn thư, Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, năm Dương Hòa thứ 9 (1643) và năm Cảnh Trị thứ 8 (1670).

Trả lời