Giữa tàn tích của đế chế: Nhật Bản đầu hàng và trận chiến châu Á thời hậu chiến- Bài 4

 Ronald H. Spector

Trần Quang Nghĩa dịch

CHƯƠNG BỐN : “TỰ DO TRÊN ĐÀ TẤN CÔNG”

 “NGÀY HÔM NAY, TỰ DO ĐANG TRÊN ĐÀ TẤN CÔNG, DÂN CHỦ ĐANG TIẾN BƯỚC,” Tướng Douglas MacArthur tuyên bố trong một bài phát biểu trên đài phát thanh gửi tới Hoa Kỳ ngay sau khi ông chủ trì lễ đầu hàng chính thức của Nhật Bản trên tàu USS Missouri tại Vịnh Tokyo vào ngày 8 tháng 9 năm 1945. “Ngày nay, ở châu Á cũng như ở châu Âu, người dân được giải phóng đang nếm trải trọn vẹn vị ngọt của tự do.” MacArthur chắc chắn đang đề cập đến sự kết thúc ách cai trị của Nhật Bản, nhưng cũng có nhiều người ở các quốc gia thuộc Đại Đông Á nay đã sụp đổ muốn tiếp tục được tự do khỏi ách thống trị thực dân cũ của mình.

 

Đa số các dân tộc và quốc gia có khuynh hướng đó nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của MacArthur và thuộc trách nhiệm của Đô đốc Lord Louis Mountbatten, Tư lệnh Tối cao quân Đồng minh khu vực Đông Nam Á. Là một sĩ quan hải quân cao ráo, điển trai, có quan hệ họ hàng với hoàng gia Anh, và có cái tôi ngang ngửa MacArthur, theo người viết tiểu sử của ông, Mountbatten “hiếm khi đọc sách để giải trí, trừ khi đó là sách về gia phả, đặc biệt là về tổ tiên của chính mình.” Trong khi MacArthur trang nghiêm và xa cách, Mountbatten lại sở hữu sức hút cá nhân to lớn mà ít người, bất kể giai cấp, nghề nghiệp hay quốc tịch, có thể hoàn toàn miễn nhiễm. Trong khi MacArthur có vẻ kịch tính, Mountbatten thực sự là một nhân vật trong kịch, những cuộc phiêu lưu của ông trong hải quân đã cung cấp cốt truyện và nhân vật cho một bộ phim thành công, “In Which We Serve“, với sự tham gia của người bạn Noël Coward.

 

Ẩn sau vẻ quyến rũ và hào nhoáng của Mountbatten là một chủ nghĩa hiện thực không hề ủy mị. Vị tổng tư lệnh nhìn nhận rõ ràng hơn hầu hết tầng lớp cầm quyền Anh, rõ ràng hơn hầu hết cấp dưới của mình, rằng thế giới trước Trận Trân Châu Cảng và sự sụp đổ của Singapore đã biến mất vĩnh viễn. Bộ Tư lệnh Đông Nam Á (SEAC) của ông không thể khôi phục lại các đế chế thuộc địa cũ, ngay cả khi có đủ lực lượng để thử sức. Mountbatten tin vào sức sống và tính bền bỉ của các lực lượng mới về ý thức dân tộc và sắc tộc đang lan rộng khắp châu Á, ngay cả khi ông không hoàn toàn hiểu chúng.

 

Tại Hội nghị Potsdam, các nước Đồng minh đã nhất trí mở rộng Bộ Tư lệnh Đông Nam Á của Mountbatten, vốn ban đầu chủ yếu tập trung vào việc tiến hành chiến tranh ở Miến Điện và chuẩn bị tấn công Malaya, để bao gồm không chỉ các quốc gia đó mà hầu như toàn bộ Đông Nam Á, ngoại trừ miền bắc Việt Nam và một phần nhỏ phía đông Đông Ấn Hà Lan. Khu vực này rộng hơn 1,5 triệu dặm vuông lãnh thổ và có hơn 128 triệu dân, trong đó ít nhất 120 ngàn người bị giam giữ hoặc bị quản thúc bởi quân Nhật trong điều kiện khắc nghiệt, chịu đựng cảnh đói khát trong các trại đầy rẫy dịch bệnh. Toàn bộ khu vực này, ngoại trừ Miến Điện, đã bị Nhật Bản chiếm đóng khoảng ba năm rưỡi và bao gồm hầu hết các thuộc địa cũ ở châu Á của Pháp, Hà Lan và Bồ Đào Nha.

 

Khi hay tin Nhật Bản đầu hàng, Bộ Tư lệnh Đông Nam Á (SEAC) đột nhiên phải chịu trách nhiệm cho một khu vực đang trên bờ vực hỗn loạn và tan rã. “Những lời kêu gọi từ các đồng minh Pháp và Hà Lan, những tiếng kêu cứu, những yêu cầu về quân đội, những lời đe dọa về sự kháng cự tiếp tục của Nhật Bản, những lo ngại về cuộc tàn sát hàng loạt, những dự cảm về sự sụp đổ kinh tế, những lời cảnh báo về nạn đói của toàn bộ dân số đều đổ dồn về trụ sở của chúng tôi từ mọi phía,” tướng William Slim, chỉ huy lực lượng mặt đất của SEAC, nhớ lại.

 

Vào thời điểm Nhật Bản đầu hàng, SEAC đang tiến hành một chiến dịch đổ bộ quy mô lớn, Chiến dịch Zipper, để tái chiếm Malaya từ tay Nhật Bản. Nhiều tàu trong hạm đội xâm lược  đang chất hàng hoặc đang ở ngoài khơi khi chiến tranh bất ngờ kết thúc. Bộ chỉ huy của Mountbatten quyết định tiếp tục cuộc đổ bộ Zipper theo kế hoạch, vì việc phân bổ lại và nạp lại quân sẽ gây ra sự chậm trễ và hỗn loạn. Ngoài ra, quân đội sẽ được vận chuyển bằng đường hàng không đến Thái Lan và sau đó đến Sài Gòn, ở Đông Dương thuộc Pháp, nơi đặt trụ sở của Quân khu phía Nam do Thống chế Bá tước Terauchi chỉ huy, chịu trách nhiệm về Đông Nam Á.

 

Những kế hoạch và sự chuẩn bị này đã bị cản trở bởi một mệnh lệnh từ Tướng MacArthur đã ra lệnh cho các đơn vị khác không được có bất kỳ hành động nào để chấp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản hoặc tái chiếm lãnh thổ do Nhật Bản kiểm soát cho đến sau khi lễ đầu hàng chính thức diễn ra tại Vịnh Tokyo vào cuối tháng 8.

 

MacArthur muốn đảm bảo rằng tất cả các đơn vị chỉ huy rải rác của Nhật Bản đều hiểu rõ ràng rằng Nhật Bản đã đầu hàng trước khi bất kỳ chỉ huy Đồng minh nào thực hiện các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình. Mountbatten vô cùng tức giận. Lực lượng chiếm đóng Malaya đã ở trên biển. “Nếu có bất kỳ sự chậm trễ đáng kể nào xảy ra, Đô đốc Power dự đoán sẽ có từ 30 đến 40% thương vong trên những con tàu nhỏ này do thời tiết gió mùa và sự cố máy móc. Sự chậm trễ sẽ làm tăng thêm đau khổ cho tù binh chiến tranh. Hơn nữa, tôi không thấy lý do gì mà việc ký kết ở Tokyo lại có thể làm cho nhiệm vụ của tôi dễ dàng hơn.” Tuy nhiên, Bộ Tham mưu Liên hợp đã ủng hộ MacArthur, và kết quả là Chiến dịch Zipper bị trì hoãn gần hai tuần. Các khu vực khác của Đông Nam Á không thấy quân đội SEAC cho đến một tháng hoặc hơn sau khi Truman tuyên bố Nhật Bản đầu hàng.

 

Sự trì hoãn này đã chứng tỏ vai trò quyết định trong việc định hình các sự kiện ở Đông Nam Á trong những tháng tiếp theo. Một mặt, nó đã tạo ra thời gian quý báu cho các lực lượng độc lập và tự khẳng định dân tộc thiết lập vị thế của mình để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh sắp tới với các cường quốc thực dân quay trở lại; mặt khác, nó đã giải phóng các thế lực trả thù, phân biệt chủng tộc, hoang tưởng chính trị, lòng tham và cuồng tín tôn giáo, những yếu tố sẽ góp phần kéo dài sự đau khổ và bạo lực của chiến tranh sang tận thời kỳ hậu chiến. Ở một số khu vực Đông Nam Á phần lớn không bị ảnh hưởng bởi các chiến dịch quân sự, mức độ chết chóc và tàn phá sau khi đầu hàng sẽ sớm vượt quá mức độ của những năm chiến tranh.

