Những tiền đề cho cuộc mở cõi vùng lưu vực sông Cửu Long

Trần Thanh Ái

Tỉnh Vĩnh Long ngày nay bao gồm ba tỉnh cũ: Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu về phía hạ lưu. Vị trí địa lý đặc biệt của vùng đất này đã biến nó trở thành cửa ngõ tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất Thời đại Mậu dịch (Age of Commerce) như Anthony Reid đã gọi giai đoạn từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII khi nghiên cứu lịch sử các nước Đông Nam Á. Lúc bấy giờ, ngoài tiềm năng về sản lượng nông nghiệp do đặc điểm thổ nhưỡng mang lại, tầm quan trọng còn nằm ở chỗ nó kiểm soát tuyến đường hàng hải huyết mạch từ biển Đông đi vào Campuchia và cả Lào. Trong quá khứ nơi đây đã từng là điểm dừng chân của nhiều nhóm người lưu lạc đi tìm đất sống, từ xa xưa là người Khmer, rồi từ thế kỷ XVI người Lào, người Chăm, người Việt, người Hoa, người Nhật(1),… cũng lần lượt đến, mỗi người mỗi hoàn cảnh; có người đến rồi ra đi nhưng cũng có nhiều người chọn nơi đây làm quê hương, và sẵn sàng hội nhập vào môi trường mới. Nơi đây cũng đã từng diễn ra nhiều cuộc cướp bóc, tàn phá của các nhóm hải tặc biển Đông và của cả quân Xiêm chi viện cho vua Campuchia rồi sau này cho Nguyễn Ánh.

Thế nhưng cho đến nay chưa có tài liệu tiếng Việt nào khảo sát tường tận về những biến động lịch sử đã diễn ra trên vùng đất này trong giai đoạn đầu tiên của cuộc Nam tiến. Sử sách được biên soạn dưới triều Nguyễn là nguồn sử liệu chính thức duy nhất nhưng lại quá sơ lược, thậm chí có không ít chỗ mơ hồ hay bỏ trống, điển hình như cuộc hôn nhân của vua Campuchia với công nương nhà Nguyễn vào cuối những năm 1610. Tình trạng này đã khiến giới nghiên cứu trong nước thì cứ sao chép quanh quẩn cái nguồn hiếm hoi và sơ lược ấy, rồi lại sao chép của nhau, còn các nhà nghiên cứu nước ngoài thì người hoang mang, kẻ nghi ngờ, rồi suy luận, phỏng đoán theo cảm tính của mỗi người. 

Trong bài viết này chúng tôi sẽ cố gắng liên kết các dữ kiện được nhiều tài liệu của nước ngoài ghi nhận để phác họa nên một bức tranh tương đối rõ nét hơn về thời kỳ đầu của cuộc Nam Tiến trên vùng đất ven sông Cửu Long so với những gì mà Quốc Sử Quán đã cung cấp. Vì vào thế kỷ XVII khu vực này chưa có nhiều địa danh được nhắc tới trong các tài liệu của các nước trong khu vực, là tình trạng thường thấy đối với những vùng đất chưa có nhiều người ở, nên chúng tôi phải bắt đầu tìm hiểu từ một khu vực khá rộng là hạ lưu sông Cửu Long, và dần dần thu hẹp sự chú ý vào vùng đất tương ứng với tỉnh Vĩnh Long ngày nay khi có thể.

  1. Người Việt có mặt trong vùng hạ lưu sông Cửu Long từ khi nào?

Tài liệu nhà Nguyễn không cho biết nhiều thông tin về sự có mặt của người Việt trong lưu vực sông Cửu Long. Tuy nhiên rải rác trong các tài liệu của các nhà truyền giáo phương Tây, hay những ghi chép của các nhà du hành, nhà buôn của các công ty Đông Ấn, người ta có thể điểm lại một số nét về sự đi lại của người Việt trong vùng Đông Nam Á nói chung, và trong khu vực hạ lưu của sông Mêkong.

1.1. Người Việt xuôi biển Đông về phương Nam

Tài liệu phương Tây xưa nhất ghi nhận sự xuất hiện của người Việt ở một nơi cách xa quê cha đất tổ của họ nhiều ngàn cây số có lẽ là bức thư đề ngày 19 tháng 7 năm 1578 của toàn quyền Philippines tên là Francisco de Sande gởi vua Tây Ban Nha Felipe II. Ông cho biết đã gặp ở đảo Borney (tức Borneo ngày nay) nhiều tộc người khác nhau: người Trung Hoa, người Cauchi, người Campuchia, người Xiêm, người Patane…, mà theo giải thích của hai tác giả biên soạn E. H. Blair & J. A. Robertson thì “Cauchi là dạng ghi âm của chữ Kuchi, là cách gọi của người Mã Lai về một vùng đất được gọi là Cochin-China từ những năm gần đây, ngày nay là một phần của Đông dương thuộc Pháp” (Blair E. H. & Robertson J. A. 1903, tr. 131). Nhiều ghi chép khác cũng cho thấy người Việt cũng đã từng xuất hiện rất sớm ở Campuchia: trong quyển Historia de la Provincia del Sancto Rosario de la Orden de Predicadores của Diego Aduarte, phần nói về cuộc chinh phục Campuchia năm 1596 mà ông trực tiếp tham dự, ông ghi nhận sự hiện diện của hoạt động giao thương giữa Đàng Trong và Campuchia bằng tuyến đường thủy của sông Cửu Long:

“Một số thuyền đến từ Đàng Trong, viên thuyền trưởng của một chiếc trong số ấy là một trong số người Sangleys [người Hoa ở Philippines] đã giết viên toàn quyền Dasmarinas. Hắn ta cướp thuyền của người Tây Ban Nha rồi đi làm cướp biển. Lúc bấy giờ, hắn đang làm nhiệm vụ sứ thần của vua Đàng Trong. Một số lính người Nhật [trong đoàn quân của Tây Ban Nha] biết mặt hắn ta khi hắn cướp thuyền; họ định giết hắn, nhưng bị các nhà truyền giáo trong đoàn ngăn cản (Aduarte D. 1905, tr. 179).