 

Lực lượng chiếm đóng của SEAC không chỉ đến muộn mà còn quá ít để nhanh chóng đảm nhận toàn bộ nhiệm vụ tìm kiếm và hỗ trợ tù binh Đồng minh, giải giáp và hồi hương người Nhật, cũng như cung cấp an ninh quân sự và các chức năng chính quyền dân sự cho các khu vực rộng lớn của Indonesia và Đông Nam Á lục địa, vốn nay thuộc phạm vi trách nhiệm của họ. Trong khi chính sách của Mỹ ở Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi việc giải ngũ lực lượng vũ trang sau chiến tranh, thì việc giải ngũ ở SEAC đã bắt đầu ngay cả trước khi chiến tranh kết thúc. Với việc chiến tranh ở châu Âu kết thúc vào tháng 5, chính phủ Anh ngay lập tức bắt đầu cho phép binh lính trở lại cuộc sống dân sự. Những người đầu tiên được trở về là những binh sĩ có hơn ba năm phục vụ. Bất chấp cuộc chiến đang diễn ra với Nhật Bản, chương trình này cũng áp dụng cho binh lính của SEAC. Nhưng chương trình này vẫn quá chậm để làm hài lòng công chúng Anh vốn đã mệt mỏi vì chiến tranh, và vào ngày 8 tháng 6, chính phủ, đối mặt với một cuộc tổng tuyển cử gay cấn, đã tuyên bố rằng đối với binh lính ở Đông Nam Á, thời hạn phục vụ để xuất ngũ sẽ được rút ngắn từ ba năm tám tháng xuống còn ba năm bốn tháng. “Tin tức này là một quả bom làm tan vỡ tất cả các kế hoạch mà chúng tôi đã lập ra,” Tướng Slim viết. “Số lượng binh lính bị ảnh hưởng rất lớn; một phần ba sĩ quan và binh lính ở SEAC và những người giàu kinh nghiệm nhất, với tỷ lệ hạ sĩ quan cao, sẽ phải trở về Vương quốc Anh trước ngày 1 tháng 10.”

 

Một phần lớn lực lượng không phải người Anh của Mountbatten là các sư đoàn thuộc Quân đội Ấn Độ. Người lính Ấn Độ cũng muốn về nhà như người lính Anh. Tuy nhiên, một số lượng lớn người Ấn Độ là lính chuyên nghiệp, và nhiều người không vội vàng xuất ngũ để hòa nhập vào nền kinh tế dân sự vốn nổi tiếng với tình trạng thất nghiệp kinh niên. Tuy nhiên, nếu người lính Ấn Độ sẵn sàng, với nhiều mức độ nhiệt tình khác nhau, tham gia vào các hoạt động sau chiến tranh, thì chính phủ của họ lại không mấy hài lòng với viễn cảnh đó. Trên danh nghĩa, người Anh vẫn cai trị Ấn Độ với một vị tướng Anh, Ngài Archibald Wavell, làm Toàn quyền, nhưng chính phủ Lao động mới của Thủ tướng Clement Attlee, lên nắm quyền vào tháng 7, đã sớm cho thấy rõ rằng họ không muốn tiếp tục nắm giữ tiểu lục địa rộng lớn và đầy biến động này. Jawaharlal Nehru và các nhà lãnh đạo khác của Đảng Quốc dân Ấn Độ (INC) cầm quyền có thiện cảm về chính trị và tư tưởng với các phong trào độc lập khác ở châu Á. Họ không thấy lý do gì để sử dụng binh lính Ấn Độ, của một đất nước đang trên đà độc lập, để đàn áp các cuộc đấu tranh giành tự do của những dân tộc khác. Chính quyền Anh ở Ấn Độ muốn rút quân càng sớm càng tốt để đối phó với tình trạng bất ổn chính trị và sắc tộc ngày càng gia tăng ở tiểu lục địa.

 

Ngày 4 tháng 9, TQLC Hoàng gia đổ bộ lên đảo Penang ngoài khơi bờ biển tây bắc Malaya. Năm ngày sau, cuộc đổ bộ Zipper đã được lên kế hoạch từ lâu, với quân đội đổ bộ lên bờ biển tây nam gần Port Dickinson và cách đó 30 dặm tại Morib gần Port Swettenham. Tại Morib, quân Anh phát hiện ra rằng những bãi biển cát tưởng chừng chắc chắn thực ra lại che giấu những lớp bùn mềm, khiến nhiều xe tăng và xe đổ bộ hạng nặng của họ bị chìm. Nhiều người suy đoán rằng nếu cuộc đổ bộ không diễn ra suôn sẻ, chiến dịch này có thể gây tổn thất rất lớn.

 

Nếu có một nơi mà người dân địa phương thực sự vui mừng khi thấy quân đội SEAC đổ bộ, thì đó chính là Malaya. “Những đám đông nhiệt tình và reo hò tụ tập dọc các con phố và tại bến tàu để chào đón quân đội Anh trở về,” một sĩ quan OSS người Mỹ báo cáo. “Sự chân thành trong lời chào đón và niềm vui khi chế độ Nhật Bản chấm dứt dường như lan tỏa khắp nơi. Những câu chuyện về khủng bố và tra tấn được nghe thấy ở mọi nơi.” Arthur Thompson, một người lai Á-Âu bị giam giữ tại một trại gần Changi, lần đầu tiên biết về cuộc đổ bộ của quân Anh khi ông “nhìn thấy những xe tải chở đầy thực phẩm được đưa vào trại. Những đầu bếp nấu ăn tại khách sạn Raffles, khách sạn Adelphi, họ đã mang chúng vào trại.” Một trong những người bị giam giữ được giải phóng, tổng giám đốc của Cold Storage, một cửa hàng bách hóa lớn ở Singapore chuyên bán thực phẩm nhập khẩu, đã đến kho chứa bơ. “Nó không được đụng đến trong ba năm rưỡi và vẫn tốt như mới. Ông ấy ra lệnh mang tất cả bơ vào trại cho những người bị giam giữ. Chúng tôi có nhiều bơ đến nỗi một số người dùng nó như kem dưỡng tóc.”

 

Trong thời kỳ chiếm đóng, cộng đồng người Hoa đông đảo ở các tiểu bang Mã Lai và Singapore ban đầu bị người Nhật đối xử đặc biệt tàn bạo. Vài nghìn người đã bị bắn hoặc chết đuối trong các cuộc hành quyết tập thể năm 1942. Những người khác bị bắt và tra tấn. Cộng đồng người Hoa ở Singapore bị buộc phải đóng góp tài chính “tự nguyện” một khoản lớn cho nỗ lực chiến tranh của Nhật Bản. Sau năm 1943, người Nhật đã giảm bớt các hành vi của họ ở một mức độ nào đó, nhưng sự nghi ngờ của người Hoa đối với người Nhật vẫn không thay đổi nhiều. “Nói chung, trong suốt thời gian đó và trên toàn bộ Singapore, chúng tôi sống trong sợ hãi,” Lee Tian Soo nhớ lại. “Bởi vì trong cuộc sống của chúng tôi không có gì chắc chắn. Mỗi ngày khi thức dậy, chúng tôi phải đối mặt với cuộc sống của mình… Rời khỏi nhà đi làm, không có gì chắc chắn rằng chúng tôi sẽ trở về. Điều gì đó có thể xảy ra với bất kỳ ai.”

 

Người Mã Lai được đối xử ít khắc nghiệt hơn. Người Nhật giữ lại nhiều công chức người Mã Lai trong công việc của họ, bổ nhiệm một số người vào vị trí cao hơn và tuyển dụng những người khác làm cảnh sát, người cung cấp thông tin hoặc công nhân đô thị. Tuy nhiên, không ai thoát khỏi sự chú ý của Kempeitai (cảnh sát mật) Nhật Bản hay khỏi những vụ tịch thu tùy tiện, bắt  lao dịch và hành động tàn bạo tùy tiện của binh lính và quan chức Nhật Bản. Khi đi qua trạm kiểm soát của Nhật Bản, mọi người “phải cúi chào lính gác. Cúi chào phải được thực hiện đúng cách. Nếu lính gác không hài lòng, họ sẽ trừng phạt người dân bằng cách bắt họ đứng dưới nắng nóng hoặc tát họ.” Khi được hỏi về ký ức của mình về chiến tranh hơn bốn mươi năm sau, hầu hết người Malaysia trả lời đều dùng từ “tàn nhẫn” và “hung bạo” khi nói về người Nhật. “Trước chiến tranh, tôi có thiện cảm với người Nhật. Tôi coi họ là những người tốt bụng, lịch thiệp và nhã nhặn,” Ahmed Khan, một người Ấn Độ ở Singapore, nhớ lại, “nhưng tình cảm thân Nhật này đã biến mất ngay trong tuần đầu tiên chiếm đóng. Có sự tàn nhẫn trên diện rộng, sự tàn nhẫn mù quáng… vì vậy tất cả sự cảm thông của tôi dành cho người Nhật, dù trước chiến tranh là gì đi nữa, đều biến mất trong chớp mắt.”

 

Đó là một dân cư đã thay đổi khi chào đón người Anh trở lại Malaya vào năm 1945. Chứng kiến ​​binh lính Anh và Ấn Độ đổ bộ lên bờ biển Singapore, Lee Kip Lin cảm thấy khó chịu khi “nhìn thấy những khuôn mặt kiêu ngạo của một số sĩ quan Anh. Đó vẫn là sự kiêu ngạo cũ rích mà bạn đã thấy trước chiến tranh. Và bạn cảm thấy rất bực bội vì những tên khốn này đã bị quân Nhật đánh bại rồi trở về đây mà không cần phải nổ một phát súng nào vẫn mang cái vẻ mặt kiêu ngạo đó.” “Chúng tôi cảm thấy người Anh không phải là siêu nhân như chúng tôi từng nghĩ,” Gay Wan Guay nhận xét. “Và chúng tôi nhớ đã nhìn thấy họ lầm lũi lội bộ đường dài đến nhà tù Changi. Đó là một cảnh tượng đáng thương!… Ngay cả những người lớn tuổi… cũng nhận ra rằng thuyết thượng tôn da trắng là một huyền thoại; rằng người Nhật đã đến và chứng minh rằng người châu Á có thể lật đổ chính quyền da trắng,

 

Một nguồn tự tin khác mới dâng lên trong cộng đồng người Hoa ở Malaya, và cũng là nguồn lo ngại đối với nhiều người Malaya khác vào năm 1945, là các hoạt động của Quân đội Nhân dân Malaya chống Nhật (MPAJA). MPAJA là cánh quân sự của Liên minh Nhân dân Malaya chống Nhật (AJUF). Cả hai đều là các tổ chức ngầm do Cộng sản lãnh đạo, được thành lập năm 1942 để kháng chiến chống Nhật. Thành viên của MPAJA hầu như đều đến từ cộng đồng người Hoa. Phần lớn tân binh là những người lao động trước đây, và khoảng hai phần ba sinh ra ở Malaya, trong khi số còn lại là những người nhập cư gần đây từ Trung Quốc. Theo một báo cáo của Anh, họ “chủ yếu là những người trẻ tuổi gốc Hoa thiếu cả giáo dục và sự tôn trọng đối với các nhà lãnh đạo trước đây của cộng đồng người Hoa”. Phong trào này đã phải chịu một thất bại gần như chí mạng trong những tháng đầu tiên. khi nhiều nhà lãnh đạo của họ bị kẻ đứng đầu tổ chức  Lai Tek phản bội và giao nộp cho người Nhật. Lai Tek là một người đưa tin mật cho Kempeitai. Việc lực lượng kháng chiến tiếp tục tồn tại và phát triển có lẽ là do tính chất phi tập trung của nó. Các đơn vị du kích được tổ chức thành các nhóm cấp tỉnh hoặc trung đoàn và các “đội” gồm khoảng một trăm người vũ trang và hai trăm lính phụ trợ. Các đơn vị này ít liên lạc với nhau và hoạt động gần như độc lập.

 

Một cái nhìn sơ lược về các hoạt động của Trung đoàn MPAJA số 7, hoạt động tại các tỉnh Kuantan, Kemaman và Trengganu trên bờ biển phía đông của Malaya, sẽ cho ta một cái nhìn tổng quan về phương pháp và kinh nghiệm của lực lượng du kích. Trung đoàn này ban đầu chỉ là một nhóm nhỏ người Hoa tiến vào rừng rậm năm 1942 với hai khẩu súng trường. Họ có thể đã đánh cắp hoặc mua thêm vũ khí từ các đồn cảnh sát nông thôn, và lực lượng của họ nhanh chóng tăng lên 100 người. Đến mùa thu năm 1942, họ đã thực hiện các cuộc tấn công đồng thời vào năm đồn cảnh sát và thu giữ thêm vũ khí. Trung đoàn tự nuôi sống mình bằng cách duy trì một số vườn rau lớn sâu trong rừng. Những dân làng người Hoa có bất bình với quân Nhật thường chuyển cùng gia đình trốn vào rừng và làm việc trong các vườn rau này. Đến cuối năm, lực lượng du kích đã trở thành mối phiền toái đủ lớn khiến quân Nhật phải tiến hành một chiến dịch lớn chống lại họ, được hỗ trợ bởi súng cối và xe bọc thép chở quân. Theo lời kể của chính các chiến binh du kích, họ đã bị bao vây gần hai tháng trong căn cứ rừng rậm, nhưng nhờ khéo léo sử dụng địa hình và mìn, họ đã sống sót và gây thương vong nặng nề cho quân Nhật.

 

Bất kể sự thật của những lời khẳng định này là gì, Trung đoàn 7 vẫn hoạt động và mùa hè năm sau đã dàn dựng một cuộc phục kích khiến thống đốc Nhật bang Pahang và một đại tá Nhật Bản thiệt mạng. Trong suốt cuối năm 1943 và năm 1944, quân Nhật phát động một chiến dịch tổng lực để tiêu diệt quân du kích, thậm chí còn sử dụng cả các cuộc tấn công trên không. Nhiều người dân địa phương đã chạy trốn vào rừng rậm, nơi họ thường gia nhập quân du kích. Hầu hết các vườn rau đều bị phá hủy và trung đoàn có lẽ đã chịu tổn thất nặng nề, nhưng họ vẫn hoạt động cho đến năm 1945 và khi chiến tranh kết thúc, quân số ước tính của họ lên đến hơn 500 người.

 

Tổng quân số của MPAJA tại tám tỉnh mà lực lượng này hoạt động được ước tính vào khoảng 10 nghìn người vào thời điểm Nhật Bản đầu hàng.  Ngoài ra còn có các lực lượng kháng chiến khác chống lại quân Nhật ở Malaya. Các nhóm du kích người Hoa nhỏ lẻ tuyên bố trung thành với Quốc dân đảng hoạt động ở miền bắc Malaya gần biên giới Thái Lan, trong khi ở một số vùng thuộc các bang Perak, Kedah và Pahang có các nhóm kháng chiến người Mã Lai nhỏ do Lực lượng 136, lực lượng đặc nhiệm bí mật của Anh tại Đông Nam Á, tổ chức. Tuy nhiên, MPAJA là tổ chức rộng khắp, đông đảo và hiệu quả nhất.