Tài liệu không cho biết nhiệm vụ của sứ thần người Trung Hoa này là gì, nhưng có lẽ nó chỉ giới hạn trong các giao dịch thương mãi mà thôi, bởi vì khi ấy chúa Nguyễn mới đặt chân đến Quảng Nam chưa lâu nên nhu cầu về lương thực và hàng tiêu dùng đương nhiên là được ưu tiên nhất. Thậm chí tài liệu này còn nói rõ người Đàng Trong cũng có mặt ở thủ đô Campuchia thời bấy giờ:

“Vào lúc ấy, các linh mục và người Tây Ban Nha đang gặp nguy khốn, bởi vì người Xiêm, người Trung Hoa và người Đàng Trong cùng với rất nhiều người Hồi giáo Mã Lai đang tập hợp ở đây, rất ghét đạo Thiên Chúa” (Aduarte D. 1905, tr. 179).

Trong một quyển sách khác xuất bản tại Valladoid năm 1604 của Gabriel Quiroga de San Antonio, được A. Cabaton dịch ra tiếng Pháp năm 1914, cho biết là trong số những thương nhân đi thu mua đinh hương ở quần đảo Maluku có cả người Đàng Trong (Cabaton A. 1914, tr. 107).

Vương quốc Xiêm cũng là nơi mà người Việt từng tới lui khá sớm. Trong một chương sách, nhà truyền giáo de Bourges ghi lại các mặt hoạt động của vương quốc Xiêm từ 1660-1662, trong đó có đoạn cho biết ở Xiêm có nhiều người nước ngoài như Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan, Trung Hoa, Nhật, Miến Điện, Campuchia, Malacca, Đàng Trong, Chăm… có cơ ngơi ở Xiêm (de Bourges 1666, tr. 164). Hoặc như trong bản tường trình của nhà truyền giáo Chevreuil, ông cũng thuật lại chuyện là năm 1664 một chiếc thuyền nhỏ do người Đàng Trong điều khiển đã đưa ông đi từ Xiêm về Hội An (Launay A. 1923, tr. 14).

Thậm chí vào thời kỳ ấy người Đàng Ngoài cũng có mặt trong đội quân khách vãng lai ở vương quốc Xiêm. Nhà truyền giáo Deydier cho biết là vào ngày 29 tháng 6 năm 1666 ông xuống một chiếc thuyền của người Trung Hoa tại cửa sông bên dưới Bangkok để đi Đàng Ngoài thì gặp 8 hay 10 người dân Đàng Ngoài trong thủy thủ đoàn của chiếc thuyền này (Launay A. 1927, tr. 16).

1.2. Đàng Trong thiết lập bang giao với các nước trong khu vực

Khi các đồng bằng chật hẹp ở ven biển miền Trung dần dần không đáp ứng đủ lương thực cho dân cư ngày càng tăng, thì hiện tượng di dân tự nhiên đi tìm nguồn sống là tất yếu. Hòa trong dòng người vãng lai đi từ miền Trung là những nhóm người dừng chân lại đâu đó trên đường đi để khai hoang lập ấp. Việc thiết lập bang giao với lân bang, nhất là với Campuchia lại càng khích lệ dân chúng đi tìm đất mới để mưu sinh, vì đó là chỗ dựa tinh thần rất quan trọng của những người đi khẩn hoang. Sự kiện có ảnh hưởng to lớn đến cuộc Nam Tiến chắc hẳn là cuộc hôn nhân giữa một cô con gái không chính thức(2) của Chúa Nguyễn lúc bấy giờ với vị tân vương Campuchia tên là Chey Chettha II vào những năm cuối thập niên 1610. Sự kiện này không được ghi chép trong lịch sử triều Nguyễn, nhưng lại được nhiều tài liệu nước ngoài nhắc đến, đặc biệt là các biên niên sử Campuchia. Tài liệu đề cập đến cuộc hôn nhân này sớm nhất là quyển Relatione della nvova missione delli PP. della Compagnia di Giesv, al Regno della Cocincina của nhà truyền giáo C. Borri, được công bố tại Roma và Bologna vào năm 1631. Tác giả đã ở Đàng Trong trong 5 năm, và sống ở Nước Mặn (Quy Nhơn) từ năm 1618-1622, nơi ông đã cải đạo cho một vị sứ thần và phu nhân trước khi họ lên đường sang công cán ở kinh đô Campuchia bên cạnh Hoàng hậu người Việt. Trong chương nói về sức mạnh quân sự của chúa Nguyễn, ông cho biết mối quan hệ đặc biệt giữa Đàng Trong với Campuchia:

“Ngoài ra, chúa Nguyễn còn liên tục vũ trang và tuyển quân đi tiếp ứng nhà vua Campuchia, người đã cưới một đứa con không chính thức của ông làm hoàng hậu, và cung cấp cho vua Campuchia nhiều thuyền chiến nhiều chèo và binh lính để chống lại vua Xiêm. Đến độ mà trên bộ cũng như trên biển khắp nơi vang dội uy danh của Đàng Trong” (Borri C. 1631, tr. 86).

Trong phần sau của tài liệu, Borri cung cấp thêm phần tường thuật về chuyến đi sứ sang Campuchia của sứ thần chúa Nguyễn. Theo lời kể của ông, sau khi trải qua 3 năm khốn khổ vì sự lạnh nhạt của dân chúng và sự đố kị của các chức sắc thuộc những tôn giáo khác, tức là từ năm 1618 đến 1621 thì xảy ra chuyện khiến ông lấy lại tinh thần: đó là việc phu nhân vị sứ thần ấy đến xin ông cải đạo gấp trước khi lên thuyền vượt biển đầy sóng gió hiểm nguy (Borri C. 1631, tr. 153). Có một chi tiết cho phép chúng ta hiểu rằng công chúng ở thủ đô Campuchia đã từng quen mặt vị sứ thần này:

“Khi đoàn thuyền vừa đến mà người ta tin rằng đó là của sứ thần [Đàng Trong], quan chức Campuchia vô cùng ngạc nhiên thấy cờ xí của đạo Thiên Chúa trên thuyền, họ thầm nghĩ ngay rằng vua Đàng Trong đã phái một sứ thần đặc biệt người Bồ Đào Nha có đạo Thiên Chúa, thay vì viên sứ thần ngày thường. Nhưng ngay sau đó, họ hết còn nghi ngờ khi vị sứ thần ngày thường xuất hiện trên bến sông, cổ mang thánh giá, huy hiệu và nhiều vật dụng tín ngưỡng cùng với vòng vàng và đá quý (Borri C. 1631, tr. 172).