 

Các sĩ quan Anh thuộc Lực lượng 136 đã liên lạc không thường xuyên với MPAJA từ năm 1943. Mountbatten, khi lên kế hoạch cho cuộc xâm lược Malaya, rất muốn MPAJA có thể hợp tác tiến hành các cuộc tấn công nghi binh vào quân Nhật vào thời điểm đổ bộ. Nếu các đội liên lạc của Lực lượng 136 có thể trang bị vũ khí, huấn luyện và lãnh đạo lực lượng du kích, họ có thể còn hiệu quả hơn nữa. Tư lệnh SEAC nhận thức được bản chất Cộng sản của MPAJA và thực tế là phần lớn thành viên là người Hoa có thể dễ dàng gây thù địch với người Mã Lai, nhưng ông vẫn quyết định tiếp tục kế hoạch để Lực lượng 136 trang bị vũ khí cho lực lượng du kích. “Do đó, cần xem xét liệu những lợi thế quân sự thu được bằng cách tuyển mộ Liên minh Nhân dân Malaya chống Nhật (AJUF) có lớn hơn những phản đối về chính trị hay không,” Mountbatten nói với các Tham mưu trưởng Anh. Tôi tin tưởng chắc chắn rằng hành động phối hợp của AJUF cùng với các sĩ quan liên lạc người Anh… sẽ là công cụ để cứu sống nhiều người lính của chúng ta và đẩy nhanh việc đánh đuổi quân Nhật. “

 

Vào tháng 2 năm 1945, Lực lượng 136 thiết lập liên lạc trực tiếp với MPAJA, và vào tháng 3 năm 1945, người Anh đồng ý thành lập các đội liên lạc với mỗi nhóm du kích và mỗi đội tuần tra. Người Anh cũng cung cấp vũ khí cho du kích bằng đường hàng không từ các căn cứ của họ ở Ceylon và quần đảo Cocos. MPAJA đồng ý rằng “sẽ không thảo luận bất kỳ vấn đề chính trị nào.” 240  đặc vụ của Cục Tác chiến Đặc biệt (SOE) đã được đổ bộ xuống Malaya bằng đường không hoặc tàu ngầm vào thời điểm chiến tranh kết thúc. Nhưng con số đó quá ít để thành lập các đội liên lạc với tất cả các đơn vị du kích. “Số lượng các đội sĩ quan liên lạc không bao giờ đủ để tránh khỏi lời dị nghị rằng họ chỉ là những kẻ buôn bán vũ khí và là nguồn tiền được hoan nghênh,” một sĩ quan SOE viết. Ảnh hưởng hạn chế của Lực lượng 136 đối với MPAJA sẽ cho thấy là quan trọng trong những ngày đầu sau khi Nhật Bản đầu hàng.

 

Khi nhận được tin đầu hàng, quân Nhật ở Malaya đã rút quân khỏi nhiều vị trí và tập hợp lại thành một số ít khu vực để chuẩn bị cho việc giam giữ. Những người ở lại hầu như không nỗ lực duy trì luật pháp và trật tự. “Tôi nghĩ toàn bộ nơi đó đã hoàn toàn mất kiểm soát,” cư dân Singapore Lee Kip Lin nhớ lại. “Có những vụ giết người ở khắp mọi nơi và tôi biết một số người từng là cộng tác viên đã bị giết… Và rất nhiều vụ trả thù cá nhân đã diễn ra. Anh đã làm hại tôi. Tôi không thích anh. Bây giờ là cơ hội. Họ lấy dao và tấn công anh. Cảnh sát bỏ chạy vì nếu có bất kỳ sự trả thù nào thì cảnh sát chắc chắn sẽ là nạn nhân.”

 

Các nhóm lính Nhật bị cô lập nhanh chóng nhận thấy mình phải đối đầu với các đơn vị MPAJA vừa được hưởng lợi từ việc tiếp tế vũ khí của Anh. Từ thời điểm đầu hàng cho đến cuối tháng 8, một khoảng thời gian khoảng hai tuần, quân du kích đã giết chết khoảng 500  lính Nhật và cảnh sát địa phương, gần bằng tổng số người mà họ đã giết trong toàn bộ cuộc chiến.

 

Tại nhiều vùng khác nhau của Malaya, MPAJA đã nổi lên từ rừng rậm để giành quyền kiểm soát chính quyền địa phương. Theo một số ước tính, khoảng 70% thị trấn và làng mạc đã bị lực lượng du kích chiếm đóng.  Quyền kiểm soát của MPAJA đặc biệt mạnh mẽ ở các bang Mã Lai như Selangor, Negri Sembilan, Perak, Pahang và Johore. Khi quân Nhật bỏ hoang các thị trấn và làng mạc ở những khu vực này, quân du kích nhanh chóng tiến vào. Tại Kuantan, Lực lượng 136 báo cáo rằng “dân chúng nói chung hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của trung đoàn MPAJA 7.” Họ ấn định giá cả hàng hóa và loại bỏ khỏi những nơi họ chiếm đóng bất cứ thứ gì mang dấu vết ảnh hưởng của Nhật Bản. Họ dựng rào chắn trên các tuyến đường chính và chặn giao thông đường bộ giữa các quận. Họ tịch thu xe tải và các phương tiện khác. ” Tại Singapore, quân du kích đã táo bạo chiếm lấy Câu lạc bộ Nhật Bản cũ làm trụ sở chính của họ. Tại Pahang, họ “chiếm giữ mọi bộ phận của Cơ quan Hành chính Dân sự và chiếm đóng hầu hết các tòa nhà lớn trong thị trấn, từ Phòng Thương mại Trung Quốc đến đồn cảnh sát. Họ hoàn toàn kiểm soát” trong gần ba tuần, cho đến khi những binh lính Anh đầu tiên đến.

 

Thông thường, mục tiêu đầu tiên của MPAJA là các đồn cảnh sát và trạm kiểm soát. Trong chiến tranh, lực lượng cảnh sát, chủ yếu gồm người Mã Lai và người Sikh, đã được người Nhật sử dụng như một lực lượng chống lại quân nổi dậy người Hoa. Cảnh sát địa phương và những  cộng tác viên bị tình nghi đều bị bắt giữ và các đồn cảnh sát thường xuyên bị đốt cháy. Cảnh sát và cựu cảnh sát không thể lẩn tránh hoặc trốn chạy bị kéo lê trên đường phố cùng với những “kẻ phản bội và tay sai” khác – những người bị nghi ngờ là cung cấp thông tin, buôn bán chợ đen, tình nhân của binh lính và cư dân Nhật – và bị đưa ra xét xử nhanh chóng. “Khi bản án là ‘có tội tử hình’, những người bị kết án đã bị hành quyết dã man trước công chúng. Ở một số nơi ở Selangor và Perak, họ bị nhốt vào chuồng lợn, khiêng quanh thị trấn, rồi bị giết thịt trước đám đông,” một người quan sát đương thời viết. “Điều đáng chú ý là đám đông đã dung túng cho hành động trả thù của ‘những người Cộng sản’. Ngay cả việc tàn sát tình nhân của người Nhật, đặc biệt là tình nhân của các mật vụ [Kempeitai], cũng nhận được sự tán thành của công chúng. Đó là sự căm thù của công chúng đối với ‘những kẻ áp bức nhân dân’.” Mục tiêu đặc biệt là những người có liên quan đến cảnh sát mật bị căm ghét. Khi các nhà điều tra Đồng minh đến Malaya với danh sách những tội phạm chiến tranh trong lực lượng Kempeitai, họ phát hiện ra rằng gần như tất cả đều đã biến mất vào tay MPAJA và có tin đồn là đã chết.

 

Mặc dù hầu hết mọi người đều tán thành việc xử lý nhanh chóng đối với người Nhật và những kẻ cộng tác đã biết, nhưng hành vi của MPAJA chẳng mấy chốc đã làm trầm trọng thêm căng thẳng giữa cộng đồng người Mã Lai và người Hoa ở nhiều vùng của Malaya. Trong chiến tranh, sự nghi ngờ và khinh miệt của du kích người Hoa đối với người Mã Lai và người Ấn Độ vì đã làm việc và hợp tác với người Nhật đã được đáp lại bằng nỗi sợ hãi và sự oán giận của người Mã Lai đối với MPAJA. Các nhà lãnh đạo Mã Lai phàn nàn rằng du kích, ngoài việc đòi thuế và “tiền đóng góp”, đôi khi còn sử dụng các nhà thờ Hồi giáo làm nơi gặp gỡ và ẩn náu, và họ còn cưỡng bức cả phụ nữ Mã Lai làm việc cho họ trong rừng.