Hơn năm mươi năm sau, một linh mục người Pháp đang truyền giáo ở vương quốc Xiêm tên là Nicolas Gervaise bổ sung thêm một số chi tiết mới liên quan đến vị hoàng hậu gốc Việt này trong quyển Histoire naturelle et politique du Royaume de Siam (1688):

“Cảm thấy lực lượng còn quá yếu để kháng cự lại sức mạnh của một vương quốc quá mạnh [Xiêm] luôn chực ập đến, ông [vua Nac-Cesta, tức Chey Chetta II] gửi các sứ giả đi gặp vua Đàng Trong để khẩn cầu giúp đỡ và để xin cưới một trong số công chúa thuộc dòng máu của vua. Vị quân vương này có tâm hồn khoáng đạt và là người vừa làm nên chiến thắng vẻ vang trước quân Đàng Ngoài, có nhiều uy tín và tiếng thơm trong vùng, ông sẳn lòng ưng thuận tất cả những điều mà vua Campuchia khẩn cầu” (Gervaise N. 1688, tr. 261).

Việc bang giao không dừng lại ở Campuchia, mà còn phát triển đến tận nước Xiêm. Qua tờ trình đề ngày 28 tháng 5 năm 1642 của một phiên dịch người Nhật có tên thánh là Fransisco sống ở Hội An bị Hà Lan bắt, chúng ta biết là hàng năm chúa Nguyễn đều đặn cử một sứ thần sang Xiêm; trong các chuyến đi ấy ông ta mua chì và diêm tiêu (saltpetre) mang về Quảng Nam (Li Tana & Reid A. 1993, tr. 31). Hai mặt hàng này có lẽ chủ yếu được dùng vào việc chế tạo vũ khí và đạn dược, vì lúc bấy giờ cuộc Nam Bắc phân tranh đang diễn ra rất quyết liệt.

Những chi tiết trên đây giúp chúng ta hình dung ra tầm hoạt động của thủy quân Đàng Trong vừa ở trên khu vực sông Cửu Long, là con đường chủ yếu đi đến thủ đô Udong thời bấy giờ, vừa trên tuyến hải hành đến vương quốc Xiêm. Đó chính là điều kiện quan trọng khiến làn sóng di dân càng trở nên mạnh mẽ hơn. Hai tác giả Clulow A. & Xing Hang đã nhận xét như sau:

“Từ thập niên 1620, Campuchia là đấu trường cạnh tranh dữ dội giữa Đàng Trong và Ayutthaya [thủ đô vương quốc Xiêm] trong việc gây ảnh hưởng lên nhà vua Campuchia. Di dân Đàng Trong phần lớn là tội phạm và binh lính bắt đầu đổ xô vào khu vực đồng bằng sông Cửu Long ở vùng biên giới phía Đông, họ bị vùng đất mầu mỡ này quyến rũ và được sự khích lệ ngầm của các chúa Nguyễn ở Huế” (Clulow A. & Xing Hang 2020, tr. 44).

Có lẽ vì thế mà hai tác giả Lach D. F. & Van Kley E. J. cho rằng kể từ thời trị vì của vua Ponhea To (1628-30), vương quốc Campuchia bắt đầu bị chặn đường ra biển do cuộc Nam tiến của người Đàng Trong (Lach D. F. & Van Kley E. J. 1993, tr. 1152). D. Chandler cũng có nhận xét tương tự khi lưu ý rằng kể từ khi cắt đứt quan hệ với chúa Trịnh ở phương Bắc, chúa Nguyễn tăng cường sự kiểm soát ở phương Nam và đã cắt đứt đường thông ra biển của Campuchia (Chandler D. 2008, tr. 112). Những nhận xét này chắc chắn là không chính xác, vì nhiều tài liệu nước ngoài cho biết là thương thuyền của người Trung Hoa, Bồ Đào Nha, Hà Lan,… vẫn ngược sông Cửu Long lên Udong để thu gom lâm sản gần như không bị gián đoạn. Nhưng chắc hẳn rằng từ các mốc thời gian nói trên, sự hiện diện của người Việt đã đông đảo dần lên trên lưu vực sông Cửu Long, và trước hết là hai bờ nhánh sông Tiền.

Về thời gian có mặt của người Việt trong khu vực hạ lưu sông Cửu Long, tài liệu của Trịnh Hoài Đức và Quốc Sử Quán cung cấp cho người đọc rất ít thông tin. Tuy nhiên, rải rác trong các tài liệu nước ngoài, người ta cũng có thể biết được ít nhiều về tình trạng cứ trú trên địa bàn, về các mốc thời gian quan trọng. Không như M. Vickery suy luận, tình trạng “đất rộng người thưa” trong lưu vực sông Cửu Long vào nửa đầu thế kỷ XVII đã được nhiều người phương Tây ghi nhận: tháng 5 năm 1637 viên chỉ huy đội thuyền Hà Lan tên là H. Hagenaar đã có dịp đi ngược dòng sông Cửu Long để đến thủ đô Campuchia, và kể lại những gì ông đã chứng kiến: suốt hành trình đi trên sông Bassac chỉ một lần duy nhất ông trông thấy nhiều đồ vật rơi vãi trên đường đi, là dấu vết của một cuộc cướp bóc tài sản của dân bản địa do nhóm thủy thủ Bồ Đào Nha gây ra, khiến họ đã bỏ trốn vào rừng (Hagenaar H. 1706, tr. 258). Một nhân chứng khác, đó là viên thuyền trưởng người Anh tên Howel, trước năm 1688 ít lâu, anh ta và một thuyền trưởng khác đã chỉ huy hai chiếc khinh hạm đi làm nhiệm vụ cho vua Xiêm là tấn công một hang ổ cướp biển trên một hòn đảo ở vùng cửa sông Mekong. Theo lời kể của anh ta thì “Vương quốc Campuchia dường như là một nước nằm sâu trong đất liền, như vùng đất ven biển của Đàng Ngoài: mặt đất thấp, cây cối rậm rạp, và ít người ở, nó nằm ven bờ sông lớn, bắt nguồn từ phương Bắc và đổ ra biển về phía Côn Đảo” (Dampier W. 1700, tr. 105). Những ghi nhận này hoàn toàn phù hợp với nhận xét của nhà truyền giáo G. F. Marini vào năm 1663 khi nói về vương quốc Campuchia nói chung, “là một vương quốc rộng lớn nhưng ít người ở” (Polenghi C. 2007, tr. 28), huống hồ gì trên vùng đất bồi ở cửa sông Mêkong. Thậm chí đến năm 1768, khi ngược dòng sông Hậu từ cảng Bãi Xào về Châu Đốc, nhà truyền giáo Levavasseur cũng ghi nhận tình trạng dân cư còn rất thưa thớt dọc theo hai bờ sông Hậu. Còn A. van der Kraan ước tính là vào thế kỷ XVII dân số Campuchia không quá một triệu người (van der Kraan A. 2009, tr. 1). Chắc hẳn là M. Vickery không đọc được những ghi chép này nên không ngại kết luận vội vã rằng việc mô tả tình trạng hoang vu của vùng lưu vực sông Mekong là nhằm mục đích biện minh cho làn sóng người Việt đến đây lập nghiệp vào những thế kỷ trước.

1.3. Người Việt định cư trong khu vực

Không có tài liệu nào cho biết chính xác người Việt định cư ở trong vùng phía Nam cũng như ở các nước láng giềng vào năm nào. Tuy nhiên, những ghi ghép của nhiều nhà hàng hải và nhà truyền giáo là bằng chứng của sự có mặt của họ ở mỗi địa phương, từ đó ta có thể suy ra là họ đã có mặt trước thời điểm mà các nhà hàng hải và nhà truyền giáo gặp họ. Có thể khẳng định là những cuộc di dân trong giai đoạn đầu hoàn toàn mang tính chất tự phát, vì chúa Nguyễn lúc bấy giờ rất cần nhân lực để xây dựng quân đội và bảo đảm lương thực cho đội quân ấy. Chỉ đến năm Mậu Dần 1698 chúa Nguyễn Phước Chu mới “chiêu mộ những dân xiêu dạt từ Bố Chính” đến vùng mới khai phá được đặt tên là dinh Trấn Biên và Phiên Trấn.

Sau một thời gian vãng lai đến Campuchia ngang qua vùng lưu vực sông Cửu Long, hoặc đi xa hơn về phía Nam, thì vì nhiều lý do khác nhau một số người dừng chân trên đường đi, rồi cuối cùng là định cư. Vì thế dọc theo bờ biển chạy dài từ miền Trung cho đến Vịnh Thái Lan đều có sự hiện diện sớm sủa của người Đàng Trong. Năm 1637, người Hà Lan ghi nhận sự hiện diện của một khu phố người Đàng Trong ở Campuchia bên cạnh các khu phố người Nhật, người Trung Hoa và người Khmer (Hagenaar H. 1706, tr. 264). Đến năm 1768, khi đặt chân lên Phnom Penh, nhà truyền giáo Levavasseur có ấn tượng rất mạnh về sự hiện diện đông đảo của người Trung Hoa và người Việt, đến độ ông có nhận xét: “Dân chúng ở đây [Phnom Penh] gần như tất cả đều là người Trung Hoa và người Đàng Trong” (Levavasseur 1821, tr. 218).

Ở Xiêm, E. Kaempfer khi viết bộ sách The History of Japan Together with a Description of the Kingdom of Siam xuất bản lần đầu ở Anh năm 1727, ông cũng cho biết là vào những năm 1690-92 ở kinh đô nước Xiêm lúc bấy giờ là Juthia có nhiều khu phố của người nước ngoài sinh sống, trong đó có khu của người Đàng Trong.

Bản đồ lưu vực sông Cửu Long được người Hà Lan vẽ năm 1658-9 cho thấy họ biết rất ít địa danh trong vùng. Sơ đồ thủ đô Juthia do E. Kaempfer vẽ năm 1690-2, trong đó có khu phố của người Đàng Trong (chỗ khoanh tròn)

Ngoài sự hiện diện của người Việt ở thủ đô Campuchia và Xiêm, các nhà hàng hải phương Tây còn trông thấy họ ở Côn Đảo. Trong chuyến cặp bến Côn Đảo vào ngày tháng 2 năm 1687 W. Dampier ghi nhận:

“Dân cư trên đảo này là người Đàng Trong, như lời họ nói với chúng tôi, vì một trong số họ nói tiếng Mã Lai rất giỏi […]. Họ rất lịch sự nhưng rất nghèo. Công việc chủ yếu của họ là trích lấy nước tiết ra từ những cây mà tôi đã mô tả(3) [tr. 390], để làm dầu. Họ đựng loại nước này trong những cái máng, và khi có thuyền chở hàng ra thì họ chở về Đàng Trong, Đất Mẹ của họ” (Dampier W. 1696, tr. 394-5).

Trong chuyến du hành năm 1695, nhà du hành J. F. Gemelli Careri cũng ghi nhận người Đàng Trong thường ra Côn Đảo để khai thác sản vật mang về đất liền. Ông viết: “Thứ năm ngày 22 [tháng 7 năm 1695], chúng tôi nhìn thấy Côn Đảo, một hòn đảo thuộc nhà vua Đàng Trong, nhưng không người ở; người dân Đàng Trong đến đây vào một số ngày trong năm để đốn gỗ và thu lượm sản vận của đảo” (Gemelli Careri J. F. 1704, tr. 283). Tưởng cũng nên nhắc lại ghi nhận của J. F. Gemelli Careri về lực lượng hải quân của Chúa Nguyễn vào cuối thế kỷ XVII khi ông nói về những hiểm nguy mà tàu thuyền có thể gặp phải ở trên vùng biển Hoàng Sa:

“Nếu không gặp rủi ro nào xảy ra [khi đi ngang qua đây], thì đội thuyền nhiều chèo [của chúa Nguyễn] sẽ tịch thu không chỉ hàng hóa, mà còn cả tàu thuyền bị mất hay gãy cột buồm. Và vì thế nhiều thuyền của Đàng Trong đi lùng sục dọc bờ biển quanh năm để thu về những xác tàu, và cũng không có chút hy vọng thoát khỏi họ khi biển lặng gió, bởi vì họ rất quả cảm và được trang bị tốt với súng đạn” (Gemelli Careri J. F. 1704, tr. 283-4).