 

Việc hầu hết các mục tiêu trừng phạt và trả thù của MPAJA đều là người Mã Lai đã góp phần làm gia tăng sự phẫn nộ này. Hành vi du kích của người Hoa sau khi tin tức về sự đầu hàng đến Malaya cũng vậy. “Ấn tượng của mọi người vào thời điểm đó,” Ahmed Khan nhớ lại, “là những người Cộng sản đã đóng vai trò chính trong trận chiến ở Malaya và do đó họ có quyền chiếm đóng nơi này chứ không phải người Anh. Có tin đồn do người Cộng sản lan truyền rằng Trung Quốc sẽ cai trị Singapore và Malaya.” Sự kiện quân đội Anh đến chậm trễ dường như không thể giải thích được, rất lâu sau khi có tin tức lực lượng Đồng minh đã đổ bộ vào Nhật Bản, đã góp phần làm gia tăng suy đoán này. “Chúng tôi, người Mã Lai, nghĩ rằng người Trung Quốc sẽ đổ bộ lên đảo Singapore đầu tiên, “

một cư dân nhớ lại. “Một số người bạn Trung Quốc của tôi mong đợi điều này xảy ra. Nhiều người Trung Quốc đột nhiên trở nên khá tự cao tự đại và kiêu ngạo. Chúng tôi khá lo lắng. “

 

Mặc dù một số nhà lãnh đạo Mã Lai phàn nàn về “tình trạng hỗn loạn” và “chế độ khủng bố” trong thời gian ngắn ngủi của chế độ du kích, các đơn vị chính quy của MPAJA được các sĩ quan trong Lực lượng 136 đánh giá là khá kỷ luật và trật tự. “Việc quản lý, xét đến việc AJA hoàn toàn thiếu kinh nghiệm, là khá tốt,” Thiếu tá J. L. Chapman viết. “Hầu hết các kho tài sản của địch đã bị niêm phong và được canh gác. Một Lực lượng Cảnh sát Đặc biệt đã được tuyển mộ.” Tuy nhiên, những sĩ quan này cũng thừa nhận rằng “phương pháp của MPAJA không có xu hướng khôi phục lòng tin cho người Mã Lai.” Một viên chức quận người Mã Lai tuyên bố với người Anh rằng tám ngày cai trị của MPAJA “còn tồi tệ hơn ba năm rưỡi dưới sự cai trị của người Nhật.”

 

Ở nhiều khu vực, hành động của MPAJA đã khuyến khích nỗi sợ hãi và ghen tị trong cộng đồng, bạo lực đám đông, và các hành vi trả thù và báo oán. Người Mã Lai đã nghe những câu chuyện đáng sợ về việc vào một ngày thứ Sáu, khi những người đàn ông Hồi giáo tập trung tại một nhà thờ Hồi giáo để cầu nguyện, du kích Trung Quốc đã bao vây tòa nhà và phóng hỏa. Sau đó, chúng hãm hiếp phụ nữ trong làng. Trong một phiên bản khác của câu chuyện, dân số Hồi giáo của một ngôi làng đã bị du kích tập hợp lại và đưa đến nhà thờ Hồi giáo, nơi họ bị buộc phải ăn thịt lợn mà người Trung Quốc đã giết mổ bên trong nhà thờ.

 

Tại Singapore, người Hoa nghe đồn rằng “một đội quân người Mã Lai từ Johore đang hành quân xuống để giết tất cả người Hoa ở Singapore.” Một hàng xóm của Lee Kip Lin “tự phong mình làm người lãnh đạo trong khu phố và nói rằng, ‘Mọi người Hoa ở Singapore phải cảnh giác… Nếu nghe thấy tiếng chiêng vang lên… chúng tôi mong đợi mọi thành viên nam trong mỗi gia đình hãy ra ngoài và bảo vệ khu vực bằng bất cứ thứ gì các anh thích, gậy, dao. Cầm bất cứ thứ gì các anh có, và xông ra ngoài.’ Vì vậy, tất nhiên khi nói như vậy, các bạn còn lựa chọn nào khác ngoài việc nói, ‘Được thôi.’”Sự đối kháng cộng đồng cũng được khuyến khích bởi những kẻ cộng tác nổi tiếng, cả người Hoa và người Mã Lai, vốn đã thu lợi trong thời kỳ chiếm đóng và hy vọng tránh bị trả thù hoặc trừng phạt bằng cách núp sau lý tưởng đoàn kết chủng tộc, cũng như bởi các quan chức và chính trị gia người Mã Lai,  lo sợ rằng sự hợp tác chặt chẽ của MPAJA với người Anh có thể được người Anh đền đáp bằng cách trao cho người Hoa nhiều đặc quyền hơn ở Malaya thời hậu chiến. Ngày 21 tháng 8, người Mã Lai đụng độ với du kích người Hoa ở nhiều khu vực của Johore. Nhà cửa bị đốt cháy và một số làng mạc bị phá hủy hoàn toàn. Hơn 400 người thiệt mạng và hàng ngàn người khác phải bỏ nhà cửa chạy trốn.  Chỉ một tuần sau khi Nhật Bản đầu hàng, giao tranh mới đã bắt đầu ở Malaya, nơi mà ở một số vùng của đất nước, sẽ mang đến nhiều cái chết và sự tàn phá như thời chiến tranh.

 

Vào ngày 12 tháng 9, Đô đốc Mountbatten, cùng với cấp phó người Mỹ của ông, Tướng Raymond A. Wheeler, người vẫn đội trên đầu chiếc mũ chiến dịch kiểu Thế chiến I, đã đi qua Singapore trên một chiếc xe mui trần do một tù binh chiến tranh vừa được thả lái, dọc theo những con phố có lính Thủy quân Lục chiến Hoàng gia và thủy thủ mặc quân phục chỉnh tề. Trên bậc thềm của Tòa thị chính, bốn tướng Nhật Bản và hai đô đốc đã đầu hàng và giao nộp kiếm của họ cho tổng tư lệnh Đồng minh. “Tôi chưa bao giờ thấy sáu khuôn mặt độc ác, đồi trụy và tàn bạo hơn thế trong đời mình,” vị chỉ huy SEAC viết trong nhật ký của mình. “Tôi rùng mình khi nghĩ đến tình cảnh khốn khổ thế nào dưới quyền cai trị của họ. Khi họ rời khỏi ghế và lảo đảo bước ra, họ trông giống như một bầy khỉ đột với quần ống rộng thùng thình và các khớp ngón tay gần như chạm đất.”. Cũng lá cờ Union Jack từng tung bay trên thành phố vào thời điểm quân Anh đầu hàng lại được kéo lên trong buổi lễ. 46 tù binh Nhật Bản đã dọn sạch quảng trường lớn trước các tòa nhà chính phủ, nơi mà chính quyền chiếm đóng đã sử dụng để trồng sắn, và khôi phục lại phần nào vẻ huy hoàng trước đây của nó. “Đó là một cảnh tượng tuyệt vời,” Arthur Thompson, người đã chứng kiến ​​lễ đầu hàng từ cửa sổ tầng trên của Tòa án Tối cao, nhớ lại. “Thật tuyệt vời khi thấy binh lính nhiều quốc gia khác nhau ở bên ngoài…. Có lính Anh, có lính Gurkha, có lính Ấn Độ, có lính Trung Quốc, có lính Hà Lan, có lính Úc và New Zealand.”

 

Mountbatten đã thành lập Cơ quan Hành chính Quân sự Anh tại Malaya dưới sự chỉ đạo hàng ngày của Thiếu tướng H. R. Hone với tư cách là sĩ quan phụ trách các vấn đề dân sự. Cơ quan này chịu trách nhiệm tái thiết và phục hồi sau chiến tranh, thiết lập lại các bạn bệ quan trọng của chính quyền dân sự, cảnh sát và hệ thống giáo dục, giải quyết các vấn đề kinh tế, tài chính và y tế công cộng, giám sát việc giam giữ và hồi hương người Nhật, cũng như bắt giữ và xét xử tội phạm chiến tranh. Để hoàn thành những nhiệm vụ này, Chính quyền Quân sự Anh (BMA) có một đội ngũ nhân viên gồm khoảng một nghìn viên chức hành chính quân sự và dân sự. Trong số này, chỉ có 244 người có kinh nghiệm trước đó ở Malaya – hoặc bất kỳ nơi nào khác trong đế chế thuộc địa Anh. Những người đứng đầu trong BMA đều có năng lực và kinh nghiệm, nhưng không ít cấp dưới của họ lại bất tài, lừa đảo và cơ hội. Một viên chức dân sự thuộc địa giàu kinh nghiệm đã so sánh “sự chào đón nồng nhiệt của người dân địa phương” đối với lực lượng Anh trở về với “sự ghê tởm sau đó của họ đối với nạn tham nhũng và khuynh hướng cướp bóc của BMA, chỉ một số ít trong số đó biết rõ đất nước và thấu hiểu người dân nơi đây và có tình cảm với họ.

 

Lực lượng chiếm đóng của SEAC, gồm những binh lính Anh, Ấn Độ và Gurkha gan dạ vừa trải qua nhiều tháng chiến đấu ác liệt trong rừng rậm, hoàn toàn không được chuẩn bị về mặt tâm lý hay được huấn luyện để trở thành một phần của dự án tái thiết kinh tế và xã hội vĩ đại. Hai học giả người Mã Lai từng trải qua chính quyền quân sự đã kết luận rằng quân đội Anh và Khối Thịnh vượng chung “hoàn toàn không được chuẩn bị để chống lại những cám dỗ của tình hình…. Tham nhũng, chiếm đoạt tài sản bất hợp pháp, xả súng vào thường dân không vũ trang và bán vũ khí cho bọn gangster, đã phá hoại trong sáu tháng một truyền thống đã mất cả thế kỷ để xây dựng. Số cá nhân phạm tội thì ít, nhưng cám dỗ thì rất lớn…. Quân đội năm 1945 là nạn nhân của hoàn cảnh không kém gì Quân đội năm 1942…. Nhưng những người hiểu rõ nguồn gốc uy tín của Anh ở Mã Lai nhận thấy rằng chính năm 1945, cũng như năm 1942, đã làm suy yếu lòng tin của công chúng.”

 

 

SAU LỄ ĐẦU HÀNG, Trung tướng Itagaki Seishiro, chỉ huy Quân đoàn 7, đã đến Tokyo để hầu tòa với tư cách là tội phạm chiến tranh. Ông bị kết tội và cuối cùng bị xử tử. Người dân Nhật Bản được đưa đến Jurong ở ngoại ô phía tây nam Singapore để chờ hồi hương về Nhật Bản. Binh lính Nhật Bản bị tập trung tại Jurong và nhà tù Changi, nơi họ được trao đổi chỗ ở với những tù binh Đồng minh trước đây.

 

Mountbatten đã chỉ định tất cả các lực lượng quân sự Nhật Bản trong khu vực hoạt động của mình là “nhân viên Nhật Bản đầu hàng” và giao cho họ nhiệm vụ sửa chữa một số thiệt hại và hao mòn do chiến tranh gây ra ở Singapore. Khi binh lính Nhật Bản lấp đầy các hố và miệng bom xung quanh thành phố, đám đông đôi khi tụ tập lại để chế giễu. “Công chúng… một số … chỉ vung chân đá vào họ… thể hiện sự tức giận của mình đối với người Nhật.” Một lính bộ binh Nhật Bản đóng quân ở phía bắc Malaya nhớ lại rằng khi đơn vị của anh ta lội bộ về phía nam vào trại  giam, họ đã trở thành mục tiêu bị người dân địa phương ném đá và một số bị thương nặng ở đầu. Tuy nhiên, các hành vi bạo lực và trả thù chống lại người Nhật của công dân Singapore tương đối ít và ngắn ngủi. Nhiều thường dân Nhật Bản tại Jurong nhớ lại rằng các nhân viên hoặc bạn bè người Hoa trước đây thực sự có đến thăm trại giam với thức ăn và nhu yếu phẩm cho những người cộng sự Nhật Bản của họ.

 

Cách đối xử của quân đội Anh với binh lính Nhật Bản khắc nghiệt hơn nhiều. Ban đầu, binh lính Nhật Bản được tập trung tại Jurong và Changi, nơi họ phân công vào các đội lao động. Một số đội lao động phải làm việc gấp đôi ca từ Changi đến Singapore mỗi sáng. Ở đó, họ làm việc cả ngày để dọn dẹp nhà vệ sinh, cắt cỏ và vận chuyển hàng hóa từ cảng đến kho, sau đó lại bị bắt lội bộ trở lại Changi mỗi đêm. Các đội lao động khác làm việc tại sân bay Tengah gần đường Bukit Timah, nơi mà người Nhật sớm đổi tên thành Jigoku Tengah (Địa ngục Tengah).

 

Đến tháng 10, tất cả quân nhân Nhật Bản ở Malaya và Singapore đã được chuyển đến đảo Rempang thuộc quần đảo Riau. Rempang hoàn toàn không có người ở, và người Nhật buộc phải chặt cây và dọn sạch bụi rậm trên đảo, xây dựng nơi trú ẩn và cố gắng trồng rau và các loại cây trồng khác trên đất đai khá cằn cỗi của Rempang. Trong hai tháng đầu tiên trên đảo, nguồn cung cấp thực phẩm cho Nhật Bản chỉ cho phép mỗi binh sĩ khoảng 1100 calo mỗi ngày. Quần áo cũng thiếu thốn, và hầu hết người Nhật sớm phải sống trong điều kiện mà một sĩ quan Nhật Bản mô tả một cách uyển chuyển là “chế độ sống cực đoan – chỉ mặc quần áo đơn giản”. Một điều mà Rempang có rất nhiều chính là bệnh nhiệt đới. Đến năm 1946, người ta ước tính rằng khoảng 20% ​​trong số 59.000 người Nhật trên đảo Rempang và Galang mắc bệnh sốt rét, kiết lỵ hoặc bệnh tê phù. Phải hơn một năm sau, những người Nhật cuối cùng mới rời Rempang, nhiều người cảm thấy rằng họ đã bị người Anh cố tình bỏ rơi và bỏ đói. Những cáo buộc này có phần đúng, nhưng chúng có lẽ sẽ không gây nhiều áy náy cho các sĩ quan SEAC, vì họ vẫn còn nhớ rõ hàng nghìn người Trung Quốc bị quân Nhật tàn sát ở Singapore, cũng như hàng chục nghìn tù binh và dân thường bị giam giữ của lực lượng Đồng minh trong các trại tù của Nhật Bản và trong quá trình xây dựng tuyến đường sắt Miến Điện-Xiêm khét tiếng.

 

Đối với người Mã Lai, thời kỳ chiếm đóng được đánh dấu bằng sự thiếu thốn, tàn bạo, sợ hãi và bất ổn. Với sự trở lại của người Anh, nỗi sợ hãi và sự tàn bạo đã chấm dứt, nhưng sự bất ổn và thiếu thốn vẫn tiếp diễn. Các thành phố và thị trấn đều xuống cấp và tồi tàn sau bốn năm chiến tranh. Hầu hết các dịch vụ công cộng đều ngừng hoạt động. Tại Kuala Lumpur, nguồn cung cấp nước công cộng bị ô nhiễm và đường ống bị hư hỏng, đèn đường không hoạt động, rác thải không được thu gom, và muỗi sốt rét sinh sản trong cống rãnh tắc nghẽn và các nguồn nước đọng khác.  Tại Singapore, cảng đầy rẫy xác tàu đắm, hầu hết các nhà kho đã bị phá hủy, và không có cần cẩu nào hoạt động được. Ở tất cả các thành phố, nguồn cung cấp điện và nước sạch không ổn định và gián đoạn.

 

Trong thời chiến, từng đàn người từ nông thôn đổ về các thành phố và thị trấn, nơi được cho là dễ dàng kiếm được lương thực hơn. Hàng loạt người di cư mới đến chen chúc trong các căn hộ nhỏ hẹp hoặc trải chiếu ngủ ở hành lang, gầm cầu thang hay trong các con hẻm.

 

Sau khi Nhật Bản đầu hàng, một lượng lớn cựu tù binh chiến tranh, người bị giam giữ và những người tị nạn khác đã tạm trú tại Singapore, càng làm trầm trọng thêm tình trạng quá tải dân số.

 

Điều kiện vệ sinh và sức khỏe rất khác nhau, từ mức kém đến mức tồi tệ. Tỷ lệ tử vong ở Singapore năm 1945 cao hơn gấp đôi so với năm 1940. Đối với nam giới người Ấn Độ ở Singapore, tỷ lệ này cao hơn gấp bảy lần. Suy dinh dưỡng là một đặc điểm chung của tất cả các dân tộc khác nhau ở Malaya. Tại Kuala Lumpur, Pahang, Kelantan và Trengganu, 23% học sinh được phát hiện là “thiếu cân trầm trọng” so với độ tuổi, và ở Singapore, khoảng 40% trẻ em được xếp vào loại suy dinh dưỡng.