Những nhận xét này làm chúng ta nhớ lại Lê Quý Đôn mô tả trong Phủ biên tạp lục về các đội Hoàng Sa được chúa Nguyễn thành lập để lấy hải vật và hóa vật (Lê Quý Đôn 2007, tr. 150-151).

  1. Những xung đột quân sự Việt – Xiêm đầu tiên trên lưu vực sông Mekong

Như đã nói bên trên, Borri chỉ cho biết ngắn gọn là chúa Nguyễn đã tuyển mộ binh sĩ để gởi sang giúp vua Campuchia chống lại vương quốc Xiêm. Tuy nhiên độc giả có thể đọc được những ghi chép cụ thể hơn của N. Gervaise về cuộc chạm trán đầu tiên của đội thuyền chiến Đàng Trong với thủy quân Xiêm. Theo N. Gervaise, ngay sau khi đội quân Đàng Trong gồm bốn hay năm đại đội hộ tống của hồi môn cho cô công chúa về đến thủ đô Campuchia thì quân Xiêm đã tràn vào bao vây bằng hai ngã, đường biển và đường bộ. Vua Nac-Cesta dẫn đội quân người Campuchia ra trận, và để cho hoàng hậu người Việt dẫn đầu đội quân nữ người Đàng Trong. Theo mô tả của N. Gervaise thì:

“vị công chúa can đảm này cùng với các chiến binh nữ xuống thuyền, tay cầm gươm xông lên đương đầu với thủy quân Xiêm. Cuộc đụng độ khốc liệt, và cuộc chiến diễn ra khá lâu, nhưng cuối cùng thì chiến thắng thuộc về hoàng hậu. Bà cho quân truy đuổi đội thuyền Xiêm trong khi nhà vua chồng bà đánh tan đội quân Xiêm trên bộ, khiến chúng phải rút lui trong hổ thẹn” (Gervaise N. 1688, tr. 261-262).

Liệu những ghi chép của N. Gervaise có đáng tin không? Trước hết cuộc tấn công vào những năm đầu của thập niên 1620 là có thật, vì được nhiều tài liệu Campuchia ghi, chỉ có thời gian là gần như không tài liệu nào giống tài liệu nào. Nhưng không có tài liệu nào của Campuchia lẫn Xiêm nói về sự tham gia của quân Đàng Trong cả. Thậm chí M. Vickery còn tỏ vẻ nghi ngờ Borri đã cường điệu sự giúp đỡ của Đàng Trong đối với Campuchia. Ông viết trong phần chú thích ở cuối bài viết của ông: “Nhiều nguồn tài liệu khác (các Biên niên sử Campuchia và những người châu Âu có mặt tại Campuchia) có ghi chép về cuộc bại trân của Ayutthaya đã không xem sự giúp đỡ từ Việt Nam quan trọng đến như vậy” (Vickery M. 2011, chú thích tr. 165). Không “quan trọng đến như vậy”(4) có nghĩa là các nguồn tài liệu ấy xác nhận là chúa Nguyễn có giúp đỡ Campuchia, nhưng không lớn. Tiếc là M. Vickery không cho biết tác giả của những ghi chép của người châu Âu ấy là ai, và trong tài liệu nào, để độc giả có thể tìm hiểu kỹ hơn.

Bên cạnh đó, The Royal Chronicle of Ayutthaya (Biên niên sử Ayutthaya) trong quyển 6 mục nói về đời vua Phra Athittayawong có đoạn đề cập đến quan hệ Campuchia và Việt Nam vào năm 1628: Nak Can là con của Đức vua Campuchia được nhường ngôi, và em trai tên là Nak [còn gọi là Pathum hay Prathum] tranh giành với nhau. Nak [Pathum] gởi thơ cho đại quan [Phraya] nước Việt xin giúp đỡ lấy lại vương quốc Campuchia. Vì vậy đại quan nước Việt ra lệnh cho một quan tên là Ciang Thu dẫn một đạo quân đi chiếm lại vương quốc Campuchia, rồi đuổi Nak Can đi, và mang kho báu, tài sản và súng ống về nước Việt (Wyatt D. K. 2000 ed., tr. 247-248).

Được biết trong số 8 tài liệu gốc của Xiêm mà tác giả dùng để biên soạn quyển Biên niên sử Ayutthaya này thì có đến 5 tài liệu có ghi chép sự kiện này, trong đó bộ xưa nhất được biên soạn năm 1795, là Biên niên sử Phan Canthanumat. Thế nhưng cả Quốc Sử Quán triều Nguyễn lẫn một số Biên niên sử Campuchia mà chúng tôi có trong tay đều không nói đến sự kiện này.