 

Trên hết là tình trạng thiếu lương thực kéo dài. Khắp Đông Nam Á dưới sự cai trị của Nhật Bản, sản lượng lúa gạo đã giảm mạnh. Việc quân đội Nhật Bản trưng thu gạo quy mô lớn để đổi lấy đồng tiền chiếm đóng gần như vô giá trị đã làm nản lòng nông dân trồng lúa và khuyến khích tích trữ. Đồng thời, sự gián đoạn của hệ thống vận tải địa phương và quốc tế trong chiến tranh đã khiến nhiều nông dân không thể đưa nông sản ra thị trường. Sản lượng giảm mạnh. Năm 1939, ba nước xuất khẩu gạo chính, Thái Lan, Miến Điện và Đông Dương, đã xuất khẩu hơn sáu triệu tấn gạo ra nước ngoài. Trong sáu tháng cuối năm 1945, con số này chỉ là 176.000 tấn. Tại lễ đầu hàng ở Rangoon vào ngày 27 tháng 8, các đại diện của Terauchi đã “thừa nhận rằng lượng dự trữ gạo ở các khu vực thiếu gạo hoặc là không có hoặc quá ít đến nỗi họ không biết làm thế nào để nuôi sống dân số nếu chiến tranh tiếp tục.” Trước khi đầu hàng, người Anh đã nhận thức được tình hình lương thực và bắt đầu lên kế hoạch cho tình trạng khẩn cấp, nhưng họ đã đánh giá quá cao lượng gạo có sẵn ở Malaya và đánh giá thấp quy mô dân số cần được nuôi sống. Ngoài ra, nhu cầu của Đông Nam Á phải cạnh tranh với nhu cầu do tình trạng thiếu lương thực và nạn đói ở nhiều nơi khác trên thế giới gây ra.

 

Người Anh đã mang đến những lương thực mà họ có thể và giới thiệu một hệ thống phân phối gạo miễn phí và theo định mức, nhưng sự sắp xếp này nhanh chóng sụp đổ. Giá cả tăng vọt. Những người sống gần quân đội chiếm đóng của Đồng minh thường được hưởng lợi từ khẩu phần ăn của quân đội Anh được quân đội cho, bán hoặc trao đổi. Chợ đen phát triển mạnh. Tan Guan Chuan, một công chức Singapore, nhớ lại đã trả số tiền tương đương sáu đô la Mỹ cho một ổ bánh mì. Một câu nói đùa phổ biến là từ viết tắt của Chính quyền Quân sự Anh, BMA, thực ra có nghĩa là “Black Market Administration (Cơ quan Quản lý Chợ Đen)”.

 

Thêm vào sự hỗn loạn kinh tế trong thời kỳ chiếm đóng là quyết định của Anh Quốc về việc hoàn toàn hủy bỏ giá trị tiền tệ chiếm đóng của Nhật Bản, loại tiền này nhanh chóng được gọi là “tiền chuối”. Đối với nhiều người Mã Lai chỉ nắm giữ tiền tệ Nhật Bản, biện pháp này đồng nghĩa với việc phá sản ngay lập tức, trong khi đối với những ai đã cố gắng giữ lại một số tiền tệ trước chiến tranh hoặc mua vào để đầu cơ, nó lại mang đến sự giàu có bất ngờ. Kết quả của tất cả những diễn biến này, giá cả mà một người lao động phải trả cho các mặt hàng thiết yếu trên thị trường vào năm 1946 ước tính đã tăng hơn tám lần so với năm 1939.

 

Một làn sóng đình công đã càn quét Singapore. Bảy nghìn công nhân bến cảng đã đình công vào tháng 10 trong một cuộc đấu tranh thành công để đòi tăng lương. Sau đó là các cuộc đình công tiếp theo của công nhân xe điện, nhân viên bệnh viện, lính cứu hỏa và thậm chí cả các cô gái làm việc trong quán bar. Các cuộc đình công lên đến đỉnh điểm trong một cuộc tổng đình công kéo dài hai ngày do Liên đoàn Lao động Tổng hợp Singapore (Singapore General Labour Union) do Đảng Cộng sản lãnh đạo tổ chức, thu hút hơn 173.000 công nhân tham gia. Vui mừng với sự thành công của cuộc tổng đình công, Liên đoàn Lao động Tổng hợp đã lên kế hoạch cho một sự kiện lớn hơn nữa vào ngày 15 tháng 2, kỷ niệm ngày Anh đầu hàng Singapore trước quân Nhật. Mặc dù Mountbatten coi các cuộc đình công về tiền lương và điều kiện làm việc là “một thủ tục dân chủ bình thường”, ông nhận ra rằng những người Cộng sản có những kế hoạch tham vọng hơn đối với phong trào lao động và họ dự định trực tiếp thách thức chính quyền quân sự Anh. Các cấp dưới và cố vấn của ông, những người có khuynh hướng ít tự do hơn, từ lâu đã thúc giục ông bắt giữ những kẻ cầm đầu phong trào và trục xuất họ sang Trung Quốc, điều mà người ta thường làm với những kẻ gây rối trong thời kỳ thuộc địa xưa kia. Hai ngày trước cuộc biểu tình dự kiến, Mountbatten đã đưa ra lời cảnh báo, nhấn mạnh rằng trong khi chính quyền quân sự tiếp tục ủng hộ quyền tự do ngôn luận của công chúng, họ sẽ không cho phép các hành động cố ý nhằm phá hoại trật tự pháp luật. Đêm đó, mười nhà lãnh đạo người Hoa của công đoàn đã bị bắt, và vào ngày 15, cảnh sát đã dùng vũ lực giải tán các cuộc biểu tình do những người tổ chức đình công kêu gọi. Tuy nhiên, Mountbatten từ chối cho phép trục xuất các lãnh đạo đình công về Trung Quốc. Nếu những người Cộng sản kỳ vọng người dân sẽ ủng hộ cuộc tổng đình công mà họ đang cố gắng thực hiện, họ đã sớm thất vọng. Cho dù họ nghĩ gì về người Anh, hầu hết người dân thành thị ở Malaya đều chưa sẵn sàng đi theo những người chủ trương đấu tranh giai cấp.

 

Trong khi đó, ở vùng nông thôn, bạo lực cộng đồng vẫn tiếp diễn. Các cuộc bạo loạn chống người Hoa được báo cáo ở Negri Sembilan, Perak và Kuala Lumpur. Nguyên nhân của các cuộc bạo loạn được mô tả là do người Mã Lai “bất mãn vì bị buộc phải đóng góp cho MPAJA.” Vào đêm ngày 5 tháng 11, người Mã Lai với vũ khí là dao đã tấn công làng Padang Lobar của người Hoa ở Negri Sembilan. Bốn mươi phụ nữ và trẻ em đã bị giết. Người Anh đã triển khai quân đội để bảo vệ các làng bị đe dọa và giam giữ lực lượng MPAJA trong khu vực trụ sở của họ để ngăn chặn các hành động trả thù. Trong tháng tiếp theo, “căng thẳng giữa các chủng tộc gia tăng ở mọi bang trên cả nước.” Vào cuối tháng, người Hoa trên đảo Dindings thuộc bang Perak đã tấn công hai ngôi làng, giết chết 17 người Mã Lai và làm bị thương 14 người. 7 trong số những người chết là trẻ em. 20 người Hoa cũng bị giết.

 

Tại một số bang, sự thù địch của người Mã Lai đối với người Hoa bắt đầu biến thành sabil Allah, hay thánh chiến. Một người ủng hộ hàng đầu của sabil Allah là Kiyai Salleh Bin Abdul Karim của Johore. Giáo lý tôn giáo là sự nghiệp thứ hai của Kiyai Salleh, sự nghiệp đầu tiên của ông, trước chiến tranh, là thủ lĩnh các băng đảng tội phạm và tù nhân của nhiều nhà tù khác nhau. Từ mùa hè năm 1945, Kiyai Salleh đã lãnh đạo các băng đảng kiểu mới trong một cuộc thánh chiến chống lại MPAJA và người Hoa ở quận Batu Pahat của ông và sau đó là khắp Johore. Người ta thường tin rằng phe cánh ông có liên quan đến vụ thảm sát ở Padang Lobar.

 

Panglima (Tổng tư lệnh) Salleh, như tước hiệu của ông lúc bấy giờ, đứng đầu một phong trào chiến binh thánh chiến được gọi là “Đội quân Băng Đỏ”. Thông điệp của Kiyai Salleh kết hợp việc chọn lọc Kinh Koran với chủ nghĩa thần bí Sufi và tín ngưỡng truyền thống của người Mã Lai về thế lực siêu nhiên. Bản thân Kiyai Salleh được cho là sở hữu những năng lực siêu nhiên đáng kinh ngạc. “Ông ta không thể bị giết bởi đạn; ông ta có thể đi bộ qua sông mà không bị ướt chân; ông ta có thể phá vỡ bất kỳ xiềng xích nào trói buộc mình; giọng nói của ông ta có thể làm tê liệt những kẻ tấn công mình.” Ông ta đã trải qua những ảo ảnh trong đó một vị thánh Sufi xuất hiện, cảnh báo ông ta về nguy hiểm đang đến gần và chỉ dẫn ông ta cách vượt qua kẻ thù.

 

Một tín đồ chân chính của giáo lý Kiyai Salleh có thể trở nên bất khả xâm phạm nếu tuân thủ một số nghi lễ nhất định và “không kiêu ngạo, không cướp bóc trong chiến tranh, không cướp của người chết và không bao giờ ngoảnh lại khi chiến đấu.” Những người được khai tâm tập hợp lại để đọc một số câu kinh Koran và bị đâm bằng kim vàng hoặc uống một loại thuốc được một imam ban phước và được ban cho khả năng bất khả xâm phạm. Sau đó, họ đeo một dải băng đỏ quanh cánh tay hoặc như một chiếc khăn choàng. Kiyai Salleh cũng có thể ủy thác quyền năng của mình cho một vài đệ tử, những người này  sau đó sẽ có khả năng ban phát khả năng bất khả xâm phạm cho những tân binh của phong trào. Mặc dù Kiyai Salleh sử dụng ngôn ngữ tôn giáo và ma thuật, các nhà quan sát người Anh tin rằng có một yếu tố chính trị mạnh mẽ trong sabil Allah. Ba phụ tá chính của Kiyai Salleh đều là những người theo chủ nghĩa dân tộc từ Đông Ấn Hà Lan và là điển hình cho chủ nghĩa cực đoan bạo lực và bài ngoại đang lên ngôi trong giới hoạt động chính trị ở đó. Một trong số họ từng bị cáo buộc liên quan đến một vụ tấn công trước đó vào khu định cư người Hoa. Người Anh tin rằng các thủ lĩnh Mã Lai dung túng hoặc thậm chí khuyến khích các hoạt động của Kiyai Salleh vì chúng giúp đoàn kết người Mã Lai trong cuộc kháng chiến chống lại sự thống trị chính trị của người Hoa.

 

Đến đầu năm 1946, “Băng Đỏ” đã lan rộng đến Malacca, Negri Sembilan, Selangor, Pahang và Perak. Thanh niên người Hoa cũng được cho là đang nhận huấn luyện quân sự từ các cựu du kích MPAJA.

 

Tình báo Anh báo cáo “căng thẳng sắc tộc tiếp diễn ở hầu hết các bang,” đặc biệt là Kelantan, Perak và Pahang, nơi các sự cố nhỏ thường xuyên xảy ra. Ở những bang này, “người Hoa đang thể hiện sự lo lắng tột độ.” Vào sáng ngày 11 tháng 2, một sự cố lớn khác xảy ra khi người Mã Lai giết chết ít nhất 20 người Hoa và làm bị thương thêm 12 người khác trong một cuộc tấn công có chủ đích vào làng Batu Talam. Một tháng sau, tại Bekor trên hạ lưu sông Perak, người Mã Lai đã đốt cháy hai ngôi nhà của người Hoa. Để trả đũa, người Hoa đã tàn sát 56 người Mã Lai. 100 người khác bị thương, và dân số Mã Lai còn lại phải được sơ tán đến một ngôi làng khác. Tình báo Anh báo cáo rằng chỉ có một người chết có vết thương do đạn bắn còn những người khác bị chém chết bằng kiếm và dao.  Mỗi sự cố, thực tế là mỗi báo cáo hoặc tin đồn về một sự cố, đều tạo ra hàng trăm, đôi khi hàng nghìn người phải di tản, những người đã bỏ chạy khỏi làng mạc hoặc quận huyện của họ sau khi nhà cửa bị phá hủy hoặc đơn giản là vì sợ hãi các cuộc tấn công tiếp theo.

 

Đến thời điểm này, ngoài người Anh, những người khác cũng lo sợ rằng tình hình đang vượt khỏi tầm kiểm soát. Các nhà lãnh đạo cộng đồng người Mã Lai bắt đầu kêu gọi sự khoan dung và trật tự, đồng thời hướng sự đoàn kết mới tìm thấy của người Mã Lai vào cuộc đấu tranh chính trị giành quyền kiểm soát Malaya thời hậu chiến. Các vị vua Hồi giáo Mã Lai, được người Anh bí mật đảm bảo rằng họ sẽ giữ lại nhiều đặc quyền trước chiến tranh, bắt đầu trấn áp các cuộc nổi loạn. Các doanh nhân giàu có người Hoa, vốn không bao giờ thoải mái với du kích Cộng sản, cũng sẵn sàng chấm dứt xung đột. Ở một số quận, các nhà lãnh đạo người Mã Lai và người Hoa đã thành lập các hội đồng quận dưới sự chỉ huy của một sĩ quan Anh để giải quyết các sự cố và ngăn chặn rắc rối.

 

Lực lượng MPAJA đã được giải ngũ một cách hòa bình vào đầu tháng 12. Nhiều lãnh đạo Cộng sản cho rằng điều kiện đã thuận lợi để chuyển hướng cuộc nổi dậy chống lại người Anh, nhưng những người khác, chủ yếu là Lai Tek, lại chủ trương một chính sách thận trọng hơn về tổ chức chính trị, tuyên truyền và vận động công nhân. Quan điểm của Lai Tek đã thắng thế. Trong một loạt các nghi lễ trang trọng, các trung đoàn MPAJA đã diễu hành, huy chương được trao và vũ khí được thu hồi (ngoại trừ những vũ khí hiện đại và còn sử dụng được nhất, được chôn cất để sử dụng trong tương lai, nhiều khẩu vẫn còn trong các thùng chứa mà người Anh đã thả dù xuống). Các cựu du kích nhận được quần áo và tiền, và những người Cộng sản Mã Lai tạm thời bận rộn với việc vận động và tổ chức công nhân.

 

Ngày 1 tháng 4 năm 1946, “chính quyền dân sự” được khôi phục tại Malaya. Chính quyền quân sự Anh đã đi vào lịch sử, không được yêu mến và không được người dân nơi đây thương tiếc. Một nhà sử học đáng kính đã nhận xét: “Trong bảy tháng, nó đã phá hủy thiện chí tồn tại vào thời điểm giải phóng và đưa uy tín của Anh tại Singapore xuống mức thấp hơn cả tháng 2 năm 1942.” Một bản tóm tắt tình báo của Hoa Kỳ ghi nhận rằng Mountbatten được cho là “lo lắng về những lời phàn nàn rằng điều kiện ở Malaya hiện nay còn tồi tệ hơn dưới thời Nhật Bản” và đã ra lệnh điều tra.

 

Cũng như ở Trung Quốc, sự đầu hàng của Nhật Bản không có nghĩa là chấm dứt chiến tranh. “Chiến tranh” giữa người Hoa và người Mã Lai chỉ đơn giản là leo thang và tiếp diễn đến tận năm 1946. Những kẻ bất tài và tham nhũng ở cấp bậc thấp hơn trong hàng ngũ BMA không thể đối phó với những vấn đề to lớn về thiếu lương thực và lạm phát phi mã, ngay cả khi họ không phải là một phần của vấn đề. Trong số người dân Mã Lai, những kẻ giỏi cơ hội, tham nhũng và bóc lột đã phát triển mạnh trong bầu không khí buôn bán chợ đen, căng thẳng sắc tộc và nỗi sợ hãi, giống như thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng. Tuy nhiên, Mã Lai lại là một trong những vùng lãnh thổ được quân đội Anh chiếm đóng thành công nhất sau chiến tranh. Ở những nơi khác của Đông Nam Á, người dân ít chào đón hơn, ít khoan dung hơn và thiếu kiên nhẫn hơn khi chờ đợi sự trở lại của các cường quốc thuộc địa.

 

 

 

Trả lời