  1. Một số nghi vấn của các nhà nghiên cứu

Như đã nói bên trên, tài liệu của nhà Nguyễn về giai đoạn này rất sơ sài, và thiếu nhiều thông tin mà tài liệu nước ngoài đã ghi chép rải rác về một số sự kiện ở Đàng Trong: không có một dòng chữ nào nói về vị công nương người Việt trở thành hoàng hậu vương quốc Campuchia vào các thập niên đầu thế kỷ XVII, và cũng không có dòng chữ nào về đoàn sứ giả của chúa Nguyễn đến Udong năm 1623(5). Chính vì có nhiều khoảng trống như thế mà ngày nay không ít người vẫn còn băn khoăn nêu câu hỏi: “vị Hoàng hậu đó có đúng là công nữ Ngọc Vạn không? Nếu bà đúng là Ngọc Vạn, thì tại sao với công lao to lớn đó mà từ sử sách, thư tịch, địa chí của quốc gia nói chung, và ở vùng đất Nam Bộ nói riêng […] cho đến tín ngưỡng thờ phụng, phong tục tập quán… của cư dân địa phương lại hiếm khi nhắc đến tên bà?” (Võ Vinh Quang & Nguyễn Đình Đính, 2015, tr. 55). Và ngay cả sau khi tìm hiểu hai sắc phong và lăng mộ của Tống Sơn Quận chúa ở Huế, hai tác giả này vẫn để phần kết luận bỏ ngỏ bằng câu: “câu chuyện được lưu truyền lâu nay là công nữ Ngọc Vạn được gả cho Quốc vương Chey Chettha II nước Chân Lạp cũng như việc chúa Sãi có bao nhiêu công nữ cần được tiếp tục nghiên cứu, giải mã” (Võ Vinh Quang & Nguyễn Đình Đính, 2015, tr. 60).

Thế nhưng việc chưa tìm ra nguyên nhân khiến Quốc Sử Quán không ghi vào sách vở cuộc hôn nhân này có thể có một phần trách nhiệm của một số nhà nghiên cứu Việt Nam hiện nay. Đó là việc họ xem nhẹ chi tiết liên quan đến xuất thân của “công chúa Ngọc Vạn” như cách gọi của sách báo Việt Nam ngày nay: nhiều tài liệu nghiên cứu đã phớt lờ nguyên văn mà Borri dùng để chỉ cô công chúa này. Thật vậy, từ bài viết có lẽ sớm nhất về cô công chúa này của Thái Văn Kiểm (1960) đến quyển Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang (1973) đều viết là năm 1620 Sãi Vương (1613-1625) đã gả công chúa cho vua Chân Lạp. Mặc dù Phan Khoang có tham khảo bản tiếng Pháp sách của Borri do N. Bonifacy dịch (1931), thế nhưng ông chỉ nói sơ sài là năm 1620 chúa Hy tông đã gả cho vua Chân-lạp một “công nữ” (tr. 400). Tệ hơn nữa, bản dịch của Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị đã bỏ hẳn cụm từ chỉ mối quan hệ từ cuộc hôn nhân này, khi chỉ viết “chúa còn chuẩn bị vũ khí liên tục và mộ binh giúp vua Campuchia”, trong khi Borri nói rõ ràng “vua Campuchia, là chồng của cô con gái không chính thức của vua” (Borri C. 1631, tr. 86; Bonifacy A. 1931, tr. 329-330). Thế là lần lượt người đi sau trích dẫn những thông tin khiếm khuyết của kẻ đi trước, ngay cả bộ gia phả Nguyễn Phúc tộc thế phả do Ban trị sự Nguyễn Phúc tộc thực hiện năm 1995, và gần đây là bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập của Viện Sử học cũng không tránh khỏi (Trần Thị Vinh 2017, tr. 145). Cho đến ngày nay, những thông tin ấy đã tràn ngập cả trên sách vở, báo chí và mạng Internet. Nếu trước năm 2000, giới nghiên cứu Việt Nam dễ dàng mắc phải những khiếm khuyết ấy vì không có nhiều tài liệu tham khảo, còn ngày nay với điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận nhiều nguồn tư liệu phong phú thì không thể kéo dài mãi tình trạng ấy được.

Thế mà chi tiết về nhân thân của cô công chúa này dường như lại là chìa khóa có thể góp phần giải mã việc tại sao Quốc Sử Quán không đề cập đến cuộc hôn nhân này. Thật vậy, trong bản tiếng Ý được công bố đầu tiên năm 1631, Borri viết là “figlia bastarda” (1631, tr. 86), được A. Bonifacy (1931, tr. 330) và O. Dror (2006, tr. 130) dịch lại sát với nguyên văn, lần lượt là [une de ses filles,] “bâtarde” và “bastard” [daughter] (nét nghĩa tương đương với “con hoang”), còn bản tiếng Pháp của A. de la Croix (1631) thì dùng chữ [fille] “naturelle”, bản tiếng Anh của R. Ashley (1633) thì dùng chữ “naturall” [daughter] (nét nghĩa tương đương với “con ngoài hôn nhân”). Đã thế A. Bonifacy lại còn trách Borri đã dùng chữ tiếng Ý “bastarda” để gọi “con cái của các thứ phi” là không phù hợp, chẳng khác nào A. Bonifacy cho là các bậc vua chúa chỉ có thể có con với hoàng hậu và cung phi mỹ nữ trong hoàng cung mà thôi. Lời chú thích này của A. Bonifacy đã vô tình đóng khung cách hiểu của người Việt, khiến nhiều người, kể cả các nhà nghiên cứu, không còn để ý đến chi tiết “con không chính thức” ấy nữa. Vì thế, khi đọc Đại Nam Liệt truyện tiền biên với tên hai hoàng nữ Ngọc Vạn và Ngọc Khoa, và lời giải thích ngắn gọn: “em cùng mẹ với hoàng trưởng tử Kỳ. Không có truyện” thì nhiều người chắc chắn rằng một trong hai hoàng nữ này là hoàng hậu Campuchia!

Ở một góc nhìn khác từ nước Xiêm, nhà truyền giáo N. Gervaise đã cung cấp thêm nhiều thông tin về vị hoàng hậu Campuchia mà ông đã thu thập được, trước hết là về nhân thân của hoàng hậu: “[Chúa Nguyễn] gả một trong số những cô con gái không chính thức của ông cho vua Campuchia, và cử một đội quân gồm bốn năm đại đội lính can trường áp tải các hòm vàng và bạc làm của hồi môn cho công nương” (Gervaise N. 1688, tr. 261). Nếu không có bằng chứng nào phản bác ghi chép của C. Borri và N. Gervaise, thì cô công nữ này không thể là anh em cùng mẹ với hoàng trưởng tử Kỳ, nghĩa là cô không phải là Ngọc Vạn hay Ngọc Khoa như nhiều người quả quyết bấy lâu nay. Trong trường hợp này, người đọc hoàn toàn có thể hiểu là vì một lý do nào đó mà mẹ ruột của hoàng hậu Campuchia đã không gia nhập vào đội ngũ cung phi trong phủ chúa Nguyễn, để sống cuộc đời lặng lẽ của thường dân, bởi chuyện “con rơi” ngày xưa không hề là chuyện hiếm, nhất là trong giới phú hào và quan lại.

Liệu còn có giả thuyết nào khác có thể giải thích được việc Đại Nam Thực lục không nói gì về cuộc hôn nhân này không? Dù sao thì người đọc ngày nay khó có thể chấp nhận cách giải thích của Phan Khoang khi ông viết rằng “có lẽ các sử thần nhà Nguyễn cho là việc không đẹp, nên giấu đi chăng?” (1970, tr. 400). Thậm chí có người còn đưa ra suy đoán táo bạo rằng đó chỉ là một “công chúa mạo nhận”, tức là cho rằng đã có sự mượn danh dòng máu hoàng tộc của cô dâu để làm công tác ngoại giao, một giải pháp kém cỏi như thế khó mà chấp nhận được trên bình diện bang giao quốc tế.

Một số nhà nghiên cứu nước ngoài còn có những nghi vấn khác: người thì nghi ngờ thời điểm của cuộc hôn nhân, như Mak Phoeun, kẻ thì hoài nghi về mục đích của cuộc hôn nhân này, như M. Vickery. Mak Phoeun chứng minh sự kiện này không xảy ra vào năm 1620 như nhiều tài liệu đã viết, và cho biết rằng theo nhiều Biên niên sử Khmer thì sự kiện này xảy ra vào năm 1617, khi “vua Suryopear quyết định thiết lập liên minh với Việt Nam, và xin hỏi cưới một người con gái của vua Việt Nam cho con mình là Jay Jetthā/Chey Chetta” (Mak Phoeun, dẫn lại từ Vickery M. 2011, tr. 159). Thật ra không riêng gì các tác giả Việt Nam, không ít tác giả phương Tây hiện đại, như G. Coedes (1967, tr. 198) rồi đến O. Dror dẫn lại G. Coedes (Dror O. & Taylor  K. W. 2006, tr. 130) cũng cho là cuộc hôn nhân xảy ra vào năm 1620 vì dựa theo các tài liệu bằng tiếng Pháp được biên soạn vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, như A. Leclère, E. Aymonier… Vả lại, sự thiếu chính xác về niên đại cũng là chuyện thường gặp trong các tài liệu lịch sử, nhất là về những sự kiện xa xưa của các nước Á châu. Mak Phoeun có thuận lợi hơn các nhà nghiên cứu các nước khác ở chỗ tác giả này có thể đọc trực tiếp văn bản bằng tiếng khmer mà không phải đợi đến có người dịch ra ngôn ngữ phổ biến hơn, nên có thể tiếp cận với nhiều nguồn tư liệu sơ cấp hơn để có thể so sánh, đối chiếu và tìm ra mốc thời gian sát với sự thật hơn. Trong khi ấy, các tác giả Việt Nam như Thái Văn Kiểm, Phan Khoang chỉ có thể dựa vào tài liệu thứ cấp, lại là sách giáo khoa, của Henri Russier (1914), của Nguyễn Văn Quế (1932), và của M. Giteau (1957), của A. Migot (1960). Giả sử như hai tác giả này đọc được bản dịch biên niên sử mà J. Moura đã tìm thấy trong thư viện hoàng gia của vua Norodon (sic) và đã in trong chương 1 quyển 2 của bộ sách Le Royaume du Cambodge năm 1883 thì ông đã không khiến nhiều thế hệ nhà nghiên cứu lặp đi lặp lại cái năm 1620 như là điều chắc chắn!

Còn Vickery thì tỏ ra ngờ vực những nghiên cứu của người Pháp về các biên niên sử Campuchia, mà ông cho rằng “hiển nhiên là nhiều huyền thoại Campuchia về giai đoạn này đã được trộn lẫn vào trong đó” (tr. 159). Từ đó ông đi đến việc dựa vào bản biên niên sử lưu lạc ở Xiêm mà ông gọi là “bản F1170” và đưa ra cách giải thích khác về mục đích của cuộc hôn nhân Khmer – Việt khi cho rằng vua Đàng Trong gửi cống phẩm cho nhà vua Campuchia và xin được mua voi và gôm lắc mà ông cần, và được vua Suriyopear chấp thuận” (Vickery M. 2011, tr. 162). Để làm sáng tỏ nhận định này cần phải có một nghiên cứu riêng mới có thể đưa ra một cái nhìn khách quan hơn.

  1. Tạm kết

Trên đây là một số sự kiện tạo điều kiện thuận lợi cho làn sóng người Việt di dân vào vùng châu thổ sông Cửu Long, mà trước tiên là khu vực gần cửa sông nằm giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu. Từ việc dừng chân đến việc an cư lập nghiệp chắc chắn họ đã phải qua muôn ngàn khó khăn, thậm chí nhiều xương máu. Trong bài sắp tới, chúng tôi sẽ lần lượt điểm lại những sự kiện đã xảy ra trên vùng đất này mà tài liệu nước ngoài có nhắc tới, nhưng Trịnh Hoài Đức và Quốc Sử Quán đã không nói gì. Qua đối chiếu các tài liệu, hy vọng rằng chúng ta sẽ có một bức tranh đầy đủ hơn về những ngày đầu mở cõi trên vùng đất phương Nam này.


Tài liệu tham khảo

Aduarte D. 1905. Historia de la Provincia del Sancto Rosario de la Orden de Predicadores (Continued). Trong The Philippine islands 1493-1898 Volume XXXI (E.H. Blair and J. A. Robertson Eds). Cleveland, Ohio: The Arthur H. Clark Company.

Blair E. H. and Robertson J. A. 1903. The Philippine islands 1493-1898 Volume IV. Cleveland, Ohio: The Arthur H. Clark Company.

Bonifacy A. 1931. Relation de la Nouvelle Mission au Royaume de Cochinchine. Tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hué, số 3-4 Juillet-Décembre 1931.

Borri C. 1631. Relation de la Nouvelle Mission des Pères de la Compagnie de Jesus au Royaume de la Cochinchine. Lille: De l’Imprimerie de Pierre de Rache.

de Bourges 1666. Relation dv Voyage de Monseignevr l’Evêqve de Beryte vicaire apostoliqve dv Royavme de la Cochinchine. Paris: Chez Denys Bechet.

Cabaton A. 1914. Brève et Véridique Relation des Evénements du Cambodge par Gabriel Quiroga de San Antonio. Paris: Ernest Leroux, Editeur.

Chandler D. 2008. A History of Cambodia. Philadelphia: Westview Press.

Clulow A. and Xing Hang 2020. Between the company and Koxinga: Territorial Waters, Trade, and War over deerskins. Trong A World At Sea Maritime Practices and Global History (edited by Lauren Benton and Nathan Perl-Rosenthal). Philadelphia: University of Pennsylvania Press.

Dampier W. 1696. A New Voyage Round the World, Vol. I. London: James Knapton.

Dampier W. 1700. Voyages and Descriptions in Three Parts, Vol. II. London: James Knapton.

Dror O. & Taylor  K. W. 2006 (Eds). Views of Seventeenth-Century Vietnam Christoforo Borri on Cochinchina & Samuel Baron on Tonkin. New York: Cornell University Press.

Gemelli Careri J. F. 1704. A Voyage round the World. London: Awnsham and John Churchill.

Gervaise N. 1688. Histoire naturelle et politique du Royaume de Siam. Paris: Chez Claude Barbin.

Hagenaar H., 1706. Voiage de Henri Hagenaar, aux Indes Orientales. Trong quyển 5 của bộ Recueil des voiages qui ont servi à l’établissement et aux progress de la Compagnie des Indes Orientales formée dans les Provinces Unies des Païs-bas. Amsterdam: Etienne Roger, Libraire.

Kaempfer E. 1906. The History of Japan Together with a Description of the Kingdom of Siam 1690-92. Glasgow: James MacLehose and Sons; New York: The Macmillan Company.

Lach D. F. & Van Kley E. J. 1993. Asia in the making of Europe, Vol. 3 Book 3. Southeast Asia. Chicago: The University of Chicago Press.

Launay A. 1923. Histoire de la mission de Cochinchine – Documents historiques, Vol. 1. Paris: Librairie Orientale et Américaine.

Launay A. 1927. Histoire de la mission du Tonkin. Paris: Librairie Orientale et Américaine.

Levavasseur 1821. Abrégé du journal de M. Levavasseur. Trong Nouvelles Lettres Edifiantes des Missions de Chine et des Indes Orientales Tome VI. Paris: Chez Ad. Le Clere.

Moura J. 1883. Le Royaume du Cambodge, Tome II. Paris: Ernest Leroux Editeur.

Phan Khoang 1970. Việt sử xứ Đàng Trong. Sài Gòn: Nhà sách Khai Trí.

Polenghi C. 2007. Giovanni Filippo de Marini, Delle Missioni… (1663): An Annotated Translation of the Chapters on Cambodia, Siam, and Makassar. Tạp chí Journal of the Siam Society 2007 Vol. 95.

Thái Văn Kiểm 1960. Đất Việt trời Nam. Sài Gòn: Nxb Nguồn Sống.

Trần Thị Vinh, 2017. Lịch sử Việt Nam, quyển 4. Hà Nội: Nxb. Khoa Học Xã Hội.

van der Kraan A. 2009. Murder and Mayhem in 17th-Century Cambodia. Leiden: KITLV Press.

Vickery M. 2011. “1620,” a cautionary tale. Trong New Perspectives on the History and Historiography of Southeast Asia Continuing explorations. London & New York: Routledge.

Võ Vinh Quang & Nguyễn Đình Đính 2015. Tống Sơn quận chúa Nguyễn Thị Ngọc Vạn qua sắc phong, lăng mộ và tín ngưỡng thờ phụng ở Huế. Tạp chí Nghiên cứu & Phát triển, số 9.2015).

Wyatt D. K. (Ed.) 2000. The Royal Chronicles of Ayutthaya. Bangkok: The Siam Society Under Royal Patronage.

Chú thích:

(1) Sự hiện diện của người Nhật còn lưu lại dấu vết trong các địa danh ở tỉnh Bến Tre cũ: “Giồng Nhựt Bổn” được ghi trong Gia Định Thành thông chí, và “Rạch Nhựt bổn” được thể hiện trong các bản đồ do người Pháp vẽ vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Ngoài ra Đại Nam thực lục cũng có ghi: năm 1790, khi trở lại đất Gia Định, Nguyễn Ánh tổ chức lực lượng phòng thủ bờ biển, ở dinh Trấn Định có các đạo thủ Cửa Đại Cửa Tiểu, đạo thủ Nhật Bản, đạo thủ Ba Lai, đạo thủ Ngao Châu… (Quốc Sử Quán 2002, tr. 266). Để có thêm thông tin, xin xem bài “Lần theo dấu chân người Nhật trong lưu vực sông Cửu Long” của chúng tôi đã đăng trên hai số tháng 10 và 11 năm 2022 và bài “Tại sao có tên Sông Nhật Bản” trên hai số tháng 5 và 6 năm 2023 của tạp chí Xưa và Nay.

(2) A. Bonifacy dịch ra tiếng Pháp sát với nguyên văn tiếng Ý là “une de ses filles, bâtarde” (con hoang).

(3) Theo trang condaopark.com.vn, đó là “dầu cát côn sơn” có tên khoa học là Dipterocarpus condorensis.

(4) Nguyên văn: “Other sources (the Cambodian chronicles and Europeans who were present in Cambodia) that record Cambodian defeats of Ayutthayan attacks do not attach such importance to aid from Viet Nam.”

(5) Chỉ cần lướt qua bộ Đại Nam Thực lục phần tiền biên, người đọc dễ dàng nhận ra ngay sự nghèo nàn thông tin đáng kinh ngạc trong những năm đầu thế kỷ XVII chứ không riêng gì chuyện gả công chúa về Campuchia.

Trả lời